ANH ĐANG NÓI GÌKHI KHÔNG NHÌN THẤY EM NHỮNG ĐÁM MÂY BAY GẦN CHỈ MÌNH ANH VÀ EM NẾU GIÓ NỔI TRONG TIM EM CÙNG VỚI BẦU TRỜI CHÁY LÊN William Butler Yeats Tác phẩm: Một số bài thơ:... KHI E
Trang 2Tên sách: Các nhà thơ đoạt giải NobelTác giả: Các nhà thơ đoạt giải NobelThể loại: Thi ca
Người sưu tầm: cacbac
CHƯA BAO GIỜ NGHE TÊN
SỰ CỨU RỖI TRONG NGHỆ THUẬT
Trang 3ANH ĐANG NÓI GÌ
KHI KHÔNG NHÌN THẤY EM
NHỮNG ĐÁM MÂY BAY GẦN
CHỈ MÌNH ANH VÀ EM
NẾU GIÓ NỔI TRONG TIM
EM CÙNG VỚI BẦU TRỜI CHÁY LÊN
William Butler Yeats
Tác phẩm:
Một số bài thơ:
Trang 4KHI EM ĐÃ GIÀ (1)
NỖI BUỒN CỦA TÌNH YÊU
ĐI VÀO BUỔI HOÀNG HÔN
NGƯỜI YÊU KỂ VỀ BÔNG HỒNG NỞ TRONG TIMTÂM TRẠNG
GIỮA RỪNG CÂY DƯƠNG LIỄU
ANH MUỐN TẤM VẢI BẦU TRỜI
GIẤC MƠ NGỌT NGÀO, QUYẾN RŨ
CHÉN RƯỢU TRAO CHO TÔI
Trang 6NGÀY THỨ TƯ TRO BỤI (1)
TÔI TỪNG NÓI VỚI EM
KHI NGƯỜI PHỤ NỮ Ở CÙNG ANH
CÂY CẦU TÌNH YÊU XƯA
TÔI KHÔNG PHẢI LÀ TÔI
TÔI MUỐN TRỞ THÀNH NGƯỜI MUÔN THUỞGỬI NHÀ THƠ
NGỌN GIÓ TRONG BUỔI CHIỀU
KHÔNG CÓ GÌ
EM ĐỪNG VỘI
TRĂNG CÔ ĐƠN
BAY ĐI NHỮNG MŨI TÊN VÀNG
NỖI BUỒN TỘI NGHIỆP CỦA TÔI
CÓ PHẢI LỜI EM
Boris Leonidovich Pasternak
Trang 7TẮT GIỌNG NÓI CỦA EM
DƯỚI TIẾNG SÓNG BIỂN RÌ RÀO
Trang 8NGÀY NỬA ĐÊM
NHÀ THƠ HỒI TƯỞNG CUỘC ĐỜI MÌNH
Czeslaw Milosz
Tác phẩm:
Một số bài thơ:
Trang 9HAI BÀI THƠ
TRÒ CHUYỆN CÙNG JEANNE
BÀI THƠ CUỐI THẾ KỈ
KHÔNG GIAN THỨ HAI
VĨNH BIỆT, HÃY QUÊN
KHÚC BI CA LỚN GỬI JOHN DONNE (1)
HAI NĂM SAU
NGỌN NẾN CỦA TÔI
NHỮNG GIỌT NƯỚC MƯA
GỬI MỘT TRĂM NĂM ANNA AKHMATOVA
CÁI CHẾT NHỎ NHEN
KHÔNG CÓ ĐÈN
BUỔI CHIỀU
SONNÊ
NGHĨA ĐỊA DO THÁI
BÀI THƠ VIẾNG ROBERT FROST
BỨC THƯ GỬI A AKHMATOVA TỪ THÀNH PHỐSESTRORETSK (1)
HAI NỬA CHIA ĐÔI
TẦNG GẦN CUỐI
ĐẦU TIÊN GHẾ NGỒI RƠI XUỐNG
SÁU NĂM SAU
Trang 10Octavio Paz
Tác phẩm:
Một số bài thơ:
MAITHUNA (1)
THÂN THỂ PHÔ BÀY
HÃY NGHE ANH NHƯ LÀ NGHE MƯA
TÌNH YÊU SAU MỘT TÌNH YÊU
KHÔNG CẦN GÌ NGOÀI LÒNG CHÂN THẬT
Seamus Jastin Heaney
Trang 11Tác phẩm:
Một số bài thơ:
BÀI THƠ ĐÔNG – TÂY (1)
Sully Prudhomme (tên thật là René Francois Armand
Prudhomme) – nhà thơ Pháp, người đoạt giải Nobel Văn học đầutiên, năm 1901 Sully Prudhomme sinh ngày 16/3/1839 Bố mất lúc S.Prudhomme lên hai tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông cùng mẹ
và chị gái chuyển đến sống với một người chú Năm lên 8 tuổi vàohọc trường Lycee Bonapart Cậu bé học giỏi toán, say mê ngôn ngữ
và thơ Pháp Từ năm 1860, đã phải tự đi làm nhiều nghề kiếm sống,buổi tối về nghiên cứu triết học và làm thơ Năm 1865 in tập thơ đầutay ký bút danh Sully Prudhomme (tên bố) được đánh giá cao Nămsau, một nhà xuất bản in thơ của ông vào tập Parnasse ngày nay (LeParnasse contemporain) - một thứ tuyên ngôn của các nhà thơ nhómParnasse phản đối lại trường phái lãng mạn Năm 1870, nổ ra chiếntranh Pháp - Phổ, ông tự nguyện gia nhập dân quân Những túngthiếu, vất vả trong thời kỳ quân Phổ phong tỏa Paris khiến sức khỏe
đã yếu của ông càng thêm trầm trọng, ông bị liệt và phải cắt haichân sau khi cuộc phong tỏa chấm dứt Trong thời kỳ chữa bệnh,ông vẫn viết thơ ái quốc (ấn tượng chiến tranh, 1870), cổ vũ thơ
Trang 12truyền thống, phản đối thơ tự do, chủ nghĩa tượng trưng, suy đồi(Di chúc thơ, 1900) Năm 1888 ông xuất bản trường ca Hạnh phúc,gồm 4000 câu thơ, khẳng định hạnh phúc có thể đạt được nhờ sựham học hỏi, nhờ khoa học, nhờ lòng thiện và sự hy sinh Năm 1901
S Prudhomme trở thành người đầu tiên trên thế giới được trao giảiNobel “vì những giá trị văn chương xuất sắc, chủ nghĩa lí tưởng cao
cả, nghệ thuật hoàn thiện và sự kết hợp tuyệt vời giữa tình cảm vàtài năng”
Sully Prudhomme mất tại nhà riêng ở ngoại ô Paris ngày7/9/1907 Tên tuổi Sully Prudhomme còn nổi tiếng là người dùngtiền của giải thưởng Nobel lập ra một giải thưởng dành cho các nhàthơ trẻ nước Pháp
Trang 13Tác phẩm:
- Tứ tuyệt và các bài thơ (Stances et poèmes, 1865), thơ
- Thử thách (Les épreuves, 1866), thơ
- Những phác thảo về Italia (Croquis Italiens, 1866-1868), thơ
- Nỗi cô đơn (Les solitudes, 1869), thơ
- ấn tượng chiến tranh (Impression de la guerre, 1870), thơ
- Nước Pháp (Le France, 1870), thơ
- Định mệnh (Les destins, 1872), thơ
- Loài hoa nổi loạn (La révolte des fleurs), thơ
- Lòng dịu dàng hoài phí (Les vaines tendresses, 1875), thơ
- Hạnh phúc (Le bonheur, 1888), trường ca
- Công lí (La justice, 1888), thơ
- Di chúc thơ (Le testament poétique, 1900), tiểu luận
- Tôn giáo đích thực theo Pascal (La vraie religion selon Pascal,1905), khảo luận
- Vấn đề mục đích cuối cùng (Le problème des causes finale,1906), khảo luận
- Tâm lí của sự tự do lựa chọn (Psychologie du libre arbitre,1906), khảo luận
- Phiêu bạt (Les epaves, xuất bản năm 1908), thơ
Trang 14Một số bài thơ:
GIỐNG NHAU
Nếu em muốn biết được vì sao anh
Lại yêu em chân thành, tha thiết vậy?
Em yêu ạ, anh yêu em là bởi
Em giống như thời tuổi trẻ của anh
Ánh mắt em đầy hy vọng nhưng buồnTỏa ánh sáng chói ngời như tia chớpTrong lòng em ngập tràn bao mơ ước
Em giống như thời tuổi trẻ của anh
Thân hình em kì diệu và mong manhNhư người đẹp thành Tơ-roa thuở trước
Vẻ lộng lẫy trên mái tóc, trên ngực
Em giống như thời tuổi trẻ của anh
Tình yêu chân thành, tha thiết cháy lênMỗi giây phút lời “yêu em” anh nói
Nhưng em bước đi, không thèm ngoái lại
Em giống như thời tuổi trẻ của anh
GIỌT SƯƠNG
Ta nhìn thấy, rất buồn bã trong mơ
Những giọt sương lấp lánh trên đồng cỏBàn tay lạnh của đêm đen đã thả
Những giọt sương lên những cánh hoa
Trang 15Những giọt sương rơi xuống từ đâu vậy?Không mây mù, nơi ấy chẳng hề mưa.Thì ra trước khi lấp lánh trên hoa
Trong không khí sương đã từng run rẩy.Những giọt lệ từ đâu trong đôi mắt?Giữa trời xanh không một dấu vết buồn.Thì ra trước khi ánh lên trong mắt
Trong bình hoa đã héo hon
Vì em khẽ chạm quạt nan vô tình
Bình nay đã vỡ xin đừng chạm tay!
Con tim tôi cũng thế này
Dịu dàng khẽ chạm bàn tay, một lần
Kể từ dạo ấy trong tim
Vết thương còn mãi, dù nhìn chẳng ra.Tim vẫn sống như ngày qua
Và che giấu nỗi xót xa của mình
Nhưng tai họa cứ lớn lên
Trang 16Tim nay đã vỡ xin đừng chạm tay!
HORA PRIMA (1)
Tôi chào đón ngày khi còn chưa thức dậy
Bằng ánh sáng của mình ngày chạm đến thế kỉ tôiNhưng tôi chưa nhận ra sự tiếp xúc như vậy
Khi ngày nhìn hồn tôi xuyên qua giấc mơ đời.Tôi nằm im trên giường, không cử động
Như pho tượng đá trên những nấm mồ
Trong đầu tôi những nghĩ suy rất sáng
Tràn ngập ánh mặt trời, tôi không mở mắt ra.Tôi cảm thấy như trong ánh bình minh
Chào vầng dương, dàn đồng ca đang hát
Và trong tim tôi có tiếng hót của chim
Không thấy hoa, chỉ mùi hương ngào ngạt
Ngoài thực tại, ngoài những điều lo lắng
Của cuộc đời, tôi cảm thấy như là
Rất ngọt ngào, tất cả niềm vui sướng
Không ngủ mà đang sống, tựa trong mơ
(1) Giờ thức tỉnh (tiếng Latinh).
CHƯA BAO GIỜ NGHE TÊN
Chưa bao giờ nghe tên, chưa nhìn thấy
Chưa bao giờ tôi từng gọi tên em
Nhưng chung thủy và vui lòng chờ đợi
Đến muôn đời, tôi vẫn mãi yêu em!
Tôi giang tay hướng về em, cầu nguyện
Trang 17Chẳng hề gì khép lại cánh tay run
Bởi vòng tay lại về em hướng đến
Đến muôn đời, tôi vẫn mãi yêu em!
Chỉ là ước mơ, chỉ là hy vọng
Theo dòng lệ này, như nước, tan nhanh
Tuôn dòng lệ, tôi vui mừng sung sướng
Đến muôn đời, tôi vẫn mãi yêu em!
Chưa bao giờ nghe tên, chưa nhìn thấy
Chưa bao giờ tôi từng gọi tên em
Nhưng tôi biết em, tôi cảm tạ em
Đến muôn đời, tôi yêu em, mãi mãi!
SỰ CỨU RỖI TRONG NGHỆ THUẬT
Nếu chỉ có trời xanh và biển xanh
Màu đỏ của hoa hồng, màu vàng lúa mạch
Thì vẻ đẹp khô khan vuốt ve ánh mắt
Niềm vui của ta thật cay đắng vô cùng
Nhưng có vẻ đẹp khác ở chốn trần gian:
Nụ cười đắng cay trong nước mắt cúi xuống
Dễ thương hơn cả màu xanh của trời, của biển
Đó là bóng hình người phụ nữ yêu thương
Linh hồn ta chịu đau khổ muôn năm
Nhưng giữa những bài ca, sau những lời to nhỏ
Đau khổ của tình yêu vẫn đắm đuối mê hồn
Nghệ thuật hãy cứu ta, như áo giáp binh
Để bóng hình thân thương, ta yêu mà không đau khổNhư màu của trời xanh, như hương của hoa hồng!
Trang 18Fredéric Mistral (1830-1914) – nhà thơ Provence (Pháp) đoạt
giải Nobel Văn học năm 1904 F Mistral sinh ngày 8 tháng 9 năm
1830 tại làng Maillane, Pháp, giữa Avignon và Arles của thung lũngsông Rhône Ông lớn lên giữa khung cảnh thiên nhiên kỳ diệu củaquê hương, giữa những người dân quê và ông sớm quen với côngviệc của họ Bố ông là một trại chủ giàu có, người toàn tâm toàn ývới những phong tục của đức tin và tổ tiên Mẹ ông nuôi dưỡng tâmhồn trẻ thơ của ông qua những bài hát và truyền thống quê hương.Trong suốt thời gian theo học ở Avignon, cậu bé đã đọc những tácphẩm của Homer và Virgil, những tác phẩm đã tạo ấn tượng sâu sắctrong tâm hồn ông Một trong các giáo sư, nhà thơ JosephRoumanille, đã thổi vào ông tình yêu tha thiết đối với tiếng mẹ đẻ,tiếng Provence Năm 1851 ông tốt nghiệp Đại học rồi dành toàn bộthời gian của mình cho sự nghiệp văn học Năm 1854 ông cùng vớisáu nhà thơ khác đã sáng lập Félibrige - Hiệp hội Hỗ trợ Phát triểnNgôn ngữ và Văn học Provence, xuất bản tạp chí AlmanachProvence cùng Joseph Roumanille Suốt đời F Mistral hoạt độngkhông mệt mỏi cho Félibrige và mơ ước phục hồi nền văn học vàngôn ngữ Provence
Năm 1859 ông xuất bản thiên trường ca Miréio, viết về một côgái thôn quê ngoan ngoãn và xinh đẹp không thể lấy được ngườimình yêu vì bố cô không đồng ý Tuyệt vọng, cô trốn nhà đến nươngnhờ tại một nhà thờ nơi hành hương của những người theo đạoThree Saint Marys trên đảo Camargue, vùng châu thổ sông Rhône
Trang 19Tác giả đã kể lại một cách quyến rũ tình yêu trẻ trung của cô gái và
mô tả bằng nghệ thuật bậc thầy cuộc chạy trốn của cô qua caonguyên Crau lởm chởm đá Kiệt sức vì cái nắng như thiêu như đốtcủa vùng Camargue, cô gái trẻ bất hạnh cuối cùng cũng đến đượcnhà thờ để chết Nơi đó, trong ảo ảnh, ba vị thánh Mary đã hiện lêntrước mắt cô đúng lúc cô trút hơi thở cuối cùng Bi kịch tình yêu nàyđược nhiều nhà thơ lớn của nước Pháp đánh giá cao A Lamartinevốn là một người luôn cẩn trọng vẫn bị quyến rũ bởi những tácphẩm hay, đã viết: “Một nhà thơ vĩ đại đã ra đời" Ông so sánh thơcủa F Mistral với một hòn đảo trong quần đảo, một Delos trôi nổi đãphải tự tách mình ra khỏi quần thể để âm thầm đến với Provencengát hương Năm 1875 F Mistral xuất bản tập thơ Những hòn đảovàng, gồm những bài thơ trữ tình bất hủ Cuốn từ điển Provence -Pháp Kho báu Félibrige là tác phẩm độc đáo của ông, mang tínhbách khoa thư, chứa đựng những kiến thức phong phú về phươngngữ, văn học dân gian, phong tục tập quán, tín ngưỡng của một nềnvăn hóa Năm 1890 ông hoàn thành vở kịch duy nhất của mình là
Nữ hoàng Jano
Năm 1904, năm thứ 50 của phong trào Félibrige, F Mistral nhậngiải Nobel (cùng với nhà viết kịch Tây Ban Nha J Echegaray) vì lítưởng cao cả và những cống hiến lớn lao cho sự phục hồi tinh thầndân tộc Ông đã dùng tiền của giải thưởng Nobel lập Bảo tàng Vănhóa Dân gian Provence
F Mistral mất ngày 25-3-1914 do bị cảm lạnh khi đang nghiêncứu văn khắc trên quả chuông nhà thờ Mainllane, để lại những câuthơ khiến người ta nghĩ rằng: các nền văn minh có thể chết nhưngkhông bao giờ biến mất Thơ của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng,trong đó có tiếng Việt
Trang 20- Kho báu Felibrige (Lou tresor dóu Félibrige, 1878-1886), từ điển
- Nữ hoàng Jano (La Rèino Jano, 1890), kịch
- Trường ca sông Rhone (Lou Pouèmo dóu Rhone, 1897), trườngca
- Hồi kí Mistral (Moun espelido: memori è raconte, 1906), hồi kí
- Mùa thu hoạch oliu (Les oulivado,1912), tập thơ
Trang 21Một số bài thơ:
MAGALI
- Ôi Magali (1), ôi thiên thần của anh
Hãy thức dậy và nhìn ra cửa sổ
Tiếng lục lạc của anh đang kêu đó
Cùng với tiếng vĩ cầm
Trời đầy sao và đợi ánh bình minh
Nhưng mà em hãy hiện
Những vì sao sẽ trở thành màu xám
Khi đứng trước em
“Hãy để tôi yên cùng với cây đàn
Tôi không yêu những lời dại dột
Còn nếu không, tôi như con cá chạch
Sẽ lặn vào giữa sâu thẳm màu xanh”
- Ôi Magali, Magali của anh
Và sẽ mỉm cười anh đau khổ với
Đống vằng lưới của anh”
- Ôi Magali, nếu như em trở thành
Con chim bay vào bụi
Thì anh làm người săn chim cùng với lưới
Và em sẽ là của anh
Trang 22“Thì khi đó tôi cất cánh bay cao
Và sẽ hoá thành đám mây, xa thẳm
Tôi sẽ bay về nơi cuối tận
Theo gió, đuổi những con tàu”
- Ôi Magali, nếu em theo ngọn gió
Nơi đó tôi cháy như ngọn lửa
Và toả ánh hào quang!”
- Nếu em thành ánh sáng, Magali của anhThì anh sẽ hoá thành con rắn biển
Dưới ánh mặt trời anh sưởi ấm
Và em sẽ là của anh
“Không ánh sáng, chẳng lửa hồng
Sẽ không trao cho con rắn
Tôi sẽ hoá thành trăng lạnh
Sẽ bơi trên mặt đất ngủ mơ màng…”
- Ôi Magali, nếu em hoá thành trăng
Ánh trăng trong đêm vắng
Thì anh sẽ hoá thành làn sương mỏng
Và em sẽ là của anh
“Lời gian dối không thể chiếm được tôiTôi sẽ tìm ra lối thoát
Sẽ hoá thành một rừng cây
Và sẽ đeo vỏ cây bì lên mặt…”
- Ôi Magali, Magali, em cứ việc
Cứ là một rừng xanh
Còn anh sẽ là dây trường xuân quấn chặt
Và em sẽ là của anh
Trang 23“Tôi sẽ vào tu viện, theo con đường
Thoát cõi đời lăng xăng, bận rộn
Để sống trong nghiêm khắc, lặng yên, màu trắngGiữa lời nguyện cầu và sự trắng trong…”
- Ôi Magali, nơi đó em trở thành
Một Nàng dâu của Chúa
Còn anh sẽ thành cái bàn hầu hạ
Và em sẽ là của anh
“Không! Nếu bằng sức mạnh hoặc láu lỉnh, tinh ranh
Mà người ta cho anh vào tu viện
Thì sẽ thấy một nấm mồ khói hương bay quyện
Và cây thập ác, mô đất mới đắp lên!”
- Ôi Magali, nếu em cứ giấu mình
Trong ngôi mồ bí ẩn
Thì anh đây sẽ đi về đất lạnh
Để em sẽ là của anh
“Khoan, đừng vội đi đâu… em sẽ ra ngoài hiên
Để cho, không một ai nghe thấy
Chiếc nhẫn pha lê này, anh cầm lấy
Và hãy đừng quên, đừng phụ tình em…”
- Ôi Magali của anh!
Bây giờ em hãy nhìn
Con tim này này mở rộng
Trang 24Ngọn lửa cháy bừng lên
Ánh hào quang rạng rỡ
Trong ánh mắt người tình
Giờ nỗi buồn vây quanh
Như bóng đêm dày đặc
Nhưng sẽ đến hào quang
Khoảnh khắc cần nắm bắt
Hỡi chàng trai si tình
Tình yêu như đồng cỏ
Giao cho người cắt cỏ
Bông hoa đỏ cháy lên
Xin nói cùng người bạn
Hãy trao cho dao chạm
GẶP GỠ
Tôi đi qua bãi tắm
Trên bãi cát vàng
Vẻ dịu dàng của cô gái da ngăm
Bừng lên như ảo ảnh
Và khung cửa mở toang
Bờ môi của em
Uống ngọn gió mặt trời
Cửa đóng
Nàng tựa hồ như giấc mộng
“Anh hãy là của em” –
Tôi cầu nguyện Nỗi đam mê dâng lên
Lòng tôi trĩu nặng Nàng giơ cánh tay tuyệt trần
Và kêu lên:
“Hãy để cho đôi cánh
Trang 25Của tình yêu đưa ta đến hào quang”.
Thung lũng tình yêu
Trong bóng rừng sồi Con đường dẫn ta về đập nướcCủa những điều khao khát
Ta đến gần hơn chốn xa xôi
Ta ở đây chỉ có hai người
Cuộc đời hãy chết
Nhưng hãy gìn giữ thơ tôi
Hãy gìn giữ tiếng thì thầm dịu ngọt
Những giấc mơ giữa ban ngày
Những nụ hôn khao khát
Những tình cảm mê say
Hãy gìn giữ những giọt lệ, tiếng cười
Và bầu nhiệt huyết
Của tình yêu sơ suất
Và hãy giữ gìn khoảng rộng bao la
Cây cỏ mọc trên núi An-pơ
Hút vào những tuyết
Rồi hương thơm lại rót
Trên cỏ và hoa
Mùa xuân đến tự bao giờ
Trên bờ môi người yêu dấu nhất
Và nụ cười trên môi
Hương thơm ngào ngạt
Khi mũi tên vô hình
Vào tôi đâm thủng
Tiếng gọi của người tình
Trong cỏ hoa vang vọng
Không còn nghe tiếng sấm vang lên
Và nước trên đồi đổ xuống
Dòng thác lăn nhanh
Như tên bắn
Trang 26Trong thung lũng đam mê
Than ôi, lối quay trở về
Dành cho ta đã không còn nữa
Em mỉm cười rồi nói cho tôi biết
Trong ngày lễ ở Aliskampe
Ngọn gió biển mang em về
Ở đó em nhìn tận mắt
Lễ mi-xa của Chúa Giê-su
Giosue Carducci (1835-1907) – nhà thơ, nhà văn Italia đoạt giải
Nobel Văn học năm 1906 Giosue Carducci sinh ngày 27-7-1835 ởvùng tây - bắc tỉnh Toscana, Italia Là con trai một bác sĩ, thành viêncủa một tổ chức bí mật đấu tranh thành lập chính thể lập hiến nêngia đình thường xuyên phải chuyển nơi ở Từ năm 1848, gia đìnhchuyển đến Firenze, Carducci mới được đến trường Cậu bé say mêvăn học cổ điển, đọc nhiều, bắt đầu viết về đề tài lịch sử, làm thơtrào phúng, dịch khúc thứ 9 trong trường ca Iliad của Homer Năm
1853 G Carducci được học bổng vào trường Đại học Pisa, học triết
và văn học, kết bạn với những người đồng chí hướng thuộc nhómVăn Đàn
Trang 27Sau khi tốt nghiệp Đại học Pisa, ông làm giảng viên tại trườngtrung học thành phố Man-Miniato-al-Tedesco Năm 1857 ông in tậpthơ đầu tiên Thi vận, gồm những bài sonneto và ballata mang mộttình cảm ái quốc sâu nặng, thiếu vắng hẳn những tình cảm ủy mịcủa chủ nghĩa lãng mạn G Carducci là một trong những ngườiđứng đầu đã tập hợp quanh mình nhóm tác giả của tạp chí Phụ bản
do Pietro Tuar ấn hành, coi nhiệm vụ của mình là bảo vệ nền thơ caItalia thoát khỏi cái mà họ gọi là "ảnh hưởng nguy hại của chủ nghĩalãng mạn" Những năm 1857-1858 G Carducci gặp nhiều khó khăn:tài chính eo hẹp, anh trai tự tử, cha mất sau đó một năm Sang năm
1859, ông lấy vợ, năm sau nhận được chức giảng viên khoa tiếng HiLạp tại trường Đại học Pistoja Còn sau vài tháng, ông trở thành giáo
sư Văn học Italia tại Đại học Bologna, giữ chức trưởng khoa đến khi
về hưu vào năm 1904
Di sản thơ của G Carducci không nhiều, trong bộ tuyển 30 tậpchỉ có 4 tập thơ, phần còn lại là khảo luận, chuyên luận khoa học vàcác bài tranh luận Các tác phẩm thơ tiêu biểu của ông là Nhẹ nhàng
và nghiêm trọng (1861-1868), Thơ mới (1861-1887), Những đoản thiman dại (ba tập, 1878-1889) Những năm cuối đời G Carducci, vốnnổi tiếng là một nhà hùng biện, được coi là nhà thơ dân tộc Italia, trởthành thượng nghị sĩ, ủng hộ chính sách bành trướng của Italia ởchâu Phi
Ngoài sáng tác thơ, G Carducci còn nổi tiếng là một nhà phêbình và nhà ngôn ngữ học Ông là tác giả của nhiều bài viết quantrọng và Dante, Petrarca, Boccaccio… Năm 1906 ông được trao giảiNobel Văn học vì “phong cách mới mẻ và sức mạnh trữ tình trongthơ” Ông mất ngày 16-2-1907 tại Bologna, một năm sau khi nhậngiải Nobel Văn học
Trang 28Tác phẩm:
- Thi vận (Rime, 1857), thơ
- Nhẹ nhàng và nghiêm trọng (Levia gravia, 1861-1868), thơ
- Thánh ca cho quỉ Satan (Inno a Satana, 1865), thơ
- Thơ Iambơ và epodes (Giambi ed epodi, 1882), thơ
- Thơ mới (Rime nuove, 1861-1887), thơ
- Những đoản thi man dại (Delle di barbare, 1878-1882, 1889), thơ
- Nghiên cứu về những thế kỉ đầu tiên của quá trình phát triểnvăn học Italia (Studii su la le eratura italianna dei primi secoli),khảo luận
- Về sự phát triển nền văn học dân tộc (Dello svolgimento della
le eratura nazionale, 1868-1871), phê bình
- Nghiên cứu văn học (Studi le erati, 1874), khảo luận
- Phác thảo phê bình và tranh luận văn học (Boze i critici ediscorsi le erari, 1876), phê bình
- Thi vận và tiết điệu (Rime e ritmi, 1901), thơ
Trang 29Một số bài thơ:
Ở VÙNG TERME DI CARACALLA
Những đám mây đen bay qua Aventino, Celio
Ngọn gió buồn từ đồng bằng mang hơi ẩm
Đằng xa – những ngọn đồi Anbani
Đứng trong tuyết trắng
Dưới màu tro của tấm khăn voan
Dâng lên màu xanh, cô gái người Anh tìm trong sáchNhững cuộc tranh luận của thời xa lắc
Và bầu trời với những viên đá thành Rôm
Bầy quạ đen không ngừng tiếng kêu vang
Quạ bay giữa trời như có vẻ
Tiếng gọi của ai nghe rất dữ
Và to lớn vô cùng
Người khổng lồ cổ đại mơ tưởng, than phiền
Bầy yêu tinh – với trời xanh tranh luận
Từ Laterano nghiêm trang đổ xuống
Một hồi chuông
Kẻ lười biếng quấn vào chiếc áo choàng
Miệng huýt gió, không nhìn ai hết
Bây giờ ta gọi ngươi, bệnh sốt rét
Ở đây, ngươi là thiên thần
Nếu động đến ngươi giọt nước mắt tuyệt trần
Và lời van xin của nhiều bà mẹ
Chùi nước mắt cho bầy con trẻ
Cúi mình xuống nhọc nhằn
Trang 30Động chạm đến Palazio vinh quang
Cái bàn thờ xưa (ngọn đồi evandrio
Tebro trong buổi chiều vật vờ
Khắp Campidoglio
Hoặc Aventino, rồi trở về
Ngắm mưa đá đang đổ xuống
Ở Palatino – kiêu hãnh ngẩng đầu lên
Ở Aventino, Celio buông tay xuống
Từ Capena đến Appia con đường lớnGiũ sạch bờ vai
TIẾNG KHÓC
Cây lựu lại cúi mình
Trong im lặng của khu vườn hoang vắng
Và những chiếc lá lại vui mừng
Đón ánh nắng của mùa hè nóng bỏng.Như bàn tay con trẻ, thường xuyên
Tiếng khóc đã từng giăng ra một thuởLên màu của những chiếc lá xanh
Và lên màu lá đỏ bừng như lửa
Màu của cô đơn, màu cuối cùng
Màu của lá cành không đến nỗi
Màu của cuộc đời tôi không cần
Trang 31Với ngươi, ta không còn gặp lại.
Ngươi ở trong đất đen lạnh lẽo
Mặt trời tháng sáu như ánh mắt nhìn
Niềm vui cho ngươi – không mang tới
Tình yêu cho ngươi – chẳng thức lên
Mooris Maeterlinck (1862-1949) - nhà viết kịch, nhà thơ, nhà
triết học người Bỉ viết bằng tiếng Pháp (tên đầy đủ là Count Maurice(Mooris) Polidore Marie Bernhard Maeterlinck)
Sinh ngày 29-8-1962 tại Ghent trong một gia đình khá giả, bốlàm công chứng, mẹ là con gái một luật sư giàu có Sau khi tốtnghiệp trung học và Đại học Luật Mooris Maeterlinck lên tu nghiệp
về luật tại Paris Năm 1886, ông gia nhập Đoàn Luật sư Ghent, viếtthơ, kí, phê bình cho các báo và tạp chí như Nước Bỉ trẻ (La JeuneBelgique), La Wallonie Năm 1886 ông in truyện ngắn đầu tiên Cuộctàn sát những kẻ vô tội; năm 1889 xuất bản tập thơ đầu tiên và vởkịch đầu tiên, được một nhà phê bình Pháp rất có thế lực là O.Mirbau hết lời khen ngợi Từ đó ông bỏ nghề luật sư Trong nhữngnăm tiếp theo, ông viết hàng loạt vở kịch cổ tích, tượng trưng, kịchrối Năm 1895 M Maeterlinck cưới vợ là Leblan - diễn viên thamgia đóng các vở kịch của ông và năm 1896 sang Paris sinh sống M.Maeterlinck ủng hộ nghệ thuật thuần túy, là một trong những đạidiện tiêu biểu của trường phái tượng trưng cả trong thơ ca lẫn sânkhấu, trong các tác phẩm của mình mở ra một thế giới đầy màu sắc,
Trang 32mộng ảo chống lại số phận khắc nghiệt Năm 1909 ông viết xong vởkịch Con chim xanh là một kiệt tác sân khấu của kể về những cuộcphiêu lưu kiếm tìm hạnh phúc qua hình tượng con chim xanh, trởthành một điển cố văn học biểu tượng cho hạnh phúc tình yêu.
Mooris Maeterlinck được trao giải Nobel Văn học nhờ nhữngtác phẩm kịch mang nội dung phong phú, giàu tưởng tượng đầy thi
vị Ông thường sử dụng thể loại cổ tích bởi vì cổ tích là biểu hiện sâunhất và giản dị nhất của nhận thức tập thể, khơi dậy những cảm xúccon người Kịch của ông thể hiện những hệ thống triết lý hình thànhmột cách trực giác Mô típ cái chết thường xuyên hiện diện trong tácphẩm của ông ở giai đoạn cuối mang thêm màu sắc của chủ nghĩathần bí M Maeterlinck được coi là một trong những người khởi đầucủa sân khấu kịch phi lí; các vở kịch của ông đến ngày nay vẫn đượcdàn dựng ở nhiều nước trên thế giới
Trong Thế chiến I, ông xin vào dân quân nhưng không đượcchấp nhận vì quá tuổi và nhà văn đã thể hiện lòng yêu nước bằnghàng loạt cuộc nói chuyện tuyên truyền ở Châu Âu và Mỹ Năm
1939 Đức quốc xã đe dọa chiếm cả châu Âu Mooris Maeterlinck chạysang Bồ Đào Nha, khi cảm thấy rằng Bồ Đào Nha cũng sẽ bị Đứcchiếm, ông cùng với vợ sang Mỹ Năm 1947 ông trở về Nice, Pháp Ngoài giải Nobel Mooris Maeterlinck được tặng huân chươngĐại thập tự của vua Leopold (1920), huân chương Thanh kiếm của
Bồ Đào Nha (1939) và được vua Bỉ phong tước hiệu Bá tước (1932).Ông mất ngày 6-5-1949 tại Nice, Pháp
Trang 33Tác phẩm:
- Cuộc tàn sát những kẻ vô tội (Le massacre des innocénts, 1886),truyện
- Vườn kính (Serres chaudes, 1889), tập thơ
- Công chúa Maleine (La princesse Maleine, 1889), kịch
- Người đàn bà đột nhập (L'intruse, 1890), kịch
- Những người mù (Les aveugles, 1890), kịch
- Bảy nàng công chúa (Les sept princesses, 1891), kịch
- Pelleas và Mélisande (Pelléas et Mélisande, 1892), kịch
- Alladine và Palomides (Alladine et Palomides, 1894), kịch
- Cái chết của Tintagiles (La mort de Tintagiles, 1894), kịch
- Kho báu của những kẻ nhẫn nhục (Le trésor des humbles, 1896),luận văn mĩ học
- Mười hai bài hát (Douze chansons, 1896), thơ
- Aglavaine và Selyse e (Aglavaine et Selyse e, 1896), kịch cổtích
- Khôn ngoan và định mệnh (Le sagesse et la destinée, 1898),khảo luận triết học
- Đời sống loài ong (La vie des abeilles, 1900), khảo luận
- Ariane và gã Râu Xanh (Ariane et Barbe-Bleue, 1901), kịch
- Trí tuệ của hoa (L'intelligence des fleurs, 1907)
- Con chim xanh (L'oiseau bleu, 1909), kịch
- Thị trưởng Stilemonde (Bourgmestre de Stilemonde, 1919)
- Miền tiên cảnh lớn (La grande féerie, 1924), tiểu luận
Trang 34- Tai họa đã qua (Le malheur passe, 1925), kịch
- Đời sống của mối (La vie des termites, 1926), tiểu luận
- Đời sống không gian vũ trụ (La vie de l'espase, 1928), tiểu luận
- Đời sống loài kiến (La vie des fourmis, 1930), tiểu luận
- Quy luật vĩ đại (La grande loi, 1933), tiểu luận
- Trước mặt Chúa (Devant Dieu, 1937), tiểu luận
- Thế giới khác, hay khớp vũ trụ (L'autre monde ou le cardanstellaire, 1942), tiểu luận
Trang 35- Em cứ lựa lời nói với người ta
Có thể người ta cũng đau buồn đấy…Nếu người hỏi biết tìm chị nơi đâuThì biết nói sao cho người yên dạ?
- Chiếc nhẫn vàng của chị em hãy traoCho người ta, đừng nói thêm gì cả…Nhưng nếu như người ấy hỏi em rằngSao không có lửa, sao nhà vắng vậy?
- Em hãy chỉ vào cánh cửa mở toang
Và ngọn đèn đã tắt cho người ấy…Thế nếu như người ấy hỏi em rằngChị có buồn, chị có từng than thở
- Em hãy nói rằng chị đã cười lên
Để người ta vì chị mà đau khổ…
CHÀNG TRAI ĐÃ RA ĐI
Trang 36Chàng trai đã ra đi
(Cửa rung lên – tôi biết)
Chàng trai đã ra đi
Nàng mỉm cười vĩnh biệt…
Chàng trai quay trở lại
(Đèn nói – tôi biết mà)
Chàng trai quay trở lại
Nhưng nàng đã đi xa…
Tôi nhìn ra cái chết
(Tôi biết tâm hồn chàng)
Tôi nhìn ra cái chết
Tôi đã lấy hồn anh…
Rabindranath Tagore là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhạc sĩ
và họa sĩ Ấn Độ Là con thứ mười bốn của một điền chủ - nhà cảicách tôn giáo giàu có Ông đi học ở trường một thời gian ngắn; vềsau học ở nhà với cha 8 tuổi, R Tagore nổi tiếng giỏi văn nhất vùng
Trang 37Bengal; 13 tuổi có thể sáng tác nhạc, họa, đọc sách cổ bằng tiếngPhạn và dịch kịch Shakespeare; 17 tuổi sang Anh du học; năm 1880,trở về Ấn Độ, viết vở nhạc kịch đầu tiên Từ giữa những năm 1880,
R Tagore sáng tác nhiều tập thơ, truyện ngắn, kịch; về sau, khi trởthành chủ bút các tờ báo khác nhau ông đã tự in tác phẩm của mình.Hầu hết sáng tác viết bằng tiếng Bengal, trong đó có một phần được
R Tagore dịch sang tiếng Anh
Là người yêu nước nhiệt thành, nhưng R Tagore không thểhiện mối quan tâm lớn đến chính trị, và việc từ chối ủng hộ M.Gandhi của ông đã làm thất vọng nhiều người hâm mộ ông ở Ấn
Độ R Tagore coi điều quan trọng hơn cả không phải là thay đổichính thể, mà là phục hưng dân tộc, cho rằng có thể tổng hợp nhữngtinh hoa từ các nền văn hóa Đông và Tây Vì mục đích đó, năm 1901ông thành lập trường tư thục Santiniketan dành cho học sinh namtại thái ấp cùng tên của gia đình ở ngoại ô Calcu a; năm 1921 nơiđây trở thành trường Đại học Tổng hợp Quốc tế Visvabkharati dànhcho các nhà khoa học có nguyện vọng tìm hiểu các nền văn minhPhương Đông R Tagore dành phần lớn thời gian trong những nămcuối đời của ông cho việc phát triển trường đại học này và chonhiệm vụ đoàn kết thế giới trong nền văn hóa quốc tế 50 năm sauVisvabkharati trở thành một trường Đại học Tổng hợp danh tiếngthế giới
Năm 1910 ra đời tiểu thuyết sáng giá nhất của R Tagore - Gora
- ủng hộ tính nhẫn nại tôn giáo và chính trị Năm 49 tuổi R Tagorexuất bản bằng tiếng Anh tập thơ Gitanjali ( tiếng Bengal có nghĩa làLời dâng) Thi phẩm này là lý do cho việc đề cử trao giải Nobel Vănhọc năm 1913, được cả thế giới công nhận là kỳ công thứ hai của vănhọc Ấn Độ (sau Sakuntala của Kalidasa, nhà thơ lớn Ấn Độ thế kỷthứ V) Đang ở Mỹ, R Tagore không đến Thụy Điển nhận giải, chỉgửi một bức điện cảm ơn ngắn Nhà thơ hiến số tiền nhận từ giảithưởng cho ngôi trường của mình để miễn học phí cho học sinh
Trang 38Thời kỳ sau Lời dâng R Tagore bắt đầu được tôn vinh ở Tổ quốc củamình như một vị thánh.
Từ năm 45 đến 59 tuổi, R Tagore lần lượt đi thăm các nướcNhật, Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc và Liên Xô; năm 1929 ông đã đếnthăm Sài Gòn 3 ngày Năm 1915, ông được vua Anh phong tước hiệuquý tộc, nhưng sau vụ thảm sát ở Amritsar năm 1919, ông đã từ chốidanh hiệu đó R Tagore được trao học vị danh dự của bốn trườngđại học tổng hợp Ấn Độ và trường Đại học Tổng hợp Oxford
Năm 68 tuổi R Tagore bắt đầu vẽ tranh và triển lãm ở Munich,New York, Paris, Moskva và nhiều nơi khác 80 tuổi R Tagore quađời tại quê hương Calcu a sau 2 năm bị mù, để lại 52 tập thơ, 42 vởkịch, 12 cuốn tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, bút kí, tiểu luận,diễn văn, hồi ức, thư tín cùng hàng ngàn ca khúc và tranh vẽ vô giá
Trang 39Tác phẩm:
- Câu chuyện nhà thơ (Kabikahine, 1878), trường ca
- Tiếng hát buổi chiều (Sandhya sangeet, 1882), thơ
- Tiếng hát buổi sáng (Prabhat sangeet, 1883), thơ
- Lễ hiến sinh (Visarjan, 1890), kịch
- Một lí tưởng (Manasi, 1890), thơ
- Con thuyền vàng (Sonar tari, 1894), thơ
- Khoảnh khắc (Khanika, 1900), thơ
- Tặng vật (Naivedya, 1901), thơ
- Kí ức (Sharan, 1902), thơ
- Hạt cát nhỏ (Cokher bọli, 1903), tiểu thuyết
- Đắm thuyền (Naukọdubi, 1906), tiểu thuyết
- Trẻ thơ (Sisu, 1909; năm 1915 đổi tên thành Trăng non), thơ
- Gora (1910), tiểu thuyết
- Vượt biển (Kheya, 1906), thơ
- Hi sinh (Naibedya, 1910), thơ
- Lời dâng (Gitanjali, 1910), thơ
- Thân chủ của gia đình (Raja, 1910), kịch
- Vô cảm (Achalayatan, 1912), kịch
- Sở bưu điện (Dakghar, 1912), kịch
- Hồi ức (Jibansmriti, 1912), thơ
- Đá khát và những câu chuyện khác (Hungry stones and otherstories, 1913), tập truyện
- Bài hát tưởng niệm (Gitimalya, 1914), thơ
- Người làm vườn (The gardener, 1914), thơ
- Vòng hoa thơ (Gitali, 1914), thơ
- Ngôi nhà và thế giới (Ghare - baire, 1916), tiểu thuyết
- Thầy tu khổ hạnh (Xaniaxi, 1916), kịch
- Mùa xuân trở lại (Phalguni, 1916), kịch
Trang 40- Đường bay của chiếc cần cẩu (Balaka, 1916), thơ
- Mùa hái quả (Fruit - gathering, 1916), thơ
- Tặng vật (Lover's gift, 1918), thơ
- Kẻ lánh nạn (The fugitive, 1921), thơ
- Thác nước (Muktadhara, 1922), kịch
- Cây trúc đào đỏ (Rakta - karabi, 1926), kịch
- Dòng chảy (Yogayog, 1929), tiểu thuyết
- Cuộc khủng hoảng của nền văn minh (Sabhyatar sankat, 1941),tiểu luận