NHU L?I C?U KINH THE PRAYER OF THE FROG NHƯ LỜI CẦU KINH THE PRAYER OF THE FROG ANTHONY DE MELLO QUYỂN I Dịch giả ĐỖ TÂN HƯNG Đọc lại và bổ túc LM ANTÔN PHAOLÔ, SJ Giấy phép dịch ngày 20 05 2001 Nhà x[.]
Trang 1NHƯ LỜI CẦU KINH - THE PRAYER OF THE
FROG
ANTHONY DE MELLO
QUYỂN I Dịch giả: ĐỖ TÂN-HƯNG
Đọc lại và bổ túc: LM ANTÔN-PHAOLÔ, SJ
Giấy phép dịch ngày 20-05-2001
Nhà xuất-bản Gujarat Sahitya Prakash Anand, India
Trang 2MỤC LỤC
1.- LỜI CẦU KINH CỦA CON ẾCH
2.- THẦY GIÁO TRƯỞNG DO THÁI NHẢY MÚA
3.- CẦU NGUYỆN BẰNG DẠ VŨ
4.- ĐÔI CHÂN CHĨA VỀ THÀNH THÁNH MÉT-CA (MECCA) 5.- LỜI CẦU NGUYỆN CỦA MỘT KẺ MỘ ĐẠO VỚI THẦN VIS-NU (VISHNU)
6.- NHÀ PHÁT MINH
7.- BIẾN THÀNH LỬA
8.- LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI THỢ SỬA GIÀY
9.- CẦU NGUYỆN BẰNG NHỮNG MẪU TỰ
10.- NGHỀ CHUYÊN MÔN CỦA CHÚA LÀ THA THỨ
11.- NGÀI NA-RA-ĐA (NARADA) ĐỘI BÁT SỮA
12.- NGÔI LÀNG LUÔN ĐƯỢC CỨU VỚT
13.- LỜI CẦU NGUYỆN CÓ THỂ CHẾ NGỰ THỜI TIẾT? 14.- SỰ ĐÁP TRẢ TRÌ HOÃN CỦA NỮ THẦN LÁC-SI-MI (LAKSHMI)
15.- LỜI CẦU NGUYỆN CỦA TRẺ CON
16.- MỘT KẺ QUẤY RẦY KHÔNG THỂ CHỊU NỔI
17.- VỀ LỜI CẦU NGUYỆN VÀ NGƯỜI CẦU
18.- TÔI CÓ THỂ GIÚP BÀ ĐƯỢC KHÔNG?
19.- CẢ HAI CHỈ NGHE KHÔNG AI NÓI
20.- VUA ÁC-BA CẦU NGUYỆN
21.- CON BÒ ĐỰC ĐIÊN TIẾT
22.- CẦU XIN CHẤP NHẬN CUỘC SỐNG
23.- VÀO MỘT NGÀY LẠNH TRỜI, CHẾT CÓNG
24.- LÀM BẠN VỚI RỒNG
1.- LỜI CẦU KINH CỦA CON ẾCH
Một đêm kia khi thầy Bruno đang cầu nguyện, thầy bị quấy rầy bởi tiếng ộp ộp của một con ễnh ương Mọi cố gắng của thầy để phớt lờ âm thanh đó đều vô hiệu nên từ cửa sổ, thầy la lớn: "Im đi! Ta đang cầu nguyện!"
Vì thầy Bruno là một vị thánh nên lệnh của thầy được tuân hành ngay Mọi sinh vật đều im hơi lặng tiếng, nhằm tạo sự thinh lặng thuận lợi cho việc cầu nguyện của thầy
Trang 3Nhưng giờ đây một âm thanh khác xâm nhập vào việc thờ phượng của thầy Bruno – một tiếng nói từ bên trong nói rằng:
"Có thể Chúa cũng ưa thích tiếng ộp ộp của con ếch đó như tiếng hát những bài Thánh Vịnh vậy.” Thầy Bruno đáp lại với vẻ khinh miệt: " Tiếng ồp ộp của một con ếch có gì mà làm Chúa nghe lọt tai?" Nhưng tiếng nói đó không chịu từ bỏ: "Con có nghĩ tại sao Chúa đã tạo nên âm thanh không?"
Thầy Bruno quyết định khám phá cho biết tại sao Thầy ngả người ra ngoài cửa sổ và ra lệnh: "Hát lên đi!" Tiếng ộp ộp đều đặn của con ễng ương tràn lan không trung cùng với sự phụ hoạ buồn cười của mọi con ếch ở xung quanh đó Và khi thầy Bruno chú trọng vào âm thanh thì những giọng kêu của chúng không còn làm thầy chói tai nữa, bởi vì thầy khám phá ra rằng nếu thầy không còn kháng cự chúng nữa thì chúng thực sự đang làm phong phú hóa sự tĩnh mịch của đêm trường
Nhờ sự khám phá đó, con tim thầy Bruno đã hòa nhịp với vũ trụ và lần đầu tiên trong đời, thầy mới hiểu cầu nguyện nghĩa là gì
2.- THẦY GIÁO TRƯỞNG DO THÁI NHẢY MÚA
Một câu chuyện trong sách Ha-si đim (Hasidim)
Những người Do Thái ở một tỉnh nhỏ bên nước Nga rất nóng lòng chờ đợi thầy giáo trưởng tới Đó sẽ là một biến cố hiếm hoi nên họ đã để nhiều thời giờ chuẩn bị những câu hỏi
mà họ sẽ đặt ra cho con người thánh thiện đó
Cuối cùng khi thầy giáo trưởng đến và họ gặp thầy ở tòa thị chính, thầy có thể cảm nhận bầu khí căng thẳng khi mọi người sẵn sàng lắng nghe những câu trả lời mà thầy để dành cho họ Trước hết, thầy không nói gì; thầy chỉ nhìn chằm chằm vào đôi mắt họ và ngậm miệng ngân nga một giai điệu lặp đi lặp lại Rồi mọi người bắt đầu ngậm miệng ngân nga theo Thầy bắt đầu hát và họ hát theo thầy Thầy lắc lư và nhảy múa khoan thai, với những bước chân có chừng mực Toàn thể giáo đoàn bước theo thầy như vậy
Chẳng bao lâu, họ dồn hết tâm trí vào cuộc nhảy múa cho đến nỗi họ bị cuốn hút vào những động tác mà quên đi những gì khác ở trên mặt đất Vì vậy mỗi người thuộc đám đông đó làm
Trang 4thành một tổng thể được chữa lành khỏi sự rạn nứt từ bên trong
đã cầm giữ chúng ta xa rời Chân Lý
Cũng phải mất gần một tiếng đồng hồ trước khi cuộc khiêu
vũ chậm lại để rồi chấm dứt Với sự căng thẳng được gỡ khỏi nội tâm con người, ai nấy ngồi xuống trong sự an bình thinh lặng tràn lan căn phòng Rồi vị giáo trưởng nói những lời duy nhất tối hôm đó: "Tôi tin chắc tôi đã trả lời các câu hỏi của quý
vị rồi"
Người ta hỏi một vị tu sĩ Hồi giáo tại sao ông ta thờ phượng Chúa bằng cách nhảy múa Ông trả lời: "Vì thờ phượng Chúa
có nghĩa là chết cho chính mình; sự nhảy múa giết chết cái tôi Khi cái tôi chết, mọi vấn nạn chết theo với nó Nơi nào vắng bóng cái tôi, ở đó có Tình Thương, ở đó có Thiên Chúa"
3.- CẦU NGUYỆN BẰNG DẠ VŨ
Minh Sư ngồi với các đệ tử trong cuộc hội kiến Ông nói:
"Các con đã nghe cầu nguyện nhiều và các con cũng đã đọc kinh cầu nguyện nhiều Tối nay, thầy muốn các con nhìn thấy cầu nguyện một lần"
Vào lúc đó màn kéo lên và buổi dạ vũ bắt đầu
4.- ĐÔI CHÂN CHĨA VỀ THÀNH THÁNH MÉT-CA (MECCA)
Một vị tu sĩ khổ hạnh thánh thiện Hồi giáo đi hành hương Mét-ca Khi tới ngoại vi thành phố, ông nằm xuống bên vệ đường, mệt mỏi do cuộc hành trình Khi vừa mới thiêm thiếp ngủ, thình lình ông bị đánh thức dậy bởi một người hành hương
có vẻ giận dữ: "Đây là lúc mọi tín đồ cúi đầu về phía thành thánh Mét-ca, còn ngươi lại chĩa chân về phía đền thánh Ngươi
là hạng người Hồi giáo gì vậy?"
Vị tu sĩ khổ hạnh không nhúc nhích động đậy; ông chỉ mở mắt ra và nói: "Anh ơi, xin anh làm ơn đặt đôi chân tôi ở đâu để khỏi phải chĩa thẳng vào Chúa?"
5.- LỜI CẦU NGUYỆN CỦA MỘT KẺ MỘ ĐẠO VỚI THẦN VIS-NU (VISHNU)
Trang 5"Ngài ôi, tôi khấn xin Ngài tha thứ cho tôi về ba tội tày trời nầy: trước hết, tôi đã đi hành hương nơi nhiều đền thánh của Ngài mà quên rằng Ngài hiện diện khắp nơi; thứ đến, tôi thường lớn tiếng van xin Ngài phù hộ cho tôi mà quên rằng Ngài lo lắng cho sự an sinh của tôi còn hơn chính tôi; và sau cùng, này đây tôi đang xin Ngài tha thứ, trong khi tôi biết rằng mọi tội lỗi tôi đã được tha thứ trước khi tôi lỗi phạm."
6.- NHÀ PHÁT MINH
Sau nhiều năm khó nhọc, một nhà phát minh đã tìm ra ra kỹ thuật làm lửa Ông đã mang những dụng cụ lên vùng Bắc cực đầy tuyết phủ và bắt đầu dạy cho một bộ lạc về kỹ thuật và những lợi ích của việc làm ra lửa Dân chúng ở đó bị thu hút bởi
sự mới mẻ này đến độ họ không nghĩ tới việc cám ơn người sáng chế nên một ngày kia ông đã lặng lẽ bỏ đi Là một trong những con người hiếm hoi có tâm hồn cao thượng, ông không ước mong được tưởng nhớ hay tôn sùng: tất cả những gì mà ông nhắm tới là sự mãn nguyện được biết có kẻ đã hưởng lợi
từ phát minh của mình
Bộ lạc kế tiếp mà ông tìm tới cũng chỉ háo hức học hỏi như
bộ lạc trước đây Nhưng các thầy tế ở đây, vì ganh tị ảnh hưởng của người phương xa đối với dân chúng nên đã sát hại ông ta
Để xóa đi mọi dấu vết ngờ vực liên quan đến tội ác đó, họ đã dựng nên một bức ảnh của Nhà Phát Minh Vĩ Đại được đặt trang trọng trên bàn thờ chính của đền thờ; họ thiết lập một nghi thức tế lễ để những ký ức về ông tiếp tục sống trong lòng họ
Họ rất cẩn thận kỹ càng không để một lời chỉ dẫn nào của nghi thức phụng tự bị sửa đổi hay quên sót Những dụng cụ dùng vào việc phát minh ra lửa được cất giữ như những vật thiêng liêng trong một cái tráp nhỏ và người ta nói là những vật này đem lại sự chữa lành cho tất cả những ai đặt tay lên đó với lòng tin
Thầy Trưởng Tế đích thân nhận lãnh trọng trách soạn thảo Tiểu Sử của Nhà Phát Minh Sách này đã trở thành Thánh thư trong đó lòng từ bi nhân ái của ngài được tôn lên như mẫu mực cho mọi người noi theo, những công trạng rạng rỡ của ngài được tán dương, bản tính siêu phàm của ngài làm nên đề mục
Trang 6của đức tin Các tư tế làm hết sức để Sách đó được lưu truyền xuống cho các thế hệ mai sau, trong khi họ giữ độc quyền giải thích ý nghĩa các lời nói của ngài cũng như ý nghĩa đời sống thánh thiện và cái chết của ngài nữa Và họ phạt tử hình một cách không thương tiếc hoặc dứt phép thông công bất cứ ai đi lệch ra ngoài giáo lý của họ Bị kẹt trong những nghĩa vụ tôn giáo đó, dân chúng hoàn toàn quên lãng kỹ thuật làm lửa
7.- BIẾN THÀNH LỬA
(Trích Hạnh Các Thánh Tu Rừng)
Viện Phụ Lót (Lot) là tu viện trưởng tìm tới viện phụ Giu-Se (Joseph) cũng là tu viện trưởng và nói: "Thưa cha, tuỳ theo khả năng của con, con tuân giữ luật lệ nhỏ mọn của con cũng như việc ăn chay chút ít của con, con cầu nguyện, chiêm niệm, giữ thinh lặng; và bao lâu còn có thể được, con thanh lọc tâm trí con khỏi những tư tưởng xấu Con phải làm gì thêm nữa đây" Viện phụ lớn tuổi hơn đứng lên trả lời Ngài giơ đôi tay lên trời và những ngón tay của ngài biến thành mười ngọn đèn cháy sáng Ngài nói: "Coi đây: cha phải biến thành lửa hoàn toàn."
8.- LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI THỢ SỬA GIÀY
Một người thợ sửa giày tới gặp vị giáo trưởng Do-thái là I-xa-ác (Issac) thuộc dòng họ Gie (Ger) và nói: "Xin thầy nói cho biết tôi phải làm gì đối với việc đọc kinh ban sáng của tôi Khách hàng của tôi là những dân nghèo và chỉ có một đôi giày để mang Tôi đi lấy những đôi giày của họ lúc chiều tối và làm việc gần trọn đêm; vào lúc hừng đông vẫn còn việc phải làm, nếu họ cần có đôi giày sửa xong trước khi đi làm Vậy câu hỏi của tôi là: tôi phải làm gì đối với việc đọc kinh ban sáng của tôi?”
Vị giáo trưởng hỏi: "Ông đã làm gì cho đến bây giờ đây?"
"Đôi khi tôi đọc kinh vội vàng mau chóng rồi trở lại làm việc – nhưng rồi tôi cảm thấy áy náy về điều đó Những lần khác, tôi
bỏ giờ kinh sáng luôn Rồi tôi cũng có cảm giác mất mát điều gì
và thỉnh thoảng, khi tôi giơ cái búa lên khỏi chiếc giày, tôi gần như nghe tiếng lòng thổn thức: ‘Tôi là một con người bất hạnh làm sao, vì tôi không thể đọc kinh sáng được’."
Trang 7Vị giáo trưởng nói: "Nếu tôi là Chúa, tôi coi trọng tiếng thở dài não nuột đó hơn là lời cầu kinh."
9.- CẦU NGUYỆN BẰNG NHỮNG MẪU TỰ
Một câu chuyện trong sách Ha-si-đim (Hasidic)
Vào một chiều tối, một nông dân nghèo, từ phiên họp chợ trở về, mới biết mình không mang theo quyển sách kinh Bánh
xe bò của ông bị sút ngay ở giữa rừng và làm cho ông lo lắng là ngày đó sẽ trôi qua mà ông không đọc kinh được
Vì vậy, đây là lời cầu nguyện của ông: "Chúa ôi, con đã làm một việc rất ngu xuẩn Con đã rời nhà sáng nay mà không mang theo sách kinh và trí nhớ con lại kém cỏi nên con không thể đọc được một kinh nguyện nào mà không có sách Do đó, đây là điều con sắp làm: con sẽ đọc hết bảng mẫu tự năm lần rất chậm và vì Chúa thấu biết hết mọi lời kinh, Chúa có thể ráp những chữ cái lại với nhau để làm thành những lời kinh mà con không thể nhớ được."
Và Chúa đã nói với các thiên thần: "Trong tất cả những kinh nguyện mà Ta đã nghe hôm nay, chắc chắn lời kinh này phải là hay nhất, vì nó phát xuất tự đáy lòng đơn sơ và chân thành."
10.- NGHỀ CHUYÊN MÔN CỦA CHÚA LÀ THA THỨ
Theo thường lệ, người Công giáo xưng tội với một linh mục
để nhận lãnh từ ngài lời xá giải, như là dấu chỉ được Chúa tha thứ Nhưng rất thường xảy ra điều nguy hại là những người đi xưng tội sẽ dùng điều đó như là một thứ đảm bảo, một chứng thư sẽ che chở họ khỏi hình phạt của Chúa, và như thế họ tin tưởng nhiều hơn vào sự tha tội của linh mục hơn là vào lòng thương xót của Chúa
Đây là điều mà Pê-ru-gi-ni (Perugini), một hoạ sĩ người Ý thời Trung Cổ, đã bị cám dỗ làm khi ông hấp hối Ông quyết định sẽ không đi xưng tội nếu, vì sợ hãi mà ông tìm cách để khỏi bị luận phạt Đó sẽ là điều phạm thánh và sỉ nhục đến Chúa
Vợ ông không biết chút gì về tâm trạng của ông, có lần bà
đã hỏi ông là ông không sợ khi chết mà không xưng tội sao Pê-ru-gi-ni trả lời: "Em ạ, phải hiểu như thế này: nghề chuyên môn
Trang 8của anh là hội hoạ và anh đã trở thành một hoạ sĩ xuất sắc Nghề chuyên môn của Chúa là thứ tha, và nếu Ngài cũng xuất sắc trong nghề chuyên môn của Ngài như anh trong nghề của anh thì anh không có lý do gì mà phải sợ hãi cả."
11.- NGÀI NA-RA-ĐA (NARADA) ĐỘI BÁT SỮA
Na-ra-đa (Narada), nhà hiền triết Ấn-Độ, là một người rất sùng bái Thần Ha-ri (Hari) Sự sùng bái của ông lớn lao cho đến đỗi ngày kia ông dám nghĩ là trên khắp thế gian không có một ai yêu mến Thần hơn ông
Thần Ha-ri rõ biết lòng ông nên nói: "Nầy Na-ra-đa, con hãy
đi vào thành này, trên bờ sông Hằng (Ganges) vì một người sùng bái ta ngụ ở đó Sống cùng người đó sẽ hữu ích cho con." Na-ra-đa ra đi và gặp một nông dân mà sáng ngày dậy sớm, anh ta chỉ niệm[1] tên Hari một lần, rồi vác cày đi ra đồng làm lụng suốt ngày Chỉ tối trước khi ngủ, anh ta mới niệm tên Hari một lần nữa Na-ra-đa tự nghĩ: "Làm sao con người quê mùa đó
có thể là một người sùng bái Thần được? Tôi thấy người ấy suốt ngày đắm đuối trong những công việc trần thế của anh ta." Bấy giờ Thần Ha-ri nói với ông Na-ra-đa: "Hãy đổ đầy miệng một bát sữa và đi vòng quanh thành phố Rồi trở về mà không
đổ một giọt." Na-ra-đa đã làm như được truyền dạy
Thần Ha-ri hỏi: "Con đã nhớ ta mấy lần trong khi đi vòng quanh thành phố?"
Na-ra-đa thưa: "Dạ thưa Thần, chẳng được một lần nào Làm sao con có thể làm được, khi Ngài truyền cho con phải canh chừng bát sữa?"
Thần phán: "Bát sữa đã khiến con tập trung hết tâm trí đến nỗi con đã hoàn toàn quên ta Nhưng con hãy nhìn người nông phu này, mặc dù bận tâm với những lo toan nuôi sống gia đình
mà anh ta còn nhớ đến ta mỗi ngày hai lần phải không?"
********
[1] Chú thích của người dịch: Người Ấn Độ có thói quen niệm tên các vị thần mà họ tôn kính suốt ngày, giống như Phật
tử niệm Phật vậy
12.- NGÔI LÀNG LUÔN ĐƯỢC CỨU VỚT
Trang 9Cha xứ của ngôi làng là một vị thánh nên mỗi khi dân làng gặp chuyện khó khăn, họ đến cầu viện ngài Lúc đó cha lui về một nơi đặc biệt ở trong rừng sâu và đọc một lời nguyện đặc biệt Chúa luôn nhậm lời cầu của cha và dân làng được cứu vớt
Khi cha chết và lúc dân làng gặp chuyện khó khăn, họ đến cầu viện vị linh mục kế vị, dù không phải là một vị thánh, nhưng cha biết sự bí mật về chỗ đặc biệt đó trong rừng và lời nguyện đặc biệt Vì vậy cha đã cầu nguyện như sau: "Lạy Chúa, Chúa biết con không phải là một vị thánh Nhưng chắc chắn Chúa không lấy đó mà khước từ dân làng của con? Vậy xin Chúa nhậm lời con xin mà cứu giúp chúng con." Và Chúa đã nhậm lời cầu nguyện của cha và dân làng được cứu vớt
Khi cha này cũng chết và lúc dân làng gặp chuyện khó khăn,
họ đến cầu viện vị linh mục kế vị là người biết được lời nguyện đặc biệt, nhưng không biết chỗ trong rừng Vì vậy cha đã cầu nguyện như sau: "Lạy Chúa, Chúa quan tâm gì đến nơi chốn? Phải chăng mọi chỗ đều được thánh hóa bởi sự hiện diện của Chúa sao? Vậy xin Chúa nhậm lời con xin mà cứu giúp chúng con." Và một lần nữa, Chúa đã nhậm lời cầu nguyện của cha và dân làng được cứu vớt
Rồi cha đó cũng chết và khi dân làng gặp chuyện khó khăn,
họ đến cầu viện vị linh mục kế vị là người chẳng biết lời nguyện đặc biệt hay chỗ đặc biệt ở trong rừng Vậy cha đó cầu nguyện như sau: "Lạy Chúa, công thức không phải là điều Chúa coi trọng, nhưng là tiếng kêu thống thiết từ con tim Vậy xin Chúa nhậm lời con cầu xin mà cứu giúp chúng con." Và một lần nữa, Chúa đã nhậm lời cầu nguyện của cha và dân làng được cứu vớt
Sau khi cha đó chết và khi dân làng gặp khó khăn, họ đến cầu viện vị linh mục kế vị Nhưng cha này quen với tiền tài hơn
là kinh nguyện Do đó cha đã cầu nguyện với Chúa như sau:
"Chúa là loại thần thánh nào mà khi Chúa hoàn toàn đủ sức giải quyết những khó khăn do chính Chúa đã gây ra thì Chúa lại từ chối nhấc ngón tay lên cho đến khi chúng con khấu đầu khuất phục và van xin! Chúa muốn làm gì với dân làng thì cứ làm."
Trang 10Rồi cha trở lại ngay với việc kinh doanh còn bỏ dở Và, một lần nữa, Chúa đã nghe lời cha cầu xin và dân làng được cứu vớt
13.- LỜI CẦU NGUYỆN CÓ THỂ CHẾ NGỰ THỜI TIẾT?
Một bà già là một người làm vườn hăng say đã tuyên bố là
bà không chút mảy may tin tưởng những tiên đoán là một ngày nào đó các khoa học gia sẽ biết cách chế ngự thời tiết Theo bà, tất cả những gì cần thiết để chế ngự thời tiết là lời cầu nguyện Thế rồi vào một mùa hè kia, khi bà đi du lịch ngoại quốc, một cơn hạn hán xảy ra trên toàn quốc và hủy hoại toàn bộ mảnh vườn của bà Khi trở về, bà thất vọng đến đỗi đã cải giáo luôn Đáng lẽ bà nên thay đổi những niềm tin ngớ ngẩn của bà
14.- SỰ ĐÁP TRẢ TRÌ HOÃN CỦA NỮ THẦN LÁC-SI-MI (LAKSHMI)
Những lời cầu xin của chúng ta không nên được Chúa đáp trả, nếu sự đáp trả không đúng lúc
Ở Ấn-Độ xưa kia, người ta tin tưởng rằng những việc cầu cúng theo những nghi lễ Vệ-Đà mang tính khoa học khi được
áp dụng, đến nỗi lúc các vị trưởng lão cầu mưa thì chẳng bao giờ có hạn hán Do đó một người đã yên tâm cầu khẩn nữ thần tài Lác-si-mi (Lakshmi), theo các nghi lễ đó, để van xin thần cho được giàu có
Ông đã cầu xin suốt mười năm trường mà không kết quả gì Sau thời gian đó, đột nhiên ông nhận thấy tính cách phù du của
sự giàu sang và đã chấp nhận cuộc sống của người xuất gia (renunciate)[1] trên dãy Hi-Mã-Lạp-Sơn
Một ngày kia, ông đang ngồi thiền định, khi ông mở mắt ra
và thấy trước mặt mình một bà xinh đẹp tuyệt vời, sáng chói và lóng lánh như thể bằng vàng
Ông hỏi: "Bà là ai và bà đang làm gì ở đây?"
Người đàn bà đáp: "Ta là nữ thần Lác-si-mi mà ngươi đã tụng niệm suốt mười hai năm Ta hiện ra để ban cho ngươi điều ngươi mong ước."
Ông đó la lên: "Ôi! Ngài nữ thần kính yêu, từ lâu tôi đã đạt được sự an lạc trong thiền quán và không còn chút gì hứng thú