Nghiên cứu áp dụng nội soi ổ bụng trong xác định tổn thương giải phẫu bệnh và khả năng phẫu thuật ung thư 1/3 dưới dạ dày giai đoạn tiến triển
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Bộ quốc phòng
Học viện quân y
Lê thanh sơn
Nghiên cứu áp dụng nội soi ổ bụng trong
Nghiên cứu áp dụng nội soi ổ bụng trong xác định xác định xác định tổn thương giải phẫu bệnh và khả năng phẫu thuật tổn thương giải phẫu bệnh và khả năng phẫu thuật ung thư 1/3 dưới dạ dày giai đoạn tiến triển ung thư 1/3 dưới dạ dày giai đoạn tiến triển
Chuyên ngành: Ngoại Tiêu hóa Mã số: 62 72 07 01
Tóm tắt luận án tiến sĩ y học
Hà nội – 2009
Trang 2Công trình hoàn thành tại Học viện Quân y
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS TS Lê Trung Hải
2. PGS TS Vũ Huy Nùng
Phản biện 1: PGS TS Phạm Đức Huấn
Trường Đại học Y Hà Nội
Phản biện 2: PGS TS Lê Đình Roanh
Trung tâm Phát hiện ung thư sớm
Phản biện 3: PGS TS Trần Bình Giang
Bệnh viện Việt Đức
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp Nhà
nước, họp tại Học viện Quân y
Vào hồi 8 giờ, ngày 01 tháng 3 năm 2009
Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện Quân y
Các công trình nghiên cứu của tác giả đ4 công
bố có liên quan đến luận án
1 Lê Thanh Sơn, Lê Trung Hải, Vũ Huy Nùng (2007)
“Đánh giá kết quả bước đầu của nội soi ổ bụng trong chẩn
đoán ung thư 1/3 dưới dạ dày tại Viện Quân y 103 thời gian
từ tháng 6 năm 2004 đến tháng 9 năm 2006” Y học thực hành, 3(566+567), tr 67-70
2 Lê Thanh Sơn, Lê Trung Hải, Vũ Huy Nùng, Hoàng
Mạnh An, Nguyễn Văn Khoa, Đặng Việt Dũng, Phan Văn Hội (2007) “Nối vị tràng có hỗ trợ của nội soi trong điều trị hẹp môn vị do ung thư biểu mô 1/3 dưới dạ dày khi không còn chỉ định mổ cắt dạ dày – kĩ thuật và kết quả” Y học thực hành, 11(589+590), tr 79-83
3 Lê Thanh Sơn, Lê Trung Hải, Vũ Huy Nùng, Nguyễn
Văn Xuyên, Hoàng Mạnh An, Đỗ Sơn Hà, Đặng Việt Dũng (2007) “áp dụng nội soi ổ bụng trong chẩn đoán ung thư 1/3 dưới dạ dày có hẹp môn vị và phẫu thuật nối vị tràng
có hỗ trợ của nội soi ổ bụng cho các trường hợp không còn chỉ định cắt dạ dày” Ngoại khoa, 6(57), tr 26-34
Trang 3- Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm
và hệ số Kappa của nội soi ổ bụng trong chẩn đoán di căn hạch là
73,1%, 89,3%, 76,2%, 87,6% và 0,63 Tỷ lệ chẩn đoán đúng di căn
gan là 98,1%, di căn phúc mạc là 100% Hệ số Kappa của nội soi ổ
bụng so với đánh giá của giải phẫu bệnh trong chẩn đoán di căn gan
và di căn phúc mạc tương ứng là 0,92 và 1
- Tỷ lệ đánh giá đúng giai đoạn bệnh của nội soi ổ bụng là 82,1%
2 Nội soi ổ bụng xác định chính xác khả năng can thiệp phẫu thuật,
giúp tránh mở bụng thăm dò ở 5,4% số bệnh nhân nghiên cứu, giúp
chủ động lựa chọn phương pháp phẫu thuật ở 97,2% số bệnh nhân
mổ Trong đó, tỷ lệ nội soi ổ bụng dự kiến đúng khả năng cắt được dạ
dày là 95,7%, dự kiến đúng khả năng phải nối vị tràng là 100% Các
đánh giá tổn thương ung thư dạ dày của nội soi ổ bụng giúp chủ động
trong xử trí ở 80,9% các tổn thương xâm lấn tạng khi phẫu thuật cắt
dạ dày, đồng thời giúp tránh mở bụng rộng rãi cho 36 trong số 112
bệnh nhân (32,1%) để thực hiện phẫu thuật nối vị tràng
3 Kết quả điều trị phẫu thuật ung thư 1/3 dưới dạ dày giai đoạn tiến
triển muộn khi đã khám thấy khối u vùng thượng vị hoặc có biến
chứng hẹp môn vị phụ thuộc vào phương pháp và mức độ triệt để của
phẫu thuật Trong đó, phẫu thuật cắt dạ dày có thời gian sống trung
bình 18,7 tháng Phẫu thuật đạt mức triệt để chiếm 71,6% số bệnh
nhân cắt dạ dày với thời gian sống trung bình 25,8 tháng, tỷ lệ sống
trên 2 năm là 54,3%
Nối vị tràng có hỗ trợ của nội soi ổ bụng là phẫu thuật xâm nhập
tối thiểu, giúp bệnh nhân ít đau, giảm biến chứng, mau hồi phục
Không có biến chứng nặng và tử vong liên quan đến kĩ thuật Tất cả
bệnh nhân sau nối vị tràng đều ăn uống được trở lại với thời gian
trung bình 4,2 ngày sau mổ Chất lượng sống được cải thiện với
79,4% số bệnh nhân sau nối vị tràng có thể ăn uống được tới lúc tử
vong, trọng lượng tăng thêm được đạt cao nhất là 14,8% (so với trước
mổ), có thể làm được việc nhẹ là 44,4% và tự chăm sóc bản thân là
44,4% Thời gian sống thêm trung bình là 6,24 tháng
Đặt vấn đề Ung thư dạ dày (UTDD) là bệnh lý ác tính hàng đầu của hệ thống tiêu hoá và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ hai
ở cả hai giới Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán nhằm phát hiện sớm, song vẫn có nhiều bệnh nhân UTDD đến viện muộn với những tổn thương xâm lấn và di căn rộng Việc đánh giá các tổn thương này trước mổ còn rất hạn chế Điều đó đã gây khó khăn cho lựa chọn phương pháp điều trị và dẫn tới hậu quả có từ 15% đến 30%
số bệnh nhân UTDD giai đoạn tiến triển phải chịu cuộc mở bụng rộng rãi chỉ để thăm dò hoặc can thiệp tối thiểu (nối vị tràng, mở thông nuôi dưỡng) cùng với tỷ lệ tai biến và biến chứng liên quan từ 14%
đến 28% Các tổn thương xâm lấn, di căn nặng được phát hiện thêm trong mổ cũng gây nhiều khó khăn trong lựa chọn chiến thuật điều trị
Sự phát triển nội soi trong y học hiện nay đã mở ra nhiều ứng dụng của nội soi ổ bụng (NSOB) trong chẩn đoán và điều trị UTDD Nhiều tác giả đã đề cập tới khả năng đánh giá chính xác các tổn thương xâm lấn, di căn UTDD, giúp tránh mở bụng thăm dò, lựa chọn phương pháp điều trị hợp lý trong quá trình NSOB chẩn đoán Hiệu quả của phẫu thuật nội soi trong điều trị UTDD cũng ngày một nâng cao trong các phẫu thuật cắt dạ dày và nối vị tràng ở Việt Nam hiện nay, một
số cơ sở ngoại khoa đã bắt đầu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị UTDD Thực tế đó đang đặt ra 3 vấn đề cần làm rõ là giá trị của NSOB trong chẩn đoán các tổn thương UTDD, vai trò của NSOB trong xác định khả năng can thiệp phẫu thuật và lựa chọn phương pháp điều trị UTDD, hiệu quả của phẫu thuật xâm nhập tối thiểu trong điều trị UTDD
ở giai đoạn tiến triển muộn, ung thư 1/3 dưới dạ dày thường gặp với triệu chứng “khối u vùng thượng vị” hoặc có biến chứng hẹp môn
vị Tổn thương xâm lấn sâu và di căn rộng rất phổ biến ở các bệnh nhân này Đây cũng chính là những thách thức đặt ra trong công tác chẩn đoán và điều trị
Đề tài nghiên cứu này được thực hiện với mục đích ứng dụng những thành tựu của NSOB vào chẩn đoán và điều trị ung thư 1/3 dưới dạ dày giai đoạn tiến triển muộn, nhằm khắc phục những hạn chế trong xác định các tổn thương xâm lấn, di căn trước mổ và góp phần làm sáng tỏ các giá trị của NSOB trong xác định mức độ tổn thương ung thư, trong lựa chọn phương pháp điều trị cũng như kết quả
Trang 4bước đầu của việc áp dụng kĩ thuật xâm nhập tối thiểu trong điều trị
phẫu thuật UTDD ở Bệnh viện 103, Học viện Quân y
Các mục tiêu nghiên cứu:
1. Xác định giá trị của nội soi ổ bụng trong chẩn đoán mức
độ tổn thương ung thư 1/3 dưới dạ dày
2. Đánh giá giá trị của nội soi ổ bụng trong xác định khả
năng phẫu thuật và lựa chọn phương pháp phẫu thuật ung
thư 1/3 dưới dạ dày
3. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật ung thư 1/3 dưới dạ
dày giai đoạn tiến triển muộn
Bố cục của luận án Luận án gồm có 147 trang, với các phần:
• Đặt vấn đề (2 trang)
• Chương 1: Tổng quan tài liệu (38 trang, 6 bảng, 7 hình minh
họa)
• Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (21 trang, 1
bảng, 3 hình minh họa)
• Chương 3: Kết quả nghiên cứu (34 trang, 37 bảng, 7 biểu đồ)
• Chương 4: Bàn luận (34 trang, 1 bảng, 8 hình minh họa)
• Kết luận (2 trang); Kiến nghị (1 trang); Danh mục các công
trình nghiên cứu có liên quan (1 trang)
• Tài liệu tham khảo (14 trang, tổng số 130 tài liệu, 32 tài liệu
tiếng Việt, 98 tài liệu tiếng Anh)
Phần phụ lục (20 trang, 22 hình ảnh minh họa)
Bảng 3.37 Tỷ lệ sống tích lũy sau cắt dạ dày theo nhóm cắt triệt để
và không triệt để Triệt để (n=46) Không triệt để (n=17) Thời gian sau mổ
(tháng) số còn sống tỷ lệ (%) số còn sống tỷ lệ (%)
Thời gian sống thêm trung bình sau nối vị tràng của nghiên cứu là 6,24 tháng (ngắn nhất: 2 tháng, dài nhất: 30 tháng) Kết quả này cũng tương tự với kết quả thu được trong nối vị tràng nội soi của Bergamaschi R (6,2 tháng) và nối vị tràng mở của Doglietto G.B (7,1 tháng) Trong số bệnh nhân cắt dạ dày, thời gian sống thêm trung bình là 18,7 tháng với tỷ lệ sống sau 2 năm là 39,7% Kết quả này liên qua tới đặc điểm tổn thương ung thư giai đoạn muộn của bệnh nhân nghiên cứu
Thời gian sống sau mổ cắt dạ dày cũng phụ thuộc vào mức triệt để của phẫu thuật Thời gian sống thêm trung bình và tỷ lệ sống sau 2 năm của nhóm cắt dạ dày triệt để là 25,8 tháng và 54,3% Các giá trị này ở nhóm cắt dạ dày nhưng không triệt để là 7,9 tháng và 0%
Kết luận
Qua nghiên cứu áp dụng nội soi ổ bụng trong chẩn đoán và điều trị trên 112 bệnh nhân ung thư biểu mô 1/3 dưới dạ dày giai đoạn tiến triển muộn khi đã có biến chứng hẹp môn vị hoặc khám thấy khối u vùng thượng vị, chúng tôi có kết luận sau:
1 Nội soi ổ bụng là phương pháp chẩn đoán chính xác các tổn thương
bề mặt và giai đoạn bệnh của ung thư 1/3 dưới dạ dày tiến triển
- Chẩn đoán đúng vị trí khối u là 99,0%, kích thước khối u là 90,6%, mức xâm lấn của khối u là 83,6% Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên
đoán dương, giá trị tiên đoán âm và hệ số Kappa của nội soi ổ bụng trong chẩn đoán mức xâm lấn T4 tương ứng là: 94,4%; 95,9%; 89,4%; 97,9% và 0,89
Trang 514,8% so với trước mổ), sau đó giảm dần Trọng lượng trung bình của
các bệnh nhân sau cắt dạ dày tăng chậm nhưng có xu hướng tăng liên
tục trong thời gian 6 tháng đầu sau mổ
Khả năng phục hồi sức lao động
0%
20%
40%
60%
80%
100%
lao động bỡnh thường làm việc nhẹ
tự chăm súc khụng tự chăm súc
Biểu đồ 3.5 Khả năng phục hồi sức lao động
Số liệu từ biểu đồ 3.5 cho thấy:
I: Nhóm nối vị tràng (không tự chăm sóc: 11,2%; tự chăm sóc: 44,4%;
làm được việc nhẹ: 44,4%; lao động bình thường: 0%)
II: Nhóm cắt dạ dày (không tự chăm sóc: 1,6%; tự chăm sóc: 17,5%; làm
được việc nhẹ: 57,1%; lao động bình thường: 23,8%)
Sự khác biệt về khả năng phục hồi sau mổ cắt dạ dày và nối vị tràng là
hiển nhiên vì mức độ tổn thương ung thư và hiệu quả can thiệp phẫu
thuật ở 2 nhóm bệnh nhân là hoàn toàn khác nhau Điều đáng lưu ý ở
đây là phẫu thuật nối vị tràng, dù là một lựa chọn tình thế cho các trường
hợp UTDD có hẹp môn vị mà không thể cắt được dạ dày đã làm cải thiện
đáng kể khả năng lao động cũng như chất lượng sống cho bệnh nhân
Thời gian sống thêm
Bảng 3.36 Tỷ lệ sống tích lũy sau mổ Nối vị tràng (n=38) Cắt dạ dày (n=63) Thời gian sau mổ
(tháng) số còn sống tỷ lệ (%) số còn sống tỷ lệ (%)
Chương 1: Tổng quan tài liệu
1.1 Đặc điểm giải phẫu và giải phẫu bệnh
Từ năm 1963, các tác giả Nhật Bản đã chia dạ dày thành 3 phần là 1/3 trên, 1/3 giữa và 1/3 dưới Với cách phân chia như vậy, có từ 60%
đến 82% bệnh nhân là ung thư ở 1/3 dưới dạ dày
Xâm lấn của ung thư biểu mô dạ dày đã được thống nhất trong các bảng phân loại UTDD trên thế giới với 4 mức độ tuỳ theo sự xâm nhập của tế bào ung thư vào các lớp của thành dạ dày Trong đó, xâm lấn T4 là mức độ tổn thương ung thư đã vượt quá phạm vi của thành dạ dày và phát triển vào cơ quan lân cận Tế bào UTDD có thể di căn theo các con đường máu, bạch huyết và đặc biệt là theo đường tự do trong khoang phúc mạc tạo nên các khối di căn ở 1 hoặc cả 2 buồng trứng trên bệnh nhân nữ giới với bệnh cảnh được Krukenberg mô tả lần đầu tiên vào năm 1896
1.2 Chẩn đoán ung thư dạ dày 1.2.1 Các phương pháp chẩn đoán ung thư dạ dày
Có nhiều phương pháp để chẩn đoán UTDD Đó là các phương pháp lâm sàng, X quang, nội soi dạ dày ống mềm và sinh thiết, tế bào học (Cytology), xét nghiệm các chất chỉ điểm ung thư (Tumor marker) Trong đó, nội soi dạ dày ống mềm và sinh thiết được coi là phương pháp chẩn đoán chính xác nhất và có giá trị giúp cho chẩn
đoán sớm UTDD
1.2.2 Chẩn đoán tình trạng xâm lấn và di căn ung thư
Có nhiều phương pháp để đánh giá tình trạng xâm lấn và di căn UTDD trước mổ Bốn phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện nay thường được sử dụng là siêu âm bụng, siêu âm qua nội soi dạ dày, chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ hạt nhân Mỗi phương pháp nêu trên đều có những giá trị nhất định trong chẩn đoán mức độ xâm lấn, di căn UTDD Trong đó, siêu âm bụng, chụp cắt lớp vi tính
và chụp cộng hưởng từ hạt nhân là các kĩ thuật có khả năng phát hiện
di căn gan tốt với độ nhạy 51-99% Siêu âm qua nội soi tỏ ra có ưu thế trong đánh giá mức độ xâm lấn u Tuy nhiên, các kĩ thuật chẩn
đoán hình ảnh nêu trên đều rất hạn chế trong đánh giá di căn hạch (độ nhạy 34-69%) Đặc biệt, chúng rất khó phát hiện các di căn phúc mạc với độ nhạy không quá 25% Khoảng 15 năm gần đây, NSOB được áp dụng để chẩn đoán UTDD Kĩ thuật này đã chứng tỏ khả năng đánh giá chính xác đồng thời 2 loại tổn thương cơ bản của UTDD là xâm
Trang 6lấn và di căn trong ổ bụng Độ nhạy của NSOB trong đánh giá các
mức độ xâm lấn UTDD là 67-90%, trong chẩn đoán di căn hạch là
65-87%, di căn gan là 96-100% Ưu điểm nổi bật của NSOB là khả
năng phát hiện di căn phúc mạc với độ nhạy đạt trên 94% Những ưu
thế trên đã mang lại giá trị quan trọng của NSOB là giúp tránh mở
bụng thăm dò ở 5-30% số bệnh nhân trong nhiều nghiên cứu trên thế
giới Đồng thời, kĩ thuật này còn làm cơ sở để đưa ra lựa chọn phương
pháp điều trị hợp lý cho bệnh nhân UTDD
1.3 Điều trị phẫu thuật ung thư dạ dày
Phẫu thuật là phương pháp cơ bản, có hiệu quả nhất trong điều trị
UTDD Phẫu thuật UTDD được chia thành 2 nhóm: phẫu thuật triệt
để và không triệt để Một phẫu thuật UTDD được coi là triệt để khi
thoả mãn các nguyên tắc: cắt xa tổn thương, lấy hết mạc nối lớn, nạo
vét hết hạch bạch huyết di căn và cắt hết các tổn thương xâm lấn, di
căn Phẫu thuật không triệt để với UTDD có thể bao gồm cắt dạ dày
nhưng không lấy hết tổn thương xâm lấn, di căn, nối vị tràng và mở
thông nuôi dưỡng Dù là 1 lựa chọn bất đắc dĩ, song nối vị tràng vẫn
chiếm tỷ lệ 12,2-17,9% số các phẫu thuật không triệt để UTDD
Trong thống kê của Ouchi K tại Nhật Bản năm 1998, có tới 1/3 số
UTDD có hẹp môn vị phải thực hiện nối vị tràng Điều đáng tiếc ở
phẫu thuật nối vị tràng trong UTDD là tỷ lệ tử vong chiếm 8-17% và
biến chứng lên tới 14-25% vì liên quan tới tổn thương ung thư giai
đoạn muộn Các nghiên cứu gần đây nhằm làm giảm tỷ lệ tử vong và
biến chứng nêu trên Phẫu thuật nội soi với ưu thế của 1 phẫu thuật
xâm nhập tối thiểu đã tỏ ra đáp ứng được yêu cầu trên Tỷ lệ tử vong
trong nối vị tràng nội soi đã giảm xuống còn 0-5,4%, biến chứng
6,7-20% Theo các thống kê của Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện K Hà
Nội, có từ 4,9% đến 5,3% số bệnh nhân UTDD phải chịu cuộc mở
bụng thăm dò sinh thiết vì có các tổn thương xâm lấn, di căn nặng
Việc áp dụng kĩ thuật NSOB vào trong chẩn đoán và điều trị
UTDD đã mở ra khả năng đánh giá chính xác các tổn thương xâm
lấn, di căn UTDD trong ổ bụng trước mổ, làm cơ sở cho việc tránh
các cuộc mở bụng thăm dò không cần thiết, giúp lựa chọn phương
pháp điều trị hợp lý cũng như mang lại giá trị của phẫu thuật xâm
nhập tối thiểu trong điều trị UTDD
Khả năng ăn uống và cân nặng sau mổ
Bảng 3.33 Tỷ lệ ăn được tới lúc tử vong Phương pháp mổ
Khả năng ăn uống
Nối vị tràng (n=34)
Cắt dạ dày (n=38)
ăn được tới lúc tử vong 27 (79,4%) 33 (86,8%)
Trước mổ có tới 94,6% số bệnh nhân trong nghiên cứu không ăn uống được vì liên quan tới biến chứng hẹp môn vị Tất cả số bệnh nhân sau mổ đều có thể ăn uống được trở lại Theo dõi trong số đã tử vong, tỷ lệ bệnh nhân vẫn có thể ăn uống được qua đường miệng cho tới trước lúc chết là 79,4% sau nối vị tràng và 86,8% sau cắt dạ dày Tuy nhiên sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê Rõ ràng, cắt dạ dày cùng khối u một cách triệt để là biện pháp tốt nhất để tránh nguy cơ hẹp tắc miệng nối Với nối vị tràng, tạo miệng nối đủ rộng và cách
xa khối u (cách trên u tối thiểu 6 cm) giúp hạn chế nguy cơ hẹp tắc miệng nối do xâm lấn ung thư và duy trì khả năng ăn uống cho bệnh nhân
0 2 4 6 8 10 12 14 16
thời gian (thỏng)
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ % số cân tăng thêm sau mổ Trọng lượng của bệnh nhân có liên quan trực tiếp tới khả năng ăn uống sau mổ Trọng lượng trung bình của các bệnh nhân sau nối vị tràng tăng ngay sau mổ và đạt mức cao nhất ở tháng thứ 4 (tăng thêm
Trang 7sau nối vị tràng nội soi là 4 ngày so với 6 ngày sau nối vị tràng mở, thời
gian nằm viện sau nối vị tràng nội soi là 7-8,5 ngày so với 10-12,5 ngày
sau mổ mở Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian bắt đầu ăn và thời
gian nằm viện sau nối vị tràng có hỗ trợ của NSOB là 4,2 và 7,1 ngày,
tương đương với kết quả nối vị tràng nội soi của 2 tác giả trên
Bảng 3.32 Kết quả về mức triệt để sau cắt dạ dày
Trong số 67 bệnh nhân mổ cắt dạ dày, số bệnh nhân được đánh giá
đạt triệt để là 48 theo các tiêu chuẩn quy định của Hiệp hội chống ung
thư quốc tế (UICC) Số bệnh nhân phẫu thuật không đạt mức triệt để là
19 (13 trường hợp còn sót tế bào ung thư ở diện cắt tạng xâm lấn, 6
trường hợp còn sót tế bào ung thư ở diện cắt trên hoặc dưới dạ dày)
Các kết quả sớm trên đây đã cho thấy hiệu quả mà NSOB mang lại
cho phẫu thuật là sự chủ động trong lựa chọn phương pháp phẫu
thuật, lường trước được các khó khăn, nhất là các khó khăn do xâm
lấn của khối u trong quá trình phẫu thuật Nội soi ổ bụng là yếu tố
quan trọng mang lại giá trị của phẫu thuật xâm nhập tối thiểu cho
phẫu thuật nối vị tràng có hỗ trợ của NSOB
3.4.2 Kết quả xa
6 bệnh nhân được xác định không còn chỉ định phẫu thuật, được
điều trị hỗ trợ miễn dịch bằng Phylamin Tất cả số bệnh nhân này đều
không xuất hiện biến chứng hẹp tắc đường tiêu hóa trong thời gian
sống thêm Nguyên nhân tử vong do UTDD giai đoạn cuối có cổ
trướng và suy kiệt Thời gian sống thêm trung bình là 59 ngày (ngắn
nhất là 38 ngày, dài nhất là 92 ngày)
105 bệnh nhân còn sống sau mổ được theo dõi bằng phiếu điều tra,
gọi điện thoại và tái khám định kỳ Trong đó, mất tin 4 bệnh nhân (1 sau
nối vị tràng, 3 sau cắt dạ dày), số còn được theo dõi xa sau mổ là 101
Bao gồm: số theo dõi xa sau cắt dạ dày: 63 (cắt triệt để: 46; cắt không
triệt để: 17), số theo dõi xa sau nối vị tràng: 38, số đã tử vong cho tới kết
thúc nghiên cứu: 72 (sau nối vị tràng: 34; sau cắt dạ dày: 38)
CHương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu Gồm 112 bệnh nhân ung thư 1/3 dưới dạ dày giai đoạn tiến triển muộn với tiêu chuẩn lựa chọn :
- Được xác định là ung thư biểu mô 1/3 dưới dạ dày bằng X quang, nội soi dạ dày ống mềm, đánh giá đại thể trong mổ và mô bệnh học
- Được xác định là UTDD giai đoạn tiến triển muộn khi có ít nhất 1 trong 2 dấu hiệu sau:
+ Có triệu chứng khối u vùng thượng vị khi thăm khám
+ Có biến chứng hẹp môn vị, được chẩn đoán xác định dựa trên các triệu chứng sau:
Nôn ra thức ăn cũ thường xuyên
X quang dạ dày: Thuốc cản quang không lưu thông từ dạ dày xuống tá tràng, dạ dày dãn to
Nội soi dạ dày ống mềm: dạ dày bị chít hẹp do u, không
đưa ống soi xuống tá tràng được
- Được NSOB và điều trị tại Khoa Phẫu thuật Bụng Viện quân y 103 trong thời gian nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn trên
- Bệnh nhân có rối loạn đông, chảy máu Đang chảy máu cấp tính tại khối u Thủng khối UTDD
- Bệnh nhân có chống chỉ định gây mê nội khí quản, bơm hơi ổ bụng
- Bệnh nhân có mổ cũ ở vùng bụng trên Thể trạng quá suy kiệt 2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang không đối chứng, theo dõi dọc 2.2.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân Gồm các chỉ tiêu lâm sàng: Tuổi, giới, thời gian bệnh, các triệu chứng cơ năng và thực thể
Các chỉ tiêu cận lâm sàng: Các xét nghiệm công thức máu, sinh hoá máu, X quang dạ dày, nội soi dạ dày, siêu âm bụng
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu giá trị của nội soi ổ bụng trong chẩn đoán tổn thương ung thư dạ dày
Qui trình kĩ thuật gồm các bước:
- Đặt 3 Trocar, bơm hơi ổ bụng
- Đánh giá lần lượt các tổn thương từ tầng trên xuống tầng dưới mạc treo đại tràng ngang Trong đó:
Trang 8+ Đánh giá tổn thương u tại dạ dày gồm: vị trí, kích thước và mức
độ xâm lấn của khối u Dựa trên sự thống nhất trong các bảng
phân loại mức độ xâm lấn UTDD trên thế giới, nghiên cứu này
chia các mức xâm lấn u khi quan sát trên NSOB như sau :
Xâm lấn T4: Khi khối u đã phá vỡ lớp thanh mạc và phát triển
vào các cơ quan lân cận
Xâm lấn T3: Khi khối u làm biến đổi hình dáng, tính mềm mại
và vẻ hồng bóng của bề mặt thành dạ dày, tạo nên khối sùi, chắc
nhưng vẫn giữ được tính liên tục của lớp thanh mạc
Với các khối u chưa xâm lấn tới thanh mạc nhưng đã làm biến
đổi hình dáng, trương lực của thành dạ dày, có thể phát hiện trên
NSOB được xác định xâm lấn dưới mức T3 Vì bệnh nhân lựa
chọn trong nghiên cứu đều ở giai đoạn tiến triển, nên các bệnh
nhân xác định có mức xâm lấn dưới mức T3 trong nghiên cứu này
được coi là xâm lấn T2
+ Đánh giá tổn thương di căn:
Đánh giá di căn hạch dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán di căn hạch
trên NSOB được Kevin Colon đưa ra năm 2001 (hạch di căn khi có
kích thước trên 1cm hoặc có dấu hiệu xâm lấn xung quanh, tạo
khối dính, vỏ hạch mất màu hồng bóng) Vị trí và các chặng hạch
di căn được xác định dựa trên qui định của Hội nghiên cứu UTDD
Nhật Bản năm 1995
Đánh giá di căn gan, di căn phúc mạc và di căn tới các tạng khác
trong ổ bụng với những nốt, khối màu trắng, xung quanh có nhiều
mạch máu tăng sinh
Các kết quả đánh giá tổn thương thu được qua NSOB được đối chiếu
trên bảng phân loại giai đoạn UTDD của Hội nghiên cứu UTDD Nhật
Bản năm 1995 để xác định giai đoạn bệnh
Phương pháp đánh giá giá trị chẩn đoán của nội soi ổ bụng:
- Tính an toàn của kĩ thuật được xác định trên tỷ lệ tai biến, biến
chứng liên qua tới kĩ thuật NSOB chẩn đoán
- Giá trị chẩn đoán tổn thương của NSOB được xác định dựa trên khả
năng chẩn đoán các vị trí, kích thước tổn thương, mức độ xâm lấn u,
tình trạng di căn và giai đoạn bệnh Tiêu chuẩn đối chiếu để đánh giá
khả năng chẩn đoán của NSOB được dựa trên các kết quả nghiên cứu
giải phẫu bệnh đại thể trong mổ và mô bệnh học
+ Đối chiếu kết quả chẩn đoán của NSOB với kết quả đánh giá
giải phẫu bệnh đại thể trong mổ, tính toán tỷ lệ phù hợp giữa 2
Bảng 3.30 Tai biến, biến chứng sớm, tử vong phẫu thuật
Tai biến, biến chứng,
tử vong
Nối vị tràng có
hỗ trợ NSOB (n=36)
Nối vị tràng
mở (n=3)
Cắt dạ dày (n=67)
Toàn bộ bệnh nhân
mổ (n=106) Tai biến kĩ thuật 0 0 1 (1,5%) 1 (0,9%) chảy máu 1 (2,7%) 0 1 (1,5%) 2 (1,9%
nhiễm trùng vết mổ 2 (5,5%) 0 2 (3,0%) 4 (3,8%) viêm phổi 1 (2,7%) 0 2 (3,0%) 3 (2,8%)
áp xe dư 0 0 2 (3,0%) 2 (1,9%)
Biến chứng sớm
rò mỏm tá tràng 0 0 1 (1,5%) 1 (0,9%) Cộng (theo biến chứng) 4 (10,9%) 0 8 (11,9%) 12 (11,3%)
Tử vong phẫu thuật 0 0 1 (1,5%) 1 (0,9%) Không có tai biến liên quan tới kĩ thuật nối vị tràng có hỗ trợ của NSOB Có 1 trường hợp tử vong trong nhóm mổ cắt dạ dày (1,5%) liên quan tới biến chứng rò mỏm tá tràng Tỷ lệ biến chứng trong tổng
số bệnh nhân phẫu thuật là 11,3% liên quan tới tổn thương UTDD giai đoạn muộn của nghiên cứu
Bảng 3.31 Thời gian phục hồi sau mổ
Thời gian
Trung tiện (giờ)
Bắt đầu ăn lỏng (ngày)
Nằm viện sau
mổ (ngày)
Bắt đầu ăn
đặc (ngày)
Nối vị tràng
có hỗ trợ NSOB (n=36)
61,8 ± 9,4 4,2 ± 0,5 7,1 ± 0,4 25,8 ± 7,3 Cắt dạ dày
(n=67) 79,9 ± 11,9 4,8 ± 1,2 7,4 ± 0,8 36,6 ± 7,3
Đánh giá sự phục hồi sau mổ qua các chỉ tiêu thời gian ở bảng 3.31 cho thấy, thời gian phục hồi sau nối vị tràng có hỗ trợ NSOB sớm hơn đáng kể so với cắt dạ dày bởi vì mức độ can thiệp của 2 phẫu thuật trên là khác nhau
Nối vị tràng nội soi giúp bệnh nhân sớm phục hồi hơn so với nối vị tràng mở đã được Mital A và Choi Y.B chứng minh Thời gian bắt đầu ăn
Trang 93.4 Kết quả điều trị
3.4.1 Kết quả sớm
6 bệnh nhân được xác định không còn chỉ định mổ đều không có
biến chứng liên quan tới kĩ thuật NSOB chẩn đoán (kể cả biến chứng
rò dịch cổ trướng) Tất cả đều ra viện trong vòng 3-5 ngày sau khi
được NSOB chẩn đoán và được điều trị hỗ trợ miễn dịch tại nhà bằng
Phylamin
106 bệnh nhân được phẫu thuật, gồm có: cắt dạ dày 67 bệnh nhân;
nối vị tràng 39 bệnh nhân (36 bệnh nhân nối vị tràng có hỗ trợ của
NSOB với đường mở bụng nhỏ, 3 bệnh nhân nối vị tràng bằng kĩ thuật
kinh điển với đường mở bụng toàn bộ đường trắng giữa trên rốn) Đã
có nhiều nghiên cứu trong nước về kết quả điều trị phẫu thuật UTDD,
nhưng hầu như chưa có nghiên cứu nào đề cập tới kết quả điều trị phẫu
thuật UTDD tiến triển muộn ở Việt Nam Mặc dù là 1 lựa chọn tình thế
cho các ung thư 1/3 dưới dạ dày có hẹp môn vị mà không còn khả năng
mổ cắt dạ dày, nối vị tràng vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể trong số các phẫu
thuật UTDD Việc đánh giá kết quả nhằm xác định giá trị của phẫu
thuật điều trị UTDD giai đoạn tiến triển muộn và hiệu quả bước đầu
của kĩ thuật xâm nhập tối thiểu trong nối vị tràng là 1 trong những
đóng góp thực tiễn đặt ra cho đề tài nghiên cứu này
Bảng 3.29 Lượng thuốc giảm đau trung bình sau mổ nối vị tràng có
hỗ trợ của nội soi ổ bụng và cắt dạ dày
Loại thuốc Nối vị tràng có hỗ trợ
của NSOB (n=36)
Cắt dạ dày (n=67) Moocphin (mg) 3,8 ± 3,5 11,4 ± 3,8
NonSteroid (mg) 815 ± 109 875 ± 516
Lợi ích giúp bệnh nhân ít đau hơn khi phẫu thuật nối vị tràng nội
soi đã được Bergamaschi R và Choi Y.B chứng minh khi so sánh với
nối vị tràng mở Trong nghiên cứu của chúng tôi, lượng Moocphin
trung bình cần dùng cho 1 bệnh nhân sau nối vị tràng có hỗ trợ của
NSOB là 3,8 mg, thấp hơn đáng kể so với mổ cắt dạ dày và tương
đương với kết quả thông báo của 2 tác giả trên
phương pháp và khả năng phù hợp chẩn đoán thông qua hệ số Kappa
+ Đối chiếu kết quả chẩn đoán của NSOB với tiêu chuẩn vàng là kết quả mô bệnh học, tính toán độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên
đoán dương, giá trị tiên đoán âm của kĩ thuật NSOB chẩn đoán 2.2.3 Phương pháp nghiên cứu xác định khả năng phẫu thuật và lựa chọn phương pháp phẫu thuật dựa trên nội soi ổ bụng
Qui định về xác định khả năng phẫu thuật: Các bệnh nhân với tiêu chuẩn được lựa chọn vào trong nghiên cứu, sau khi NSOB chẩn đoán
được xác định không còn chỉ định mổ khi:
+ Không có biến chứng hẹp tắc đường tiêu hoá
+ Có ít nhất 1 trong 2 dạng tổn thương sau : Xâm lấn sâu vào các vị trí quan trọng không cho phép cắt dạ dày (xâm lấn các mạch máu lớn, xâm lấn sâu vào tá tràng) Di căn lan tràn phúc mạc, gan kèm theo có dịch cổ trướng Các bệnh nhân còn lại trong nghiên cứu được xác định còn chỉ định mổ Qui định về lựa chọn phương pháp phẫu thuật của nghiên cứu:
Có 2 phương pháp phẫu thuật được áp dụng cho số bệnh nhân còn chỉ
định mổ trong nghiên cứu là cắt dạ dày (kèm theo nạo vét hạch, cắt các tổn thương xâm lấn, di căn nếu có) và nối vị tràng cho các trường hợp không còn khả năng cắt dạ dày
Phương pháp phẫu thuật cắt dạ dày được áp dụng cho các trường hợp:
- Khối u chưa xâm lấn T4 và chưa có di căn xa M1
- Khối u chưa có di căn xa M1, có xâm lấn T4, khối u và cơ quan bị xâm lấn vẫn di động được và có thể cắt bỏ được
- Chưa có xâm lấn T4 nhưng đã di căn xa khu trú vào 1 tạng và
có thể cắt bỏ tạng bị di căn
Phương pháp phẫu thuật nối vị tràng được áp dụng cho các trường hợp:
- Khối u có xâm lấn T4 và di căn xa
- Khối u xâm lấn T4 vào các vị trí quan trọng (các mạch máu lớn) hoặc xâm lấn nhiều vào tạng lân cận tạo thành khối không di động và không thể cắt bỏ tạng bị xâm lấn được
- Di căn xa vào nhiều tạng
Sau khi đối chiếu các kết quả đánh giá tổn thương xâm lấn, di căn qua NSOB với các qui định về lựa chọn phương pháp phẫu thuật, đưa ra dự kiến phương pháp phẫu thuật của từng bệnh nhân Dự kiến này sẽ được đối chiếu với thực tế phẫu thuật ở từng bệnh nhân sau khi mở bụng
Trang 10Đánh giá giá trị của nội soi ổ bụng trong xác định khả năng phẫu
thuật và lựa chọn phương pháp phẫu thuật:
- Giá trị của NSOB trong xác định khả năng phẫu thuật được
thể hiện qua tỷ lệ NSOB giúp tránh mở bụng thăm dò ở số
bệnh nhân được xác định không còn chỉ định mổ
- Giá trị của NSOB trong lựa chọn phương pháp phẫu thuật
được xác định dựa trên tỷ lệ dự kiến đúng của NSOB về lựa
chọn phương pháp phẫu thuật nói chung và dự kiến đúng về
khả năng cắt được dạ dày hay phải nối vị tràng trong số bệnh
nhân nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng kĩ thuật nối vị tràng có hỗ trợ của NSOB cho
các trường hợp có chỉ định nối vị tràng Trong đó, NSOB đóng vai trò
thăm dò tổn thương để đưa ra chỉ định mổ, xác định vị trí khâu nối tại
dạ dày, ruột và vị trí trên thành bụng để có thể mở bụng nhỏ nhưng
vẫn thực hiện khâu nối thuận lợi Các bước kĩ thuật:
- Bước 1: Xác định quai ruột nối và vị trí khâu nối tại dạ dày,
ruột
- Bước 2: Xác định vị trí mở bụng nhỏ (1/2 chiều dài đường
trắng giữa trên rốn), đưa quai nối ra ngoài ổ bụng
- Bước 3: Khâu nối bằng tay bên ngoài ổ bụng
- Bước 4: Kiểm tra, đóng bụng
2.2.4 Phương pháp đánh giá kết quả phẫu thuật
Đánh giá kết quả gần với các chỉ tiêu:
- Thời gian phẫu thuật
- Tai biến, biến chứng sớm, tử vong phẫu thuật
- Lượng thuốc giảm đau sau mổ
- Thời gian phục hồi: trung tiện, khả năng ăn uống, thời gian
nằm viện
- Mức độ triệt để của phẫu thuật cắt dạ dày
Theo dõi kết quả xa với phương pháp điều tra qua thư, điện thoại và
tái khám Các chỉ tiêu đánh giá:
- Khả năng phục hồi: khả năng ăn uống tới lúc tử vong, cân
nặng, khả năng lao động, tình trạng đau bụng sau mổ
- Biến chứng muộn: tắc miệng nối, tắc ruột, chảy máu tiêu hoá,
thủng khối u, tắc mật, di căn chân Trocar, di căn vết mổ
- Thời gian sống sau mổ
2.3 Xử lí số liệu
Thực hiện trên phần mềm EPI INFO và SPSS bằng các thuật toán
thống kê Y học với độ tin cậy 95%
100% (36/36), dự kiến đúng của NSOB về khả năng mổ cắt được dạ dày là 95,7% (67/70) Tỷ lệ dự kiến đúng nói chung của NSOB về lựa chọn các phương pháp phẫu thuật là 97,2% (103/106)
Giá trị của NSOB trong lựa chọn phương pháp điều trị, giúp chủ động trong phẫu thuật UTDD được nhiều tác giả đề cập tới
Tỷ lệ dự kiến đúng của NSOB về khả năng cắt được dạ dày là 71-98,6% trong các báo cáo của Lowy A (năm 1996), Burke E.C (năm 1997), Hunerbein M (năm 1998)
Dựa trên kết quả NSOB chẩn đoán trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra dự kiến về xử trí các tổn thương xâm lấn tạng ở
số mổ cắt dạ dày Khả năng dự kiến đúng của NSOB giúp chủ
động trong phẫu thuật cắt tạng xâm lấn do UTDD được trình bày
ở bảng sau:
Bảng 3.27 Dự kiến của nội soi ổ bụng về xử trí xâm lấn tạng Phương pháp
xử trí
Dự kiến của NSOB
Kết quả phẫu thuật
Tỷ lệ dự kiến
đúng (%)
Cắt tụy và mạc treo đại tràng ngang
Cắt đại tràng ngang
2a: 2 trường hợp đánh giá của NSOB: xâm lấn tụy, còn khả năng cắt tụy và dạ dày Đánh giá đại thể trong mổ: xâm lấn tụy rộng, không còn khả năng cắt dạ dày (được chuyển sang nối vị tràng)
2c: 2 trường hợp đánh giá của NSOB: xâm lấn tụy, dự kiến cắt tụy
Đánh giá trong mổ: không có xâm lấn tụy (xâm lấn T3)
1d: 1 trường hợp đánh giá của NSOB: xâm lấn T3 Đánh giá đại thể trong mổ: có xâm lấn tụy, phải cắt tụy xâm lấn
Nội soi ổ bụng dự kiến đúng cắt xâm lấn ở 17 trong tổng số 21 bệnh nhân, đạt tỷ lệ 80,9%