1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Dong nam a trong quan h m , nh chua xac dinh

136 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đông Nam Á trong quan hệ Mỹ, Nhật, Trung Quốc và ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam
Tác giả Ngô Vĩnh Long
Trường học University of Maine
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế và khu vực
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2005
Thành phố Orono, Maine
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đông Nam Á trong quan hệ Mỹ, Nhật, Trung Quốc và ảnh hưởng của nóđối với Việt Nam* Ngô Vĩnh Long University of Maine Orono, Maine, Mỹ Theo đánh giá của nhiều phân tích, trong những nă

Trang 2

Đông Nam Á trong quan hệ Mỹ, Nhật, Trung Quốc và ảnh hưởng của nó

đối với Việt Nam*

Ngô Vĩnh Long

University of Maine (Orono, Maine, Mỹ)

Theo đánh giá của nhiều phân tích, trong những năm qua không có một khu vực nào trênthế giới mà quan hệ quốc tế đã thay đổi sâu đậm và nhanh chóng như quan hệ giữa Trung Quốc và cácnước ASEAN.[1] Trong một bài tường trình trước Ủy Ban Đối Ngoại của Thượng Viện Mỹ vào đầutháng 6 năm 2005 ông Christopher Hill, thứ trưởng ngoại giao đặc trách khu vực Châu Á Thái BìnhDương, nói: “Những thành quả ngoại giao, chính trị, và kinh tế gây ấn tượng lớn nhất của Trung Quốctrong vài năm qua là ở khu vực Đông Nam Á.”[2]

Vì những hoạt động của Trung Quốc tại Đông Nam Á đã gây ấn tượng rất lớn đối với Mỹ vànhiều nước khác, trong đó có Nhật, câu hỏi được đặt ra là phía Mỹ và Nhật đã có những thái độ hayphản ứng gì và những thái độ hay phản ứng đó có ảnh hưởng gì đối với Đông Nam Á, nói chung, và vớiViệt Nam, nói riêng Để trả lời câu hỏi vừa nêu ra, trong phần đầu của bài nầy chúng tôi xin liệt kê mộtcách hết sức sơ lược vài nguyên nhân mà nhiều chuyên gia và chính khách nói đã thúc đẩy TrungQuốc tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á Trong phần 2 chúng tôi sẽ trình bày một số chitiết về quan hệ gần đây giữa Trung Quốc với các nước ASEAN Phần 3 và phần 4 sẽ lần lượt đề cậpđến chính sách, thái độ và hoạt động của Mỹ và Nhật tại Đông Nam Á trong những năm qua Và cuốicùng, bài nầy sẽ đi đến kết luận là với sự tăng cường họat động của 3 cường quốc Mỹ, Nhật, và TrungQuốc trong khu vực, các nước Đông Nam Á đang đứng trước một thời cơ rất hiếm cho việc xây dựngmột thời kỳ ổn định và phát triển mới

I Vài nguyên nhân giúp Trung Quốc tăng cường quan hệ và ảnh hưởng

1 Nguyên nhân thứ nhất là sau khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc Mỹ chỉ chú ý đến Đông Nam

Á đến Đông Nam Á khi nào khu vực nầy gặp khó khăn hay có những sự kiện gì rắc rối xảy ra Thái độthờ ơ của Mỹ, nếu không nói là chính sách của Mỹ, dẫn đến cuộc “khủng hoảng tiền tệ” ở Châu Á năm1997-1998 Thêm vào đó là chính sách của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), mà nhiều người trong cácnước bị khủng hoảng cho là chính sách của Mỹ, làm cho cuộc khủng hoảng kéo dài và gây thiệt hại rấtlớn cho các nước đó.[3] Do đó nhiều người trong các nước bị khủng hoảng rất oán giận Mỹ và IMFtrong khi họ càng ngày càng có thái độ nồng nhiệt hơn với Trung Quốc Trung Quốc đã khéo léo lợidụng cơ hội nầy để chứng minh rằng Trung Quốc thực tình muốn giúp đỡ các nước gặp khủng hoảng ởĐông Nam Á như viện trợ kinh tế cho Thái Lan và Indonêsia và không hạ giá đồng nhân dân tệ vì việcnầy sẽ làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng Vì thế, quan hệ giữa Trung Quốc với các nướcASEAN không những được cải thiện một cách nhanh chóng sau đó mà sự thành công của các hànhđộng của Trung Quốc còn giúp nâng cao tự tin của giới lãnh đạo Trung Quốc trong việc thay đổi và ápdụng các chính sách của họ đối với Á Châu, nói chung, và với Đông Nam Á, nói riêng để bành trướngảnh hưởng và thế lực của họ trong khu vực.[4]

2 Nguyên nhân thứ hai là tuy sau sự kiện ngày 11 tháng 9 Mỹ có để ý đến Đông Nam Ánhiều hơn trước, Mỹ đã chú trọng quá nhiều đến việc chống khủng bố và không có một chính sách kinh

tế, chính trị, và an ninh rõ ràng và mạch lạc đối với khu vực Morton Abramowitz và Stephen Bosworth

có nhận xét như sau:

Đường lối của Mỹ hiện nay trong khu vực rất rời rạc: một vài hành động chống khủng bố ở chỗ nầy,một ít tài trợ cho việc phát triển ở chỗ kia, một vài cuộc thăm viếng của tổng thống, và những tuyên bốthường xuyên về những gặt hái vinh quang của ASEAN trong khi cùng lúc thì thúc đẩy một vài hiệp địnhthương mại song phương Hiện nay có một số người càng ngày càng nói rằng ảnh hưởng lớn mạnhcủa Trung Quốc trong khu vực đe dọa những quyền lợi của Mỹ và cho rằng Mỹ phải làm sao hoạt độngtích cực hơn Lầu Năm Góc thì đang chú trọng đến sự phát triển quân sự của Trung Quốc và ảnhhưởng của nó đối với Đài Loan và đối với vấn đề an ninh ở Á Châu nói chung hơn là [các vấn đề kinh

tế và chính trị trong khu vực Đông Nam Á]

Trang 3

Chính sách của Mỹ không tương xứng với những quyền lợi của Mỹ trong khu vực Đông Nam Áđầy biến đổi nầy, một khu vực có 500 triệu người Một trong những quyền lợi chính [của Mỹ] ở đây làmậu dịch Trong năm 2003 tổng giá trị mậu dịch của Mỹ với ASEAN là 130 tỷ đô la và tổng số đầu tư đãlên đến 90 tỷ.[5]

Như chúng ta sẽ thấy phía dưới bài nầy, trong phần nói về phản ứng của Mỹ, chính sách của Mỹđối với Đông Nam Á đã và đang có một số thay đổi từ khi hai vị cựu đại sứ Mỹ viết những dòng trên.Nhưng nói chung thì nhiều nhà phân tích chính sách Mỹ đều đồng ý với nhận xét trên Ông ErnestBower, giám đốc Hội Đồng Mậu Dịch Mỹ-ASEAN (US-ASEAN Business Council President), đã phải thốtlên trong một bài diễn văn là chưa có một thời kỳ nào mà “Mỹ rất thiếu tập trung và Trung Quốc lại rấtquyết tâm” (when the U.S has been so distracted and China so focused” như trong hiện tại.[6] Thêmvào đó là việc Mỹ dùng vũ lực, nếu không nói là bạo lực, để “chống khủng bố” Hồi Giáo ở I-rắc và cácnơi khác đã làm cho một số nước như Inđônesia và Ma-lai-xi-a – nơi đa số dân chúng theo đạo Hồi –lại càng oán giận Mỹ và, qua đó, càng tạo cơ hội cho Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng và thế lựccủa mình trong khu vực Đông Nam Á

3 Nguyên nhân thứ ba giúp Trung Quốc tăng cường quan hệ và ảnh hưởng trong khu vực ĐôngNam Á là vì Nhật Bản, do suy thoái kinh tế tại Nhật từ đầu thập kỷ 90 đến gần đây cộng với khủnghoảng Châu Á năm 1997-98, đã phải rút bớt các hoạt động kinh tế và mậu dịch với các nước ASEAN.Việc nầy đã tạo một khoảng trống giúp cho các hoạt động kinh tế và mậu dịch của Trung Quốc có thểtràn vào Đông Nam Á một cách dễ dàng hơn Sau đây là một vài số liệu cho thấy: 1) sự thay đổi trongquan hệ mậu dịch giữa các nước ASEAN với Nhật và Trung Quốc; và 2) sự thay đổi trong quan hệ đầu

tư giữa ASEAN với hai nước trên

a) Thay đổi trong quan hệ mậu dịch

Theo các con số thống kê của IMF,[7] thì từ năm 1990 đến năm 2002 tổng số xuất khẩu củaASEAN cho toàn cầu tăng 180% Trong đó xuất khẩu sang Nhật chỉ tăng 85% trong cùng thời kỳ, từ27,3 tỷ Mỹ kim đến 50,7 tỷ, mặc dù xuất khẩu sang Trung Quốc tăng khoảng 8 lần, từ 2,6 tỷ đến 21,3 tỷ

Do đó, tỷ phần của xuất khẩu sang Nhật tụt xuống từ 18,9% trong khi tỷ phần của xuất khẩu sang TrungQuốc tăng từ 1,8% đến 5,3% trong cùng thời kỳ Tuy nhiên, đến năm 2002 xuất khẩu của ASEAN sangNhật vẫn còn lớn hơn 2 lần xuất khẩu sang Trung Quốc

Nhập khẩu cũng có chiều hướng tương tự Tổng số nhập khẩu của ASEAN từ các nước trên thếgiới tăng 118% từ năm 1990 đến năm 2002 Trong cùng giai đoạn, nhập khẩu từ Nhật chỉ tăng có 54%(từ 37,8 tỷ đô la đến 58,2 tỷ) và nhập khẩu từ Trung Quốc tăng khoảng 5,7 lần (từ 4,8 tỷ đô la dến 27,2tỷ) Do đó tỷ phần nhập khẩu của ASEAN từ Nhật tụt từ 23,1% xuống đến 16,4% trong khi tỷ phần nhập

từ Trung Quốc tăng từ 2,9% đến 7,6% Tuy nhiên, cũng như phía xuất khẩu, tổng giá trị nhập khẩu từNhật đến năm 2002 vẫn còn lớn gấp hai từ Trung Quốc

Những số liệu của IMF cũng cho biết tỷ phần nhập khẩu của ASEAN từ Nhật tăng đều đặn chođến cao độ là năm 1997 (16.6%) Đến năm 1998 tỷ phần nầy tụt xuống còn 12% và từ đó đến nay vẫnnằm ỳ ở mức này Ngược lại, tuy xuất khẩu sang Nhật có tụt chút ít trong giai đoạn khủng hoảng, tỷphần xuất khẩu sang Nhật đã hồi phục nhanh chóng và đã vượt xa mức độ năm 1997 Trong cùng thời

kỳ tỷ phần nhập khẩu từ Trung Quốc và sang Trung Quốc vẫn tăng trưởng đều đặn

Ngày 9 tháng Giêng năm 2006 tờ China Daily (Nhật Báo Trung Quốc trên mạng ) có đăng một bay

rất dài về những kết quả tích cực trong quan hệ thương mại và kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc.Một trong những điểm bài nầy nhấn mạnh là ASEAN đã trở thành bạn hàng lớn thứ 5 của Trung Quốc

và luồng thương mại hai chiều đã đạt hơn 120 tỷ Mỹ kim trong năm 2005 Xuất siêu của các nướcASEAN đối với Trung Quốc trong năm 2005 lớn hơn 16 tỷ Mỹ kim

b) Thay đổi trong quan hệ đầu tư

Trang 4

Theo số liệu của Cơ Quan Thư Ký của ASEAN,[8] tổng giá trị của các nguồn đầu tư trực tiếp từnước ngoài (FDI) vào các nước ASEAN (không kể Campuchia) từ năm 1995 đến năm 2001 là 141,3 tỷ

đô la Các nguồn FDI đổ vào ASEAN tăng đều đều hàng năm cho đến mức cao nhất là 29,6 tỷ đô lanăm 1997 Sau đó, vì khủng hoảng, tổng số FDI tụt xuống chỉ còn có 10,2 tỷ năm 2001 Trung Quốcđược hưởng lợi nhất vì phần lớn các nguồn FDI thay vì chảy vào ASEAN như trước đã được đưa vàoTrung Quốc sau cuộc khủng hoảng Năm 2004, chẳng hạn, Trung Quốc nhận được 64 tỷ Mỹ kim FDI vànăm 2005 Trung Quốc nhận đựợc 60 tỷ Mỹ kim

Trong giai đoạn 1995-2001 FDI từ Nhật sang ASEAN chiếm 15,7% tổng số FDI vào ASEAN, tức

22, 2 tỷ đô la Năm cao nhất (1997) là 6,8 tỷ đô la (23%) và năm thấp nhất (2000) là -135 triệu đô la(-1,59%) Trong cùng thời kỳ, FDI từ Trung Quốc sang ASEAN chỉ chiếm có 0.6% (821 triệu) tổng sốFDI chảy vào ASEAN Nhưng mặc dầu tỷ phần của Nhật đã tụt dần, nhất là trong giai đoạn 1999-2001,

tỷ phần của Trung Quốc đã tăng từ 0,2% năm 1999 (44 triệu đô la) đến 1,45% năm 2001 (148 triệu)

Theo số liệu của UNCTAD (World Investment Report 2003, trang 46) đến cuối năm 2001 tổng số đầu

tư của Trung Quốc vào năm nước ASEAN chủ yếu (cũng gọi là ASEAN-5: Inđônêsia, Phi-líp-pin, ga-po, và Thái Lan) là 151 triệu đô Đây là con số vẫn còn rất nhỏ so với tổng số đầu tư của 5 nước nàytại Trung Quốc là 2,97 tỷ đô la năm 2001 Mặc dầu đến đầu năm 2004 tổng số FDI của Trung Quốc ởcác nước ASEAN chỉ tối đa khoảng 200 triệu đô la, một số dự đoán cho là con số nầy sẽ lên đến 4 tỷ đô

Xinh-la cuối năm 2005.[9] Trên thực tế thì, theo các số liệu chính thức được công bố trên các báo chí của

chính phủ Trung Quốc (kể cả China Daily) vào ngày 24 tháng Giêng năm 2006, tổng số đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài của Trung Quốc năm 2005 chỉ có 6,9 tỷ Mỹ kim so với 3,6 tỷ năm 2004 Đầu tư trực tiếpcủa ASEAN ở Trung Quốc cao hơn đầu tư trực tiếp của Trung Quốc gấp nhiều lần Một ví dụ, theo tờ

China Daily ngày 16 tháng Giêng năm 2006 thì chỉ trong năm 2004 các nhà đầu tư Phi-líp-pin đầu tư

khoảng 700 triệu Mỹ kim tại Trung Quốc trong khi tổng số đầu tư của Trung Quốc tại Phi-líp-pin đếncuối năm 2003 chỉ vỏn vẹn dưới 20 triệu Mỹ kim

4 Nguyên nhân thứ tư thúc đẩy Trung Quốc tăng cường quan hệ và ảnh hưởng trong khu vựcĐông Nam Á là từ sau khủng hoảng năm 1997-98 cho đến khi Mỹ đánh vào I-rắc, Trung Quốc dần dần

ý thức là các vấn đề an ninh của Trung Quốc cũng như các vấn đề phát triển kinh tế của Trung Quốcbuộc Trung Quốc phải thay đổi chính sách với khu vực nầy Một ví dụ là sự phát triển kinh tế rất nhanhchóng của Trung Quốc làm cho Trung Quốc càng ngày càng phải dựa vào nguyên liệu và nhiên liệuđược chuyên chở bằng bằng tàu bè qua các đường biển eo hẹp trong vùng Đông Nam Á Đến giữanăm 2004 nền kinh tế của Trung Quốc, tính theo GDP, đã được xếp vào hạng thứ sáu trên thế giới.[10]Trung Quốc đã trở thành nước nhập dầu quặng nhiều thứ nhì trên giới (sau Mỹ) và đã tiêu dùng mộtnửa lượng xi măng sản xuất trên thế giới, một phần ba sắt thép của thế giới, một phần tư đồng của thếgiới, và một phần năm nhôm của thế giới.[11] Những số lượng hàng nầy được chuyên chở qua cácđường biển hẹp mà tiếng Anh gọi là “choke points” (các điểm kẹt) ở Đông Nam Á như là eo biểnMalacca, Sunda, Lombok, và Makasar cũng như các điểm khác ở Biển Đông Khoảng 50 ngàn chiếctàu thuyền lớn chuyên chở một phần tư tổng số lượng hàng bằng đường biển của thế giới, trong đó cómột nửa lượng dầu quặng chở bằng đường biển của thế giới phải đi qua eo biển Malacca mỗi năm.Đường qua eo biển nầy chỉ rộng khoảng 2,5 cây số giữa Ma-lai-xi-a và đảo Sumatra.[12] Theo bảntường trình hàng năm của Bộ Quốc Phòng Mỹ gởi đến Quốc Hội Mỹ ngày 20 tháng 7 năm 2005 thìtrong năm 2004 hơn 80% số lượng dầu nhập vào Trung Quốc phải qua eo biển Malacca và chỉ dưới 2%

là qua eo biển Lombok.[13] Khoảng 90% dầu Trung Quốc nhập phải được chuyên chở bằng đườngbiển.[14] Và vì Trung Quốc chỉ có trữ lượng dầu quặng khoảng 2% trữ lượng dầu quặng đã trên thế giới(mà người ta đã biết được) Trung Quốc càng ngày càng phải nhập nhiều dầu thêm (ước lượng sẽ tăng

từ 6,2 triệu thùng mỗi ngày năm 2004 đến 12,7 triệu thùng năm 2020) Vì Trung Quốc cần chuyên chởdầu ngày càng nhiều qua các vùng biển Đông Nam Á, Trung Quốc phải tăng cường quan hệ với cácnước ASEAN để đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế của Trung Quốc Hơn thế nữa, vì Trung Quốcngày càng phải dùng thêm nhiên liệu và nguyên liệu, Trung Quốc càng muốn khai thác và sử dụng cáctrữ lưỡng dầu trong khu vực Biển Đông cũng như các tài nguyên khác trong khu vực Đông Nam Á.Tăng cường quan hệ với các nước ASEAN sẽ tăng khả năng Trung Quốc có thể khai thác và sử dụngcác nguồn tài nguyên trong khu vực

II Mục tiêu, thái độ và quan hệ của Trung Quốc trong khu vực

Trang 5

Theo bản tường trình về quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á của Ban Nghiên Cứu

Quốc Hội Mỹ thì chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á đã dần dần thay đổi từ giữa thập kỷ

90, và rõ ràng nhất là từ sau khủng hoảng năm 1997-98 Chính sách nầy phù hợp với đại chiến lượcmới của Trung Quốc và gồm nhưng mục tiêu như sau:[15]

Duy trì một môi trường chính trị và an ninh ổn định, nhất là trong vùng ngoại biên của TrungQuốc, để tiếp tục phát triển kinh tế

Duy trì và bành trướng các tuyến đường hàng hải đi qua khu vực Đông Nam Á

Phát triển quan hệ mậu dịch vì những mục đích kinh tế và chính trị

Cô lập Đài Loan

Phát triển ảnh hưởng trong khu vực để đánh bại những hoạt động mà Trung Quốc cho là baovây chiến lược hoặc “ngăn đê” Trung Quốc

Phần lớn các nghiên cứu chiến lược của Trung Quốc đều cho rằng quan hệ chặt chẽ giữa Mỹ vàNhật là để bao vây Trung Quốc, và Đông Nam Á là nơi mà Trung Quốc có thể “đập vỡ chiến lược bao

vây của Mỹ” (dapo Meiguo zhanlue weidu) hữu hiệu nhất.[16] Theo David Shambaugh[†], để đạt những

mục tiêu trên, Trung Quốc đã có một “thái độ khu vực mới” (new regional posture) ở Á Châu Thái độmới này dựa trên 4 cột trụ (pillars) chính:[17]

Tham gia các tổ chức khu vực

Xây dựng các hợp tác chiến lược và tăng cường các quan hệ song phương

Bành trướng các liên hệ kinh tế với khu vực

Giảm thiểu sự nghi ngờ và lo lắng của khu vực đối với Trung Quốc trong lãnh vực an ninh

Để xem thái độ mới nầy đã đạt được những kết quả gì, Shambaugh đã dùng 16 trang (trang 89) để “đo lường” 4 cột trụ kể trên Đối với cột “tham gia các tổ chức khu vực” thì Shambaugh cho làhợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN trong vài năm qua đã lớn mạnh và có ảnh hưởng sâu sắc nhấttrong khu vực Á Châu Shambaugh đã dành 4 trang (trang 75-78) để liệt kê và miêu tả các thành quả

73-đã đạt được Tại hội nghị thượng đỉnh tại Phnom Penh đầu tháng 11 năm 2002 Trung Quốc và ASEAN

ký 4 hiệp định then chốt: “Công bố về cách cư xử của các thành phần liên hệ trong khu vực Biển Đông”(Declaration of the Conduct of the Parties in the South China Sea); “Công bố chung của ASEAN vàTrung Quốc về hợp tác trong lãnh vực các vấn đề an ninh không truyền thống” (Joint Declaration ofASEAN and China on Cooperation in the Field of Nontraditional Security Issues); “Hiệp định khung vềhợp tác kinh tế toàn diện giữa Hiệp hội các nước Đông Nam Á và Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc”(Framework Agreement on Comprehensive Economic Cooperation between the Association ofSoutheast Asian Nations and the People’s Republic of China); và “Bản ghi chép về sự thỏa thuận giữaBan Bí Thư của Hiệp hội các nước Đông Nam Á và Bộ Nông Nghiệp của Cộng hòa Nhân dân TrungQuốc về hợp tác nông nghiệp” (Memorandum of Understanding between the Association of SoutheastAsian Nations Secretariat and the Ministry of Agriculture of the People’s Republic of China onAgricultural Cooperation) Sau đó, tại hội nghị thượng đỉnh năm 2003 và 2004 hàng loạt hiệp định khácđược ký kết Theo đánh giá của Shambaugh, có lẽ trong tất cả cái ký kết trong 3 năm kể trên, “Hiệpđịnh khung về hợp tác kinh tế” có ý nghĩa lớn nhất vì nó đã giải tỏa được hầu hết các lo ngại của cácnước Đông Nam Á về việc các nền kinh tế và xuất khẩu của họ có thể bị Trung Quốc đè bẹp Do đó,mậu dịch giữa hai bên đã phát triển nhanh chóng Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã xác định mục tiêu mậudịch hai chiều là 100 tỷ đô la năm 2005 Ông ta cũng ước đoán rằng đến năm 2020, khi Hiệp định mậudịch tự do (Free Trade Agreement, FTA) giữa ASEAN và Trung Quốc được thi hành toàn bộ thì cácnước thành viên của hiệp định nầy sẽ có khoảng 2 tỷ dân số và một GDP tổng cộng là 3000 tỷ đô la.Shambaugh kết luận rằng chắc chắn là mậu dịch và đầu tư giữa ASEAN và Trung Quốc sẽ tăngtrưởng rất mạnh trong những năm sắp tới vì nền kinh tế của hai bên có rất nhiều điểm bổ xung chonhau và nhiều điểm tương đồng Trong phần giải thích cột trụ thứ 2, tức “xây dựng các hợp tác chiếnlược và tăng cường các liên hệ song phương,” nước Đông Nam Á độc nhất được ông đề cập đến làViệt Nam Ông dùng khoảng hơn một trang (cuối trang 80 đến đầu trang 82) tóm tắt liên hệ chính trị,kinh tế, mậu dịch, và quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc Trong phần đo cột trụ thứ 3, tức “bànhtrướng các liên hệ kinh tế với khu vực” ông Shambaugh có một bản về tổng giá trị về mậu dịch (theo sốliệu chính thức của Trung Quốc) giữa Trung Quốc và các nước láng giềng (trang 84) năm 2003, nhưngchỉ nói rằng giá trị mậu dịch năm này tăng 36,5% so với năm 2002 Còn đối với Đông Nam Á thì ông chỉ

Trang 6

cho biết mậu dịch song phương với Ma-lai-xi-a tăng 35%, với Thái Lan tăng 38%, với Philípin tăng 47%

và với Việt Nam tăng 58% trong cùng thời kỳ (trang 83) Nhưng ông Shambaugh không giải thích tạisao có sự tăng rất nhanh nầy từ năm 2002 và sự tăng trưởng nầy ai ai cũng cùng được lợi (win-winsituation) hay có người thắng có người thua, có người được lợi nhiều hơn người khác?

Trong phần đo cột trụ cuối cùng thì ông Shambaugh nói “Bắc Kinh đã sử dụng các biện pháp đơnphương, song phương, và đa phương để xử trí các vấn đề an ninh quốc gia và khu vực mà họ lo ngại”(Beijing has undertaken unilateral, bilateral, and multilateral measures to address both national andregional issues of concern) Đối với Đông Nam Á thì ông chỉ viết một đoạn ngắn (trang 87-88) nói về sựtham gia của Trung Quốc trong Diễn đàn khu vực của ASEAN (ASEAN Regional Forum—ARF) mà kếtquả quan trọng nhất là tháng 7 năm 2004 ASEAN chấp thuận đề nghị của Trung Quốc tăng cường traođổi quân sự trong khu vực và thành lập một cuộc hội thảo hằng năm về các vấn đề an ninh chung.Ngoài việc sử dụng ARF, Trung Quốc cũng đã sử dụng hết tất cả các cơ chế có liên quan đến cácvấn đề an ninh khu vực như “Hội Nghị ASEAN-ÂU CHÂU” (ASEAN Europe Meeting, ASEM), Hội Nghịsau thượng đỉnh ASEAN của các bộ trưởng, và hội nghị của “Hội Đồng về Hợp Tác An Ninh vùng Châu

Á Thái Bình Dương (Council for Security Cooperation in the Asia Pacific, CSCAP) Tháng 10 năm 2003,tại một cuộc hội nghị của ASEAN tại Bali, Inđônêsia đưa ra đề nghị thành lập một “Cộng Đồng An NinhASEAN” (ASEAN Security Community) bao gồm thêm những lãnh vực hợp tác mới như chống khủng

bố và an ninh hải phận Một số nước ASEAN không ủng hộ đề nghị nầy vì họ sợ vai trò then chốt củaTrung Quốc trong tổ chức nầy sẽ dẫn đến việc ASEAN sẽ chuyển dần các hoạt động về các vấn đề anninh khu vực ra khỏi các diễn đàn hiện có như Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ARF) hay diễn đàn về anninh của APEC (Asia Pacific Economic Cooperation.)[18]

Sau đó, chính Trung Quốc đã đưa ra một số đề nghị về an ninh khu vực khác và cũng đã hoạtđộng đắc lực để phát triển tổ chức ASEAN+3 (tức ASEAN cộng với Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc).Những cơ chế và diễn đàn an ninh nầy đều không có sự hiện diện của Mỹ và vì thế sẽ tạo điều kiện choTrung Quốc giảm thiểu hay giới hạn ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực Châu Á, nói chung, và ĐôngNam Á, nói riêng.[19] Năm 2003 Trung Quốc cũng ký “Thông cáo chung về hợp tác chiến lược cho hòabinh và thịnh vượng” (Joint Declaration on Strategic Partnership for Peace and Prosperity) với ASEAN.Trong đó, hai bên đồng ý hợp tác và điều phối các hoạt động của hai bên trong các lãnh vực chính sáchđối ngoại và an ninh.[20] Thông cáo chung nầy đã được người ta phân tích như là “bước đầu đi đếnviệc sát nhập Đông Nam Á vào một cộng đồng kinh tế, chính trị, và an ninh Đông Á mà Trung Quốclãnh đạo (an early step towards incorporating Southeast Asia in an East Asian economic, political andsecurity community led by China.)[21]

Thật vậy, nhiều người đã khẳng định rằng, so với tất cả các thế lực khác từ bên ngoài khu vực,Trung Quốc hiện nay là quốc gia năng động nhất và có ảnh hưởng nhất đối với những chính sách vàchương trình hoạt động trong các lãnh vực chính trị, kinh tế, an ninh và ngoại giao của Đông Nam Á.Trong một bài diễn văn ngày 9 tháng 6 năm 2005 tại Băng Cốc ông Goh Chok Tong, thủ tướng Xinh-ga-

po, nói rằng trong thập niên vừa qua Trung Quốc đã thành công trong việc thiết lập 27 tổ chức khácnhau với ASEAN Trong khi đó, 28 năm sau khi Mỹ và ASEAN chính thức hóa đối thoại giữa hai bênvào năm 1977 “hiện nay chỉ có 7 hình thức tổ chức Mỹ-ASEAN nhưng chỉ năm khi mười họa mới họp”(there are currently only seven U.S.-ASEAN bodies and they meet only infrequently.)[22]

Một vài ví dụ sau đây về các hoạt động đa phương và song phương của Trung Quốc trong nhữngtháng cuối năm 2004 đến giữa năm 2006 sẽ cho ta thấy rõ thêm nhận định trên đúng đến mức nào:

a) Vài hoạt động đa phương

Tại hội nghị thượng đỉnh lần thứ 5 của ASEM tại Hà Nội tháng 10 năm 2004 Trung Quốc đã thànhcông trong việc dùng hội nghị nầy để chứng tỏ mình là người tích cực lãnh đạo và bảo vệ quyền lợi của

Á Châu qua hai hành động có vẻ rất mâu thuẫn với nhau: Một mặt Trung Quốc ủng hộ sự tham gia hộinghị của Mi-an-ma và buộc các nước Âu Châu phải nhượng bộ ASEAN trong việc đòi không cho Mi-an-

ma tham gia Mặt khác thì Trung Quốc chống việc nới rộng sự tham gia ASEAM của các nước “Âu

Trang 7

Châu mới” với lý do là sự tham gia của các nước không có hay ít có quyền lợi tại các nước Đông Nam

Á sẽ làm loãng đi các liên hệ mà Trung Quốc và ASEAN đã và đang cố gắng xây dựng với Âu Châu.Đối với các vấn đề khác của ASEM – như nhân quyền, cán cân thăng bằng mâụ dịch giữa Á Châu

và Trung Quốc, và hợp tác trong các lãnh vực “an ninh phi truyền thống” (nontraditional security) –Trung Quốc đều có tiếng nói lớn Tóm lại, Trung Quốc vừa dùng ASEM như là một diễn đàn dùng sứcmạnh của Âu Châu để tạo cho mình một vai trò lãnh đạo ở Đông Nam Á và, ngược lại, vừa dùng thếmạnh chung của các nước Đông Nam Á để gây ảnh hưởng và phát triển liên hệ với Âu Châu

Cuối tháng 11 năm 2004, tại đại hội thượng đỉnh ASEAN thứ 10 tại Lào, Trung Quốc và ASEAN ký

“Hiệp định khung” và hiệp định nầy có thể sẽ là hiệp định quan trọng nhất vì trong tương lai nó sẽ tạo ramột thị trường mậu dịch tự do lớn nhất thế giới Và tại hội nghị nầy Trung Quốc và ASEAN cũng đồng ýnới rộng “Hiệp định khung” để thiết lập một cộng đồng ASEAN với một thị trường chung và các mục tiêu

an ninh chung Cũng tại hội nghị nầy ASEAN+3 tuyên bố là họ đồng ý hợp “Hội Nghị Thượng ĐỉnhĐông Á” (East Asia Summit) ở Ma-lai-xi-a vào cuối năm 2005 ASEAN+3 là con đẻ của Trung Quốc vàTrung Quốc muốn sử dụng diển đàn nầy để bàn các vấn đề hợp tác cũng như giải quyết các vấn đềđụng chạm và khúc mắc thế nào cũng sẽ xảy ra giữa 3 nước có nền kinh tế lớn nhất Á Châu nầy trongcác hoạt động “Nam tiến” của họ

Năm 2005 là năm Trung Quốc đặc biệt năng động trong việc đẩy mạnh quan hệ song phương vớicác nước Đông Nam Á cũng như trong việc sử dụng tất cả các tổ chức đa phương của ASEAN để pháthuy lợi ích và ảnh hưởng của Trung Quốc Trong năm đầu có hàng trăm cuộc gặp gỡ giữa các quanchức cao cấp của Trung Quốc và của các nước Đông Nam Á Cao điểm là các cuộc gặp gỡ giữa pháiđoàn đông đảo các quan chức cao cấp Trung Quốc do Thủ tướng Ôn Gia Bảo dẫn đầu với các lãnh tụĐông Nam Á và nhiều nước khác trên thế giới tại ba cuộc hội nghị vào ngày 11-15 tháng 12 năm 2005:hội nghị thứ 9 giữa Trung Quốc và ASEAN, hội nghị thứ 9 của ASEAN+3, và hội nghị Thượng ĐỉnhĐông Á (East Asia Summit, EAS) lần thứ nhất Tham dự hội nghị EAS có các lãnh tụ của ASEAN+3 vàcủa Ấn Độ, Úc, và Tân Tây Lan Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng có mặt.[23]

Tại hội nghị ASEAN-Trung Quốc vào ngày 12 tháng 12 Ôn Gia Bảo đọc một bài diễn văn với tựađề: Deepen Comprehensive Cooperation and Enhance China-ASEAN Strategic Partnership (Đào sâu

sự hợp tác toàn diện và nâng cao sự cộng tác chiến lược giữa Trung Quốc và ASEAN) Trong bài nầy

Ôn Gia Bảo hứa sẽ làm cho tình bạn hữu giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á sâu đậm hơn, sẽdựng lên một cái khung cho quan hệ đôi bên, sẽ xây dựng một hiệp ước mậu dịch tự do với ASEAN, sẽnhận dạng những lãnh vực hợp tác, và sẽ đẩy mạnh việc trao đổi nhân sự

Tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 trong cùng ngày Ôn Gia Bảo đọc một bài diễn văn với tựa đề:Working Together for a Better Future Through Stronger Cooperation (Cùng hoạt động cho một tương laitốt hơn qua sự hợp tác mạnh hơn) Bài diễn văn nầy kêu gọi đẩy mạnh việc phát triển cũng như việcthực hiện những nghiên cứu khả thi của một Khu Vực Mậu Dich Tự Do Châu Á; nới rộng ChiangmaiInitiative (sáng kiến Chiang Mai) và xây dựng một cái khung cho việc hợp tác tài chính khu vực; hợp tácchặt chẽ hơn trong việc sử dụng năng lượng; và tăng cường các nỗ lực quản lý các tình trạng y tế khẩncấp và những thiên tai lớn Trong bài nầy Ôn Gia Bảo cũng tuyên bố rõ rằng Trung Quốc không có thamvọng muốn giữ một địa vị lãnh đạo trong các tổ chức khu vực vì Trung Quốc trân trọng việc ASEAN đã

là người gầy dựng các tổ chức nầy và làm cho sự hợp tác trong các tổ chức nầy lớn mạnh Ôn Gia Bảohứa là Trung Quốc sẽ tiếp tục ủng hộ ASEAN trong vai trò lãnh đạo các tổ chức đó

Tại hội nghị thượng đỉnh Châu Á (EAS) ngày 14 tháng 12 thủ tướng Trung Quốc nhấn mạnh rằngTrung Quốc chống một tổ chức khu vực “khép kín và riêng biệt.” Ông ta nói rằng Trung Quốc ủng hộmột tổ chức mở cửa cho tất cả các nước ngoài Châu Á đến dự và khuyên các nước thành viên nêntăng cường quan hệ với Mỹ, Liên Hiệp Âu Châu và các nước khác Ông ta nhấn mạnh sự quan trọngcủa Trung Quốc như là một nước có nền mậu dịch quốc tế lớn thứ ba trên thế giới và là một nước nhậpkhẩu nhiều nhất Châu Á Ông ta cũng quả quyết rằng Trung Quốc sẽ theo đuổi một cuộc “phát triển hòabình,” sẽ không bao giờ tìm cách để chế ngự Châu Á, và sẽ không làm cho các nước khác thua thiệttrên con đường phát triển của mình

Trang 8

Ngoài việc dự ba hội nghị kể trên, Ôn Gia Bảo cũng có buổi họp thượng đỉnh song phương vớiThủ tướng Ma-lai-xi-a và những cuộc gặp mặt chính thức với hầu hết các trưởng đoàn của các nướcđến dự 3 hội nghị vừa đề cập đến Nhưng Ôn Gia Bảo đã không chịu gặp thủ tướng Koizumi Junichirocủa Nhật như thông lệ sau hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 Trước đó, ngày 4 tháng 12, Bắc Kinh đãđơn phương công bố là lãnh tụ 3 nước Trung Quốc, Hàn Quốc, và Nhật sẽ không có cuộc gặp mặt nhưthường lệ vì lý do “khí hậu và điều kiện” không tốt.[24] Về sự kiện nầy Willy Lam, một nhà nghiên cứu

và một nhà báo ở Hồng Kông, đã viết rằng Trung Quốc cố tình chơi nổi để cho Hàn Quốc và một sốnước khác ở Châu Á biết rằng Trung Quốc không bằng lòng với chính sách hữu khuynh và bán quânphiệt của chính quyền Junichiro Koizumi Sau khi Koizumi đi thăm đền thờ Yasukuni (nơi có nghĩa trangcủa một số quân phiệt đánh chiếm Trung Quốc và Hàn Quốc trong thập kỷ 30 và đến giữa thập kỷ 40)thì Trung Quốc và Hàn Quốc đã quyết định ngưng hết các cuộc gặp mặt với các lãnh tụ cấp cao củaNhật Tại hội nghị Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (Asia-Pacific Economic Cooperation) vàotháng 11 năm 2005 tại Hàn Quốc, các nhà bình luận của các hãng thông tấn Trung Quốc đã hể hả rằngKoizumi đã bị các lãnh tụ Châu Á ruồng bỏ.[25]

Suốt trong thời gian hội nghị tại Ma-lai-xi-a các cơ quan truyền thông chính thức của Trung Quốcnói rõ rằng Trung Quốc vẫn tiếp tục tẩy chay thủ tướng Koizumi Những cơ quan nầy còn nêu việc ÔnGia Bảo từ chối không cho thủ tướng Koizumi mượn cây bút để ký bản công bố của EAS trong một buổinghi lể trước công chúng ngày 14 tháng 12 và nói rằng đấy là một hành động tẩy chay cố tình của ÔnGia Bảo Sau nghi lễ ký công bố vừa kết thúc, Ôn Gia Bảo lập tức họp báo giải thích hành động củamình và đưa ra nhiều lý do tại sao Trung Quốc chống Nhật Ngoài ra, khi các cuộc hội nghị tại Kuala

Lumpur vừa bắt đầu tờ nhật báo Trung Quốc (China Daily) đã có bài xã luận đả kích Nhật với lập luận

là Nhật muốn tìm một vai trò lãnh đạo ở Châu Á mà Trung Quốc cho rằng không có lý do chính đáng vìchính phủ Nhật thiếu “tín nhiệm.”[26]

b) Vài liên hệ song phương

Một trong những mục tiêu chính của Trung Quốc trong việc tham gia các hoạt động đa phương là

để gây ảnh hưởng hay phát triển quan hệ song phương ASEAN gồm 10 quốc gia rất đa dạng trong cáclãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa Khó có thể nói rõ được những thành tựu hay những cảithiện trong quan hệ giữa từng nước một với Trung Quốc trong vài tháng qua hay vài năm qua màkhông đề cập đến các vấn đề lịch sử và văn hóa Và cũng không có thể đi vào chi tiết về vấn đề gì trongliên hệ của từng nước một với Trung Quốc dù chỉ trong vài tháng vừa qua trong một bài ngắn như thếnầy Vậy sau đây chúng tôi chỉ đề cập một cách hết sức khái quát về quan hệ với Trung Quốc của mộtvài nước tiêu biểu trong khu vực

Nước thứ nhất là Inđônêsia Nước nầy lớn nhất trong khu vực, đông dân nhất, có nhiều tài nguyênnhất, và cũng có nhiều vấn đề với Trung Quốc nhất trong quá khứ Ví dụ như trong năm 1965 khi chínhquyền Suharto tàn sát hơn nửa triệu người trong cuộc đảo chính mà Suharto cho là những người cầmđầu là cộng sản gốc Hoa, thì nhiều người gốc Hoa bị giết chết Từ năm 1967-1990 Trung Quốc cắt đứtquan hệ ngoại giao với Inđônêsia Năm 1998 nhiều người gốc Hoa bị đánh đập, hãm hiếp, và giết chếttrong các cuộc bạo loạn do khủng hoảng năm 1997-98 gây nên Năm 1999 tổng thống Wahid củaInđônêsia tìm cách cải thiện quan hệ với Trung Quốc vì chính sách của ông ấy lúc đó là muốn dùngTrung Quốc để cân bằng thế mạnh của Mỹ Sau đó, quan hệ ngoại giao giữa Inđônêsia và Trung Quốcđược củng cố thêm khi tổng thống Megawati sang thăm Trung Quốc năm 2002 Chính sách của bàMegawati là thiết lập quan hệ kinh tế này càng gần với Trung Quốc Năm 2002 một bản ghi nhớ về hiểubiết của đôi bên (Memorandum of Understanding, MOU) đã được ký để thiết lập một “Diễn đàn nhiênliệu giữa Indonesia và Trung Quốc” (Indonesia-China Energy Forum) Các hãng dầu của Trung Quốclập tức nhảy vào Inđônêsia khai thác dầu quặng và khí Đầu tư của Trung Quốc ở Inđônêsia tăng từ

282 triệu đô la năm 1999 đến 6,8 tỷ năm 2003 Mậu dịch hai chiều tăng từ 2 tỷ đô la năm 1992 đến 8 tỷnăm 2002.[27]

Mặc dầu giá trị mậu dịch hai chiều tăng nhanh, quan hệ mậu dịch giữa hai bên có thể sẽ gặpnhiều khó khăn trong tương lai vì theo nhiều nguồn thông tin hơn 80% các hàng xuất nhập của hainước nầy là trùng hợp với nhau và không tương đồng Hai nước ý thức được đều nầy nên đều cố gắngcủng cố quan hệ ngoại giao Cuối tháng 10 và đầu tháng 11 năm 2004 ông Tang Jiaxuan—cựu ngoại

Trang 9

trưởng và đặc sứ của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào trong quan hệ với ASEAN—chính thức viếng thăm ĐôngNam Á Trong chuyến công du nầy ông đã gặp ngoại trưởng Hassan Wirajuda của Inđônêsia tại Jakarta

để bàn việc phát triển quan hệ song phương Sau khi phía bên Inđônêsia bắt buộc phải tuyên bố côngkhai là họ ủng hộ chính sách chỉ có một nước Trung Quốc, phía Trung Quốc tuyên bố là họ sẽ ủng hộviệc Inđônêsia muốn làm chủ nhà cuộc hợp Hội Nghị Thượng Đỉnh Phi Châu-Á Châu và việc cử hành lễ

kỷ niệm 50 năm ngày thành lập tổ chức nầy Tang Jiaxuan tuyên bố thêm là quan hệ giữa hai nước đãbước vào một giai đoạn mới, giai đoạn thiết lập một quan hệ song phương Có thể đây là lối ăn to nóilớn của một anh nước bự Nhưng tuyên bố nầy có ít nhất là hai hàm ý quan trọng Thứ nhất là mặc dầuInđônêsia đã bị yếu đi sau khủng hoảng 1997-98 và đang còn rẩt nhiều khó khăn, tiếng nói củaInđônêsia vẫn còn nhiều trọng lượng vì anh là nước lớn nhất trong khu vực và từng là lãnh đạo củakhối ASEAN Cho nên việc Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng đối với Inđônêsia sẽ giúp Trung Quốcbắt các nước khác thừa nhận địa vị và ảnh hưởng của mình trong khu vực Thứ hai là vì lúc trước, khicòn là lãnh tụ của ASEAN, Inđônesia đã đẩy mạnh quan niệm kinh tế mở và ổn định trong khu vực đểphát triển Nay, trong việc Trung Quốc bắt Inđônêsia cúi đầu, Trung Quốc có hàm ý là “quan hệ chiếnlược mới” của Trung Quốc sẽ thay thế chiến lược cũ của Inđônêsia trong việc chỉ đạo khu vực trongtương lai

Trong chuyến công du vừa kể trên ông Tang Jiaxuan cũng ghé Thái Lan và Ma-lai-xi-a TạiBangkok ông ta dùng dịp lễ kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao với Thái Lan sắp được tổ chứctại đây để kêu gọi việc “đưa hợp tác chiến lược hiện có lên đến đỉnh cao hơn.” Mặc dầu không có ký kếtmột hiệp định nào cả trong dịp nầy, hai bên đồng ý cải thiện hợp tác trong các lãnh vực phát triểnnguyên liệu và nhiên liệu và truyền thông cũng như tăng cường các hình thức trao đổi giữa nhân dânhai nước Dân chúng Thái có vẻ rất bằng lòng với việc mở rộng quan hệ với Trung Quốc Theo mộtcuộc thăm dò dân ý, 76% người Thái cho rằng Trung Quốc là nước bạn gần gủi nhất so với chỉ có 9%nói Mỹ là nước thân thiện nhất.[28] Có nhiều lý do để giải thích cho việc nầy Thứ nhất là sau khi TháiLan bị khủng hoảng năm 1997 Trung Quốc lập tức giúp đỡ trong khi Mỹ có thái độ chần chờ Thứ hai làThái Lan có một cộng đồng người gốc Hoa khá lớn và khá thành công trong mọi lãnh vực Cộng đồngnầy là giai cấp thống trị tại Thái Lan mà tiêu biểu là thủ tướng Thaksin Shinawatra

Có thể nói là Thái Lan và Trung Quốc đã thiết lập một liên minh không chính thức Trung Quốc vàThái Lan đã ký một hiệp định “Liên Hiệp Chiến Lược” (Strategic Partnership) bao gồm trao đổi quân sựthường xuyên cũng như tập trận thường xuyên Thái Lan đã mua vũ khí từ Trung Quốc từ đầu thập kỷ

80 trong chương trình hợp tác nầy với giá đặc biệt dành cho “anh em bầu bạn.” Phần lớn những vũ khíbán giá đặc biệt nầy là viện trợ quân sự trá hình Gần đây Thái Lan và Trung Quốc công bố hàng loạtcác biện pháp và chương trình để ăn mừng lễ kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Thủ tướngThaksin muốn dùng Trung Quốc để cân bằng ảnh hưởng của Mỹ Ngoài ra gần đây 2 nước đều có vấn

đề với thiểu số Hồi giáo (ở vùng Patani bên Thái và vùng Tân Cương bên Trung Quốc) Vì thế hai nướcủng hộ nhau trong việc chống khủng bố và chống các phong trào ly khai Trong tất cả các nước ĐôngNam Á, Thái Lan là nước ủng hộ Trung Quốc mạnh nhất trong việc đe dọa Đài Loan.[29]

Vì lý do chính trị và kinh tế, Thái Lan cũng đã đề nghị dự án dùng Thái Lan làm một “Cầu nốinhiên liệu trên đất liền” (Energy Land Bridge) để gắn liền vùng biển Audaman với Vịnh Thái Lan ở phíanam vùng eo biển gọi là “Isthmus of Kra” để việc chuyên chở dầu sang Trung Quốc có thể nhanh hơn

và để tránh dùng eo biển Malacca khi có biến cố Dự án nầy bắt đầu năm 2005 và sẽ hoàn thành năm2008.[30]

Trong lãnh vực kinh tế thì mậu dịch 2 chiều giữa Trung Quốc và Thái Lan tăng từ 8,6 tỷ đô la năm

2002 đến 12 tỷ năm 2003 Nhưng trong việc trao đổi nầy Trung Quốc được lợi hơn Thái Lan rất nhiều.Nhiều doanh nghiệp Thái đã và đang bị đẩy vào tình trạng khốn đốn Lẽ dĩ nhiên là trong khi dó thìnhiều nhà đầu tư và xuất nhập khẩu Thái được lãi lớn Vì thế, mặc dầu trong liên hệ giữa hai nướccũng có nhiều vấn đề khó khăn, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng mãi cho đến khi Trung Quốc bỏ túi Mi-an-ma gần đây quan hệ Thái-Trung là quan hệ gần gũi nhất trong tất cả các nước Đông Nam Á.[31]Tuy chưa khắng khít bằng quan hệ với Thái Lan, quan hệ của Trung Quốc với Ma-lai-xi-a cũng đãđược hai bên đẩy mạnh Ông Tang Jiaxuan tuyên bố trong khi thăm Ma-lai-xi-a đầu tháng 11 năm 2004

là quan hệ giữa hai nước đã phát triển rất tốt Ông cho biết thêm rằng ông ủng hộ việc Ma-lai-xi-a muốn

Trang 10

làm nước chủ nhà cho cuộc họp đầu tiên của “Hội nghị thượng đỉnh Á Châu” (East Asian Summit) vàotháng 12 năm 2005 tại Kuala Lumpua Tháng 2 năm 2005 quan hệ giữa hai nước lại được củng cố vớicuộc viếng thăm “chủ tịch nước tối cao” Syed Sirajauddin Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố trong dịpnầy là quan hệ song phương hai nước đã phát triển rất cao và rất mạnh, đặc biệt là trong lãnh vực kinh

tế Phát triển kinh tế của Trung Quốc đã giúp phát triển kinh tế Ma-lai-xi-a nhiều nhất nhì trong cácnước Đông Nam Á Một trong những lý do là vì 25% dân chúng Ma-lai-xi-a là người Hoa và họ có quan

hệ kinh tế và gia đình rất gắn bó với Trung Quốc Trong thập kỷ trước Ma-lai-xi-a chỉ xuất hàng năm có1,2 tỷ Mỹ kim hàng hóa sang Trung Quốc Con số nầy đã lên đến 6 tỷ Mỹ kim năm 2003 và 6,4 tỷ Mỹkim trong 10 tháng đầu năm 2004.[32] Năm 2003 Ma-lai-xi-a vượt Xinh-ga-po và trở thành bạn hàngtrao đổi mậu dịch lớn nhất với Trung Quốc trong các nước ASEAN

Về mặt đầu tư thì đến năm 2003 Ma-lai-xi-a là nước có đầu tư lớn thứ 16 trên thế giới ở TrungQuốc Năm 2002 Ma-lai-xi-a đã có tổng giá trị FDI ở Trung Quốc là 367,99 tỷ Mỹ kim Trung Quốc trởthành nước xếp hạng thứ 10 trong các nước nhận được FDI của Ma-lai-xi-a trên thế giới Theo nhiềuphân tích, con số nầy sẽ lớn rất nhanh trong những năm tới Hầu hết các công ty Ma-lai-xi-a đầu tư ởTrung Quốc là của người Hoa.[33] Ngược lại, theo số liệu của ASEAN Statistical Yearbook (năm 2003,trang 148-149) đầu tư của Trung Quốc chỉ khoảng 60 triệu Tuy thế hướng đang lên của Trung Quốccũng đã giúp Trung Quốc tạo được uy thế và ảnh hưởng tại Ma-lai-xi-a cũng như trong cả khu vựcĐông Nam Á Theo lời của ông Abdul Razak Baginda tại “Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược” của Ma-lai-xi-a thì: “Hiện nay chúng tôi [các nước Đông Nam Á] phải chấp nhận đến mức nào đó sự lãnh đạocủa Trung Quốc, đặc biệt là vì đang thiếu sự lãnh đạo từ nguồn khác [Mỹ?].”[34] Và theo một vài phântích thì Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Á là để chính thức hóa vai trò lãnh đạo của Trung Quốc trong khuvực.[35] Nhưng việc nầy đã không xãy ra vì có sự chống đối của Xinh-ga-po, Inđônêsia, và một vàinước khác với sự hỗ trợ của Nhật Cuối cùng các nước nầy đã thành công trong việc mở cửa hội nghịThượng Đỉnh Châu Á cho Ấn Độ, Úc, Tân Tây Lan và Nga tham gia Các nước nầy vui lòng đóngnhững vai trò năng động và vì thế đã làm cho ảnh hưởng của Trung Quốc bị loãng đi Hội nghị ThượngĐỉnh Châu Á cũng để cửa mở cho sự tham gia của Mỹ trong tương lai Một việc rất đặc biệt đã xãy ra làngay từ khi hội nghị bắt đầu ASEAN đã khẳng định vai trò lãnh đạo của mình bằng cách chọn Manila,thay vì Bắc Kinh như Trung Quốc và Ma-lai-xi-a đã dàn xếp với nhau, để làm địa điểm cho hội nghị EASlần thứ hai vào cuối năm 2006 Vì thế, Ôn Gia Bảo đã phải bắt buộc phải phản ứng một cách lịch lãm làTrung Quốc ủng hộ sự lãnh đạo của ASEAN trong tất cả các tổ chức khu vực; nhưng sau đó ông ta đãbày tỏ sự bực tức của mình bằng thái độ khiếm nhã với thủ tướng Nhật Các cơ quan truyền thông củaTrung Quốc cũng đã tố cáo Nhật có tham vọng không chính đáng để làm một lãnh tụ tại Châu Á như đã

đề cập đến phía trên.[36]

Hội nghị thượng đỉnh giữa Trung Quốc và Ma-lai-xi-a ngày 15 tháng 12 năm 2005 đưa ra mộtthông cáo chung là hai bên đã đồng ý tăng gia tăng mậu dịch song phương từ 26 tỷ Mỹ kim năm 2004lên đến 50 tỷ Mỹ kim năm 2010; thực hiện một nghiên cứu khả thi về một Hiệp định Đối tác Kinh tế(Economic Partnership Agreement, hiệp định nầy là một phần của Hiệp định Mậu dịch Tự do giữaASEAN và Trung Quốc); trao đổi thông tin về nhưng vấn đề an ninh không truyền thống (nontraditionalsecurity areas); và mở rộng các trao đổi quân sự giữa hai nước Thông cáo nầy nói rằng Ma-lai-xi-a rấtphấn khởi trước các đóng góp của Trung Quốc, một nước chủ yếu dùng eo biển Malacca, để tăngcường an ninh trên eo biển nầy.[37]

Trong 6 tháng đầu năm 2006 các phái đoàn cao cấp vẫn tiếp tục sang thăm các nước Đông Nam

Á, nhưng ít hơn 6 tháng cuối của năm 2005 Hai phái đoàn được dư luận chú ý đến nhất là phái đoàn

do đại tướng Cao Gangchuan, bộ trưởng quốc phòng, dẫn đầu đến thăm Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po và ViệtNam (ngày 13-15 tháng 4) và phái đoàn do Thủ tướng Ôn Gia Bảo đến thăm Campuchia (ngày 7-8tháng 4) và sau đó đến Úc, Fiji và Tân Tây Lan Trong các cuộc trao đổi giữa đoàn của bộ trưởng quốcphòng Cao Gangchuan với các đối tác tại ba nước nói trên Trung Quốc đặc biệt muốn các nước nầygiải thích quan hệ quân sự với Mỹ và sự hiện diện quân sự ngày càng lớn của Mỹ trong khu vực TạiMa-lai-xi-a và Xinh-ga-po phái đoàn của tướng Cao nhấn mạnh việc Trung Quốc muốn tăng cường hợptác với hai nước nầy để bảo vệ an ninh trên vùng eo biển Malacca Tại Xinh-ga-po Bộ Trưởng Cao và

bộ trưởng quốc phòng Xinh-ga-po, ông Teo Chee Hean, nhấn mạnh rằng hai nước có khả năng rất lớn

để tăng cường hợp tác quân sự Ông Lee Kuan Yew, cựu thủ tướng Xinh-ga-po và là người có uyquyền bậc nhất tại nước nầy, đã nói trong một cuộc gặp mặt với tướng Cao là ông ta tin chắc rằng quan

Trang 11

hệ song phương giữa hai nước sẽ được tăng cường Tại Việt Nam phái đoàn tướng Cao nêu lên một

số vấn đề, trong đó có vấn đề sử dụng vịnh Cam Ranh mà Trung Quốc cho là tối quan trọng đối với vấncác vấn đề an ninh cho đảo Hải Nam và các tỉnh đông nam Trung Quốc Phái đoàn tướng Cao không

có thông cáo chung sau cuộc viếng thăm ba nước trên Nhưng trước đó, ngày 7 tháng 4, tướng Cao đãđến thăm Việt Nam và gặp Bộ trưởng quốc phòng Phạm Văn Trà và hai bên đã tuyên bố là hai nướcnên tăng cường quan hệ song phương, kể cả quan hệ quân sự.[38]

Cuôc đi thăm bốn nước của phái đoàn Ôn Gia Bảo liên quan đến các vấn đề quan hệ giữa TrungQuốc và Đông Nam Á Trong cuộc viếng thăm nầy phái đoàn Trung Quốc đã ký 60 hiệp định songphương Riêng trong cuộc gặp gỡ ngày 7-8 tháng 4 giữa Ôn Gia Bảo với Thủ tướng Hun Sen hai bên

đã ký 10 hiệp định Thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng tham dự lễ khánh thành khu các dinh thự và vănphòng làm việc mà Trung Quốc đã viện trợ xây cất cho Thủ tướng Hun Sen và các trợ lý của ông ta.Ông Hun Sen tuyên bố là cuộc viếng thăm của Ôn Gia Bảo sẽ đem đến rất nhiều lợi ích cho Campuchia

và nói thêm rằng Trung Quốc là “bạn đáng tin cậy nhất” của Campuchia Cuối cùng hai bên đưa ra mộtthông cáo chung rất dài kể lại một cách rất chi tiết sự cảm kích của Campuchia đối với những sự ủng

hộ và giúp đỡ của Trung Quốc cũng như sự đánh giá cao của Trung Quốc về sự ủng hộ củaCampuchia đối với quan hệ gần gủi hơn giữa Trung Quốc và ASEAN và việc Campuchia chống ĐàiLoan.[39]

Nói chung thì phần lớn các hoạt động của Trung Quốc trong sáu tháng đầu năm 2006, với mấychục phái đoàn viếng thăm qua lại mà bài nầy không thể nào đề cập đến (dù chỉ qua loa) ở đây được,phần lớn là để củng cố và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng như Mi-an-ma, Việt Nam, Lào

và Campuchia

III Mục tiêu, phản ứng, và chính sách hiện nay của Hoa Kỳ

Theo một nghiên cứu năm 2005 của Quốc Hội Mỹ, mục tiêu chiến lược lâu dài của Hoa Kỳ tạiĐông Nam Á như sau:[40]

Ổn định khu vực và cân bằng lực lượng với mục tiêu chiến lược là không cho ai làm bá chủ tạiĐông Nam Á

Không để bị loại ra khỏi khu vực bởi một cường quốc hay một liên minh nào

Tư do lưu thông hàng hải và bảo vệ các đường biển

Bảo vệ quyền lợi mậu dịch và đầu tư của Mỹ

Ủng hộ đồng minh và các nước bạn

Truyền bá dân chủ, chủ nghĩa pháp quyền, nhân quyền, và tự do tín ngưỡng

Không để khu vực trở thành căn cứ địa của bọn khủng bố

Đối với Trung Quốc và vai trò của Trung Quốc ở Châu Á-Thái Bình Dương nói chung thì “Công bố

chiến lược an ninh quốc gia” (U S National Security Strategy Statement) ngày 17 tháng 3 năm 2004

cho biết “một phần quan trọng trong chiến lược của chúng ta là thiết lập một khu vực Châu Á-Thái BìnhDương ổn định, thái bình, và thịnh vượng… Chúng ta chào đón sự ra đời của một nước Trung Quốchùng mạnh, hòa bình, và thịnh vượng.” Công bố chiến lược nầy cho biết thêm là, để phát huy quyền lợicủa Mỹ trong quan hệ Mỹ-Trung tại Đông Nam Á, Mỹ thường thi hành chiến lược “cân bằng lực lượngtrong khu vực qua các liên minh và qua sự hiện diện quân sự” cũng như qua việc đưa Trung Quốc vàohợp tác để “cùng lúc khuyến khích sự tham gia có trách nhiệm [của Trung Quốc] vào các hoạt độngquốc tế.”

Nhưng việc Trung Quốc tăng cường hoạt động tại Đông Nam Á trong những năm gần đây, như đãtóm lược trong phần trên của bài nầy, đã làm nhiều nhà nghiên cứu chiến lược của Mỹ cũng như nhiềuchính khách Mỹ lo ngại Trong một bài về Trung Quốc và ASEAN đăng trên một tập san của một việnnghiên cứu chiến lược, Mỹ hai tác giả Dana R Dillon và John J Tkacik, Jr đã đi đến kết luận rằngTrung Quốc đang trở thành một cường quốc đầu đàn ở Đông Nam Á và sẽ làm tổn hại đến vị trí của Mỹcũng như sẽ gây nhiều khó khăn cho các nước bạn tại khu vực nầy nếu Mỹ không cố gắng tăng gấpđôi, gấp ba, các hoạt động của mình đối với ASEAN.[41]

Trang 12

Một số các nhà nghiên cứu khác của Mỹ lạc quan hơn về ảnh hưởng của Trung Quốc ở ĐôngNam Á Trong một bài về vai trò của Trung Quốc trong khu vực nầy và ý nghĩa của nó đối với Mỹ vàNhật, Elizabeth Economy, giám đốc chương trình nghiên cứu Châu Á tại Hội Đồng Đối Ngoại của Mỹ(The Council on Foreign Relations) viết rằng mặc dầu vai trò kinh tế của Trung Quốc tại Đông Nam Á làquan trọng nhất và phát triển nhanh nhất trong những năm vừa qua, mậu dịch hai chiều giữa TrungQuốc với ASEAN năm 2004 chỉ mới có khoảng 100 tỷ Mỹ kim Tức là thua xa Nhật (135,9 tỷ Mỹ kim) và

Mỹ (trên 136 tỷ Mỹ kim) trong cùng năm Hơn thế nữa, sự phát triển mậu dịch hai chiều giữa TrungQuốc và ASEAN không có nghĩa là hai bên cùng có lợi Hàng nhập từ Trung Quốc như là đồ điện tử, đồmộc (bàn, ghế, tủ, gường), xe gắn máy, và hoa quả chỉ là một vài ví dụ hàng nội địa của các nướcĐông Nam Á đang gặp khó khăn cạnh tranh, nếu không nói là có thể bị hàng Trung Quốc đè bẹp ỞInđônêsia và Ma-lai-xi-a nhiều người phàn nàn là có quá nhiều việc làm đã bị Trung Quốc chiếm mất.Việc tăng cường xuất khẩu hàng may mặc của Trung Quốc đã có ảnh hưởng xấu đối với một số nướcnhư Campuchia và Việt Nam Và sự hiện diện càng ngày càng lớn trên bình diện kinh tế của TrungQuốc tại Đông Nam Á đang khuấy lên sự bất bình sẵn có nhưng trầm lặng trong quần chúng tại cácnước trong khu vực đối với các tầng lớp Hoa kiều giàu có ở đấy.[42]

Trên bình diện giúp đỡ các nước Đông Nam Á thì bà Economy nói rằng Trung Quốc đã được mọingười chú ý trong lúc Châu Á đang bị khủng hoảng tài chính vì Trung Quốc không chịu hạ giá thêmđồng nhân tệ và vì Trung Quốc đã cho Thái Lan mượn một tỷ Mỹ kim Nhưng Nhật là nước cho ASEANnhiều viện trợ nhất Năm 1977 Nhật hứa sẽ viện trợ 30 tỷ Mỹ kim để tăng cường các nền kinh tế trongkhu vực Đông Nam Á; và đến năm 2001 60% của toàn thể viện trợ phát triển cho khu vực là từ Nhật

Bà Economy kết luận rằng trong khi Trung Quốc rất năng động trong việc đẩy mạnh quan hệ mậu dịchvới ASEAN và muốn đóng vai trò lãnh đạo kinh tế trong khu vực với các hiệp định như Hiệp Định MậuDịch Tự Do ASEAN-Trung Quốc, Nhật vẫn đóng vai trò quan trọng nhất nhì đối với ASEAN trong cáclãnh vực đầu tư, mậu dịch, và tài chính Mỹ vẫn là nước có trao đổi mậu dịch lớn nhất với khu vực.Nhưng vì Mỹ đang chú ý đến các thị trường khác, như Trung Quốc, nên Mỹ có thể đánh mất vị trí chủchốt của mình nếu Mỹ không để ý thêm đến các nước ASEAN và không giúp các nước nầy tiếp tụcphát triển kinh tế.[43]

Gần 2 phần 3 bài của bà Economy được dùng để phân tích vai trò của Trung Quốc trong lãnh vực

an ninh và “an ninh không truyền thống” như môi trường, ma túy, y tế và quyền chính (governance) BàEconomy đi đến kết luận rằng mặc dầu Trung Quốc rất khôn khéo trong mặt trận ngoại giao, nhiềunước trong khu vực vẫn chưa hẳn tin tưởng Trung Quốc vì Trung Quốc thường nói một đằng nhưnglàm một nẻo Bà đưa ra một số ví dụ chứng minh như là việc Trung Quốc làm đập trên thượng lưu sông

Mê Công và gây rất nhiều hậu quả nặng nề cho các nước hạ lưu như Lào, Thái Lan, Campuchia và ViệtNam Thế nhưng Trung Quốc vẫn khăng khăng từ chối yêu cầu của Hội Đồng Sông Mê Công (MekongRiver Commission) gặp để thảo luận việc nầy hay ít nhất là để nghe các nước láng giềng để bày tỏnhững lo âu của họ Bà Economy cho rằng, nếu Trung Quốc muốn trở thành một nước lãnh đạo ởĐông Nam Á, Trung Quốc phải thật sự đóng những vai trò tích cực hơn trong các lãnh vực an ninhđược đề cập đến Cuối cùng bà Economy kết luận rằng Mỹ và Nhật vẫn đóng vai trò then chốt các lãnhvực mậu dịch, an ninh và phát triển kinh tế ở Đông Nam Á; và mặc dầu Trung Quốc không có thể đẩy

Mỹ và Nhật ra khỏi khu vực, Mỹ không nên ỷ lại vào những thành tích trong quá khứ mà phải năngđộng hơn Đặc biệt là nên đưa Trung Quốc vào hợp tác với Mỹ và Nhật trong khu vực vì việc nầy, tuy

sẽ gặp rất nhiều thử thách, sẽ đem lại nhiều lợi ích cho mọi bên.[44]

Hai nghiên cứu trên phản ánh hầu hết các phản ứng của các nhà phân tích và các chính khách

Mỹ, dù bi quan hay lạc quan đối với thái độ và hoạt động của Trung Quốc tại Đông Nam Á: hầu hết đềucho rằng Mỹ phải năng động hơn trong quan hệ với các nước ASEAN Vì bị áp lực từ nhiều phía, bắtđầu từ giữa năm 2005 chính quyền Bush đã đẩy mạnh quan hệ với các nước Đông Nam Á, trừ Mi-an-

ma Trong cuộc điều trần trước Quốc Hội Mỹ ngày 21 tháng 9 năm 2005 ông Eric G John, trợ lý thứtrưởng ngoại giao phụ trách khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nhấn mạnh rằng vì Đông Nam Á là vùngquan trọng bật nhất đối với Mỹ (“Southeast Asia is – and will remain – of the greatest importance to theUnited States”), Mỹ đã và đang cải thiện quan hệ với các quốc gia trong khu vực (trừ Mi-an-ma) và tăngcường hợp tác với các tổ chức đa phương như ASEAN, APEC, và Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ARF).Đối với ASEAN ông John nói rằng tăng cường quan hệ với tổ chức nầy là việc làm tối quan trọng vì

Trang 13

ASEAN là một động cơ để phát triển ổn định và thịnh vượng trong khu vực Châu Á-Thái Binh Dương.Ông ta nói Mỹ và ASEAN đã và đang tăng cường hợp tác trong mọi lãnh vực, mặc dầu đối với MỹASEAN chưa hợp tác đủ với Mỹ trong việc thúc đẩy dân chủ tại Mi-an-ma Tuy thế, ông John nói rằngtrong năm 2006, dựa trên quan hệ rất vững chắc đã đạt được, ASEAN và Mỹ sẽ phát triển toàn diệnchương trình Enhanced Partnership (Đối tác nâng cao) mà ASEAN đã đề nghị vào tháng giêng năm

2004 Đây là một chương trình mà các nước ASEAN muốn Mỹ tham dự như là một thành viên nganghàng với Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, và Ấn Độ để tránh cạnh tranh giữa các nước lớn trong khu vựcngõ hầu đem lại ổn định lâu dài tại đây Về vai trò Trung Quốc ở Đông Nam Á ông John tuyên bố:Trung Quốc tập trung phát triển quan hệ mậu dịch và đầu tư mạnh mẻ trong khu vực để nuôi dưỡngphát triển nội bộ nước mình Trong cùng lúc thì Trung Quốc rõ ràng muốn nâng cao ảnh hưởng chính trịngang tầm với sức mạnh kinh tế của mình, và từ đó có cơ hội để khuếch trương các quyền lợi củamình trong khu vực Mục tiêu của chúng ta (Hoa kỳ) là giúp Trung Quốc ngày càng nhận định rõ nhữngquyền lợi nầy nên phát triển theo cùng chiều hướng với những mục đích của chúng ta Đây đúng chính

là việc mà thứ trường ngoại giao Zoellick đang làm trong chương trình Senior Dialogue (Đối thoại Cấpcao) đã được ký kết giữa Tổng thống (Mỹ) và Chủ tịch Hu (Trung Quốc) tại cuộc hợp APEC năm ngoái.Chương trình Diễn đàn các Vấn đề Toàn Cầu Dobriansky của Hoa Kỳ (U.S Dobriansky’s Global IssuesForum) cũng tìm cách đối phó với sự xuất hiện của Trung Quốc như là một tay chơi toàn cầu bằng cáchchứng tỏ sự hợp tác trong hàng loạt các vấn đề đa quốc gia Phải nên nhớ rằng trong bối cảnh nầy vaitrò của Mỹ ở trong khu vực đã tăng cùng lúc với việc Trung Quốc tìm cách tăng cường đầu tư vào ĐôngNam Á Chúng ta đang, và sẽ tiếp tục, đóng vai trò cần thiết trong khu vực, vai trò đã được xây dựngtrên những quan hệ đồng minh của chúng ta, sự tham gia năng động của chúng ta trong các tổ chứcASEAN và APEC, và phương tiện thâm nhập thị trường mở rộng và thông suốt của chúng ta mà chúng

ta đã cung cấp để giúp phát triển các nền kinh tế của Trung Quốc và của các nước trong khu vực.[45]Trong một bài phát biểu ngày 22 tháng 5 năm 2006 tại Xinh-ga-po về quan hệ giữa Mỹ và ĐôngNam Á ông Christopher Hill, thứ trưởng ngoại giao phụ trách khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, nhấnmạnh sự quan trọng của Đông Nam Á đối với tương lai của Mỹ và của hệ thống quốc tế Ông Hill nóirằng, trên lãnh vực kinh tế, Đông Nam Á là khu vực đầu đàn của nền kinh tế thế giới và là một trongnhững bạn hàng trao đổi mậu dịch quan trọng nhất của Mỹ Năm 2005 Mỹ nhập 100 tỷ Mỹ kim hàng từĐông Nam Á và xuất gần 50 tỷ Mỹ kim sang các nước trong khu vực nầy Như thế, Đông Nam Á là thịtrường lớn thứ 5 trên thế giới cho xuất khẩu của Mỹ; và đầu tư trực tiếp của Mỹ tại ASEAN lớn hơn đầu

tư của Mỹ tại Trung Quốc và Hồng Kông cộng lại Ông Hill nói tiếp như sau: “Chúng tôi (Mỹ) hiện nayhoạt động cật lực để đưa quan hệ với ASEAN lên một nấc cao hơn” (We are now actively working ontaking our relationship with ASEAN to the next level.) Thêm vào đó ông Hill cũng cho biết là Mỹ rất quantâm đến việc phát huy cấu trúc của ASEAN cũng như tăng cường quan hệ với ASEAN là vì Mỹ muốnnới rộng những quan hệ song phương rất sâu đậm và năng động giữa Mỹ với các nước trong khu vựcĐông Nam Á Để chứng minh quan hệ song phương quan trọng như thế nào đối với Mỹ, ông Hill tóm tắtquan hệ của Mỹ với từng nước một trong khu vực Đông Nam Á Đối với Xinh-ga-po, chẳn hạn, ông Hillnói Xinh-ga-po là bạn hàng mậu dịch lớn thứ 10 trên toàn cầu Xuất khẩu của Mỹ sang Xinh-ga-po, mộtnước chỉ có 4,3 triệu người, bằng một nửa xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc, một nước có hơn 1,3 tỷngười Mậu dịch giữa Mỹ và Xinh-ga-po đã tăng hơn 10% sau khi hai nước ký Hiệp định Tự do Mậudịch năm 2004 Sau khi liệt kê quan hệ song phương với từng nước Đông Nam Á, ông Hill nói rằng chỉ

có một quan hệ song phương với Mỹ có tác động đến hết các quan hệ song phương đã được đề cậpđến là quan hệ song phương với Trung Quốc Ông Hill nói ông muốn bày tỏ rõ ràng rằng không phải cóthêm nhiều sự hiện diện của Trung Quốc trong khu vực là sẽ có bớt sự hiện diện của Mỹ Mỹ nghĩ là Mỹ

có thể hợp tác với Trung Quốc trên toàn cầu, kể cả trong khu vực Đông Nam Á Sự phát triển kinh tế rấtnhanh chóng của Trung Quốc và ảnh hưởng chính trị ngày càng tăng của Trung Quốc đã và đang đemđến nhiều thách thức và cơ hội cho các nước Châu Á và cho Mỹ Nhưng, như tổng thống Bush đã nóihồi tháng 4 năm 2006, Mỹ chào đón sự xuất hiện của một nước Trung Quốc giàu có và hòa bình và ủng

hộ các cơ chế quốc tế Ông Hill nói tiếp là bảy nhiệm kỳ tổng thống Mỹ đã ủng hộ việc Trung Quốc hòanhập với hệ thống toàn cầu và Mỹ đã thành công trong việc nầy Bây giờ, như thứ trưởng ngoại giaoRobert Zoellick đã nói trong một bài diễn văn hồi tháng 9 năm 2005, “đã đến lúc mọi người trong chúng

ta khuyến khích Trung Quốc đóng một vai trò lớn hơn như là một cổ đông viên có trách nhiệm trong hệthống quốc tế, một hệ thống đã giúp Trung Quốc gặt được rất nhiều lợi ích” (it is time for all of us to

Trang 14

encourage China to take on a greater role as a responsible stakeholder in the international system, asystem from which China has benefited greatly.)[46]

Sau bài phát biểu chính thức ông Hill có trả lời một số câu hỏi Và trong khi ông trả lời câu hỏi cuốicùng của ông Kishore Mahbubani, giám đốc Cao học Lý Quang Diệu về Chính sách Công cộng (LeeKuan Yew School of Public Policy) và nguyên ngoại trưởng Xinh-ga-po, ông Hill đã thố lộ rất rõ chínhsách của Mỹ đối với Đông Nam Á và với vai trò của Trung Quốc trong khu vực nầy: Mỹ sẽ tiếp tục pháttriển quan hệ lâu dài với các nước trong khu vực vì những quan hệ nầy rất quan trong và rất đặc biệtđối với Mỹ Nhưng việc nầy không có nghĩa là Mỹ cạnh tranh với Trung Quốc để lấy lòng các nướcĐông Nam Á Mỹ muốn Đông Nam Á có quan hệ tốt với Trung Quốc vì Trung Quốc là một đầu tàu cho

sự phát triển trong khu vực Đông Nam Á là một trong những khu vực trên thế giới mà Mỹ muốn hợptác với Trung Quốc vì lợi ích chung Chỉ có một vấn đề nổi cộm là trong quan hệ của Trung Quốc vớiMi-an-ma Trung Quốc không chịu cho các nước khác trong ASEAN và trong Liên Hiệp Quốc hợp tác đểđem đến những thay đổi tích cực cho Mi-an-ma và giúp đưa Mi-an-ma vào con đường phát triển.[47]Ông Hill đã lập lại hai lần trong câu trả lời trên là Mỹ không muốn cạnh tranh với Trung Quốc, chỉmuốn đưa Trung Quốc vào con đường hợp tác Như sẽ trình bày ở phần cuối của bài nầy, đây là mộtchính sách rất quan trọng cho việc phát triển ổn định trong khu vực

IV Chính sách, thái độ và hoạt động của Nhật

Nếu Mỹ không muốn cạnh tranh với Trung Quốc và chỉ muốn đưa Trung Quốc vào hợp tácthì Trung Quốc có muốn cạnh tranh với Mỹ hay với ai khác không? Như đã trình bày ở trên trong phần

về Trung Quốc, Trung Quốc bắt buộc phải tỏ ra có thiện chí trong ba cuộc họp thượng đỉnh vào trungtuần tháng 12 năm 2005 tại Ma-lai-xi-a, một phần vì áp lực của các hoạt động tích cực của các nướcĐông Nam Á Nhưng qua các thái độ khiếm nhã của Ôn Gia bảo đối với thủ tướng Nhật và qua việc ÔnGia Bảo họp báo tố cáo Nhật có tham vọng làm lãnh tụ trong khu vực người ta có thể thấy được khá rõràng là Trung Quốc cố ý dằn mặt Nhật để cho mọi người thấy rằng Trung Quốc không bằng lòng với địa

vị của Nhật trong khu vực Còn Nhật thì sao? Có muốn cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc không?

Và có thể cạnh tranh không?

Trong một bài đăng trong tạp chí China Brief vào đầu tháng giêng năm 2004 với tựa đề

“Nhật có thể phản công lại ảnh hưởng đang lớn dần của Trung Quốc tại Đông Nam Á không?” tác giảcho biết rằng các hoạt động của chính phủ Nhật để khẳng định lại ảnh hưởng của Nhật tại Đông Nam Ágặp nhiều cản trở chính trị trong nước Nhật Một ví dụ tác giả đưa ra là trong việc thương thuyết cáchiệp định mậu dịch tự do với một số nước Đông Nam Á chính phủ Nhật đã phải đương đầu với mộtphong trào vận động hành lang về nông nghiệp (argricultural lobby) và vì thế đã đi sau Trung Quốc rất

xa trong việc thiết lập các hiệp định mậu dịch tự do với các nước ASEAN Nhưng dầu sao đi nữa thìNhật có một số lợi thế sẵn có Lợi thế thứ nhất là mặc dầu ảnh hưởng của hơn 10 năm kinh tế suy thoái

và cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997-98 đã buộc Nhật phải rút bớt đầu tư trong khu vực Đông Nam Á

để đầu tư vào Trung Quốc (và vì thế đã kéo các nhà đầu tư nước ngoài khác bỏ Đông Nam Á chạy theoNhật vào Trung Quốc luôn), đến năm 2001 đầu tư của Nhật tại ASEAN vẫn lớn hơn 14 lần nếu tínhtheo dòng chảy (flow) hay hơn 56 lần nếu tính theo lượng (stock) Lợi thế thứ hai là Liên Minh Mỹ-Nhậtngày càng được củng cố và vì thế nếu các nước ASEAN muốn tranh thủ Mỹ có thêm sự hiện diện trongkhu vực hòng không cho một cường quốc nào làm bá chủ để an ninh khu vực được đãm bảo lâu dài,thì các nước Đông Nam Á phải khuyến khích Nhật đóng những vai trò tích cực hơn Áp lực của cácnước ASEAN đã đem lại một số hiệu quả tích cực như là việc Nhật, vào trung tuần tháng 12 năm 2003,

đã ký “Hiệp Định Hữu Nghị và Thương Mại” (Treaty of Amity and Commerce) mà ASEAN đã thiết lậpnăm 1976 mặc dầu có sự phản đối của Mỹ và mặc dầu sự phản đối nầy đã làm cho Úc và Tân Tây Lan

sợ và không dám ký Sự phản đối của Mỹ dựa trên nguyên tắc Nhật là đồng minh của Mỹ và được Mỹbảo vệ, đặc biệt là với vũ khí hạt nhân, trong khi qua việc ký hiệp định trên Nhật chấp nhận ASEAN làmột “khu vực phi vũ khí hạt nhân” (nuclear-weapons-free zone.)[48]

Ngược lại hiệp định trên với Nhật, năm 2004 ASEAN bác bỏ yêu cầu của Trung Quốc gianhập hiệp định khu vực phi vũ khí hạt nhân (Southeast Asia Nuclear Weapons Free Zone) với lý do là tổ

Trang 15

chức nầy muốn tất cả các cường quốc có vũ khí nguyên tử đều gia nhập cùng một lúc Hành động nầyđược người ta phân tích là ASEAN không muốn Trung Quốc có một vai trò quá nổi trên bình diện anninh nếu không có sự tham gia cùng lúc của các cường quốc trong khu vực.[49]

Mặc dầu trên bình diện an ninh Nhật chủ yếu dựa vào liên minh với Mỹ, chính sách lâu dàicủa Nhật là đưa Trung Quốc vào hợp tác trên nhiều bình diện và ở nhiều nơi, đặc biệt là ở Đông Nam Á

vì Nhật cho đây là cách hữu hiệu nhất và rẻ nhất để làm cho thái độ và chính sách của Trung Quốc ônhòa hơn Đó là lý do tại sao Nhật đã âm thầm khuyến khích các nước ASEAN mở rộng hội nghị thượngđỉnh Châu Á (EAS) ngày 14 tháng 12 năm 2005 tại Ma-lai-xi-a Như đã nói trên, việc nầy đã làm choTrung Quốc rất tức giận và đã phản ứng rất mạnh đối với Nhật Nhưng đằng khác thì Ôn Gia Bảo đãphải tuyên bố là Trung Quốc chống một tổ chức khu vực “khép kín và riêng biệt” và ủng hộ một tổ chức

mở cửa cho tất cả các nước ngoài Châu Á đến dự Sở dĩ Nhật đã có thể âm thầm khuyến khích cácnước ASEAN chận bớt tham vọng chính trị của Trung Quốc là vì, ngoài liên minh với Mỹ, Nhật vẫn còn

có sự hiện diện kinh tế khá lớn trong khu vực

Đầu tư trực tiếp của Nhật tại các nước ASEAN tụt với mức độ rất nhanh sau khủng hoảngnăm 1997 và đầu tư vào Trung Quốc tăng nhanh từ năm 2000, tức là từ khi Trung Quốc sắp vào TổChức Thương Mại Quốc Tế (WTO) Trong năm tài chính 2003 tổng số đầu tư của Nhật vào ASEAN là263,1 tỷ Yên, tức là khoảng 6,4% của tổng số đầu tư của Nhật trên thế giới (4090 tỷ Yên) Theo TổChức Kinh Tế Đối Ngoại Nhật (JETRO, Japan External Trade Organization) thì bắt đầu từ năm 2004đầu tư của Nhật tại ASEAN (tính bằng triệu Mỹ kim) đã tăng rất nhanh ở Việt Nam, Phi-líp-pin, Xinh-ga-

po và Thái Lan

Tuy đầu tư của Nhật tại Inđônêsia năm 2004 tụt xuống so với năm 2003, ông Aburizal Bakrie, bộtrưởng kinh tế Inđônêsia, cho biết trong một thông báo vào trung tuần tháng 10 năm 2005 tại Jakarta làđến năm 2009 đầu tư của Nhật sẽ tăng đến 22 tỷ Mỹ kim, tức là gấp đôi mức đầu tư năm 2005 ÔngBakrie cho biết là đến năm 2005 có 900 công ty Nhật hoạt động ở Inđônêsia với tổng số đầu tư là 11 tỷ

Mỹ kim và tạo công ăn việc làm cho 282 nghìn người Giá trị hàng xuất của các công ty nầy năm 2004bằng 19,06% của tổng giá trị hàng xuất của Inđônêsia, và giá trị hàng nhập của các công ty nầy bằng13,07% của tổng giá trị hàng nhập của Inđônêsia Đến năm 2009 tổng giá trị hàng xuất của các công tyNhật tại Inđônêsia sẽ tăng gấp đôi Ông Bakrie cũng cho biết thêm là đầu tư của Nhật tại Inđônêsia từnăm 1967 đến năm 2004 tương đương với 19,5% của tổng số đầu tư nước ngoài tại Inđônêsia Do đó,Nhật là nước có đầu tư lớn nhất tại đây.[50]

Theo phát biểu vào cuối tháng 2 năm 2005 của ông Osamu Watanabe, chủ tịch và tổng giám đốc

tổ chức JETRO (Japan External Trade Organization), tổng số đầu tư của Nhật tại Đông Nam Á đã lớnhơn gấp 3 lần tổng giá trị đầu tư của Nhật tại Trung Quốc và có xu hướng tăng càng nhanh hơn nữasau khi Nhật ký kết một số hiệp định mậu dịch tự do với các nước trong vùng.[51]

Quan hệ mậu dịch giữa ASEAN có thể còn quan trong hơn đầu tư của Nhật tại khu vực ĐôngNam Á Mậu dịch giữa Nhật với ASEAN (xuất khẩu và nhập khẩu) năm 2003 là 13.860,8 tỷ Yên, tức làkhoảng 14% tổng giá trị của mậu dịch của Nhật với toàn thế giới Mậu dịch với ASEAN tương đươngvới Cộng đồng Châu Âu và chỉ thua Trung Quốc có 1,5%

Từ năm 2003 đến nay Nhật đã thúc đẩy rất mạnh việc thiết lập các hiệp định thương mại tự dosong phương với các nước ASEAN, mặc dầu vì lý do chính trị trong nước chính phủ Nhật không côngkhai hô hào các nổ lực của mình về vấn đề nầy như Trung Quốc Khi phải đề cập đến các cuộc thươnglượng hiệp định mậu dịch tự do và lợi ích của nó thì chính phủ Nhật thường nói đến lợi ích đem vềđược cho nhân dân Nhật chứ không phải các lợi ích sẽ đem lại được cho các nước trong khu vực.Chính phủ Nhật cho biết là một hiệp định mậu dịch tự do với ASEAN sẽ đem lại khoảng 18 tỷ Mỹ kimcho GDP của Nhật và sẽ tạo 260 nghìn việc làm cho người Nhật.[52]

Qua các con số trên ta có thể thấy là quyền lợi kinh tế của Nhật ở Đông Nam Á rất lớn vàngang ngửa với quyền lợi kinh tế của Nhật ở Trung Quốc Vì thế, tuy trong vài năm qua giữa Nhật vàTrung Quốc có vài hục hặc về một số vấn đề chính trị và địa lý, lợi ích lâu dài của Nhật buộc Nhật phảichọn chính sách tối ưu, tức là đưa Trung Quốc vào hợp tác với Nhật tại Đông Nam Á và Bắc Á Sự phát

Trang 16

triển kinh tế của cả ba vùng cần nhau và bổ sung cho nhau Đây cũng là lý do tại sao phần lớn các việntrợ phát triển (ODA) của Nhật đã được đưa vào Trung Quốc, Đông Nam Á và các nước khác ở Châu

Á

Phải chú thích ở đây để biết thêm sự quan hệ của viện trợ Nhật là mặc dầu Trung Quốc ăn to nóilớn, Trung Quốc cho rất ít viện trợ Các báo chí Trung Quốc đưa tin ngày 7 tháng giêng năm 2006 làtrong năm 2005 Trung Quốc chỉ viện trợ có 33 triệu Mỹ kim và cho Inđônêsia mượn một số tiền lớn hơn

để xây dựng các công trình hạ tầng Báo China Development Brief, số tháng 12, cho biết là mặc dầu

viện trợ của Trung Quốc đã xây dựng nhiều công trình ở Lào, tổng số viện trợ của Trung Quốc ở Lào từnăm 1988 đến năm 2004 chỉ có khoảng 200 triệu Mỹ kim Trong khi đó thì chỉ riêng trong hai năm 2001-

2002 Lào nhận được 198 triệu viện trợ từ các nước, với 100 triệu từ Nhật và 20 triệu từ Trung Quốc

Nhật là nước cho viện trợ nhiều nhất Về viện trợ nhân đạo thì báo China Daily ngày 19 tháng giêng

năm 2006 cho biết là viện trợ của Trung Quốc cho các nạn nhân của sóng thần năm 2004, “vừa bằngtiền vừa bằng hiện vật,” tổng cộng là 22 triệu Mỹ kim Trong khi đó thì nhiều nguồn tin khác cho biết Mỹ

và Nhật viện trợ vài tỷ Mỹ kim và những nước kinh tế bật trung (như Đức, Úc và Na Uy) mỗi nước hứaviện trợ vài trăm triệu Mỹ kim

V Hàm ý cho Đông Nam Á và Việt Nam

Qua trình bày phía trên ta thấy rằng bối cảnh kinh tế và ngoại giao tại Đông Nam Á chưa bao

giờ thuận tiện cho các nước trong khu vực như hiện nay Sự xuất hiện của Trung Quốc như là mộtcường quốc chính trị và kinh tế và những hoạt động ráo riết cũng như những thái độ không rõ ràng củaTrung Quốc đã gây nhiều quan tâm Một số nước Bắc Á và Đông Nam Á, một phần vì suy thoái kinh tế

và vì các ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng năm 1997-98 và một phần vì sợ không cạnh tranhnổi với Trung Quốc sau khi Trung Quốc vào WTO, đã tăng cường quan hệ kinh tế và ngoại giao vớiTrung Quốc Đầu tư của các nước Châu Á, đặc biệt là từ Nhật và Đông Nam Á, đã giúp Trung Quốc rấtnhiều trong việc phát triển kinh tế của Trung Quốc

Các nước Châu Âu, Bắc Mỹ, và Úc có vẻ thận trọng trong việc đầu tư tại Trung Quốc, mộtphần là vì họ sợ sự phát triển của Trung Quốc không bền vững Nói chung, mãi đến sau khi Trung Quốcvào WTO rồi mà đầu tư của các nước nầy không tăng gì mấy; và đến năm 2004 tổng cộng chưa bằngmột nửa tiền đầu tư của các nước Châu Á tại Trung Quốc FDI của Châu Âu và Bắc Mỹ tuy nhỏ hơnđầu tư của Châu Á, đầu tư của hai khu vực nầy rất quan trọng một là vì nó sản xuất những hàng cóchất lượng và giá trị gia tăng cao Thêm vào đó, đây là hai trị trường lớn nhất cho các hàng xuất củaTrung Quốc Riêng thị trường Mỹ mỗi năm đã tiêu thụ trên 40% tổng xuất khẩu của Trung Quốc Phầnlớn đầu tư từ các nước Đông Nam Á và tiền đem ra ngoài rửa rồi đem về Trung Quốc lại được đầu tưvào các xí nghiệp hương trấn hay các công nghiệp ít có giá trị gia tăng và vì thế ít lãi hơn các loại hàngsản xuất tại các xí nghiệp FDI Âu-Mỹ, mặc dầu nhiều mặt hàng hương trấn cũng được xuất sang các thịtrường Âu Mỹ Vấn đề được đặt ra ở đây là nếu kinh tế Trung Quốc gặp khó khăn (vì mất ổn định trongnước hay trong khu vực hay vì giá nguyên liệu và nhiên liệu trên thế giới tăng cao) thì tiền đầu tư củanhiều nước Châu Á tại Trung Quốc sẽ gặp nhiều rủi ro nhất và không biết có thể tháo chạy kịp thờikhông

Hiện nay, Trung Quốc đang gặp rất nhiều khó khăn về mặt tài chính/ngân hàng cũng nhưnhiều vấn đề xã hội rất lớn (như mỗi năm có hàng trăm ngàn cuộc biểu tình của nông dân và nông dân

mà chính quyền Trung Quốc phải dùng vũ lực để đàn áp) và vì thế nhiều nước đã bắt đầu rút bớt tiềnđầu tư ở Trung Quốc để đem vào một số nước khác ít rủi ro hơn Theo các số liệu chính thức, trong 6tháng đầu năm 2006 FDI vào Trung Quốc đã tụt 0,7 so với 6 tháng đầu năm 2005 Trong nửa đầu năm

2006 FDI từ Hàn Quốc vào Trung Quốc đã giảm 39,49%, từ Nhật đã giảm 31,37%, và từ Mỹ đã giảm18,27% Ngược lại, đầu tư từ Hồng Kông tăng 9,75% và từ Virgin Islands (tiền rửa) tăng 12,42% Tronghiện tại tiền FDI sản xuất 60% tất cả các hàng xuất khẩu của Trung Quốc và đã giúp Trung Quốc pháttriển một cách “thần kỳ.” Nếu FDI tiếp tục tụt xuống và nếu những nhà đầu tư bắt đầu kéo ra khỏi TrungQuốc thì ảnh hưởng là số người thất nghiệp lại càng đông (hiện nay đã có khoảng 150 triệu) và việcnầy sẽ gây thêm mất ổn định xã hội và chính trị tại Trung Quốc

Trang 17

Ngược lại, vì sợ nạn thất nghiệp quá trầm trọng, Trung Quốc đã bôm quá nhiều tiền vào sảnxuất và vì thế đã hâm nóng nền kinh tế đến độ đáng lo ngại Theo các nguồn tin chính thức của TrungQuốc, ngày 14 tháng 6 năm 2006 chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố là sản xuất trong tháng 5 tăng17,9% so với tháng 5 năm 2005 Xuất khẩu tăng 25,1% và hàng bán lẻ trong nước tăng 14,2% Trongcùng ngày, Ngân Hàng Nhân Dân Trung Quốc (People’s Bank of China) cho biết là số tiền lưu hành(M2) tại Trung Quốc đã tăng 19,1% trong một năm, tức là cao hơn các chỉ tiêu của chính phủ rất nhiều.Quan trọng hơn nữa là các ngân hàng ở Trung Quốc đã cho vay hơn 2 phần 3 chỉ tiêu cho cả năm chỉtrong 5 tháng đầu, gây nên tình trạng hâm nóng kinh tế mà chính phủ Trung ương chưa có biện pháp gì

để kìm hãm được

Mục đích các đoạn trên không phải để phân tích các khó khăn kinh tế và xã hội của TrungQuốc nhưng để cho thấy rằng, nếu muốn tiếp tục phát triển, Trung Quốc cần có ổn định trong nướccũng như trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương – nơi mà Đông Nam Á là khâu quan trọng hàng đầu.Một trong những lý do giúp Trung Quốc tăng cường quan hệ với các nước Châu Á, nói chung, và ĐôngNam Á, nói riêng, là Trung Quốc thường rêu rao rằng sự phát triển của Trung Quốc sẽ có lợi cho tất cả(win-win, thắng-thắng) và sẽ vực tất cả các nền kinh tế khác cùng lên Trung Quốc trong những nămqua đã tự ví mình là đầu tàu cho toàn khu vực và lấy cái thế đang lên của nền kinh tế mình để tăngcường ảnh hưởng chính trị và quan hệ quân sự trong khu vực Nhưng nếu kinh tế Trung Quốc xuốngcấp và quan hệ kinh tế với Trung Quốc không còn có lợi cho các nước Đông Nam Á như đã tưởng nữathì Trung Quốc có còn sức hấp dẫn không?

Đằng khác, mặc dầu Trung Quốc đã khéo léo dùng các thủ thuật “sức mạnh mềm” (softpower) và thường lập đi lập lại hai chữ thắng-thắng như là một câu thần chú, thái độ và cách cư xử củacác lãnh tụ Trung Quốc (như của Ôn Gia Bảo) đã làm cho nhiều người nghi ngờ sự thật tình của TrungQuốc Thêm vào đó là có nhiều bài viết của các chuyên gia Trung Quốc trong các tập san nghiên cứutấn công Mỹ và Nhật trong quan hệ với Đông Nam Á Một ví dụ là một số chuyên gia Trung Quốc đã

cho rằng những cải thiện trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam gần đây là để ngăn đê (ezhi) Trung Quốc.

[53] Một ví dụ khác là các chuyên gia Trung Quốc cho rằng các nổ lực chống khủng bố của Mỹ ở ĐôngNam Á hay cứu trợ các nạn nhân sóng thần chỉ là các hình thức trá hình cho việc đưa quân đội Mỹ trởlại khu vực Họ cũng chỉ trích sự giúp đỡ các nạn nhân sóng thần của Nhật như là một hình thức tráhình để giúp Nhật đạt tham vọng vào Hội đồng An ninh của Liên Hiệp Quốc.[54] Ai cũng có quyền nghingờ động cơ của người khác Nhưng nếu Trung Quốc cho rằng quan hệ của Mỹ và Nhật và các cườngquốc khác với các nước Đông Nam Á là không có lợi cho Trung Quốc trong khi những quan hệ nầy thật

sự có lợi cho Đông Nam Á thì đến lúc nào đó các nước Đông Nam Á sẽ bị đưa vào tình thế bắt buộcphải chọn lựa Vì thế, không biết việc nầy sẽ có lợi cho Trung Quốc, nói riêng, và cho các nước kháckhông?

Mong rằng hành động của các nước ASEAN trung tuần tháng 12 năm 2005 đã dạy choTrung Quốc một bài học là các nước nầy – cũng như Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Úc – không muốn có cạnh tranhtrong khu vực, nhưng muốn có sự hợp tác thật sự vì lợi ích chung Ôn Gia Bảo bắt buộc phải tuyên bố

là Trung Quốc muốn các nước ASEAN lãnh đạo các tổ chức trong khu vực, rằng Trung Quốc khôngmuốn cạnh tranh, chỉ muốn hợp tác Phát biểu nầy, thật tình hay không, cho biết là Trung Quốc đã cómột nhận thức thực tế về thái độ của các nước trong khu vực cũng như của Mỹ và Nhật Vấn đề còn lại

là làm sao các nước Đông Nam Á có thể đoàn kết với nhau hơn nữa để có tiếng nói chung mạnh hơn

và hiệu lực hơn Sự chú tâm của các cường quốc đối với khu vực trong giai đoạn hiện nay tạo cơ hộichưa từng có cho ASEAN nói chung Và vì Việt Nam một nước ASEAN lớn nhất kề cận Trung Quốc,vai trò và ảnh hưởng của Việt Nam trong tương lai sẽ rất lớn nếu Việt Nam có chính sách khôn ngoan,minh bạch và có thái độ cương quyết chứng tỏ rằng “không có gì quí hơn độc lập tự do.”

Trang 18

[†] Trong bài viết nầy chúng tôi cố ý trích ông Shambaugh hơi nhiều vì ông là một trong số ít học giả

và các nhà phân tích tình hình Á Châu chú tâm nhiều nhất đến sự kiện xảy ra trong khu vực Châu ÁThái Bình Dương Ông đặc biệt chỉ trích hai trường phái học thuật và lý thuyết gia chính thống về liên

hệ quốc tế (international relations) ở Âu Tây: 1) Trường phái “duy thực” (Realism), tức trường phái bảothủ, nhấn mạnh vấn đề cân bằng lực lượng, 2) Trường phái “tiến bộ duy thể chế” (LiberalInstitutionalism), tức trường phái nhấn mạnh các cơ chế đa phương, mà trường phái “duy thực” gọi làtrường phái “duy lý tưởng” (Idealism) Ông Shambaugh viết (trang 99): “Asia is a region undergoingfundamental change… Realist theory seems particularly incapable of explaining such a complex anddynamic environment, and it thus tends to offer oversimplified (and sometimes dangerous) policyprescriptions Nor does liberal institutionalism fully suffice as an analytic paradigm There arephenomena in Asia today that neither realist nor liberal international relations theory is able to capture,thus requiring deep grounding in area studies to be comprehended.”

[1] “China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues and Implications for the United States,”Congressional Research Service Report for Congress, February 8, 2005, trang 4-5; “China and

Southeast Asia,” Policy Bulletin, 44th Strategy for Peace Conference, October 16-18, 2003, có thể tải được từ mạng: api.stanleyfoundation.org; Alice Ba, “China and ASEAN: Renavigating Relations for a

21st Century,” Asian Survey, July-August 2003; Denny Roy, “China and Southeast Asia: ASEAN Makes

the Best of the Inevitable,” Asia-Pacific Center for Security Studies, Volume 1, Number 4, November

2002, www.apcss.org

[2] Nguyên văn: “China’s most dramatic diplomatic, political, and economic gains of the past fewyears have been in Southeast Asia.” Xem: Statement by Christopher R Hill, Assistant Secretary ofState for East Asian and Pacific Affairs, “Emergence of China in the Asia-Pacific: Economic and SecurityConsequences for the United States,” Senate Foreign Relations Committee, June 7, 2005 Toàn thể bài

http://www.foreign.senate.gov/testimony/2005/HillTestimony050607.pdf

[3] Morton Abramowitz và Stephen Bosworth, “Rethinking Southeast Asia,” The Century Foundation,www.tcf.org, ngày 21 tháng 4 năm 2005 Bài này đã đăng trong Jakarta Post ngày 20 tháng 4.Abramwitz là Senior Fellow của The Century Foundation và Bosworth là giám đốc của The FletcherSchool of Diplomacy tại Tutfs University Cả hai ông nầy đều đã làm đại sứ của Mỹ ở Châu Á Mark

Beeson, “Southeast Asia and the Major Powers,” in Mark Beeson ed Contemporary Southeast Asia,

(Basingstoke: Palgrave Macmillan, 2004), trang 203

[4] Alice Ba, như trên, trang 636 David Shambaugh, “China Engages Asia: Reshaping the Regional

Order,” International Security, Vol 29, No 3 (Winter 2004/2005), trang 68.

[5] Morton Abramowits và Stephen Bosworth, “Rethinking Southeast Asia,” như trên Nguyên văn: The current U.S approach to the area has been spasmodic: some counter-terrorism efforthere, a bit of development financing there, an occasional presidential visit, and frequentstatements about the glories of ASEAN, while pursuing a few bilateral free trade agreements onthe side Increasingly some now argue that growing Chinese influence in the region threatensAmerican interests and that the U.S should somehow be doing more The Pentagon is morefixated on China's growing military capabilities and its impact on Taiwan and Asian security ingeneral

U.S policy is not commensurate with its interests in a changing Southeast Asia, an area ofhalf a billion people Central among them is commerce In 2003 U.S total trade with ASEAN was

130 billion dollars and investment reached some 90 billion

Trang 19

[6] John McBeth, “Taking the Helm,” Far Eastern Economic Review, October 16, 2004.

[7] International Monetary Fund, Direction of Trade Statistics (DOT) Yearbook, năm 1997 và 2003.Cuốn sách năm 1997 cho các số liệu từ năm 1990 đến 1995 và cuốn năm 2003 cho số liệu từ năm

1996 đến 2002

[8] ASEAN Secretariat, ASEAN Statistical Yearbook, 2003, trang 138-140

[9] Stuart Grudgings, “China Shows Asia it can Give as Well as Take,” Reuters, ngày 5 tháng 10 năm2004

[10] Ted Fishman, “The Chinese Century,” The New York Times, July 4, 2004

[11] “China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues and Implications for the United States,”Congressional Research Service Report for Congress, February 8, 2005, trang 12 Peter Goodman,

“Booming China Devouring Raw Materials,” The Washington Post, ngày 21 tháng 5 năm 2004.

[12] “China-Southeast Asia Relations…”, trang 12 “Shipping in Southeast Asia,” The Economist,June 12, 2004

[13] “Annual Report to Congress: The Military Power of the People Republic of China 2005,”Department of Defense, Office of the Secretary of Defense, trang 41

[14] “China Sails Troubled Waters Over Oil,” South China Morning Post, ngày 17 tháng 7 năm 2004.[15] “China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues and Implications for the United States,”Congressional Research Service Report for Congress, February 8, 2005, trang 7-8

[16] Chen Fengjun, “Jiaqiang Zhongguo yu Dongmeng Hezuo de Zhanlüe Yiyi” [Gia tăng ý nghĩa

của sự hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN], Guoji Zhengzhi Yanjiu [Nghiên cứu chính trị quốc tế] Tập.

1 (tháng 2 năm 2004), trang 24–28; và Lu Jianren, “Shijizhijiao: Zhongguo dui Dongmeng de Waijiao

Zhanlüe” [Thế kỷ chuyển giao: Chiến lược ngoại giao của Trung Quốc đối với ASEAN], Taipingyang Xuebao [Đại Bình Dương Học báo] Tập 1 (1998), trang 42–47.

[17] David Shambaugh, “China Engages Asia: Reshaping the Regional Order,” trang 72

[18] “Regionallly Challenged, Asian Security,” The Economist, ngày 10 tháng 7 năm 2004

[19] Jane Perlez, “Across Asia, Beijing’s Star is Rising,” The New York Times, ngày 28 tháng 8 năm2004

[20] “Peaceful Rise,” The Economist, ngày 24 tháng 6 năm 2004

[21] Trích trong “China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues and Implications for the UnitedStates,” Congressional Research Service Report for Congress, February 8, 2005, trang 26

[22] Goh Chok Tong, “Constructing a New East Asia,” diễn văn tại Asia Society Conference tại

Bangkok ngày 9 tháng 6 năm2005 Xem: The Straít Times (Xinh-ga-po) ngày 10 tháng 6 năm 2005, trang A16 và trang 19 app.sprinter.gov.sg/data/20050609995.htm (ngày 11 tháng 10 năm 2005).

[23] Để biết thêm chi tiết về 3 hội nghị nầy và quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Átrong 3 tháng cuối năm 2005 xem: Robert Sutter, “China-Southeast Asia Relations: Emphasizing the

Positive; Continued Wariness”, Comparative Connections: A Quarterly E-Journal on East Asian Bilateral Relations, số cuối năm 2005 Báo nầy có thể tải về từ: http//www.csis.org/pacfor/ccejournal.html.

Trang 20

[24] Willy Lam, “Beijing’s Strategy to Counter U.S Influence in Asia,” China Brief, Volume 5, Issue 25(ngày 6 tháng 12 năm 2005), trang 3 The Jamestown Foundation Đây là một tờ bán nguyệt san và cóthể tải về từ: http//www.jamestown.org.

[25] Như trên

[26] Robert Sutter, “China-Southeast Asia Relations: Emphasizing the Positive; ContinuedWariness.”

[27] Diễn văn của Goh Chok Tong đã trích ở trên , trang 19

[28] Phillip Pau, “China’s Improving Image Challenges U.S in Asia,” The Washington Post, ngày 15tháng 11 năm 2003

[29] Anthony Smith, “Thailand’s Security and the Sino-Thai Relationship,” China Brief, Volume 5,Issue 3 (ngày 1 tháng 2 năm 2005) The Jamestown Foundation

[30] Chatrudder Therapat, “Thailand’s Energy Land Bridge Project to Proceed Despite New

Pipeline,” Bangkok Post, ngày 12 tháng 10 năm 2004.

[31] Anthony Smith, “Thailand’s Security and the Sino-Thai Relationship,” như trên

[32] Edward Cody, “China’s Quiet Rise Casts Wide Shadow,” The Washington Post, ngày 26 tháng 2năm 2005

[33] The Edge, ngày 10 tháng 3 năm 2003

[34] Trích trong Edward Cody, “China’s Quiet Rise Casts Wide Shadow,” như trên

[35] Như trên

[36] Robert Sutter, “China-Southeast Asia Relations: Emphasizing the Positive; ContinuedWariness.”

[37] Như trên

[38] Robert Sutter, Chin-Hao Huang, “China-Southeast Asia Relations: Military Diplomacy and

China’s Soft Power,” Comparative Connections: A Quarterly E-Journal on East Asian Bilateral Relations,

số 2 năm 2006 Báo nầy có thể tải về từ: http//www.csis.org/pacfor/ccejournal.html

[39] Như trên

[40] “China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues and Implications for the United States,”Congressional Research Service Report for Congress, February 8, 2005, trang 4

[41] Dana R Dillon và John J Tkacik, Jr., “China and ASEAN: Endangered American Primacy in

Southeast Asia,” Backgrounder, ngày 19 tháng 10 năm 2005, trang 1-6 The Heritage Foundation,

Washington DC Toàn thể bài nầy có thể tải về từ mạng:www.heritage.org/research/asiaandthepacific/bj 1886.cfm Một phần của kết luận bài nầy như sau:

In summary, China has demonstrated a remarkably deft ability to use its policy tools, literallymaneuvering the United States out of its seat at a growing number of international fora Furthermore,China has become an important provider of assistance, and the presence of its military far from home isbecoming commonplace If Beijing has its way and Washington continues to neglect Southeast Asia,American military and security guarantees will soon be redundant to the Chinese presence

Trang 21

The U.S must redouble its political, economic, and security efforts in Southeast Asia to thwart theChinese juggernaut …

ASEAN is the most important multilateral organization in Asia An economically strong ASEAN, sure

of American support for its member countries’ independence, can stand up to China and preserve theireconomic, security, and political independence American foreign policy should make strengtheningengagement with ASEAN a priority…

Gaining lost ground will require cultivating alliances, establishing new relationships, andstrengthening trade and investment commitments in the region It is not too late to regain the trust andconfidence of Southeast Asia and reaffirm U.S commitment to its security and economic development,but that trust must be earned through a comprehensive, consistent, and determined foreign policy in theregion

[42] Elizabeth Economy, “China’s Rise in Southeast Asia: Implications for Japan and the United

States,” Japan Focus, ngày 6 tháng 10 năm 2005 Bài nầy là bài có sửa chữa và bổ xung của bài

“China’s Rise in Southeast Asia: implications for the United States,” đăng trong Journal of Contemporary China (2005), 14(44), tháng 8, trang 409–425 Bài trong Japan Focus có thể tải về từ:

http://japanfocus.org/article.asp?id=414

[43] Nguyên văn tiếng Anh của câu chót là (Japan Focus, trang 5):

The United States continues to be the region’s most important trading partner, but the stagnant tradesuggests that the U.S may be finding other markets, such as China, more attractive; unless greaterattention is paid to contributing to Southeast Asia’s continued economic growth, the U.S will rapidly loseits stature as the region’s key trading partner

[44] Nguyên văn như sau (Japan Focus, trang 10):

At least in the initial phase of what appears to be a long-term trajectory of growing Chinese influence

in Southeast Asia, the United States remains the region’s most important trade partner; force forregional security; and proponent of greater political transparency and human rights protection Japan, inturn, is overwhelmingly the dominant source of development assistance and architect of new regionalcurrency practices and institutions While China is in no position to displace either the United States orJapan—nor is the region as a whole necessarily interested in seeing this come to pass—China’s greaterpresence and activism suggest at the very least that the United States and Japan cannot remaincomplacent about the status quo that has governed political, economic and security relations for thepast few decades Shared leadership within Southeast Asia will likely include China in the near future,with all the potential benefits and challenges that such leadership will entail

Trang 22

[45] “The United States and Southeast Asia: Developments, Trends, and Policy Choices,” Eric G John, Deputy Assistant Secretary, East Asian and Pacific Affairs, Statement before the House International Relations Committee, Subcommittee on Asia and the Pacific, Washington, DC, September 21, 2005 Toàn bộ bài nầy có thể tải về từ: http://www.state.gov/p/eap/rls/rm Nguyên văn của đoạn dịch như sau:

Trang 23

China has focused on developing robust trade and investment relationships in the region to fuel its own domestic development At the same time, China is also clearly interested in matching its economic power with political influence, thereby giving it an opportunity to advance its own interests in the region Our goal is to help China increasingly identify these interests in ways that support and advance U.S objectives Deputy Secretary Zoellick is doing just that in his ongoing Senior Dialogue, established by agreement between the President and President Hu at APEC last year U/S Dobriansky’s Global Issues Forum also seeks to respond to China’s emergence as a global player by demonstrating cooperation on a host of transnational issues It is important to remember in this context that America's role in the region has increased at the same time China has sought to invest further in Southeast Asia We play, and will continue to play, an essential role in the region, built on our alliance relationships, our active participation in ASEAN and APEC fora, and the access we provide to our open and transparent markets that helps drive both China’s and the region’s economies.

Trang 24

[46] “The U.S and Southeast Asia,” Christopher Hill, Assistant Secretary for East Asian and Pacific Affairs

Remarks to the Lee Kuan Yew School of Public Policy, Xinh-ga-po, May 22, 2006 Toàn bộ bài nầy

có thể tải về từ : http://www.state.gov/p/eap/rls/rm/66646.htm.

[47] Nguyên văn như sau:

So, I think what you see from us is that we are prepared to work on a long-term basis in SoutheastAsia to ensure that we continue to have what I think has been a very special relationship with SoutheastAsia But, what I want to caution against is an implication that somehow we are in some sort ofcompetition with China for the hearts and souls of Southeast Asia In fact, we want Southeast Asia tohave a good relationship with China We do not see this at all as opposed to our interests China is anengine of development for Southeast Asia I think a very welcome engine of development And much ofthe good economic news in Southeast Asia can in fact be traced to the strong Chinese growth So wehave no problem with this And, as I said, I think having more China does not mean less U.S inSoutheast Asia So, I don’t look at it as a competition, rather, I think we look at as an area of the worldwhere we work on together The one area I must say is of concern deals with the previous question inBurma Because we see a lot of problems in Burma And we see a China willing to deal with Burmawithout maybe seeking to work with other countries in the world, without working with countries in theUnited Nations or countries in ASEAN on trying to affect some sort of change for the better in Burma’spolitical situation And by the way, it’s entirely appropriate that China have a good relationship with itsneighbor Burma But we’d like to see some effort by China to work more with us in trying to effectpositive change in Burma to put Burma on a stronger platform for growth in the future

[48] Robyn Lim, “Can Japan Counter China’s Growing Influence in Southeast Asia?” China Brief,Volume 4, Issue 1, January 6, 2004 Bài nầy có thể tải về từ: http://www.jamestown.org

[49] “Regional Perspective: The growth and limits of China’s reach in Southeast Asia,” The Nation,ngày 4 tháng 10 năm 2004

[50] Asia Times, ngày 19 tháng 10 năm 2005

[51] “Japan seeks bilateral deals with Southeast Asia,” Daily Times, ngày 27 tháng 2 năm 2005 Đây

là một nhật báo của Xinh-ga-po và có thể tìm được trên mạng

[52] Audrey McAvoy, “Fearing rivalry with China, free Trade agreements are suddenly the rage inJapan,”

Associate Press (ngày 2 tháng 4 năm 2004)

[53] Xem: “MeiYue Hezuo Yiweizhe Shenme” [Hợp tác Mỹ-Việt có nghĩa gỉ?], Huanqiu Shibao[Hoàn cầu Thời báo], ngày 27 tháng 6 năm 2005

[54] Về cách nhìn đối với các hoạt động chống khủng bố của Mỹ, xem: Yao Jianguo, “Mei JieFankong Jiakuai zai Dongnanya Junshi Chongfan” [Mỹ lấy cơ hội phản công khủng bố tại Đông Nam Á

dể tăng cường hiện diện quân sư.], Shijie Zongheng [Thế giới đương thời] Tập 8, tháng 8 năm 2002),

trang 19–20; and Xia Liping, “Meiguo ‘Chongfan Dongnanya’ jiqi dui Yatai Anquan de Yingxiang” [Mỹquốc ‘Quay lại Đông Nam Á’ và ảnh hưởng của nó đến an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương],

cùng số Shijie Zongheng vừa trích, trang 18–22 Về phản ứng đối với việc cứu trợ nạn nhân sóng thần, xem: “Haixiao Jiuyuan gei Shijie yi ge Jihui” [Cứu trợ sóng thần cho thế giới một cơ hội], Huanqiu

Trang 25

Shibao [Hoàn cầu thời báo], ngày 26 tháng giêng năm 2005; và Xiao Ding, “Politics Surrounding the Tsunami,” Beijing Review, February 24, 2005.

© Thời Đại Mới

Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước láng

giềng

Lê Minh Nghĩa

Cố Trưởng ban Ban Biên giới của Chính phủ

LỜI TÒA SOẠN: Đây là báo cáo của tác giả Lê Minh Nghĩa tại Hội Thảo mùa Hè về “Phát triển khu vực châu Á Thái Bình Dương và tranh chấp Biển Đông” tổ chức tại New York City gần mười năm

trước, vào ngày 15 và 16 tháng 7, 1998 Dủ có nhiều chi tiết (nhất là liên quan đến các nước ASEAN)

cần được cập nhật, để tôn trọng tác giả (đã qua đời năm 2004), Thời Đại Mới xin đăng lại nguyên bản,

không sửa đổi Cũng xin lưu ý rằng khi trình bày báo cáo này, tác giả đã về hưu, không còn giữ mộtchức vụ nào trong Chính phủ Việt Nam

Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi đân tộc Trong đó lãnh thổ vàbiên giới quốc gia lại là hai yếu tố gắn bó với nhau như hình với bóng do đó pháp luật quốc tế hiện đại

và tập quán quốc tế đều thừa nhận tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia Cho đến đầu thế kỷ 20, pháp luật quốc tế vẫn còn thừa nhận việc dùng vũ lực để xâm chiếm một bộphận hay toàn bộ lãnh thổ của một nước là hợp pháp Nhưng ngay sau chiến tranh thế gìới thứ haì,

Hiến chương Liên Hợp Quốc được thông qua năm 1945 có điều 2, khoản 4 cấm sử dụng vũ lực chống

lại toàn vẹn lãnh thổ của một Quốc gia Cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ và quyết liệt của các dân tộcthuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ hai mà dân tộc ta là một đội ngũ tiên phong với chiến thắng lẫylừng Điện Biên Phủ đã dẫn tới nghị quyết cụ thể và đầy đủ hơn của Liên Hợp Quốc về vấn đề này

Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về việc trao trả nền độc lập cho

các nước và các đân tộc thuộc địa đã viết: "Mọi hành động vũ trang và mọi biện pháp đàn áp, bất kểthuộc loại nào, chống lạỉ các dân tộc phụ thuộc sẽ phải được chấm dứt để các dân tộc đó có thể thựchiện quyền của họ về độc lập hoàn toàn một cách hoà bình và tự do, và toàn vẹn lãnh thổ của họ sẽđược tôn trọng"

Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Liên Hợp Quốc lại viết: "Các quốc gia có nghĩa vụ không đượcdùng đe doạ hoặc dùng vũ lực để xâm phạm các đường biên gỉới quốc tế hiện có của một quốc giakhác hoặc như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn

đề liên quan đến các biên giới của các Quốc gia"

"Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe doạ hoặc bằng sử dụng vũ lực không được thừa nhận làhợp pháp"

Theo những tài liệu hiện có thì triều đình Việt Nam quan tâm chỉ đạo vấn đề biên giới - lãnh thổ từkhoảng thế kỷ thứ 10 sau khi giành lại quyền độc lập tự chủ với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhấtnăm 938 và ngày càng củng cố nền độc lập tự chủ đó

Theo Tống sử, Tông Cảo sứ giả nhà Tống được phái sang nước ta năm 990 sau chiến thắng BạchĐằng lần thứ hai năm 981 đã báo cáo rằng khi họ đến "hải giới Giao Chỉ" thì Lê Hoàn (Vua Lê Đại

Hành) đã phái 9 chiến thuyền và 300 quân lên đón và dẫn họ đến địa điểm quy định Trong cuốn Lĩnh ngoại đại đáp (1178), Chu Khứ Phi một viên quan nhà Tống ở Quảng Đông, Quảng Tây đã viết rằng:

dòng nước Thiên Phân Dao là định giới giữa 'bíển Giao Chỉ" và biển Quỳnh - Liêm (tức vùng biểnQuỳnh Châu, Liêm Châu của Trung Quốc)

Như vậy là ngay từ thế kỷ thứ 10 và 12 , sứ thần Trung Quốc và quan lại Trung Quốc đã biết đâu làvùng biển Giao Chỉ (tức Việt Nam), đâu là vùng biển Trung Quốc

Trong thế kỷ 11 đã diễn ra một số cuộc đàm phán biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc để đòi lạinhững vùng đất mà Trung Quốc còn chiếm, sau khi phải rút quân trong cuộc chiến tranh xâm lược năm1076-1077, cuộc chiến tranh đã xuất hiện 4 câu thơ của Lý Thường Kiệt mà hai câu đầu khẳng địnhchủ quyền lãnh thổ:

Trang 26

Nam Quốc sơn hà nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

(Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời)

Trong các cuộc đàm phán đó có cuộc đàm phán về biên giới năm 1078 do Đào Tòng Nguyên dẫnđầu và cuộc đàm phán năm 1084 do Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh dẫn đầu Trong thư gửi chovua nhà Tống đòi đất, vua Lý Nhân Tông viết: "Mặc dầu những đất ấy nhỏ bé nhưng vẫn khiến lòng tôiđau sót luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng."

Ngoài việc dùng quân sự đánh úp, giải phóng Châu Quang Lang, ngay sau khi đại quân Tống rút lui,đấu tranh kiên trì của triều đình kết hợp với đấu tranh của nhân dân: bắn lén, bỏ thuốc độc cộng thêmkhí hậu khắc nghiệt, khiến cho, theo Tống sử, đội quân đồn trú của nhà Tống mỗi năm tổn thất70%-80% và năm 1079 mặc dầu đã đổi tên Châu Quảng Nguyên thành Thuận Châu vẫn đành coi làvùng "Đất độc" và trả lại cho ta và năm 1084 trả lại cho ta vùng Bảo Lạc, Túc Tang Khi đi đàm phán

biên giới, sứ thần ta đã tặng cho nhà Tống 5 thớt voi khiến cho, theo Đại việt sử ký toàn thư, người

Tống có thơ rằng "Nhân tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim" nghĩa là vì tham voi củaGiao Chỉ mà bỏ mất vàng của Quảng Nguyên (họ đã đánh giá sai nguyên nhân dẫn đến việc trả lại đất)

Trong Lịch triều Hiến chương Loại Chí viết năm 1821, Phan Huy Chú nhận xét là trong đàm phán về

biên gìới đời Lý có hai mặt mạnh: một là có "oai thắng trận", hai là "sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung,khôn khéo"

Nhà Trần đã bố trí các trọng thần phụ trách các hướng biên giới: Tướng quốc Thái sư Trần Thủ Độphụ trách hướng Lạng Sơn, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật phụ trách hướng Hà Giang, Nhân HuệVương Trần Khánh Dư phụ trách hướng Đông Bắc (Người thay Nhân Huệ Vương là con Hưng Đạo ĐạiVương, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng)

Thế kỷ 15 Vua Lê Thái Tổ đã cho khắc vào vách núi đá ở Hoà Bình để nhắc con cháu:

"Biên phòng hảo vị trù phương lược

Xã tắc ưng tư kế cửu an"

(Tạm dịch: việc biên phòng cần có phương lược phòng thủ; đất nước phải lo kế lâu dài)

Năm 1473, vua Lê Thánh Tông chỉ thị cho những người đi giải quyết vấn đề biên giới với nhà Minh

"Chớ để họ lấn dần, nếu các ngươi dám lấy một thước núi, một tấc sông tổ tiên để lại mà đút mồi chogiặc thì tội phải tru di"

Năm 1466 khi quân Minh cướp bóc vùng Thông Nông, Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng, một mặt nhàvua phản kháng đòi nhà Minh phải bồi thường, mặt khác ra lệnh đầy 2 người chỉ huy ở Cao Bằng đi xa

về tội phòng giữ biên giới không cẩn mật và ra sắc dụ cho các tỉnh biên giới: "Người bầy tôi giữ đất đaicủa triều đình, chức phận là phải bảo toàn cảnh thổ, yên uỷ nhân dân, bẻ gẫy những mũi nhọn tiếncông, chống lại những kẻ khinh rẻ nước mình"

Luật Hồng Đức công bố năm 1483 có điều khoản 74, 88 về bảo vệ đất đai ở biên giới như sau:

"Những người bán ruộng đất ở biên cương cho người nước ngoài thì bị tội chém"; Quan phường xãbiết mà không phát giác cũng bị tội; "Những người đẵn tre, chặt gỗ ở nơi quan ải thì bị xử tội đồ" (đồ làđầy đi làm khổ sai)

Chính nhờ cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ, thông minh, khôn khéo của các thế hệ Việt Nam nốitiếp, mặc dầu trong tình hình so sánh lực lượng rất chênh lệch, phong kiến phương Bắc luôn luôn có ý

đồ thôn tính, lấn chiếm nhưng biên cương phía Bắc nước ta vẫn hình thành rõ rệt và ổn định về cơ bản

từ ngàn năm nay

Tạp chí Géographer của Vụ tình báo và nghiên cứu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 29/10/1964 thừa

nhận: "Sau hơn 10 thế kỷ bị đô hộ, năm 939 Bắc Kỳ phá vỡ ách đô hộ của Trung Quốc và thành lậpvương quốc Đại Cồ Việt Nhà nước mới này đã bảo vệ được nền độc lập của mình Một đường biêngiới gần giống như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia" cách đây 10 thế kỷ

Trong bài "Tổng Tụ long và đường biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ" năm 1924, Bonifacy, tư lệnh đạoquan binh Hà Giang đầu thế kỷ 20 viết: "Đường biên giới lịch sừ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã đượcxác định một cách hoàn hảo (parfaitement défini) Khi cần người Việt Nam biết bảo vệ các quyền của

họ, mặc dầu người Trung Quốc cho rằng không thể có đường biên giới giữa Việt Nam và Thiên Triều".Điều mà con cháu ngày nay vô cùng cảm kích, khâm phục, biết ơn là ông cha ta chẳng những chăm

lo bảo vệ vững chắc biên cương đất liền mà còn rất quan tâm xác lập và bảo vệ chủ quyền Việt Namtrên vùng biển

Tiếp theo hành động buộc sứ thần Trung Quốc phải thừa nhận "hải giới" Việt Nam cuối thế kỷ thứ 10,nhà Lý đã thành lập trang Vân Đồn để quản lý vùng biển Đông Bắc; nhà Trần nâng trang Vân Đồn

Trang 27

thành trấn Vân Đồn trực thuộc triều đình; Nhà Lê đặt tuần kiểm ở các cửa biển để quản lý biển, thu thuếcác tầu thuyền nước ngoài Do vậy chủ quyền Việt Nam trên các đảo vùng biển Đông Bắc được xác lậpsớm Đến thế kỷ 19, khi Pháp yà nhà Thanh đàm phán về vùng biển trong Vịnh Bắc bộ thì không cótranh chấp về chủ quyền đối với các đảo ở vùng này, nhà Thanh phải thừa nhận tất cả các đảo ở phíaTây đường kình tuyến Paris 105o43' Đ là thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Năm 1171, 1172, vua Lý Anh Tông đích thân đi "tuần tra các hải đảo ngoài biển ở địa giới các phiênbang Nam, Bắc, tìm hiểu đường đí, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật"

Ở phía Nam, các chúa Nguyễn sau khi xác lập chủ quyền Việt Nam đối với các đảo dọc bờ biểnmiền Trung và miền Nam: Cồn Cỏ, Ly Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, đầu thế kỷ 18 đã xác lập chủ quyền ViệtNam trên các đảo trong Vịnh Thái Lan Khi đặt ách thống trị trên Nam Kỳ và Campuchia, các quan chứcPháp đã tiến hành khảo sát vùng biển giữa hai nước Việt Nam, Campuchia và đứng trước tình hình tất

cả các đảo trên vùng biển này về mặt hành chính đều thuộc tỉnh Hà Tiên của Việt Nam Ngày 25/3/1873chuẩn đô đốc thống đốc Nam Kỳ Krantz đã thừa nhận thực tế đó trong nghị định quy định đảo PhúQuốc và tất cả các đảo trên vùng biển giữa Nam Kỳ và Campuchia được tách khỏi tỉnh Hà Tiên, lậpthành một quận trực thuộc thống đốc Nam Kỳ

Đối với các đảo xa bờ, theo chính sử Việt Nam và theo nhiều nhân chứng nước ngoài, từ thế kỷ 17,các chúa Nguyễn với danh nghĩa Nhà nước đã thành lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải hàng năm ra khaithác và quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Tiếp đó triều Nguyễn rất quan tâm đến việc củng cố chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo, cáchoàng đế Gia Long, Minh Mạng liên tiếp phái thuỷ quân ra Hoàng Sa - Trường Sa khảo sát, đo đạc, vẽ

bản đồ, lập miếu, dựng bia Theo Đại Nam Thực Lục Chính biên, trong 3 năm: 1833, 1835, 1836 vua

Minh Mạng liên tiếp có chi thị về Hoàng Sa

Không chỉ chăm lo khai thác hai quần đảo, nhà vua Việt Nam còn lo bảo đảm an toàn cho tàu thuyềnViệt Nam và các nước qua lại vùng biển xung quanh hai quần đảo, năm 1833 vua Minh Mạng đã chỉ thịcho Bộ Công rằng: "Trong hải phận Quảng Nghĩa, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu;không phân biệt được nông hay sâu Gần đây thuyền buôn thường bị nạn Nay nên dự bị thuyền mành,đến sang năm phái người tới đó trồng nhiều cây cối Ngày sau cây cối xanh tốt, người dễ nhận biết, cóthể tránh được nạn mắc cạn"

Trong một tài liệu viết năm 1768, đô đốc Pháp D'Estaing, người nhận nhiệm vụ nghiên cứu kế hoạchtiến công vào Việt Nam đã viết rằng: "Việc đi lại giữa quần đảo đá Paracel (tức Hoàng Sa) và đất liềncòn khó khăn hơn việc đi lại ngoài biển khơi Thế mà các thuyền nhỏ của xứ này thường qua lại vùngquần đảo" D'Estaing đánh giá các thủy thủ Việt Nam là "những người quen sông nước và là các thuỷthủ giỏí" Trong một tài liệu khác viết vào cuối năm 1758 đầu năm 1759, D'Estaing còn nói ở Huế có tới

400 khẩu pháo hầu hết là của Bồ Đào Nha thu lượm từ các xác tầu đắm ở Paracel

Trong cuốn "Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" xuất ở Paris năm 1996, giáo sưMonique Chemillier Gendreau, chủ tịch Hội luật gia Châu Âu đã vìết; "Khi có Hiệp ước bảo hộ của Phápnăm 1884, Việt Nam đã nắm giữ không có cạnh tranh và trong khoảng gần hai thế kỷ, một quyền (undroit) đối với các quần đảo (Hoàng Sa, Trường Sa), theo đúng chế độ luật pháp của thời kỳ đó"

Từ 1884, Chính quyền Pháp ở Đông Dương đã tiếp tục thực hiện và củng cố chủ quyền Việt Namtrên hai quần đảo: tiến hành khảo sát khoa học, dựng bia chủ quyền, dựng đèn biển, lập trạm khítượng, đài vô tuyến điện, đưa quân ra đồn trú, thành lập đơn vị hành chính trên quần đảo Hoàng Sathuộc tỉnh Thừa thiên và sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa

Sau thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, nước Việt Nam giành lại được độc lập thống nhất hoàntoàn, vấn đề bảo vệ biên giới, bảo vệ lãnh thổ toàn vẹn của tổ quốc mới lại hoàn toàn thuộc về tráchnhiệm của Nhà nước Việt Nam

Năm 1954, Bác Hồ nói ở đền Vua Hùng "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phảicùng nhau giữ lấy nước" và năm 1961, mặc dầu mới có một nửa nước được giái phóng, Bác Hồ đã nóì:

"Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp, taphải biết giữ gìn lấy nó" Bác Hồ đã chỉ thị cho chúng ta phải nhận thức rõ tình hình mới, phải chăm lobảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Sau này, tưân theo chỉ thị của Bác Hồ, hiến pháp Việt Nam năm

1992 đã khẳng định lãnh thổ Việt Nam "bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời" và 'Tổquốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm"

Trong bối cảnh địa lý và chính trị của nước ta sau năm 1975 , trước sự phát trtển của luật pháp quốc

tế về biển, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải giải quyết một loạt vấn đề biên giới - lãnhthổ với các nước láng giềng:

Trang 28

1 Giữa Việt Nam, Lào, Campuchia cần có một đường biên giới có giá trị pháp lý quốc tế do các nhànước có thẩm quyền ký kết, tạo ra cơ sở vững chắc để xây dựng một đường biên giới hữu nghị lâu dàigiữa ba dân tộc.

2 Việt Nam cần xác định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa với Indonesia, TháiLan, Malaysia; vì theo các quy định mới của luật biển quốc tế thì vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lụcđịa của nước ta và các nước đó chồng lên nhau

3 Việt Nam cần giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ trên biển với Philippin, Malaysia vì hai nước này

có yêu sách về chủ quyền đối với một phần hoặc đại bộ phận quần đảo Trường Sa

4 Với Trung Quốc, Việt Nam phải giải quyết các vấn đề sau:

- Đường biên giới trên đất liền;

- Đường biên giới trong Vịnh Bắc bộ;

- Các vấn đề chủ quyền lãnh thổ và thềm lục địa trên Biển Đông: từ năm 1909 Trung Quốc bắt đầu

có tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và từ những năm 1930 bắt đầu có hành động tranh chấp quần đảoTrường Sa (sẽ trình bày cụ thể ở dưới)

- Vấn đề ranh giới vùng thông báo bay (FIR) ngoài khơi Trung bộ - Việt Nam, Trung Quốc đưa ra đềnghị lập FIR Sanya lấn vào phần phía Bắc FIR Hồ Chí Minh mà Hàng không dân dụng quốc tế giao choHong Kong tạm thời quản lý năm 1975 chủ yếu là họ muốn quản lý toàn bộ vùng trời trên quần đảoHoàng Sa và lấn vào phần phía Đông FIR Hà Nội trên Vịnh Bắc Bộ

Với chủ trương nhất quán là giải quyết mọi tranh chấp về biên giới lãnh thổ với các nước láng giềngbằng thương lượng hoà bình, Việt Nam đã và đang giải quyết các vấn đề được đặt ra như sau:

1 Với Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào

Tháng 2/1976, lãnh đạo hai nước đã cho ý kiến về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa hainước Đường biên giới giữa Việt Nam và Lào là đường bỉên giới trên bản đồ của Sở Địa dư ĐôngDương năm 1945 tỷ lệ 1/100 000 (năm 1945 là thời điểm hai nước tuyên bố độc lập)

Như vậy là lãnh đạo Việt Nam và Lào đã cho nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới hai nước theonguyên tắc Uti-possidétis (anh hãy làm chủ cái anh đang có), một nguyên tắc đã được áp dụng ở Châu

Mỹ la tinh trong thời kỳ phi thực dân hoá và đã được Tổ chức thống nhất Châu Phi chấp nhận với nộidung "tôn trọng các đường biên giới tồn tại vào lúc mà các nước Châu Phi giành được độc lập"

Dựa trên nguyên tắc Uti possidétis, qua 4 đợt đàm phán trong Uỷ ban liên hợp Việt - Lào về hoạchđịnh biên giới, ngày 18/7/1977 hai nước ký Hiệp ước Hoạch định biên giới Việc phân giới cắm mốcđường biên giới dài 2067 km bắt đầu tiến hành ngày 25/7/1978 và đến 24/8/1984 thì kết thúc

Ngày 24/1/1986 hai nước ký Hiệp ước bổ sung ghi nhận những điểm điều chỉnh đường biên giới đãhoạch định năm 1977, ký nghị định thư ghi nhận kết quả phân gìới cắm mốc Ngày 1/3/1990 hai nước

ký Hiệp định quy chế biên giới Thi hành Hiệp định này, hàng năm có cuộc họp giữa Đoàn đại biểu biêngiới hai nước với sự có mặt của đại diện các Bộ, ngành liên quan và các tỉnh biên giới của hai nước đểkiểm điểm việc thi hành Hiệp định quy chế biên giới

Trong năm 1967, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đãchính thức công nhận và cam kết tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia trong đường biên giôihiện tại (công hàm của Việt Nam không nói tới vấn đề chủ quyền đối với các đảo trên biển và 9 điểm

mà Campuchia đề nghị sửa đổi về đường biên giới trên bộ)

Ngày 27/12/1985 Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Campuchia đã ký Hiệp ước hoạch định biên giớiquốc gia trên cơ sở thoả thuận năm 1967 Thi hành Hiệp ước, hai bên đã tiến hành phân giới trên thựcđịa và cắm mốc quốc giới từ tháng 4/1986 đến tháng 12/1988 được 207 km/1137 km, tháng 1/1989theo đề nghị của phía Campuchia, hai bên tạm dừng việc phân giới cắm mốc

Trên biển, ngày 7/7/1982 hai Chính phủ ký Hiệp định thiết lập vùng nước lịch sử chung giữa hainước và thỏa thuận: sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp để hoạch định đường biên giới trên biển,

Trang 29

lấy đường gọi là đường Brévié được vạch ra năm 1939 với tính chất là đường hành chính và cảnh sátlàm đường phân chia đảo giữa hai nước.

Với Chính phủ Campuchia thành lập sau khi ký Hiệp ước hoà bình về Campuchia năm 1993 , năm

1994, 1995 Thủ tướng Chính phủ hai nước đã thoả thuận thành lập một nhóm làm việc cấp chuyên viên

để thảo luận và giải quyết vấn đề phân giới giữa hai nước và thảo luận những biện pháp cần thiết đểduy trì an ninh và ổn định trong khu vực biên giới nhằm xây dựng một đường biên giới hoà bình, hữunghị lâu dài giữa hai nước Hai bên thoả thuận trong khi chờ đợi giải quyết những vấn đề còn tồn đọng

về biên giới thì duy trì sự quản lý hiện nay

Thực hiện thoả thuận giữa Thủ tướng Chính phủ hai nước nhân dịp Thủ tướng Ung Huốt sang thămViệt Nam đầu tháng 6/1998, nhóm chuyên viên liên hơp về biên giới Việt Nam - CPC đã họp tại PhnomPênh từ ngày 16 - 20/6/1998 Trong cuộc họp này hai bên đã trao đổl về việc tiếp tục thực hiện cácHiệp ước, Hiệp định về biên giới giữa hai nước đã ký trong những năm 1982, 1983, 1985 Hai bên đãdành nhiều thời gian thảo luận một số vấn đề về quan điểm của hai bên liên quan đến biên giới biển vàbiên giớl trên bộ với mong muốn xây dựng đường biên giới giữa hai nước trở thành đường biên giớihoà bình, hữu nghị và hợp tác lâu dài

Hai bên đã thống nhất kìến nghị lên Chính phủ hai nước tiến hành thành lập Uỷ ban liên hơp vớinhững nhiệm vụ:

- Soạn thảo Hiệp ước về hoạch định biên giới biển và Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biêngiới quốc gia trình lên chính phủ hai nước

- Chỉ đạo việc phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới

- Giải quyết mọi vấn đề liên quan đến việc thực hiện Hiệp định về quy chế biên giới giữa hai nước.Qua trao đổi về đường biên giới biển, phía Campuchia kiên trì quan điểm muốn lấy đường do Toànquyền Brévié vạch ra tháng 1/1939 làm đường biên giới biển của hai nước

Ta đã nói rõ là ta không chấp nhận đường Brévié làm đường biên giới biển giữa hai nước vì:

1 Đường Brévié không phải là một văn bản pháp quy, chỉ là một bức thư (lettre) gửi cho Thống đốcNam Kỳ đồng gửi cho Khâm sứ Pháp ở Campuchia Văn bản đó chỉ có mục đích giải quyết vấn đề phânđịnh quyền hành chính và cảnh sát đối với các đảo, không giải quyết vấn đề quy thuộc lãnh thổ;

2 Cả hai bên không có bản đồ đính kèm theo văn bản Brévié vì vậy hiện nay ít nhất lưu hành 4 cáchthể hiện đường Brévté khác nhau: Đường của Pôn Pốt, đường của Chính quyền miền Nam Việt Nam,đường của ông Sarin Chhak trong luận án tiến sỹ bảo vệ ở Paris sau đó được xuất bản với lời tựa củaQuốc trưởng Norodom Sihanouk, đường của các học giả Hoa Kỳ

3 Nếu chuyển đường Brévié thành đường biên giới biển thì không phù hợp với luật pháp quốc tế,thực tiễn quốc tế, quá bất lợi cho Việt Nam và nên lưu ý là vào năm 1939 theo luật pháp quốc tế lãnhhải chỉ là 3 hải lý, chưa có quy định về vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa thì đường Brévié làmsao có thể giải quyết vấn đề phân định lãnh hải theo quan điểm hiện nay và phân định vùng đặc quyền

về kinh tế và thềm lục địa

Phía Việt Nam đã đề nghị hai bên thoả thuận: áp dụng luật biển quốc tế, tham khảo thực tiển quốc

tế, tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trên vùng biển hai nước để đi đến một giải pháp công bằng trongviệc phân định vùng nước lịch sử, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của hai nước

Từ năm 1978 CHXHCN Việt Nam và Indonesia bắt đầu đàm phán Indonesia giữ quan điểm cũ, quanđiểm của ta dựa vào định nghĩa thềm lục địa là sự kéo dài tự nhiên của lục địa, do đó ranh giới nêntheo đường rãnh ngầm ngăn cách sự kéo dài tự nhiên của hai thềm lục địa, hai quan điểm tạo ra vùngtranh chấp lúc đầu rộng khoảng 92.000 km2

Qua 10 vòng đàm phán hai bên đã dần dần thu hẹp được vùng tranh chấp xuống còn khoảng 4.500km2 nhưng đầu năm 1993 Indonesia đề nghị huỷ bỏ toàn bộ kết quả đàm phán từ 1978 dến 1992 vàđàm phán lại từ đầu

Trang 30

Cho đến nay, qua 5 vòng trao đổi không chính thức, hai bên chưa đi đến thoả thuận nối lại đàmphán.

4 Với Malaysia

Giữa Việt Nam và Malaysia có một vùng chống lấn vùng biển và thềm lục địa rộng khoảng 2.800km2.Vùng này hình thành bởi đường ranh giới thềrn lục địa do chính quyền Sài Gòn công bố năm 1971 vàđường ranh giới thềm lục địa do Malaysia công bố năm 1979 Sở dĩ có sự khác nhau đó là do Sài Gòn

có tính đến đảo Hòn Khoai cách đất liền 6,5 hải lý còn Malaysia đã bỏ qua đảo Hòn Khoai

Tháng 5/1992 Việt Nam và Malaysia đã ký thoả thuận hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồnglấn, giao cho các công ty dầu lửa của hai bên ký các dàn xếp thương mại và tiến hành hợp tác thăm dò,khai thác rồi phân chia sản phẩm; việc phân định vùng chồng lấn sẽ giải quyết sau Việc hơp tác giữahai ngành aầu khí đang tiến triển bình thường

Ngoài ra vùng khai thác chung giữa Thái Lan và Malaysia rộng 7.250 km2 có 800 km2 liên quan đếnViệt Nam Ba nước đã thoả thuận sẽ cùng nhau giải quyết khu vực này và cuộc họp đầu tiên đã diễn ratháng 2/1998 vòng hai sẽ họp vào nửa cuối năm 1998 để bàn về khả năng khai thác chung vùng chồnglấn

Giữa Việt Nam và Malaysia còn có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Trường Sa doMalaysia có yêu sách đối với vùng phía Nam quần đảo Trường Sa và trên thực tế trong 2 năm 1993-

1994 Malaysia đã cho quân chiếm ba bãi đá ngầm ở Nam quần đảo Trường Sa: Hoa Lau, Kỳ Vân, KiệuNgựa

Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Malaysia nhiều lần khẳng định sẽ giải quyết mọi tranh chấp giữahai nước bằng thương lượng hoà bình

5 Với Thái Lan

Giữa Việt Nam và Thái Lan có hai vấn đề trên biển phải giải quyết:

a) Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

b) Giải quyết vấn đề tầu thuyền đánh cá Thái Lan thường xuyên vi phạm vùng biển Việt Nam và cótrường hợp Thái Lan đã dùng hải quân, không quân bảo vệ các hoạt động này

Về vấn đề thứ nhất giữa hai nước có một vùng chồng lấn rộng khoảng 6000 km2 do Việt Nam có

tính đến hiệu lực của đảo Thổ Chu còn Thái Lan thì phủ nhận hiệu lực của đảo Thổ Chu

Từ năm 1992 hai bên đàm phán qua 9 vòng cấp chuyên viên

Ngày 9/8/1997 hai nước ký Hiệp định về phân định ranh giới trên biển giữa hai nước Theo hiêpđịnh, Việt Nam được 32,5% diện tích vùng chồng lấn

Về vấn đề thứ hai: Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam - Thái Lan về thiết lập trật tự trên biển đã họp hai

vòng Hai bên đã thoả thuận phối hơp trong việc giáo dục ngư dân, đi tới tổ chức tưần tra chung, thiếtlập kênh liên lạc cảnh báo vi phạm, hơp tác tổ chức điều tra nguồn lợi biển giữa hai nước

Việc giải quyết dứt điểm vấn đề này cũng còn đòi hỏi một thời gian

6 Với Philippin

Philippin vốn là nước không có quyền gì đối với quần đảo Trường Sa vì Hiệp định Paris năm 1898giữa Mỹ và Tây Ban Nha theo đó Tây Ban Nha giao Philippin cho Mỹ đã xác định phạm vi quần đảoPhilippin trên bản đồ kèm theo Hiệp định, theo bản đồ đó nước Philippin không bao gồm 1 đảo nào củaquần đảo Trường Sa

Từ năm 1951, Philippin bắt đầu chuẩn bị dư luận để nhẩy vào tranh chấp quần đảo Trường Sa vớilời tuyên bố của Tổng thống Philippin Quirino rằng quần đảo Spratly (tức Trường Sa) phải thuộc vềPhilippin vì nó ở gần Philippin

Từ năm 1971-1973, Philippin cho quân đội ra chiếm đóng 5 đảo trên quần đảo Trường Sa và năm1977-1978 chiếm thêm hai đảo nữa Cả 7 đảo nằm ở phía Bắc quần đảo Họ ra sức cửng cố vị trí trênquần đảo: Chở đất ra đảo để trồng dừa, cạp thêm đất ra biển để làm đường băng cho máy bay chiếnđấu mở đường hàng không thường kỳ, tổ chức đánh cá, xây dựng kho ướp lạnh, tổ chức thăm dò, khaithác dầu khí ở Đông Bắc quần đảo (có tin nói là sản lượng dầu khai thác ở đây đảm bảo 10% nhu cầudầu của Philippin)

Đầu năm 1979, Philippin công bố sắc lệnh của Tổng thống Marcos ký ngày 11/6/1978 coi toàn bộquần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa) là lãnh thổ Philippin và đặt tên cho quần đảo là Kalayaan.Năm 1980 Philippin mở rộng lấn chiếm xuống phía Nam quần đảo, chiếm đóng đảo Công Đo cáchđảo gần nhất mà họ chiếm đóng cũ gần 150 hải lý

Từ năm 1978 đến 1994 Việt Nam và Philippin đã thoả thuận ở cấp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Thủtướng Chính phủ, Tổng thống và Chủ tịch nước là sẽ giải quyết mọi tranh chấp giữa hai nước bằngthương lượng hoà bình trên tinh thần hữu nghị, hoà giải, tin cậy lẫn nhau

Trang 31

Ngày 7/11/1995 hai Bộ Ngoại giao Việt Nam - Philippin đã đạt được thoả thuận về 9 nguyên tắc ứng

xử cơ bản đối với vùng tranh chấp trong đó có các điểm chính là

- Hai bên đồng ý thông qua thương lượng, hoà bình tìm kiếm giải pháp cơ bản cho vấn đề tranhchấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa

- Kiềm chế không sử dụng hay đe doạ sử dụng vũ lực, thúc đẩy hợp tác song phương hoặc đaphương về bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, khí tượng, chống thảm hoạ, tìm kiếm cứu nạn,chống cướp biển và kiểm soát ô nhiễm môi trường, bảo vệ tài nguyên biển ở quần đảo Trường Sa

- Bảo đảm tự do hàng hải theo quy định của luật quốc tế

- Từng bước tăng cường hợp tác và giải quyết dứt điểm tranh chấp chủ quyền ở quần đảo TrườngSa

Cuối tháng 4 đầu tháng 5/1996, hai bên đã thực hiện thành công chuyến khảo sát chung về khoa họcbiển tại khu vực quần đảo Trường Sa và Biển Đông Hai bên sẽ tiếp tục tổ chức khảo sát khoa họcchung trên khu vực quần đảo và trên Biển Đông Uỷ ban hỗn hơp Việt Nam - Philippin do Bộ trưởngNgoại giao hai nước dẫn đầu họp tại Hà Nội tháng 1/1997 đã thoả thuận về một số biện pháp xây dựnglòng tin trên quần đảo, trong đó có việc trao đổi các cuộc viếng thăm của các chỉ huy quân sự và lựclượng đồn trú của hai bên trên quần đảo

7 Với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa

Năm 1957-1958, có sự trao đổi giữa Trung ương Đảng hai nước về biên giới Ngày 2/11/1957 BanChấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam gửi thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộngsản Trung Quốc đề nghị: "Vấn đề biên giới là một vấn đề quan trọng cần giải quyết theo những nguyêntắc pháp lý đang có hoặc được xác định lại do Chính phủ hai nước quyết định; nhất thiết cấm các nhàchức trách và các đoàn thể địa phương không được thương lượng với nhau để cắm lại mốc giới hoặccắt nhượng đất cho nhaư" Hàm ý của bức thư là hai bên cần căn cứ vào các Công ước về hoạchđịnh biên giới mà Pháp và Trung Quốc đã ký cuối thế kỷ trước để giải quyết vấn đề biên giới giữa hainước

Tháng 4/1958 Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trả lời đồng ý với ý kiến của Trung ươngĐảng Việt Nam về công tác biên giớl Việt - Trung

Cuộc đàm phán đầu tiên về biên giới giữa hai nước là về Vịnh Bắc bộ diễn ra từ 15/8/1974 22/11/1974 tại Bắc Kinh, cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Cuộc đàm phán mới chỉ có tính cách tìm hiểuquan điểm của nhau và không đi tới thoả thuận nào

-Cuộc đàm phán thứ hai về biên giới là về đường biên giới trên bộ và về Vịnh Bắc bộ diễn ra từ tháng10/1977 đến tháng 6/1978 tại Bắc Kinh, cấp Thứ trưởng Ngoại giao Cuộc đàm phán này cũng không đitới thoả thuận nào

Từ tháng 2 năm 1979 đến 1986 diễn ra chiến tranh và xung đột quân sự trên vùng biên giới đặc biệt

là trên biên giới các tỉnh Hà Giang, Lạng Sơn, ác liệt và kéo dài nhất là ở biên giới tỉnh Hà Giang

Từ năm 1991 hai nước khôi phục quan hệ bình thường Qua hai vòng đàm phán về biên giới cấpchuyên viên và một vòng đàm phán cấp Chính phủ trong hai năm 1992, 1993, ngày 19/10/1993 hainước ký "Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa"

Thực hiện thoả thuận trên, hai bên đã tổ chức 3 diễn đàn đàm phán cấp chuyên viên: về biên giớitrên bộ; về biên giới trong Vịnh Bắc bộ; về các vấn đề trên Biển Đông và một diễn đàn đàm phán cấpChính phủ để xem xét các vấn đề do các nhóm chuyên viên trình lên

7.1 Về biên giới trên bộ

Thực hiện thoả thuận ngày 19/10/1993 là căn cứ vào các Công ước 1887 và 1895 mà Pháp và TrungQuốc đã ký cuối thế kỷ trước để "xác định lại toàn đường biên giới trên bộ giữa hai nước Việt Nam -Trung Quốc", hai bên đã họp 12 vòng nhóm công tác về biên giới trên bộ trước năm 2000

7.2 Về đường biên giới trong Vịnh Bắc Bộ

Hai bên đã họp 10 vòng nhóm công tác về Vịnh Bắc bộ và 6 vòng tổ chuyên gia về Vịnh Bắc Bộ đểthực hiện thoả thuận về nguyên tắc phân định Vịnh Bắc bộ là "áp dụng luật biển quốc tế và tham khảothực tiễn quốc tế, để tiến hành đàm phán phân định Vịnh Bắc bộ", "theo nguyên tắc công bằng và tínhđến mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc bộ để đi đến một giải pháp công bằng"

Cuộc đàm phán có tiến triển và hai bên đang cùng cố gắng để có thể ký Hiệp ước về phân định VịnhBắc bộ cũng trước năm 2000 Vấn đề lớn nhất mà hai bên phải giải quyết là vấn đề hiệu lực các đảoven bờ của Việt Nam và đảo Bạch Long Vĩ cách Hải Phòng 130 km

7.3 Về các vấn đề trên Biển Đông

Trang 32

Trên Biển Đông, vấn đề tranh chấp phức tạp và quan trọng nhất là về hai quần đảo: quần đảo Hoàng

Sa và quần đảo Trường Sa, bởi vì hai quần đảo giữ một vị trí chiến lược trọng yếu trên Biển Đông Nếunhư nước ngoài chiếm cả hai quần đảo thì nước Việt Nam không còn thế đứng trên Biển Đông và bịbao vây trên hướng biển

Quần đảo Hoàng Sa bao gồm trên 30 đảo, bãi, đá ngầm trên một vùng biển rộng khoảng 15.000 16.000 km2 cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý Quần đảo Trường Sa gồm trên 100 đảo, bãi, đá ngầmtrên vùng biển rộng khoảng 160.000 - 180.000 km2, đảo gần nhất của quần đảo cách Vũng Tầu khoảng

-250 hảì lý (Trung Quốc quan niệm quần đảo Trường Sa rộng hơn nhiều quan niệm của ta là điểm cựcNam của quần đảo Trường Sa là 6o50' Bắc trong khi Trung Quốc coi điểm cực Nam của quần đảoTrường Sa là 4o Bắc giáp Bornéo)

Theo những tài liệu chính thức, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu và làm chủ hai quầnđảo từ thế kỷ thứ 17, tiếp đó Chính quyền Đông Dương đã củng cố chủ quyền Việt Nam trên hai quầnđảo: thành lập bộ máy hành chính thuộc hai tỉnh Thừa Thiên và Bà Rịa, cho cảnh sát ra đồn trú, lập đàikhí tượng, trạm vô tuyến điện, xây đèn biển

Cho đến đầu thế kỷ 20 không có nước nào tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo đối với Việt Nam

Đại Thanh đế quốc toàn đồ xuất bản năm 1905 tái bản lần thứ tư năm 1910 chỉ vẽ đế quốc Đại

Thanh đến Hải Nam

Trung Quốc địa lý học Giáo khoa thư xuất bản năm 1906 viết: "Điểm mút của Trung Hoa ở Đông

Nam là bờ biển Nhai Châu, đảo Quỳnh Châu, vĩ tuyến 18o13' Bắc"

Đầu năm 1907, Nhật Bản chiếm Đông Sa (Pratas) làm cho các nhà cầm quyền miền Nam TrungQuốc quan tâm đến các đảo trên Biển Đông Tháng 5 năm 1909 Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương NhânTuấn phái đô đốc Lý Chuẩn đem 3 pháo thuyền ra thăm chớp nhoáng một vài đảo trên quần đảo Hoàng

Sa rồi về Năm 1921 Chính quyền miền Nam Trung Quốc ra quyết định sát nhập quần đảo Hoàng Sa(mà họ gọi là Tây Sa) vào đảo Hải Nam

Từ đó bắt đầu có sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Pháp về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và

từ những năm 1930 trên quần đảo Trường Sa Năm 1935 lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bốmột bản đồ có cả 4 quần đảo trên Biển Đông là của Trung Quốc (công hàm của Công sứ Trung Quốc ởParis gửi Bộ Ngoại giao Pháp năm 1932 còn viết rằng: "Các đảo Tây Sa là bộ phận lãnh thổ TrungQuốc xa nhất về phía Nam")

Nếu không có chiến tranh thế giới thứ hai thì chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa là liên tực và thật sự từ thế kỷ 17

Nhưng năm 1939, Nhật Bản đã chiếm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ tay Pháp và đã biếnquần đảo Trường Sa thành căn cứ hải quân trong chiến tranh thế giới thứ hai

Tháng 11/1943, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ, Anh, Trung (Tổng thống Roosevelt, Thủ tướng Churchill,Tổng thống Tưởng Giới Thạch) họp tại Cairo có bàn về các lãnh thổ mà Nhật chiếm của Trung Quốc.Tuyên bố của Hội nghị viết: "Các vùng lãnh thổ mà Nhật chiếm của Trung Quốc phải trả lại cho TrungQuốc gồm Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ" Như vậy rõ ràng là cả 3 người đứng đầu 3cường quốc trong đó có Tổng thống Trung Hoa Tưởng Giới Thạch đều thừa nhận hai quần đảo Hoàng

Sa, Trường Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc

Tháng 7, tháng 8 năm 1945 Tuyên ngôn của Hội nghị Potsdam với sự tham gia của 4 nước Mỹ, Anh,Trung, Liên Xô lại viết: "Các điều khoản của bản tuyên bố Cairo sẽ được thi hành" Như vậy cả 4 cườngquốc trong đó có Trung Quốc đều thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không phải là lãnh thổTrung Quốc

Năm 1947, cuốn Nam Hải chư đảo địa lý Chí lược do Bộ Nội Chính Trung Hoa Dân Quốc xuất bản có

bản đồ "Nam hải chư đảo vị trí lược đồ" thể hiện một đường 11 đoạn coi 80% Biển Đông và cả 4 quầnđảo trên Biển Đông là thuộc Trung Quốc

Năm 1950 trên bản đồ Trung hoa Nhân dân Cộng hoà Quốc phân tỉnh tinh đồ có một phụ đồ thể hiện

quốc giới của Trung Quốc gồm 11 đoạn coi cả 4 quần đảo và 80% Biển Đông là lãnh thổ Trung Quốc.Điểm cực nam của Trung Quốc là 4o Bắc giáp Bornéo

Ngày 15/8/1951, Chu Ân Lai Thủ tướng Trung Quốc tuyên bố: "Các quần đảo Tây Sa và Nam Sacũng như các quần đảo Đông Sa và quần đảo Trung Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc."Năm 1951 tại Hội nghị San Francisco với sự tham gia của 51 nước, đại biểu Liên Xô đã đề nghị traohai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc, đề nghị này đã bị Hội nghị bác bỏ với 46 phiếuchống, 3 phiếu thuận và văn kiện của Hội nghị ký ngày 8/9/1951 chỉ ghi về hai quần đảo là "Nhật bản từ

bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với 2 quần đảo" Tại Hội nghị này, ngày 7/9/1951 Thủ tướng

Trang 33

kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã trịnh trọng tuyên bố "Khẳng địnhchủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam đối với các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa" Đối với Tuyên

bố đó không một nước nào phản đối hoặc bảo lưu Như vậy là Cộng đồng quốc tế đã thừa nhận haiquần đảo không phải là lãnh thổ Trung Quốc

Trong Hoà ước giữa Trung Quốc và Nhật Bản ngày 28/4/1952, Trung Quốc ghi nhận việc Nhật Bản

từ bỏ mọi quyền đối với hai quần đảo như nội dung đã được ghi trong văn kiện Hội nghị San Francisco

mà không hề yêu cầu Nhật Bản trả lại cho Trung Quốc hai quần đảo

Tuy vậy, trên thực tế, lợi dụng tình hình Pháp rút khỏi Đông Dương, Việt Nam chưa tiếp quản haiquần đảo, năm 1956 Trung Quốc cho quân đội ra chiếm nhóm phía đông quần đảo Hoàng Sa, Đài Loancho quân đội ra chiếm đảo Ba Bình trên quần đảo Trường Sa

Tháng Giêng năm 1974, lợi dụng tình hình Mỹ phải rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc dùng một lựclượng hải quân, không quân quan trọng đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa khi đó do quânđội của Chính quyền Sài Gòn bảo vệ Chính quyền Sài Gòn đã liên lạc với Mỹ yêu cầu giúp đỡ Theobáo cáo của Trần Kim Phượng, Đại sứ Sài gòn tại Mỹ ngày 2/2/1974 thì "Ngoại trưởng Kissinger chỉ coicuộc tranh chấp đảo Hoàng Sa như là một vấn đề ngoài lề thậm chí là điều bất lợi trong khung cảnhcủa sự phối hợp với Trung Cộng để hạn chế Băc Việt Nam" và phía Mỹ "không muốn nhúng tay vào".Thái độ của Mỹ khiến cho ông Nguyễn Văn Thiệu phải bộc lộ lo ngại với các cận thần về khả năngTrung Cộng sẽ đánh Trường Sa và chiếm Par Force giống như Paracel (có Complicité hoặc bằngLaisser-faire của Mỹ), những chữ Pháp nói trên là theo bút tích của ông Thiệu

Năm 1988 Trung Quốc lại huy động lực lượng không quân, hải quân tấn công chiếm 6 điểm trênquần đảo Trường Sa, từ đó ra sức củng cố các điểm này làm bàn đạp cho những bước tiến mới

Ở Trung Quốc đã có những dư luận về những bước tiến tiếp bằng vũ lực trên quần đảo khiến chonăm 1997 hai tác giả người Mỹ Humphrey Hawksley và Simon Holberton đã viết cuốn Dragon Strike coi

là "một lời cảnh báo" về "một sự kiện lịch sử sắp diễn ra trong vài năm sắp tới" "Tuy chỉ là một kịchbản suy tưởng nhưng dựa trên hàng trăm sự kiện có thật xảy ra những năm qua và trong những ngàygần đây Vì vậy nó cung cấp cho các nhà chiến lược của nhiều quốc gia một tầm nhìn và nhiều điềuđáng suy nghĩ"

Và ở Trung Quốc năm 1993 hai tác giả Hiểu Bình và Thanh Ba đã biên soạn và xuất bản cuốn "Quânđội Trung Quốc liệu có đánh thắng trong cuộc chiến tranh tới không?"

Cuốn sách viết: "Nếu nhà cầm quyền Việt Nam không có nhượng bộ gì trong vấn đề Nam Sa thìTrung Quốc và Việt Nam nhất định sẽ có đánh nhaư"; "Thập kỷ 90 là thời kỳ then chốt để giải quyết vấn

đề Nam Sa Thời kỳ này qua đi, có thể Trung Quốc sẽ mất một dịp may lịch sử"

Cuốn sách còn cho biết rằng năm 1992, một hội nghị quân sự của Trung Quốc họp ở miền NamTnmg Quốc đã định ra những nguyên tắc tác chiến, kết hợp thủ đoạn đánh và doạ, "nhanh chóng đánh đuổi quân chiếm đóng nước ngoài ra khỏi Nam Sa (tức Trường Sa)"

Tình hình tranh chấp phức tạp trên Biển Đông khiến cho dư luận quốc tế lo ngại, ngày 22/7/1992,các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao các nước thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á đã ra tuyên bốcủa Hiệp hội ASEAN về vấn đề Biển Nam Trung Hoa, bản tuyên bố viết: "Cho rằng các vấn đề BiểnNam Trung Hoa chứa đựng những vấn đề nhậy cảm thuộc về chủ quyền và quyên tài phán của các bênưực tiếp liên quan

Lo ngạì rằng bất kỳ diễn biến có tính chất thù địch nào trong Biển Nam Trung Hoa sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến hoà bình và sự ổn định trong khu vực

Trong tưyên bố ngày 10/5/1995, Mỹ cũng tỏ ra lo ngại về tình hình khu vực và "cực lực phản đối việc

sử dụng vũ lực hay đe doạ để giải quyết những yêu sách đối nghịch"

Về phía Việt Nam, chúng ta kiên trì thực hiện nguyên tắc đã thoả thuận ngày 19/10/1993 là "tiếp tựcđàm phán về các vấn đề trên biển (Biển Đông) để đi đến một giải pháp cơ bản lâu dài Trong khi đàmphán giải quyết vấn đề, hai bên đều không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tranh chấp,không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực"

Tuyên bố của Quốc hội Việt Nam tháng 6/1994 nhân dịp phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc vềLuật biển đã cụ thể hoá quan điểm của Việt Nam về vấn đề Biển Đông là:

Trang 34

"Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa và chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượnghoà bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt

là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tàí phán của cácnước ven biển đối với vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa, trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán

để từn gìảì pháp cơ bản, lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng,không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực".Quốc hội Việt Nam nhấn mạnh:

"Cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với vấn đềbảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của ViệtNam căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước của Liên Hợp quốc về Luậtbiển năm 1982"

Sở dĩ có điều nhấn mạnh này là để đối phó với sự việc năm 1992 Trung Quốc đã ký với Công tyCrestone của Hoa Kỳ cho công ty này thăm dò khai thác một lô rộng 25.500 km2 trên thềm lục địa ViệtNam cách đường cơ sở của Việt Nam 84 hải lý và cách Hải Nam 570 hải lý Theo tin nước ngoài ngày4/12/1996 Công ty Benton Oil và Gas có trụ sở ở Califomia đã mua lại Công ty Crestone với giá 15,45triệu USD vâ do đó đã thay thế Công ty Crestone trong quan hệ với Trung Quốc để thực hiện hợp đồng

mà Crestone đã ký với Trung Quốc

Ngày 10/6/1994 Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn tuyên bố rằng lô Thanh long, phíaTây khu vực Tư Chính cách đảo Hòn Hải nằm trên đường cơ sở của Việt Nam 90 hải lý cũng thuộc chủquyền của Trung Quốc vì đó là vùng phụ cận của quần đảo Nam Sa

Về yêu sách của Trung Quốc đối với thềm lục địa Việt Nam ở khu vực Tư Chính, Thanh Long, xingiới thiệu một số ý kiến của Luật sư Brice Clagett Văn phòng luật sư Covington và Burling ở

Washington đăng trên tạp chí Dầu mỏ và khí đốt của Anh (các số 10 và 11 năm 1995) để tham khảo,

Clagett viết: "Lô Thanh Long nằm ngay trên thềm lục địa Việt Nam, thậm chí cả trong nghĩa hẹp của từngữ này"; "Theo bất kỳ định nghĩa nào về thềm lục địa hoặc theo bất kỳ quan điểm hơp lý nào của Luậtquốc tế, yêu sách của Trung Quốc đối với khu vực Thanh Long là lố bịch", "Có thể kết luận rằng yêusách của Trung Quốc đối với khu vực Tư Chính cũng bất hợp lý không hơn không kém yêu sách của họđối với khu vực Thanh Long Khu vực Tư Chính tiếp giáp với khu vực Thanh Long về phía Đông, nằmchủ yếu trên dốc lục địa và (có lẽ) bờ lục địa của Víệt Nam Khu vực Tư Chính bắt đầu từ quãng đườngđẳng sâu 150m và tựt xuống rồi kết thúc ở khu vực đồng bằng ở sâu 1800-2000m tách khỏi đảoTrường Sa" "Bờ dốc của đảo Trường Sa nằm đối diện chứ không tiếp liền với bờ dốc của lục địa ViệtNam"

"Yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền lịch sử và quyền đối với hầu hết Biển Đông và/hoặc đối vớiđáy biển và lòng đất của nó là trái với sự phát triển toàn diện của luật biển quốc tế hiện đại và khôngthể được coi là một vấn đề luật pháp nghiêm chỉnh"

Chúng ta đang cố gắng cùng Trung Quốc thực hiện "Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giảiquyết vấn đề biên giới lãnh thổ" giữa hai nước, thực hiện quyết tâm của lãnh đạo hai nước là đẩynhanh tiên tnnh đàm phán nhằm sớm đi đến ký Hiệp ước về biên giới trên bộ và Hiệp ước phân địnhVịnh Bắc bộ để khi bước sang thế kỷ 21 hai nước Việt Nam và Trung Hoa đã có biên giới hoà bình, hữunghị, ổn định lâu dài trên đất liền và ở Vịnh Bắc bộ, đồng thời kiên trì đàm phán về các vấn đề trên BiểnĐông để đi đến một giải pháp cơ bản, lâu dài chúng ta cững chân thành và kiên trì thực hiện thoảthuận "Trong khi đàm phán giải quyết vấn đề, hai bên đều không tiến hành các hoạt động làm phức tạpthêm tranh chấp, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực"

Nhưng chúng ta cũng hiểu rằng cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng

Sa, Trường Sa, giữ vững vị trí của nước Việt Nam trên Biển Đông là một cuộc đấu tranh kết hợp cáchoạt động của tất cả các ngành trong đó mặt pháp lý là rất quan trọng, một cuộc đấu tranh phức tạp vàlâu dài nhưng vô cùng quan trọng và thiêng liêng của nhân dân ta trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyềnlãnh thổ của tổ quốc Các ngành trong nước đang cùng nhau thực hiện ý kiến thống nhất trong Hội nghịbiển toàn quốc tháng 2/1995 là: "Chúng ta phải thức tỉnh ý thức về biển của cả dân tộc, làm chủ đượcbiển của mình, phát triển mạnh mẽ kinh tế biển gắn liền với bảo vệ chủ quyền và các quyền lợi củanước ta trên biển, một lần nữa vươn lên trở thành một quốc gia mạnh về biển ở Đông Nam Á"

Đại Nam thực lục chính biên, quyển 104, kỷ thứ hai.

Ghi chú về Châu Á Tạp chí của Hội nghiên cứu Đông Dương, Tập XVII số 1 tr 79 - 100

Monique Chemillier Gendreau: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tr.90

Trang 35

Hiệp ước biên giới trên đất liền này đã được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm

và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Đường Gia Triền ký ngày 3-12-1999

Sự trỗi dậy của cánh tả mới ở Trung Quốc

Leslie Hook

Nghiên cứu viên Princeton-in-Asia fellow ở Far Eastern Economic Review

Far Eastern Economic Review, Tháng 4 năm 2007

Vài lời giới thiệu: Bài viết theo lối báo chí này trình bày một số quan điểm của cánh tả mới ở Trung

Quốc và sơ lược vẽ thêm ra khung cảnh mà các quan điểm này ra đời Có thể nói quan tâm lớn của nhóm là tăng phúc lợi xã hội và nâng cao mức sống của nông dân Cùng với những quan tâm trên là vấn đề dân chủ và tự do mà họ gần gũi với cánh tả cổ điển của Đảng thay vì quan điểm của phương tây Họ cảm thấy dân chủ và tự do kiểu ở các nước tư sản không thuyết phục, có lẽ vì họ hoặc quen, hoặc tin vào vai trò cần thiết của nhà nước nhằm thực hiện các chính sách xã hội, hoặc không tin lắm vào khả năng mua phiếu của giai cấp tư sản đang lên Họ bàn về dân chủ mà ta cảm thấy là những ý tưởng của họ khá gần với dân chủ trực tiếp (thay vì dân chủ đại diện) của thời cổ đại chỉ áp dụng được trong một cộng đồng khá nhỏ bé, chẳng hạn như bốc thăm đại diện Có thể nói các ý kiến về dân chủ của họ còn khá mù mờ Do sự chống đối của cánh tả mới, Luật về Tài sản phải hơn 6 năm mới thông qua nổi Quốc hội vào 8 tháng 3 vừa qua, và sẽ được áp dụng trong năm nay Điều này vừa phản ánh ảnh hưởng của cánh tả mới nhằm bảo vệ công hữu trên đất nông nghiệp (họ đã thành công, dù cũng giống như Việt Nam, quyền sử dụng có thể chuyển nhượng ), hoặc cho thấy hạn chế của nhóm là luật

đã được ban hành công nhận các quyền tư hữu ở các lãnh vực khác với ba quyền: tư hữu, quyền sử dụng, quyền được bảo vệ Giới trí thức Trung Quốc rõ ràng là đã đi trước một bước so với giới trí thức Việt Nam Quan tâm chính của giới trí thức Việt Nam vẫn chưa phải là quyền lợi của nhân dân lao động,

mà chỉ nhằm vào cổ võ tinh thần yêu nước, nhằm tăng sức mạnh của “dân tộc”, cũng một cách mù mờ

Vũ Quang Việt

*Wang Shaoguang (Vương Thiệu Quang[1]), giáo sư chính trị tại Chinese University of Hong Kong(Đại học Trung Quốc ở Hồng Kông), ngồi trên ghé dướn người ra phía trước, tươi cười, nói là TrungQuốc đang ở điểm chuyển “Tôi gọi nó là “đại cải” Ông ta nói to lên “Ngoài chính sách kinh tế, đây làlần đầu Trung Quốc có chính sách xã hội.” Ông ta nói, trước cải cách kinh tế, không cần có chính sách

xã hội bởi vì xã hội và kinh tế giao thoa sâu sắc Đối với ông Vương, chuyển hướng lần này, dù quáchậm, là tin vui Ông cựu giáo sư Đại học Yale nói năng khúc chiết này, một trong các nhà trí thứcTrung Quốc bị nhóm lại lỏng lẻo dưới nhãn “cánh tả mới”, chỉ ra tình trạng thu nhập ngày càng khôngđồng đều và lý luận là nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế trong quốc gia cần phải pha trộn với các chínhsách dân chủ xã hội nhằm phân bố lại lợi tức Và đây chính là điều bắt đầu đang xảy ra

Chiều hướng chính sách xã hội gắn liền với sự phục hồi quyền lực chính quyền trung ương Năm

1995, thuế thu so với GDP ở mức tận đáy là 9.9% Sau nhiều cố gắng phối hợp nhằm tăng thu, nămngoái [2006] tỷ lệ này đã đạt 18.1%, gần tương đương với mức năm 1987 Dĩ nhiên, cùng kỳ, GDP theogiá cố định đã tăng gấp ba, tức là nhà nước có nhiều tiền để tăng cường quân sự, đầu tư vào hạ tầng

mà vẫn còn nhiều để chi cho phúc lợi xã hội

Việc phục hồi sức mạnh tài chính đi đúng chẩn đoán của ông Vương về cuộc chuyển hướng hiệnnay Ông nói: “Kinh tế và xã hội gắn bó với nhau thời xã hội chủ nghĩa, rồi nó xa nhau và bây giờ chúngđang gắn bó lại,” “Bạn đặc biệt quan sát thấy chúng ở y tế và giáo dục.” Ông ta giải thích là việc nhànước rút lui khỏi các lãnh vực như y tế và giáo dục trong thời kỳ cao điểm của cải cách kinh tế thập kỷ

1980 và 1990 đã để lại bất bình đẳng ghê gớm mà chỉ bây giờ mới bắt đầu được lấp

Chính sách đã qua của Trung Quốc đã kiểm chứng nhận xét này Kế hoạch năm của lập phápcông bố ngày 27 tháng 2, trước Ngày họp Đại hội Đại biểu Nhân Dân Toàn quốc (Quốc Hội) đã viết nhưthế này: “Vì Trung Quốc hiện nay đặt phát triển kinh tế và xã hội ngang hàng, sẽ có nhiều luật liên quan

Trang 36

đến các vấn đề xã hội trong vài năm tới.” Khai mạc Quốc hội, Thủ tướng Ôn Gia Bảo chỉ ra rằng nămngoái chi tiêu của chính phủ cho giáo dục tăng 39.4% và y tế tăng 65.4% so với năm trước

Nhưng chuyển hướng này không chỉ nhằm tăng chi cho người nghèo Điều này phản ánh rõ trongcuộc tranh luận gay go về Luật Tài sản, đã ám ảnh Quốc hội trong nhiều năm Dự thảo luật được đưa

ra nhưng đã thất bại sáu lần tại Đại hội hàng năm- một kỷ lục trong lịch sử làm luật của Trung Quốc –trước khi nó được sửa chữa rất nhiều năm nay Ngay bây giờ, dự thảo luật vẫn còn tranh luận gay go vì

nó công nhận quyền sở hữu cá nhân về ruộng đất trong một nhà nước được thành lập trên nguyên tắc

sở hữu tập thế Và vào lúc mà trong xã hội hồ hỡi đối với tự do doanh nghiệp đã đến cực điểm [ND: tạithời điểm dịch bài này, 21/4/2007, Luật Tài sản đã được Quốc hội thông qua]

Kể từ năm 1992 khi Đặng Tiểu Bình đi thăm miền Nam và hâm nóng lại quá trình cải cách, chủnghĩa thực dụng là nhật lệnh Sự đối kháng trong giới lãnh đạo chop bu của Đảng cộng sản là giữa cácphe phái dựa vào người đỡ đầu, không phải giữa phe nhóm chính sách Vì thế mà ngày nay thật là ấntượng, dù lãnh đạo vẫn nằm trong tay giới kỹ thuật, ý thức hệ đã trở lại ở mức độ nhất định

Cuộc tranh luận không chỉ xảy ra quanh sàn nhà Quốc hội và xâm nhập vào các nhóm trí thứcTrung Quốc: làm sao để điều hoà thành công thị trường tự do và di sản cộng sản của đất nước? Đãqua rồi những ngày có thể xua đuổi mâu thuẫn bằng cách dùng đến câu nổi tiếng của Đặng: “Xã hộichủ nghĩa với đặc trưng Trung Quốc”

Trỗi dậy của một phong trào

Trong năm năm từ khi Tổng bí thư Đảng Hồ Cẩm Đào lên nắm quyền, cánh tả mới đã xuất đầu lộdiện với một loạt các phương thuốc cho một xã hội có vấn đề Mặc dù cái tên đặt này không hẳn đúng –

tả và hữu thường được hiểu rất khác ở Trung Quốc so với châu Âu và Mỹ - cái danh này thường dùng

để chỉ những người phản đối kinh tế thị trường tân tự do, họ muốn tăng phúc lợi xã hội, cổ võ cho việctham gia dân chủ rộng rãi hơn (mà không cần dân chủ qua hình thức bầu cử), và ủng hộ các chínhsách ngoại giao quyết đoán hơn

“Nét đặc trưng của cánh tả mới gồm chủ trương lo cho người nghèo, người thế cô và chỉ tríchphát triển quá đáng” Trương Tế Đông (Zhang Xudong), Giáo sư môn văn chương so sánh tại New YorkUniversity (Đại Học New York), được coi là thuộc cánh tả mới Qua phỏng vấn trên điện thoại, ÔngTrương cũng nhắc đến sự nổi lên của giai cấp tư sản mới, tham nhũng của giới cầm quyền, ô nhiễmmôi trường và “sự tàn phá nông thôn” là những quan tâm chính của nhóm

Cánh tả mới đã bàn đến những vấn đề trên từ lâu rồi, nhưng suy thoái trầm trọng của môi trường

và nông thôn ở Trung Quốc trong những năm gần đây đã làm nổ bật trên toàn quốc những chủ đề trên.Năm 2004, đã xảy ra hơn 70 ngàn vụ náo động ở nông thôn, nhiều vụ gây ra từ các vụ chiếm đoạt đấtđai trái phép của quan tham, và cấu trúc xã hội của nông thôn Trung Quốc tiếp tục mục nát thêm khiđàn ông và đàn bà có khả năng lao động đi về thành phố kiếm việc

Tình trạng ngày càng khó khăn rõ ràng đã nâng thanh thế của cánh tả mới Giáo sư Vương chorằng sáu hay bảy năm trước, đại học ở Trung Quốc hầu như bị cánh chủ trương chủ nghĩa tự do thốngtrị, nhưng hiện nay không còn như thế nữa “Tại sao? Bởi vì xã hội đã thay đổi Người ta đã phải suynghĩ về những vấn đề mà trước đây người ta không nghĩ tới.” Nhiều người khác cho rằng cánh tả mới

có ‘nhiều sức hấp dẫn.”

Tuy vậy, danh từ cánh tả mới tự nó có vấn đề Một số người mang danh này co rúm lại khi bị đem

so với những người kiên định với “cánh tả cũ” - những người thành thật chủ trương trở lại thời Mao

“Vào thời kỳ đầu, ‘cánh tả mới’ không phải là chữ tôi muốn dùng, nó là chữ mà người khác dùng để phêphán tôi.” Ông Vương Hội (Wang Hui), Giáo sư ngôn ngữ và văn chương Trung Quốc ở Đại học ThanhHoa (Tsinghua University) và là người đồng biên tập nguyệt san uy tín Dushu

Những lý do đằng sau sự ngại ngần của trí thức về danh hiệu là vì chúng gắn với sư đổi chiềuchấn động trong không khí chính trị Trung Quốc nhiều thập niên qua Ông Trương chỉ ra ba giai đoạn

Trang 37

phát triển của cánh tả mới: “Khi mới lộ diện, nó mang thuần tính học thuật và nhằm trực diện vào nhóm

du học sinh viên Trung Quốc, học với các nhà trí thức cánh tả ở châu Âu và Mỹ Họ phê phán thị trườnghoá, tư nhân hoá và việc thu hẹp nhà nước phúc lợi

Trong giai đoạn hai, khi những sinh viên này trở về nước, họ cảm thấy Trung Quốc đang trải quacùng quá trình tư bản hoá mà các nước khác đã kinh qua, Ông Trương nói thế, và họ đay nghiến phêphán hướng cải cách Kết quả là “người ở nhà hết sức nghi ngại họ.” Vào thập niên 1980 khi TrungQuốc tăng cường chương trình cải cách kinh tế, Đặng Tiểu Bình đã phát biểu một cách trứ danh làĐảng cộng sản phải cảnh giác với tính quá khích của phe tả hơn là của phe hữu

Tuy nhiên, khi kinh tế Trung Quốc tăng vọt và xã hội trở nên phân hoá nhiều hơn, những nghi ngạikia mất dần “Bây giờ, ở giai đoạn gần nhất, cánh tả mới đã trở thành một phong trào xã hội khá rộnglớn Có lẽ quá đáng khi gọi nó là một phong trào, nhưng rõ ràng nó là một khuynh hướng của nhữngngười có chung tâm cảnh” ông Trương nói thế Hơn nữa, vẫn còn có sự khác biệt ý kiến rất lớn về điều

mà cánh tả mới chủ trương Một trong những mối chia rẽ trung tâm là giữa những người định nghĩacánh tả mới qua lăng kính chống chủ nghĩa tự do kiểu mới (neoliberalism) - chủ nghĩa chủ trương tưbản thị trường tự do, và những người nhìn qua lăng kính chống chủ nghĩa tự do cổ điển (classicalliberalism) - một chủ nghĩa chủ trương tự do cá nhân Vương Hội (Wang Hui) tán thành quan điểmtrước Ông ta giải thích: “Đây không phải là cuộc tranh luận với chủ nghĩa tự do, giải thích là cánh tảmới rút ra từ nhiều nguồn tri thức kể cả truyền thống tự do Quan điểm của ông ta là cánh tả mới thật

sự đang tranh luận với chủ nghĩa tự do kiểu mới (neoliberalism) và ông ta đề nghị dùng danh từ “nhà tríthức có tinh thần phê phán” thì đúng hơn

Hay nói cách khác, Vương Thiếu Quang (Wang Shaoquang) định nghĩa phe phái dựa trên hai ýniệm về tự do của Isaiah Berlin: “Những người tự do chủ trương một thứ tự do của thế kỷ 19 – tự dokhỏi (freedom from) thay vì tự do vươn tới (freedom to) Vì thế họ chỉ muốn để yên, không muốn nhànước kiểm soát và can thiệp” Ông ta cho là cánh tả mới chủ trương ngược lại “Không chỉ tự do thoátkhỏi sự can thiệp của chính quyền, mà là tự do vươn tới để có cơ hội bình đẳng về y tế, giáo dục vànhững thứ khác.” Nhóm này có lẽ bao gồm các người theo học thuyết Marx và Mao

Vì những sự chống đối, luật đã phải bổ sung để tăng cường việc bảo vệ công hữu, và một điềukhoản đã được thêm vàođ ể nói rõ là luật không được mâu thuẫn với hiến pháp Được phỏng vấn saukhi Quốc vụ Viện bàn kín bản dự thảo thứ bảy, ông Củng nói ông đã xem bản mới (lúc đó chưa đượccông bố) và ủng hộ những thay đổi và bản dự thảo

Kinh nghiệm ông Củng cho thấy là lý tưởng cộng sản vẫn còn dư âm sâu trong giới lãnh đạo Tuynhiên, loại tranh luận mang tính ý thức hệ như thế này là hiếm hoi chứ không bình thường Hầu hếtnhững người được phỏng vấn để viết bài này than là ý thức hệ ngày càng mất chỗ đứng đối với việcquyết định chính sách

“Đất nước cơ bản do đám kỹ sư và tầng lớp kỹ trị điều hành”, ông Trương, Giáo sư về vănchương ở Đại học New York nói “Sinh viên ngày càng thờ ơ với chính trị” ông ta nói thêm, buồn nản.Một số thấy đây là cuộc khủng hoảng về lãnh đạo văn hoá “Lãnh đạo hiện nay chỉ như nhấp chân thử

Trang 38

đá để dò đường qua sông,” ông Hàn Du Hải (Han Yu Hai), Phó giáo sư văn chương Đại học Bắc kinhnói, khi nhắc đến câu nó nổi tiếng của Đặng Tử Bình về chủ trương cải cách từ từ “Chúng ta đôi khiđùa vui rằng lãnh đạo bước đi, đầu cúi xuống bởi vì họ đang dò tiền dưới đất” Ông Hàn người bị ảnhhưởng chủ nghĩa Mao nói thế “Khủng hoảng chính trị nằm ở đúng chỗ này – Trung Quốc không cólãnh đạo Kinh tế là chính quyền duy nhất…Tiền là ý thức hệ duy nhất.”

Nhưng trong lúc cánh tả mới chỉ trích chủ nghĩa tự do mới (neoliberalism), họ không chủ trươngtrở về với kinh tế kế hoạch tập trung Ông Trương nói: “Họ không kêu gọi trở về với thời nông thônMao-ít Thay vì điều đó, họ kêu gọi con đường trung dung – mô hình xã hội chủ nghĩa Bắc âu, đườnglối phúc lợi kiểu Anh, hay mô hình Mỹ New Deal [ND: thời Roosevelt những năm 1930]”

Nhiều người cánh tả mới cho rằng cải cách lúc đầu mang lại lợi ích, nhưng càng lúc càng ít vì cáigiá con người và thiên nhiên phải trả cho phát triển “Cải các kinh tế khởi thuỷ là một trò chơi mọi ngườiđều có lợi.” “nhưng vào cuối thập kỷ 1990 cải cách kinh tế đã trở thành trò chơi không mang lại lợi íchchung, được chỉ đủ trả cho thua.” Khi mà nhà nước đẩy y tế và giáo dục cho thị trường, nhiều người bị

bỏ rơi lại đàng sau, mất đi những dịch vụ mà họ từng hưởng.”

Vương Hội (Wang Hui) cho là những vấn đề trên xảy ra là vì sự chấp hận quá hồ hỡi thị trường tự

do dựa vào truyền thống tự do: “Tự do thị trường chỉ có thể thực hiện được với sự kiểm soát của chínhphủ Vì thế nó không thể không có giới hạn Vấn đề của Trung Quốc là đời sống chúng tôi bị nhà nướckiểm soát qúa kỹ Chúng tôi cần khoảng cách tự chủ Chúng tôi không thể để đời sống chúng tôi bị thịtrường kiểm soát” Ông ta chủ trương mở rộng “dân chủ kinh tế” như là giải giáp cải thiện quyền lợi củangười lao động

Một khu vực mà cánh tả mới luôn quan tâm đặc biệt là nông thôn, họ chỉ ra rằng đây là chỗ màkinh tế thị trường thất bại Văn Thiết Quân (Wen Tiejun), nhà kinh tế nông nghiệp ở Đại học Nhân dân,coi cải cách Trung Quốc là ăn cướp nông dân từ lao động, tư bản, bóc sạch “3 yếu tố sản xuất” màAdam Smith nói tới là đất đai, lao động và tư bản Ông ta biện luận là Trung Quốc là một xã hội lưỡngphân điển hình, ở đó sự khác biệt quá lớn giữa môi trường thành thị và nông thôn đòi hỏi đường lốichính sách riêng cho từng khu vực

Các cải cách tạo phản ứng ngược vì các nhà làm chính sách đối xử với nông thôn không khác gìthành phố Ông Văn nói: “Công nghiệp hoá nông thôn cộng với việc thị trấn hoá là con đường tốt đểnâng cao thu nhập của nông dân.” Ông ta nói thêm thu nhập ở nông thôn tăng nhanh hơn ở thành vịvào thập niên 1980 “Không có phản đối, không có tranh chấp xã hội ở nông thôn Thập kỷ 1980 là thờivàng son Tranh chấp xã hội khởi đầu bởi vì từ thập niên 1990 chúng tôi không thay đổi kịp để phù hợpvới thực trạng ở nông thôn Việc áp dụng hệ thống luật pháp, chẳng hạn, thật sự không vận hành được

ở nông thôn.”

Cánh tả mới lấy các tai hoạ ở nông thôn Trung Quốc làm minh chứng cho quan điểm mà họ đã giữvững trong một thời gian dài Ông Vương Hội cười khi giải thích cách tạp chí của ông ta tung ra câuchuyện về nghèo đói ở nông thôn Trung Quốc “Vào năm 1999, Ushu in một bài về vấn đề tam nông[tức là nông nghiệp, nông dân và nông thôn] Khi đó, chính quyền vẫn chưa công nhận là ba vấn đề nàyhiện hữu, nhưng hai năm sau đó, chúng được ghi vào chương trình nghị sự của Quốc vụ Viện”

Ủng hộ từ phía trên

Cắt đứt dứt khoát với thời Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân, hai ông Hồ Cẩm Đào và Ôn GiaBảo đã làm rõ sư khác biệt lãnh đạo của họ bằng các biểu hiện hình thức mà chắc là làm vừa lòngcánh tả mới Sau khi lên chức chủ tịch năm 2002, một trong những nơi mà Hồ Cẩm Đào thăm viếngđầu tiên là Xibaipo ở tỉnh Hebei (Hà Nam), nơi Đảng cộng sản chiếm cuối cùng trước khi chiếm BắcKinh vào năm 1949 Còn ông Ôn, tạo dư luận trang nhất vài tháng qua khi viếng thăm trước thềm nămmới nhà nông dân ở nông thôn ở tỉnh Liễu Ninh (Liao-ning), lặp lại các cuộc viếng thăm thợ mỏ thancùng ngày vào năm âm lịch 2005 Việc bày tỏ đoàn kết với giai cấp công nhân như thế này và cuộcviếng thăm các di tích cách mạng là nghĩa cử nhớ ơn quá khứ xã hội chủ nghĩa mà các lãnh đạo TrungQuốc trong vài thập kỷ qua không làm

Trang 39

Trong khi điều trên rõ ràng giúp tạo uy tín đang lên của cánh cả và cánh tả mới, nhiều người vạch

ra rằng còn quá sớm để nói là ông Hồ chia sẻ niềm tin tả phái, hoặc là chính sách và dấu hiệu chính trịchỉ mang tính thực dụng “Vào lúc này ông ta muốn giữ gìn nguyên trạng, vì vậy chúng tôi phải chờ xemông ta thật sự tin gì,” một phụ nữ còn trẻ trong tiệm sách cách tả nói thế khi được hỏi, cô ta cho tênđóng phim là Hồng Tinh Mỹ Nhân (Red Star Beauty)

Những người khác thì nghĩ là ông Hồ đã hiện nguyên mầu và sẽ tiếp tục như thế Ông Trươngdiễn tả khẩu hiệu “xã hội hài hoà” và các cuộc thăm viếng di tích cách mạng của ông Hồ là “cách thậtkhôn ngoan tạo khác biệt giữa mình với mô hình Chu Chung Cơ (Zhu Rọngi), quá thiên về doanhnghiệp và quá tập trung vào vùng ven biển, và là cách rất hay để đạt được một tính cách chính trị nàođó.”

Ông Hàn, Giáo sư văn chương Đại học Bắc Kinh, coi ông Hồ giống Mao Trạch Đông ở chỗ cả haiđều là trí thức bản địa, khởi đầu sự nghiệp từ cấp cơ sở - ông Hồ làm việc 14 năm ở tỉnh Cam Túc(Gansu), một trong những khu vực nghèo nhất Trung Quốc “Hồ sẽ rất giống Mao, so với Đặng vàGiang.” Tuy nhiên kẻ hồ nghi coi nét đặc trưng định nghĩa Hồ là thiếu viễn kiến, và các mầu sắc chínhtrị mà ông ta chọn là loại rất an toàn đối với một người ở vị trí ông ta

Truyền thống dân chủ?

Giống như Mao, lãnh đạo mới nhấn mạnh “dân chủ.” Trong khung cảnh Đảng cộng sản, chữ nàykhông có nghĩa là mỗi người một phiếu, mà có nghĩa là sự tham dự của số đông hơn quần chúng vàochính trị Sau Cách mạng văn hoá, Đặng đưa Đảng ra khỏi các phong trào quần chúng nhằm huy độngngười hoạt động Không ai muốn trở lại những ngày xưa đen tối với những cuộc đấu tố và biểu tình của

Vệ binh Đỏ Nhưng nhiều người cánh tả muốn khuấy động lên sự tham gia thực hiện chính sách Đảngtích cực hơn

Giáo sư Vương nói: “Chúng tôi muốn trở về ý nghĩa nguyên thủy của dân chủ - đó là nhân dân caitrị.” Nói cụ thể, cánh tả mới có nhiều ý kiến khác nhau về phương cách đạt được điều này Giáo sưVương mô tả nhiều kịch bản để chọn lựa một ban giám khảo nhân dân bằng cách rút thăm để thôngqua các sang kiến quan trọng về chính sách, hay tham gia phân phối ngân sách bằng cách người ở thịtrấn hay làng có được tiếng nói trong việc quyết định phân phối ngân sách địa phương

Những người khác mô tả dân chủ với tý mùi xã hội chủ nghĩa Ông Trương nói: “Dân chủ khôngchỉ là phương cách, thủ tục.” “Khi bạn nói về dân chủ, bạn phải nói về nó với các nội dung quan trọngnhư dân chủ trong phân chia của cải, dân chủ trong phân chia quyền lực xã hội.” Ông Vương nhìn ýniệm dân chủ rất khác với dân chủ tây phương mà những người Trung Quốc theo chủ nghĩa tự do chủtrương “Ở Trung Quốc, nhóm chống lại cánh tả mới có khuynh hướng nói là, hãy đạt được cai trị bằngluật pháp, hãy có bầu cử, hãy theo luật chơi Đấy chỉ là cách hiểu phiến diện dân chủ.”

Các nhà tư tưởng cánh tả mới thuộc nhiều mầu sắc khác nhau phê phán dân chủ kiểu tâyphương, họ nói rằng họ hy vọng học được từ sai lầm mà các nước dân chủ đã phạm phải trong quákhứ Và từ chối dân chủ bỏ phiếu, cánh tả mới tin rằng họ đặt quyền lợi tối thượng của quần chúng lênhàng đầu Ông Củng (Gong) cảnh cáo: “Quan tham là những người hưởng lợi từ nền dân chủ kiểu tâyphương Trong tương lai có khả năng nhóm giàu có mới phất sẽ sử dụng dân chủ tư sản.” Ông Trươngcũng bày tỏ nghi ngại tương tự: “cánh tả mới chủ trương một nền dân chủ sâu sắc hơn – nó phải tớiđám đông, thay vì chỉ làm lợi cho giai cấp trung lưu thành thị Khi người chủ trương chủ nghĩa tự dođánh đồng dân chủ với luật pháp cai trị, đó chỉ là cách hợp pháp hoá địa vị xã hội họ mới đạt được Vài người thuộc cánh tả mới cho là Trung Quốc đã đang tiến tới mô hình dân chủ mà họ cổ võ.Vương Hội nói tới các cuộc thảo luận về Luật Tài sản “Nhiều cái đang thay đổi về phương cách luậtđược soạn thảo Trong quá khứ, chính sách được làm trong nội bộ chính phủ, nhưng bây giờ nhiềusang kiến chính sách khởi động từ xã hội.” Ông ta kê ra một số yếu tố đã làm thay đổi cách thức xã hội

và chính quyền tác động qua lại: Internet và tiếp cận thông tin mở rộng hơn, nhiều trí thức tham gia vào

Trang 40

các cuộc tranh luận quan trọng và vào phát triển kinh tế “Khi điều kiện xã hội mở ra cơ hội cho nhữngcuộc tranh luận như thế [đã xảy ra về Luật Tài sản], đó là điều tốt.”

Mặc dù có những cảm nghĩ làm vững dạ như vậy, mâu thuẫn xuất hiện ở các vấn đề như nhânquyền và tự do báo chí Từ lúc ông Hồ Cẩm Đào nắm quyền, nhà nước ngày càng thắt chặt kiểm soátgiới ký giả, và các đại học hàng đầu ở Bắc Kinh đã giảm cơ hội cho các cuộc phát biểu ý kiến côngcộng Internet vẫn tiếp tục bị theo dõi và hạn chế Và trong Quốc vụ Viện năm nay, bàn thảo về Luật Tàisản đã xảy ra trong phòng họp kín, và khi đang viết bài này, Luật vẫn chưa được công bố Ông Củngnói rằng quá trình làm luật ngày càng minh bạch và việc để quần chúng tham gia vào tranh luận về luật

là dấu hiệu của “tiến bộ”, nhưng ông ta lắc đầu về cách Quốc vụ Viện đối phó với tranh luận về luật kỳhọp vừa qua

Ông Củng nói “Sự kiện họ dẹp tranh luận chứng tỏ rằng họ tránh tranh luận về ý thức hệ,” sự kiện

mà nhiều người khác đã cố giải thích đó là vì hai ông Hồ và Ôn muốn tránh căng thẳng trước cuộc họpvào tháng Mười sắp tới [2007] của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 17 của Đảng cộng sảnTrung Quốc,cuộc họp năm năm một lần, những lần họp như thế có thể báo trước thay đổi chỗ ngồi của các lãnhđạo cao cấp Ông Củng gọi quá trình soạn thảo luật “quá bí mật”, và nói cách Quốc vụ Viện làm là

“không đúng.” Những người cánh tả mới có một số phản ứng khác nhau về thảo luận về tự do báo chí,phản ánh vẻ đa dạng của những người bị gián nhãn cánh tả mới Phía ôn hoà hơn có Vương Hội cổ võkhông gian mở hơn cho thảo luận và cho rằng qua kinh nghiệm bản thân là thật khó kiểm duyệt báo chí.Ông nói: “Tôi đã làm nghề biên tập 11 năm Tôi không có thể dùng ngôn ngữ thông thường để diễn tảkinh nghiệm này.” “Chỉ khi nào tiếp tục bày tỏ quan điểm bạn mới có thể mở rộng được không gianthảo luận.”

Những người khác không rõ họ đứng đâu Giống như Vương Hội, Vương Thiếu Quang cũng nóimọi người nên được quyền tự do ăn nói Tuy nhiên khi được khỏi thẳng về kiểm duyệt internet ở TrungQuốc, ông ta tỏ vẻ ngạc nhiên “Tôi không có kinh nghiệm này, hầu hết bạn bè tôi cở Trung Quốc đều

có thể dùng internet hết sức phong phú.” Và những người kiên trì với đường lối tả phái thì đi xa tới mứcủng hộ chính phủ can thiệp vào báo chi “Rõ ràng là có kiểm soát báo chí.” Hồng Tinh Mỹ Nhân, mộtngười tự nhận là Mao-ít, nói với tôi trước khi theo bạn dùng thức ăn tối làm sẵn ở góc sau tiệm sách

“Nhưng đây là điều cần thiết Rất khác Mỹ, chúng tôi cần hướng dẫn.”

Câu hỏi như vậy trở thành là: loại “biến cải” nào Trung Quốc đang đối mặt Cùng với việc cần cóchính sách xã hội, Trung Quốc bây giờ lại phải đối mặt với cuộc tranh luận về cần chính sách gì Đòihỏi của quần chúng nghèo cho một xã hội bình đẳng hơn (greater social equity) có thể dẫn họ đến đòihỏi có tiếng nói thật sự nhằm thực hiện điều này Đây là điều mà các nhà lãnh đạo quốc gia và cánh tảmới không muốn thấy

Người dịch:VQV

Ngày đăng: 19/03/2023, 15:35

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w