Ð?C Ð?T LAI L?T MA NÓI CHUY?N V? CHÚA GIÊSU ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI CHUYỆN VỀ CHÚA GIÊSU Hương Vĩnh lược dịch Nguồn http //www dunglac org Bản PRC vinhhoa@Thư Viện Ebook Mục Lục Lời nói đầu Chương I Yê[.]
Trang 2ĐỨC ĐẠT-LAI-LẠT-MA NÓI CHUYỆN VỀ CHÚA GIÊSU
Hương Vĩnh lược dịch
Nguồn: http://www.dunglac.org
Bản PRC: vinhhoa@Thư Viện Ebook
Trang 3Mục Lục
Lời nói đầu
Chương I: Yêu thương kẻ thù (Matthêu 5, 38-48)
Chương II: Bài giảng trên núi: Những mối Phúc Thật (Matthêu 5, 1-10)
Phần thảo luận (I)
Chương III: Bình đẳng (Mac-cô 3, 31-35)
Chương IV: Nước Trời (Mac-cô 4,26-34)
Phần thảo luận (II)
Chương V: Sự Hiển Dung (Luca 9, 28-36)
Chương VI: Sứ vụ Tông Đồ (Luca 9, 2-6)
Phần thảo luận (III)
Chương VII: Đức Tin (Gioan 12, 44-50)
Chương VIII: Sự Phục Sinh (Gioan 20, 10-18)
Phần thảo luận (IV)
Trang 4LỜI DỊCH GIẢ
Từ đầu thu 1994 - tính đến nay hơn một thập niên - Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã đượcCộng Đồng Chiêm Niệm Kitô Giáo Thế Giới mời chủ tọa cuộc hội thảo hằng nămđược tổ chức ở Luân Đôn với đề tài “ĐỨC TỪ TÂM” (The Good Heart), xoay chungquanh những tiết mục được trích dẫn từ tám đoạn Phúc Âm
Những lời bình giải của Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma cũng như những điều trao đổi giữangài với các tham dự viên đã trở nên mẫu mực cho những cuộc đối thoại liên tôn -đặc biệt giữa hai tôn giáo lớn là Kitô giáo và Phật giáo
Trong những năm gần đây, có những cuộc trao đổi trực tiếp hay gián tiếp giữanhững cá nhân hoặc tập thể của những tín đồ thuộc hai tôn giáo đó, nhưng thườngkhi trở nên gay gắt và còn mang tính cách miệt thị nhau nữa Điều đó hoàn toàn đi rangoài cương lĩnh đạo giáo
Ước mong những tâm tư phát biểu đầy khoan dung và tương kính của Đức Lai-Lạt-Ma – một vị cao tăng được các Phật tử xung tụng là “Thánh Tăng” và đượcthế giới kính trọng – sẽ có một âm hưởng lớn lao trong tâm thức tín đồ của hai tôngiáo lớn đó, mỗi khi họ muốn dấn thân trên hành trình đối thoại
Đạt-Chúng tôi dựa theo bản tiếng Pháp “Le Dalai-Lama parle de Jésus” dịch từ bảntiếng Anh “The Good Heart” của “Cộng Đồng Chiêm niệm Kitô Giáo Thế Giới” (TheWorld Community of Christian Meditation) để lược dịch ra tiếng Việt dưới nhan đề
“ĐỨC ĐẠT-LAI-LẠT-MA NÓI CHUYỆN VỀ CHÚA GIÊSU”
Tám đoạn Phúc Âm trích dẫn ở đây được lấy từ cuốn “Kinh Thánh trọn bộ CựuƯớc và Tân Ước” do Tòa Tổng Giám Mục Thành Phố Saigon, Việt-Nam, thực hiệnnăm 1998
Chúng tôi xin chân thành cám ơn Giáo Sư Như Hạnh – giáo sư môn Phật họcĐại Học Harvard ở Boston Hoa-Kỳ - đã giúp chúng tôi chuyển dịch hầu hết những từPhật học bằng Phạn ngữ ra Việt ngữ
Chúng tôi cũng xin hết lòng cám ơn một bạn đạo Phật tử ẩn danh – một ngườihơn nửa đời nghiên cứu và thực hành Phật đạo cũng như thiền định – đã đọc lại bảnthảo và bổ túc một số điểm thiếu sót
Hè 2005
Hương Vĩnh
*
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Một tiếng nói được cất lên Lời nói của ngài thuộc một truyền thống tâm linh - đó
là “Phật Pháp” (Dharma) - do Đức Phật truyền dạy trên hơn hai thiên niên kỷ
Những tín hữu của Đức Kitô quây quần xung quanh ngài Họ đã mời ngài đọc vàdẫn giải “Tin Mừng”, tức “Phúc Âm của Chúa Giêsu”
Ở giữa họ đã nảy sinh một cuộc đối thoại và còn hơn thế nữa: đó là một thờiđiểm ân ban mà sự hợp nhất có tính cách cơ bản của nhân loại được củng cố và gắnchặt, bằng ngôn từ cũng như bằng thinh lặng
Không có vấn đề tẩy xóa hay che lấp những dị biệt, trái lại được làm sáng tỏ, vì
họ biết rằng, qua những dị biệt đó, những điểm hội tụ mới, tức những điểm bổ sungbắt đầu ló rạng
“Con bò vẫn là con bò và con cừu phải giữ cái đầu cừu”, như một câu châmngôn của Tây Tạng mà Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã nhắc nhở Nhưng muốn phong phúhóa sự khác biệt, truy tầm sự nhất tính ở giữa cái đa dạng, phác họa một “kỷ nguyênTinh Thần” xa hẳn những nơi công cộng, óc bè phái hay sự kiểu cách, cùng chungvạch ra những lối mòn xa xưa trên hành trình truy nội, đồng thời không khước từ thếgiới tân kỳ, thế giới hiện thực, phải chăng đó chỉ là sự điên rồ? Có thể như thế Nhưng phép lạ đã bắt đầu hình thành, phép lạ của sự giản dị và tính trung thựclướt thắng mọi trở ngại, dù có người quan tâm hay có người do dự Sản phẩm củaphép lạ đó chứng tỏ cho chúng ta thấy sự hiện hữu của tính cách tương phản tuyệtđối giữa những người bảo thủ nguyên vẹn và những người mới cải đạo; một xứ sở
mà sự tổng quát hóa không muốn biến thành đồng nhất và những căn tính cho dù bị
đe dọa trầm trọng đến đâu vẫn không chấp nhận việc dùng bạo lực như là mộtphương cách để được sinh tồn
Đề tài nầy nhắm trước tiên vào những Kitô hữu và những Phật tử Tinh thầncuộc gặp gỡ ở Assissi kể từ năm 1986 đã đưa ra một mẫu mực và đây là phươngthức áp dụng
Nói rõ ràng hơn: sau hai mươi thế kỷ giao hảo tồi tệ khiến chúng ta nhớ lạinhững điều sai trái và hiểu lầm đối với Phật giáo đã thắng thế từ Rubrouck cho đếnthời gian rất gần đây thôi Người ta sẽ đình chỉ mọi phán đoán tiên thiên, mọi địnhkiến sẵn có để đọc chung một văn bản nòng cốt là “Phúc Âm”
Người ta không để ý mấy đến sử tính của các sứ giả cho bằng hoàn toàn chútâm đến sứ điệp Không phải không lợi ích để truy tầm trong lịch sử những tàn tích và
dư âm mà những ngôn từ của “Như Lai” (Tathagata) đã khơi dậy trên miền đấtPalestine nơi Chúa Giêsu sinh ra sau nầy và nói một cách tổng quát hơn ở vùng Địa-Trung-Hải thuộc Hy-Lạp và La-Mã
Trang 6Những người trẻ tuổi chuyên nghiên cứu lịch sử hay triết học đang bắt tay vàoviệc Đó cũng là một việc làm cấp bách khác Cũng hơi giống dụ ngôn Đức Phật đãdùng, khi đề cập đến một người bị trúng mũi tên ngả lăn ra Chúng ta sẽ truy tầmdanh tánh người xạ thủ? Danh tánh người sản xuất cung tên? Phẩm chất gỗ làmthành mũi tên? Không phải đâu Chúng ta phải tức tốc kiếm tìm môn thuốc chữa trịvết thương người bị trúng tên
Chính đó là điều mà chúng ta có thể nói rằng Kitô hữu và Phật tử gặp gỡ nhau
Ở giữa Đấng Cứu Thế đã đến làm vơi đi gánh nặng của nhân loại bằng cách thathứ mọi tội lỗi của kiếp nhân sinh và Đấng Đại Giác huấn dụ “Tứ Diệu Đế” và “BátChánh Đạo” để giúp thoát khỏi vòng khổ đau, ít nhất người ta đã nhận ra một cộngđồng hảo ý nào đó
Rõ ràng hơn khi Chúa Giêsu – một người có năng lực phi thường – làm cho kẻ
tê liệt chổi dậy hay chữa lành người phong hủi, Ngài chẳng nói với họ “hãy về đi, mọitội lỗi của bạn đã được tha thứ” sao?
Nói cách khác: Nầy đây bạn được tái trang bị thần trí tuyệt đối thuần khiết từkhởi thủy, xác thân bạn làm chứng điều đó Niềm tin ở sự thuần khiết và tự do khởithủy đó của thần trí là nền tảng của mọi thiền quán Phật giáo Nhiều Kitô hữu chia sẻđiều đó
Cha Thomas Merton - một ẩn sĩ - đã quả quyết: “Ở trong nội tâm con ngườichúng ta có một nơi chỉ toàn ánh sáng thuần khiết, một nơi mà tội lỗi hay sự hư ảokhông thể lui tới được.”
Độc giả chắc chắn sẽ nhận thấy một cách khẩn khoản rằng Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
và các người đối thoại đã chú tâm so sánh một lần nữa nhưng không lẫn lộn, “tiasáng thần linh” đó đang ngự trị trong mỗi sinh vật, ít nhất là đối với những ai quảquyết mình là con cái của một Thượng Đế Sáng Tạo; và “tia sáng tỉnh thức” đó – tức“giác tánh” (bodhi) đối với các Phật tử - đều hiện diện nơi mọi sinh vật
Bởi đó, nếu chúng ta phải đồng hành trong việc truy tầm Thần Linh, như chúng
ta đã biết, việc đọc các văn bản cũng như các chú giải không mang lại một giải đáptrọn vẹn
Ấn tín của thần linh ở trong nội tâm thầm kín và sâu thẳm của mỗi cá nhân Chỉ
có thể đạt tới đó bằng “chiêm niệm” mà thôi
Rõ ràng Đức Phật Thích Ca cũng như Chúa Kitô, không ai viết lách gì hết; cácNgài trao lại cho các đệ tử trọng trách truyền đạt cho hậu thế sứ điệp như họ đã nhậnlãnh Do đó đến lượt chúng ta, chúng ta phải truy tầm sứ điệp ở nơi chúng ta: ở bêntrong lẫn bên ngoài văn bản
Giới hạn đối với “Thần Ngôn” (Logos), cho dù có tính cách thần học, mà Kitô hữuchấp nhận sự hiện hữu - bởi vì “Ngôi Lời” đã mặc lấy xác thịt - điều mà người ta gọi
Trang 7là huyền bí, xem ra là một trong những bài học trọng đại của cuộc hội ngộ nầy Khảnăng đánh thức “cái gì đó bên kia ngôn từ” hiển nhiên là một thành phần trong toàn
bộ rạng rỡ linh thiêng mà các minh sư đã đạt thành
Với rất nhiều khiêm tốn, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma quả quyết ngài học hỏi rất ít nênkhông thông hiểu Kitô giáo bao nhiêu, cho dù ngài đã gặp gỡ các Kitô hữu nhiều lầntrong thập niên trở lại đây Tuy nhiên người ta thấy ngài đi thẳng vào luận lý của Phúc
Âm mà không chút ngại ngùng giả tạo, như thể ngài rất thân quen với những lời nóicủa Chúa Giêsu và ngôn ngữ của những dụ ngôn đối với ngài không có gì bí hiểm
cả
Sự dễ dàng đó đánh động thính giả hiện diện một cách mãnh liệt và thật ra đãbáo trước rõ rệt ý hướng chung nhằm thúc đẩy những người muốn thực hành mộtlinh đạo chân chính đích thực Sự tha giác rõ ràng mang lại ở đây điều mà thần ngôngợi lại trên kia đôi khi có thể bị quên lãng trong bóng tối
Đối với tôi là người không tham gia cuộc hội thảo nhưng khi nhớ lại đã trải quanhiều giờ để nghe vị minh sư Tây-Tạng đó thì tài liệu nầy là một sự hứng khởi thíchthú trong sinh hoạt tâm linh Chiêm niệm là hành động và hành động đôi khi chính làchiêm niệm Chưa bao giờ điều đó xem ra minh bạch hơn như ở đây Cũng như xuấtthế đôi khi là con đường nhanh nhất và cần thiết nhất để nhập thế, với đầy đủ ýnghĩa, quân bình và thú vị
Ý kiến đi hành hương chung ở những nơi nổi tiếng, cũng là một ý kiến hoàn toànhứng khởi, chỉ có thể đến từ một người con của xứ du mục là Tây-Tạng mà nhữngngười đi hành hương đôi khi gập trán xuống đất sau mỗi bước đi
Vùng đất của Thần Linh tự do đó ngày nay đã bị héo úa, chiếm đoạt và bị ngộtngạt bởi những “chiến dịch cải tạo” điều khiển bởi những ủy viên Trung Cộng khôngdung tha sự tự do lương tâm cũng như niềm xác tín vào căn tính Tây-Tạng
Nước Tây-Tạng đó với dân cư Tây-Tạng cần sự ủng hộ của chúng ta, Đức Lai-Lạt-Ma đã nhắc nhỡ một cách kín đáo Ngài còn nói thêm, giá trị tinh thần củangài nếu tồn tại qua bao hăm dọa thử thách thì sẽ hữu ích không những cho ngườiTây-Tạng mà thôi “mà còn đóng góp lớn lao cho sự an sinh của dân tộc Trung-Hoanữa” “Hãy yêu kẻ thù anh em, hãy cầu nguyện cho những ai bạc đãi và bắt bớ anhem”, Chúa Kitô đã nói như thế (Mat-Thêu 5, 43-48)
Đạt-Bên kia sự thực tập đượm tính cách ngoạn mục và thời trang mà ngài cống hiến,chính chúng ta phải đóng góp một cách vui say và yêu đời vào việc thực hành trongcuộc sống chúng ta những điều mà tài liệu nầy sẽ cống hiến
Phỏng theo Jean-Paul RIBES
Chủ tịch Ủy-Ban hỗ trợ nhân dân Tây-Tạng tại Pháp
Trang 8CHƯƠNG I:
YÊU THƯƠNG KẺ THÙ (MATTHÊU 5, 38-48)
Phúc Âm Thánh Matthêu (5, 38-48)
“Anh em đã nghe Luật dạy rằng: 'Mắt đền mắt, răng đền răng' Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả
má bên trái ra nữa Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo lót của anh, thì hãy để cho nó lấy
cả áo choàng Nếu có người bắt anh em đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm.
Ai xin, thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi
Anh em đã nghe Luật dạy rằng: 'Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù' Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi anh em Như vậy, anh em mới trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính Vì nếu anh em thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? Vậy anh
em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”
Ý nghĩa đoạn Phúc Âm theo Kitô giáo
“Bài Giảng Trên Núi” được trình bày trong những trang đầu của Phúc Âm ThánhMatthêu là Phúc Âm thứ nhất trong bốn Phúc Âm Cũng như những Phúc Âm khác,Phúc Âm Thánh Matthêu được viết ra và phải được đọc không phải như một bản văntường thuật có tính cách lịch sử mà như chứng nghiệm của sự Phục Sinh đã xảy đếntrong lịch sử Do đó, những Phúc Âm được hiểu qua ánh sáng Phục Sinh Chữ Phúc
Âm theo tiếng Hy-Lạp là “evangelon” có nghĩa là “Tin Mừng”
Tác giả mỗi Phúc Âm - tức Thánh Sử - dự kiến cuộc đời và sự giảng dạy củaChúa Giêsu dưới một góc cạnh đặc thù đối với riêng họ, bởi vì họ nhắm tới một quầnchúng khác nhau Từ đó phát sinh tính cách đa dạng của các Phúc Âm mà trước khiđược ghi lại bằng chữ Hy-Lạp thì trước đó là những lời truyền khẩu bằng tiếngAramean Như vậy, Phúc Âm Thánh Matthêu có thể đã được viết bởi một nhóm Kitôhữu gốc Do-Thái khoảng độ năm chục năm sau khi Chúa Giêsu tử nạn và phục sinh Đoan Phúc Âm nầy trích ra từ Bài Giảng Trên Núi, một bài huấn giáo của ChúaGiêsu được trình bày trong hai Phúc Âm của Thánh Matthêu và Thánh Luca CácPhật tử sẽ nghĩ tới “Bài Thuyết Pháp của Đức Phật ở Vườn Lộc Uyển” Bài Giảng
Trang 9Trên Núi đã được Chúa Giêsu giảng dạy ở giữa trời, trước một đám đông Bài giảngnầy chứa đựng tinh hoa của sự giáo huấn của Ngài có tính cách tôn giáo và đạo đứchọc Chẳng hạn Ngài nhấn mạnh sự quan trọng phải vượt lên trên việc tuân giữ mộtcách máy móc những nghi thức bên ngoài để đạt tới đạo tâm
Trong phần đầu đoạn nầy, Chúa Giêsu đòi hỏi những người theo Ngài đừng tìmcách báo thù những ai làm hại mình Ý tưởng nầy vượt ra ngoài lề luật cũ về sự báothù thịnh hành trong suốt miền Cận Đông Chúa Giêsu còn đi đến chỗ tuyên bố rằngchúng ta không nên chống lại những ai làm hại chúng ta Theo cung cách tiêu biểucủa người Do-Thái, một cách hơi quá đáng, Ngài đã nhấn mạnh đến giáo huấn củamình bằng cách tuyên bố là chúng ta nên đưa má kia và luôn luôn cho điều mà người
ta đòi hỏi Đồ đệ của Ngài được khuyến khích không những phải nhượng bộ mà phảicho nhiều hơn điều người ta yêu cầu
Sự ám chỉ áo lót và áo choàng sẽ được lĩnh hội rõ ràng hơn khi người ta biếtrằng người nông dân vùng Palestine thời bấy giờ chỉ mặc một chiếc áo mà thôi Nguyên tắc bất đối kháng và phó thác không thể được quả quyết một cách minhbạch hơn nữa Tuy nhiên, những giáo huấn đó về sau đã được hợp lý hóa rất nhiều Phần thứ hai của đoạn Phúc Âm nầy đề cập tới tình thương yêu đối với kẻ thù
“Người lân cận” chỉ hết mọi người trong làng hay thuộc một nhóm “Kẻ thù” ám chỉmột người làm hại mình hay chỉ một kẻ xa lạ Như vậy, thương yêu người lân cậnthân thiết với mình thì không đủ Làm như thế người ta không thể thực hiện một cáchtrọn vẹn ơn gọi làm người hầu được trở nên “giống như Thiên Chúa”
Những tư tưởng gia Kitô giáo đầu tiên đã quả quyết là Thiên Chúa nhập thể làmngười để con người có thể trở nên giống Thiên Chúa Điều giáo huấn của ChúaGiêsu ở đây chứng tỏ chúng ta trở nên “con Thiên Chúa” bằng cách thương yêu mọingười một cách vô vị lợi cũng như Thiên Chúa thương yêu họ Sự hoàn thiện củaThiên Chúa thì không biên giới và sự hoàn thiện của con người cũng phải trở nênnhư vậy Tiếng Do-Thái tương đương với “hoàn thiện” là “toàn bộ” hay “nguyên vẹn”.Chính sự yêu thương kẻ thù đảm bảo cho sự nguyên vẹn của cuộc sống nhân sinh Những “người thu thuế”, cộng tác viên với những lực lượng La-Mã đã chiếmđóng Palestine, cũng hoàn toàn giống như Tây-Tạng bị chiếm đóng ngày nay vậy Trời bắt đầu sáng, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã đến không chậm trễ Trước khi dẫngiải đoạn Phúc Âm Thánh Matthêu, ngài đưa ra vài nhận xét sơ đẳng về kỹ thuậthành thiền Suốt những ngày hội thảo, nhiều lần ngài đã nhấn mạnh đến mục tiêucủa ngài không nhằm cải giáo những Kitô hữu trong hội trường thành những Phật tử
mà là để trình bày cái nhìn của một tu sĩ Phật giáo đối với những đoạn Thánh Kinhchọn lọc
Trang 10Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(giải thích về thiền quán và thiền định)
“Vì buổi hội thảo nầy được tổ chức bởi Cộng Đồng Chiêm Niệm Kitô Giáo ThếGiới và vì phần đông những tham dự viên gồm những Kitô hữu sống đạo thực sự,dấn thân một cách nghiêm túc trên tiến trình đức tin, nên sự trình bày của tôi đặc biệthướng về họ Tôi cố gắng giải thích những kỹ thuật hay những phương pháp Phậthọc mà một Kitô hữu sống đạo có thể sử dụng, nhưng không vì thế mà phải gắn bóvới một nền triết học sâu sắc về Phật giáo Những điều khác biệt sâu xa có tính cáchsiêu hình ở giữa hai truyền thống đạo giáo đó chắc chắn sẽ xuất hiện trong nhữngbuổi hội thảo nhóm
Điều ưu tư chính yếu của tôi là làm thế nào để có thể giúp đỡ hay phục vụ Kitôhữu sống đạo được? Điều mà tôi không chút mong muốn là gieo rắc sự ngờ vựctrong tâm thức họ Như tôi đã nói trước đây, tôi tuyệt đối tin tưởng sự đa dạng củacác tôn giáo hiện nay là điều cao quí và thích hợp Theo kinh nghiệm riêng tôi, mọitruyền thống tôn giáo lớn trên thế giới đều nói một thứ tiếng và truyền đạt một sứđiệp chung mà trên đó chúng ta có thể đích thực xây đắp một sự thỏa thuận hỗtương
Một cách đại cương, tôi mong muốn người ta đừng xa rời tôn giáo làm thành nềntảng văn hóa và gia sản của họ Dĩ nhiên, cá nhân hoàn toàn có quyền thay đổi tôngiáo nếu một tôn giáo khác đối với họ xem ra hữu hiệu hơn và thích ứng hơn chonhững nhu cầu tâm linh của chính họ Nhưng, một cách tổng quát, điều tốt hơn hết lànên có chứng nghiệm về giá trị truyền thống tôn giáo của riêng mình
Đây là một thí dụ thuộc loại khó khăn có thể gây ra bởi việc thay đổi tôn giáo:vào thập niên sáu mươi, trong một gia đình Tây Tạng, người cha gia đình qua đời vàngười mẹ đến gặp tôi ít lâu sau đó Bà tỏ bày với tôi rằng trong kiếp nầy bà là Kitôhữu, nhưng trong kiếp sau không có cách nào khác hơn đối với bà là trở thành Phật
tử Thật là rắc rối! Nếu bạn là Kitô hữu thì tốt hơn hết bạn hãy phát triển tâm linh bạntrong bối cảnh tôn giáo của bạn và trở thành một Kitô hữu lương hảo đích thực Nếubạn là Phật tử, bạn hãy trở nên một Phật tử chân chính Nếu không, điều đó chỉ tạonên sự hỗn độn trong trí óc bạn mà thôi
Trước khi diễn giải văn bản, tôi xin có đôi lời về vấn đề “chiêm niệm” hay “thiềnđịnh” Chữ Tây-Tạng dùng để chỉ “thiền định” là “gom”, gợi lên sự khai triển có tínhcách mật thiết thường xuyên với một cách thực hành hay một đối vật riêng biệt Quátrình “thân quen” là trọng tâm, bởi vì sự tinh luyện hay khai triển trí óc thì tương quanđến sự phát triển có tính cách quen thuộc với đối vật được chọn lựa Do đó, duy chỉviệc áp dụng thường xuyên những kỹ thuật chiêm niệm hay thiền định và một sự tập
Trang 11luyện thường xuyên của trí óc mà người ta có thể dự trù trước sẽ đạt tới một sự biếnđổi nội tâm, điều đó tạo thành kỷ luật cho trí óc
Trong truyền thống Tây-Tạng, đại cương có hai loại thiền định Một loại cần tớimột dung lượng nào đó về phân tích và lý luận; người ta gọi là “thiền quán” hay thiềnphân tích Loại kia có tích cách thu nhập và tập trung hơn; người ta gọi là “thiền chỉ”hay hành động định vị trí óc
Lấy thí dụ quán chiếu về tình yêu và lòng trắc ẩn (bi) trong ngữ cảnh Kitô giáo.Trong việc thiền quán, chúng ta sẽ đi theo những giòng tư tưởng riêng biệt, chẳnghạn: để yêu mến Thiên Chúa một cách đích thực, tôi phải tỏ lộ tình yêu đó bằng hànhđộng yêu mến những người anh em tôi một cách nghiêm túc, tức yêu mến người lâncận của tôi
Người ta cũng có thể suy tư về đời sống và gương mẫu của chính bản thânChúa Giêsu Kitô: Ngài đã sống như thế nào, Ngài đã hoạt động cho lợi ích củanhững con người khả giác như thế nào và những hành động của Ngài đã chiếu tỏamột lối sống được gợi hứng bởi lòng trắc ẩn như thế nào
Loại diễn tiến suy tư đó cho thấy khía cạnh phân tích của loại thiền quán trênlòng trắc ẩn (bi) Người ta cũng có thể quán chiếu một cách tương tự về lòng nhẫnnhục và khoan dung (nhẫn và hòa)
Nhờ những suy tư đó người ta sẽ dần dần nhận chân tầm mức quan trọng và giátrị của lòng trắc ẩn và khoan dung (bi và hòa) Một khi đạt tới một đích điểm nào đó
mà người ta có thể chắc chắn một cách tuyệt đối về giá trị và sự cần thiết cửa lòngtrắc ẩn và khoan dung (bi và hòa), người ta sẽ cảm thấy bị đánh động và được biếnđổi trong nội tâm
Tới giai đoạn đó, phải tập trung trí óc trên niềm tin độc nhất đó, không cần phảitheo đuổi một tiến trình phân tích nào khác nữa Một cách chính xác hơn, trí óc phải
ở trong trạng thái quân bình tuyệt đối, tập trung trên một tiêu điểm - đó là khía cạnhthẩm thấu hay duy trì sự quán chiếu trên lòng trắc ẩn (bi)
Như vậy hai loại “thiền quán” và “thiền chỉ” đều được áp dụng trong chính mộtbuổi “thiền định”
Tại sao chúng ta có thể, bằng cách áp dụng những kỹ thuật thiền định như thế,không những để khai triển mà còn để làm cho lòng trắc ẩn (bi) được tinh luyện hơn.Bởi vì lòng trắc ẩn (bi) là một loại cảm xúc có năng lực khai triển
Đại cương có hai loại cảm xúc Một loại thuộc bản năng hơn và không có nềntảng trên lý trí Loại khác, như lòng trắc ẩn và khoan dung (bi và hòa), ít có tính cáchbản năng hơn và căn cứ vững chắc trên lý trí và kinh nghiệm
Khi người ta thấy một cách rõ ràng những lý do hợp lý khác nhau để khai triểnchúng và khi người ta xác tín một cách chắc chắn những lợi ích mà chúng mang lại,
Trang 12lúc bấy giờ những cảm xúc đó được tinh luyện Điều xảy ra lúc đó là sự “giao thoagiữa khối óc và con tim” Lòng trắc ẩn (bi) tượng trưng cho cảm xúc, hay con tim; và
sự ứng dụng việc “thiền quán” thuộc về trí óc Khi người ta đạt tới giai đoạn thuộctrạng thái “thiền chỉ” mà lòng trắc ẩn được tinh luyện, người ta tham dự vào sự hòahợp đặc biệt của trí óc và con tim
Nếu giờ đây người ta xem xét bản chất những trạng thái thiền định đó, người tanhận thấy chúng được làm thành bởi những thành phần khác nhau
Chẳng hạn, lấy thí dụ tiến trình lý giải bao gồm việc suy tư chúng ta đều lànhững con người, những tạo vật của một Đấng Tạo Hóa và do đó thật là những anh
em chị em với nhau Trong trường hợp đó, quí bạn tụ tiêu trí óc vào một đối vật riêngbiệt Nói cách khác, tính chủ quan lý giải của bạn tập trung vào ý tưởng hay kháiniệm mà quí bạn phân tích
Tuy nhiên, một khi đạt tới một trạng thái tập trung trên một điểm duy nhất - khibạn cảm thấy sự biến đổi nội tâm đó, lòng trắc ẩn (bi) ở trong nội tâm của bạn đó - thìkhông còn một trí óc chiêm niệm và đối vật được chiêm niệm Thay vào đó, trí ócchiêm niệm hay thiền định của bạn mở rộng ra dưới hình thức lòng trắc ẩn (bi) Tôi chấm dứt những nhận xét sơ đẳng về vấn đề chiêm niệm hay hành thiền.Giờ đây tôi sẽ đọc đoạn Phúc Âm:
“Các ngươi đã nghe bảo rằng: 'Mắt thế mắt, răng đền răng' Còn Thầy, Thầy bảocác ngươi: đừng cự lại người ác Nếu ai vả má phải ngươi thì hãy giơ má kia nữa.Nếu ai muốn kiện ngươi để đoạt áo lót, thì hãy bỏ cả áo choàng cho nó Nếu ai bắtngươi đi một dặm thì hãy đi với nó hai dặm Ai xin, ngươi hãy cho, và người muốnvay mượn, ngươi chớ khước từ.”
“Bồ-Tát hạnh” (bodhisattva) thường khuyến khích, khi người ta làm điều ác cho mình,thì đáp trả lại bằng bất bạo động và từ bi Trong một giới hạn nào đó, nếu đặt đoạnPhúc Âm nầy vào một chuyên luận Phật giáo, người ta có thể không nhận ra nguồngốc Kitô giáo.”
“Các ngươi đã nghe nói: 'Hãy yêu mến thân nhân và hãy ghét kẻ địch thù' CònThầy, Thầy bảo các ngươi: Hãy yêu mến kẻ thù địch và khẩn cầu cho kẻ bắt bớ cácngươi Như vậy các ngươi trở nên con cái của Cha các ngươi ở trên trời vì Người
Trang 13cho mặt trời mọc trên kẻ dữ cũng như người lành và làm mưa xuống trên người côngchính cũng như bất công Vì nếu các ngươi mến yêu những kẻ yêu mến các ngươithì các ngươi có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thếsao? Nếu các ngươi chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì các ngươi có làm gì lạthường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? Vậy các ngươi hãynên hoàn thiện như Cha các ngươi ở trên trời là Đấng hoàn thiện.”
(Matthêu 5, 43-48)
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về từ bi với kẻ thù - sự sáng tạo - ba loại hy xả và nhẫn nhục)
“Đoạn nầy làm tôi nhớ lại một đoạn trong sách Phật giáo Đại Thừa gọi là “Bảntóm tắt những điều thực hành” trong đó ngài Shantidéva hỏi: “Nếu các ngươi khôngthực hành đức từ bi đối với kẻ địch thù thì các ngươi sẽ thực hành đức từ bi đối vớiai?” Người ta hiểu ngầm rằng cho dẫu súc vật cũng biểu lộ đức ái, đức từ bi và mộttình cảm tha giác đối với những người mà chúng cảm mến Nếu chúng ta tự nhậnmình là những người thực hành một linh đạo, cam kết theo đuổi một con đường tuđức, chúng ta phải tỏ ra mình có thể làm tốt hơn loài súc vật
Đoạn Phúc Âm trích dẫn nầy cũng nhắc nhở tôi những suy tư của một quyểnsách khác thuộc Phật giáo Đại Thừa goi là “Bồ Tát Hạnh” (người Tây phương dịch là
“Tiến Tới Sự Giác Ngộ”) trong đó ngài Shantidéva xác quyết tầm mức quan trọng vềthái độ đứng đắn phải có đối với kẻ thù Nếu quí bạn biết vun trồng một thái độ chânchính, kẻ thù các bạn trở nên những bậc thầy tâm linh tuyệt hảo, bởi vì sự hiện diệncủa họ cho quí bạn cơ hội tấn tới trong sự hỷ xả, nhẫn nhục và cảm thông Khi thâuthập được nhiều hỹ xả và nhẫn nhục, sẽ dễ dàng hơn trong việc phát huy thái độ củaquí bạn đối với lòng từ bi và nhờ đó, lòng vị tha Như vậy, cho dẫu đối với việc thựchành linh đạo riêng của quí bạn, sự hiện diện của một kẻ thù là yếu tố quyết định
Sự loại suy mà Phúc Âm đưa ra với hình ảnh “mặt trời chiếu sáng mà khôngphân biệt” là điều rất quan trọng Đó là một ẩn dụ tuyệt vời về lòng từ bi Điều đó chothấy đức từ bi thì không thiên vị và không loại trừ
Khi đọc những đoạn nầy, tôi thấy Phúc Âm nhấn mạnh đến việc thực thi tâm hỷ
xả và làm tăng giá trị những tình cảm không thiên vị đối với mọi tạo vật Theo tôi, đểtriển khai năng khiếu mỗi cá nhân về tâm hỷ xả đối với mọi sinh vật và nhất là đối với
kẻ thù, có một điều kiện tiên quyết quan trọng là chấp nhận mọi sinh vật một cáchbình đẳng
Nếu người ta nói với quí bạn là không được thù nghịch đối với kẻ thù của mình,phải thương yêu kẻ thù của mình; chỉ quyết đoán như vậy mà thôi thì sẽ không thúcđẩy quí bạn thay đổi được Theo bản tính tự nhiên, ai trong chúng ta cũng cảm thấy
Trang 14thù nghịch đối với những ai làm hại mình và thương mến đối với những ai thươngyêu mình Đó là một tình cảm tự nhiên của con người Vì vậy chúng ta phải có những
kỹ thuật hữu hiệu để giúp đỡ chúng ta đi từ giai đoạn thiên vị gắn liền với bản tínhchúng ta để sang một tình trạng hoàn toàn bình đẳng hơn
Nhiều kỹ thuật chuyên biệt cho phép khai triễn sự bình đẳng đối với mọi sinh vật.Trong ngữ cảnh Phật giáo, người ta có thể nhắc tới ý niệm “tái sinh” để giúp chúng tathực hành sự bình đẳng Tuy nhiên, vì chúng ta thảo luận trong bối cảnh Kitô giáo,chắc chắn có thể gợi lên ý niệm “Sự Sáng Tạo” theo đó mọi tạo vật đều bình đẳng vềphương diện hết thảy chúng sinh đều là tạo vật của một Thượng Đế Từ niềm tin đó,người ta có thể tiến tới trong việc bình đẳng
Ngay trước cuộc hội thảo nầy, tôi đã có dịp trao đổi vắn tắt với cha Laurence vàngài đã cắt nghĩa cho tôi là, trong nền thần học Kitô giáo, người ta cho rằng mọingười đều được tạo dựng theo “hình ảnh Thiên Chúa” - tất cả chúng ta đều chia sẻcũng chính một bản tính thần linh Điều nầy đối với tôi xem ra tương tự với ý niệm về
“phật tính” trong Phật giáo Niềm tin nầy cho rằng mọi người tham gia vào cũng chínhmột bản tính thần linh đã cung ứng cho chúng ta một nền tảng chắc chắn, một lý dorất vững mạnh để tin tưởng rằng mỗi người trong chúng ta có thể có được một tinhthần bình đẳng chân chính đối với mọi sinh vật
Tuy nhiên, chúng ta không nên xem sự bình đẳng về linh hồn đó như là một cứucánh nội tại Chúng ta cũng không nên có cảm tưởng theo đuổi một trạng thái vô cảmtính hoàn toàn theo đó chúng ta không có một chút tình cảm nào cũng như không cómột chút xúc động nào đối với bạn hay thù Đó không phải là mục tiêu mà chúng tanhắm tới
Điều mà chúng ta ao ước trước tiên đó là đặt để những nền móng, bố trí một loạiđất trống mà ở đó chúng ta sẽ có thể ươm trồng những tư tưởng khác Bình đẳng làthửa đất đồng đều đó mà chúng ta sửa soạn trước tiên Trên căn bản đó, chúng ta sẽsuy tư những giá trị của nhẫn nhục, nhân ái và từ bi đối với mọi người
Chúng ta cũng phải xét xem những trở ngại và những phủ định tính phát xuất từ
sự thiên vị đối với những người khác Điểm mấu chốt nằm ở cách thức sử dụng sựbình đẳng căn bản đó Quan trọng là tập trung vào những phủ định tính của sân hận
và oán thù đã tạo nên những trở ngại chính cho việc triển nở năng khiếu của chúng
Trang 15Nhờ thử thách và thực tập tâm hỷ xả và nhẫn nhục đối với đồng loại, quí bạn làm trònlời khấn hứa nầy: quí bạn làm hài lòng “Đấng Tạo Hóa” của quí bạn Theo một nghĩanào đó, đây chính là tặng phẩm tốt đẹp nhất mà quí bạn có thể dâng lên Đấng TạoHóa linh thiêng
Trong Phật giáo, người ta tìm thấy ý niệm gọi là “cúng dường bằng cách thựchành” (drupai chopa) theo đó, trong mọi vật cúng dường mà người ta có thể dâng lêncho Đấng mà chúng ta tôn kính - cúng dường vật chất, những bài hát ca tụng vànhững tặng vật khác - vật cúng dường tốt đẹp nhất là việc sống một cuộc đời thíchứng với những phương châm do Đấng đó đề ra
Trong ngữ cảnh Kitô giáo, sống một cuộc đời có kỷ luật đạo đức, căn cứ trên tâm
hỷ xả và nhẫn nhục, theo một nghĩa nào đó, quí bạn đã dâng hiến một tặng phẩmtuyệt vời lên Đấng Tạo Hóa của quí bạn Theo một cách nào đó, điều nầy hữu íchnhiều hơn là giới hạn vào việc thực hành bằng lời cầu nguyện Nếu quí bạn cầunguyện mà không sống thích hợp với lời cầu nguyện ấy, điều đó chả có ích lợi lớnđâu
Một trong những thiền sư nổi tiếng của Phật giáo Tây Tạng là ngài Milarepa, quảquyết trong một bài kệ về chứng nghiệm tâm linh như sau: “Đối với những vật cúngdường vật chất thì tôi không có; tôi không có gì để dâng cúng Điều mà tôi có thểdâng cúng không hết, đó là tặng vật của sự đạt ngộ tâm linh của tôi.”
Chúng ta thấy rõ, một cách đại cương, một người tràn đầy tâm từ bi nhẫn nhục
sẽ hưởng thụ sự an lạc Một người như thế chẳng những hạnh phúc và không bị xúcđộng dễ dàng, mà còn được khỏe mạnh về thể xác và ít bị đau yếu Người đó có một
ý chí mạnh, ăn ngon và ngủ ngon Đó là những lợi ích của tâm hỷ xả nhẫn nhục màchúng ta có thể nhận thấy trong cuộc sống hằng ngày
Một trong những điều xác tín nền tảng của tôi là bản tính con người theo bảnchất thì có xu hướng về từ bi và nhân ái hơn Bản tính con người theo bản chất thìhiền từ và không hung hãn bạo động Điều nầy hoàn toàn phù hợp với điều mà chaLaurence đã nói về sự kiện mọi người chia sẻ cùng một bản tính thần linh
Tôi muốn nói thêm là khi xem xét sự tương quan giữa tâm thần hay lương tâm
và thể xác, người ta nhận thấy rằng những cử chỉ, xúc động và những trạng thái tâmthần lành mạnh như tâm từ bi hỷ xả thì liên hệ một cách chặt chẽ với sức khỏe thểxác và sự an sinh Chúng làm tăng sự “an sinh thể lý”, trong khi những cử chỉ vànhững xúc động tiêu cực hay không lành mạnh như giận hờn, ghen ghét, nhữngtrạng thái tâm linh bị xáo trộn…làm hao mòn sức khỏe thể xác Sự liên hệ đó chứng
tỏ rằng bản chất con người vốn gần gũi hơn với những cử chỉ và những xúc độnglành mạnh
Trang 16Sau khi đã suy tư về những đức tính của tâm hỷ xả nhẫn nhục và xác tín sự cầnthiết phải phát huy nơi chính mình, kế đó phải xét xem những loại và những trình độkhác nhau về tâm hỷ xả nhẫn nhục Về điểm nầy, kinh sách Phật giáo trình bày “baloại hỷ xả nhẫn nhục”
Loại thứ nhất là trạng thái dửng dưng không lay chuyển - người ta có thể chịuđựng đau đớn hay đau khổ mà không để chúng nhận chìm Trong trạng thái thứ hai,hành giả không những có thể chịu đựng những đau khổ như thế, nhưng nếu cần, cònsẵn sàng và mong muốn chấp nhận vào mình những thử thách, những cực nhọc vàđau khổ trên con đường tu đức Điều nầy bao hàm việc tự ý chấp nhận những thửthách để đạt tới một mục tiêu cao hơn Loại thứ ba là tâm hỷ xả nhẫn nhục nảy sinh
do niềm xác tín chắc chắn đối với bản chất thực tế
Trong việc thực hành của Kitô hữu, loại nhẫn nhục đó đặt căn bản trên nhữnghuyền nhiệm của việc Sáng Tạo Cho dù sự phân biệt về ba trình độ hỷ xả đó là côngviệc của các tác giả Phật giáo, cũng có thể đưa vào trong ngữ cảnh Kitô giáo được.Điều đó đặc biệt chính xác đối với loại thứ hai về tâm hỷ xả nhẫn nhục - nghĩa làcương quyết chấp nhận những thử thách trên hành trình tâm linh - xem ra đó là vấn
đề được đề cập đến trong đoạn sau: “Những Mối Phúc Thật” trong Phúc Âm ThánhMatthêu.”
Trang 17Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó: Nước Trời là của họ!
Phúc thay ai hiền lành: họ sẽ được đất!
Phúc thay ai than khóc: họ sẽ được an ủi!
Phúc thay ai đói khát sự công chính: họ sẽ được no đủ!
Phúc thay ai xót thương: họ sẽ được thương xót!
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch: họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa!
Phúc thay ai xây dựng hòa bình: họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa!
Phúc thay ai bị bách hại vì sự công chính: Nước Trời là của họ!”
Ý nghĩa đoạn Phúc Âm theo Kitô giáo
Đoạn Phúc Âm nầy ở đầu “Bài Giảng Trên Núi” “Tám Mối Phúc Thật” thường được gọi là “Hiến Chương Nước Trời.” Trong những điều Phước Hạnh,
Chúa Giêsu cho thấy bản chất sự hạnh phúc đích thực cũng như sự chúc phúc củaThiên Chúa như thế nào Giáo huấn của Ngài được khắc ghi trong truyền thống
Thánh Kinh theo đó sự khôn ngoan và hạnh phúc đi đôi với nhau Tiếng Hy-Lạp
“makarios” có ý nghĩa “vừa được chúc phúc vừa phước hạnh” nữa
Trong tám mối Phước Hạnh đó, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy bản chất đíchthực của sự an sinh con người Những điều Phước Hạnh có tính cách nghịch lý đódiễn tả một sự cách mạng luân lý trong bản chất con người chưa được hoàn thành
Vì vậy Nước Trời vừa “ở đây” vừa “sẽ tới”
1.- “Tâm hồn nghèo khó” ám chỉ những người nghèo nàn về của cải vật chất mà
Chúa Giêsu đặc biệt quan tâm, đồng thời cũng đề cập tới sự nghèo nàn tâm linh, tứcthân phận làm người phải tùy thuộc vào Thiên Chúa Khi chúng ta biết rằng chúng takhông thể tự thỏa mãn được mà phải liên thuộc và trách nhiệm lẫn nhau, lúc đóchúng ta có “tâm hồn nghèo khó” Trong ý nghĩa đó, từ ngữ nầy cũng biểu thị nhữngthái độ không sở hữu của cải vật chất và không dính bén vào bất cứ sự vật nào
2.- “Ai than khóc” được chúc phúc bởi vì họ phải đương đầu với tình trạng ly
cách chủ yếu khỏi Thiên Chúa trong thế giới hiện thực Ở đây sự đớn đau không
Trang 18thuần túy ám chỉ sự đau khổ ngoại tại mà còn chính bản chất của thân phận conngười khổ đau trên hành trình hoàn thiện Sự an ủi là trạng thái cứu rỗi hay giảithoát
3.- “Những người hiền lành” sẽ thừa kế gia nghiệp đất đai Sự bất bạo động là một phương cách tuyệt hảo để chiến thắng sự dữ “Đất đai” không nhất thiết ám chỉ
cuộc sống hiện tại ở đời nầy Sự dữ luôn luôn tự hủy hoại Điều thất bại của sự dữ hệtại ở chính sự hữu hạn của nó Sự hiền lành dịu dàng vượt thắng vì mang tính chất
vô hạn
4.- “Yêu mến điều công chính” đem lại hạnh phúc Sự công chính mang ý nghĩa
kết hợp ý muốn con người với ý muốn Thiên Chúa Sự công chính không thể tách lìavới lòng mẫn cảm thi thố trong cuộc sống
5.- Những người mà chúng ta thực lòng “xót thương” đến lượt họ sẽ trở thành
những kẻ thương xót người khác Hai kiệt tác về lòng thương xót được đề cập tới
trong Phúc Âm bao gồm việc bố thí cho người nghèo và tha thứ cho kẻ thù địch 6.- Những người có “tâm hồn trong sạch” sẽ thấy Thiên Chúa Sự trong trắng
của tâm hồn bao gồm ở chỗ nhìn xem thực tại như đang xảy ra, không chút bi méo
mó hay biến dạng bởi lòng vị kỷ Điều nầy khác với đức khiết tịnh phát xuất từ lờikhấn của tu sĩ và cũng khác với sự “trong sạch luân lý” theo ý nghĩa thông thường
7.- “Những người xây dựng hòa bình” là con cái Thiên Chúa Sự hòa giải những
kẻ địch thủ là một công trình của Kitô hữu thường được Phúc Âm khuyến khích.Những tác nhân kiến tạo hòa bình đó đã thông phần với bản tính Thiên Chúa nhưThánh Phê-rô đã nói trong một Thánh Thư của ngài, bởi vì bản tính của Thiên Chúa
là mang lại hòa bình và hợp nhất ở nơi nào mà sự bất hòa và chia rẽ thống trị Trong câu kế tiếp, tín đồ được đảm bảo là “sự đau khổ mà họ chấp nhận vì Chúa
Giêsu” sẽ được phần thưởng lớn lao Ở đây Chúa Giêsu ngỏ lời với các môn đệ Sự
đau khổ của cá nhân Kitô hữu được hội nhập với Ngài một cách riêng tư Những Kitôhữu đầu tiên cũng là một cộng đoàn bé nhỏ bị bách hại
Sau cùng, Chúa Giêsu mạc khải cho các môn đệ tầm vóc quan trọng của họ
trong trần thế - đó là trở nên “muối” trong cuộc sống hiện thực và “ánh sáng” của
chân lý Sứ vụ của họ phải được người đời nghe và thấy qua những công việc phátxuất từ con tim nhân hậu
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về đau khổ - nhân quả - Thiên Chúa)
“Đọc những dòng Phúc Thật nầy, điều trước tiên xảy đến trong đầu óc tôi nhưsau: đoạn nầy ám chỉ một việc đơn giản là những ai muốn cam kết dấn thân trên một
Trang 19hành trình tu đức và chấp nhận những “thử thách cùng khổ đau” mà hành trình đó
mang lại thì sẽ lãnh nhận phần thưởng do sự cam kết dấn thân của họ
Về những văn bản chỉ dạy đức khoan dung (nhẫn hòa) đòi buộc ở quí bạn sựcương quyết chấp nhận những thử thách và đau khổ, điều đó sẽ trở nên sai lầm khiquyết đoán rằng chịu khổ đau là điều tuyệt hảo, tất cả chúng ta phải nên tìm kiếm.Tuyệt nhiên tôi không tán thành một quan điểm như vậy Theo tôi tưởng, mục đích
đời sống chúng ta là tìm kiếm hạnh phúc, tìm kiếm sự thỏa thích và viên mãn Tuy nhiên, vì những thử thách và đau khổ là một thành phần trong đời sống con người,
đương nhiên chúng ta phải tiếp cận chúng một cách thực tế hơn ngõ hầu có thể rúttỉa một vài lợi ích
Khi xem xét bản chất “đau khổ”, chúng ta nhận thấy có loại đau khổ người ta có thể tìm ra giải pháp để nhờ đó vượt thắng được Nhưng cũng có loại đau khổ không
thể tránh né và lướt thắng, vì đó là những sự kiện tự nhiên trong cuộc sống hằng
ngày Trong trường hợp đó, thật quan trọng để triển khai một trạng thái tinh thần chophép tiếp cận sự khổ đau một cách thực tế hơn Khi hành sử như thế, có lẽ quí bạn
sẽ đạt tới sự chấp nhận những khó khăn đó bao lâu chúng xuất đầu lộ diện Thái độ
đó sẽ che chở quí bạn, không nhất thiết khỏi thực tế của sự khổ đau về mặt thể lýnhưng khỏi gánh nặng tâm lý phụ thuộc và sẽ trở nên vô ích khi chống trả lại
Một trong những cách thức hữu hiệu nhất để đối phó với khổ đau được trình bày
trong “Bồ-Tát Hạnh” là nếu một khó khăn mà có phương cách thoát ly thì không nên
bận tâm vô ích Nếu ngược lại, không có phương cách thoát ly thì việc bận tâm chảích lợi gì!
Những dòng chữ Phúc Thật nầy đối với tôi hình như cũng đề cập đến “nguyên lý
nhân quả” Nếu từ chuyên môn Phạn ngữ “karma” (nghiệp) không thấy xuất hiện
trong ngữ cảnh Thánh Kinh thì nguyên lý đại cương về nhân quả, ngấm ngầm tronghọc thuyết “karma” (nghiệp) đối với tôi xem ra được nhắc nhở ở đây Những câuPhúc Thật trên đây muốn ám chỉ rằng nếu người ta hành động thế nào người ta sẽgặt lấy hậu quả thế đó và nếu người ta không hành động thế đó, người ta sẽ khôngnhận lãnh hậu quả thế kia Rõ ràng nguyên lý nhân quả được hàm chứa trong huấn
dụ nầy
Mặc dù những truyền thống tâm linh lớn trên thế giới không đề cập tới vấn đềnhân quả dưới góc độ những chu kỳ luân hồi tái sinh nhiều kiếp, tuy nhiên xem ra có
một sứ điệp cốt lõi dựa trên “nguyên lý nhân quả”, chung cho mọi truyền thống đó.
Nghĩa là, nếu bạn làm điều lành, bạn sẽ được những kết quả mong muốn và nếu bạnlàm điều dữ, bạn sẽ hứng chịu những kết quả ngoài ý muốn Sứ điệp đạo đức cănbản đó xem ra gắn liền với mọi truyền thống tâm linh lớn trên thế giới
Trang 20Một điểm phụ thuộc ở đây cũng rất thích thú cần được ghi nhận đó là sự tương
đồng nổi bật về “cách hành văn giữa các văn bản Kitô giáo và Phật giáo” Để bắt đầu
những Mối Phúc Thật, Phúc Âm ghi rằng khi thấy đám đông, Chúa Giêsu lên núi,ngồi xuống, v.v…Người ta cũng gặp những đoạn mở đầu tương tự trong nhiều
“sutras” (Kinh Phật) Các Kinh Phật thường kể lại vào một thời nào đó, Đức Phậtthăm viếng một nơi nào đó, ngài đã được một số đông đệ tử vây quanh, ngài đã ngồixuống và bắt đầu giảng dạy Do đó có một sự tương đồng thích thú trong cách hànhvăn trình bày những đoạn tương tự
Một khái niệm khó khăn đã trở thành vấn đề ở đây - nhất là đối với Phật tử - đó
là khái niệm một đấng thần linh - THIÊN CHÚA Dĩ nhiên, có thể khi đề cập như thế,
người ta cho rằng đó là một điều không thể diễn tả được, ở bên kia ngôn từ và khái
niệm Nhưng phải công nhận rằng trên bình diện lý thuyết, những ý niệm về “Thượng
Đế và Sáng Tạo” là một quan điểm bất đồng giữa Phật tử và Kitô hữu Tuy nhiên, tôi
tin rằng những lý lẽ và những suy tư đưa tới một niềm tin như thế thì chung cho cảPhật tử và Kitô hữu
Nếu người ta xem xét bản chất mọi hiện tượng tự nhiên, lương tri nói với chúng
ta rằng mọi biến cố đều có một “nguyên nhân” Phải có những nguyên nhân và những điều kiện nào đó (tức “nhân và duyên”) mới phát sinh một biến cố Điều đó
chẳng những đúng với đời sống cá nhân chúng ta mà cũng đúng với toàn thể vũ trụbên ngoài Theo một nghĩa chung chung, cho rằng một sự việc không có nguyênnhân - dù ở trong vũ trụ hay đời sống cá nhân chúng ta - là điều không thể chấp nhậnđược
Do đó vấn đề được đặt ra như sau: trong trường hợp đó, nếu đời sống chúng taphải có một nguyên nhân - nếu ngay cả vũ trụ bên ngoài cũng phải có một nguyên
nhân - thì nguyên nhân đó từ đâu tới? Và kết quả là nguyên nhân đó chính nó cũng
phải có một nguyên nhân khác, và cứ như thế chúng ta “lùi lại vô cùng tận”
Để vượt lên trên sự khó khăn về một sự lùi lại vô cùng tận như thế, thật hữu ích
nên đưa ra định đề về một khởi điểm - một “Đấng Tạo Hóa” - và chấp nhận một số chân lý về bản chất của Đấng Tạo Hóa: Ngài độc lập, tự sinh ra, hoàn toàn phép tắc
và không đòi buộc một nguyên nhân nào khác Chấp nhận một khởi điểm như vậy
giúp giải quyết vấn đề lùi lại vô cùng tận
Nếu người ta đưa ra định đề về một Đấng Tạo Hóa như thế và nếu người ta xemxét lịch trình tiến hóa từ Big-Bang và toàn bộ bí mật vũ trụ, người ta đương nhiên
phải công nhận “Đấng Tạo Hóa có toàn quyền tuyệt đối”
Ngoài ra, nếu người ta xem xét bản chất vũ trụ, người ta nhận thấy vũ trụ không
vận hành một cách hoàn toàn hỗn độn và ngẫu nhiên Xem ra có một trật tự chặt chẽ, một nguyên tắc nhân quả hoạt động Như thế người ta cũng phải chấp nhận “Đấng
Trang 21Tạo Hóa toàn tri”, như thể mọi tiến trình đã được kế hoạch hóa hết Nhìn dưới góc
cạnh nầy, mọi tạo vật theo một cách nào đó đều là những biểu tượng của thần lựclinh thiêng kia
Và đứng trên quan điểm đó, lại một lần nữa, người ta có thể nói Đấng Tạo Hóa
là cùng đích và tạo vật là tương đối, vô thường Trong ý nghĩa đó, người ta có thể nói
“Đấng Tạo Hóa là chân lý tuyệt đối và cùng đích” Nhưng tôi không biết các thần học
gia Kitô giáo nghĩ như thế nào về điều đó!
Riêng cá nhân tôi, khi xem xét ý niệm về Tạo Hóa và niềm tin ở một Đấng TạoHóa, tôi tự nhủ kết quả chính của niềm tin đó là bơm vào một động lực, một tình cảmkhẩn trương trong việc cam kết hành giả trở nên một con người lương hảo, một conngười có kỷ cương về mặt đạo đức Khi bạn được trang bị một quan niệm và mộtniềm tin như thế, điều đó cũng mang lại một đích điểm cho cuộc sống bạn Điều đó
thật rất hữu ích để phát triển những “nguyên tắc luân lý”
Đó, tôi hiểu thần học Kitô giáo như thế đó!”
Trang 22PHẦN THẢO LUẬN (I)
Cha Laurence
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tôi xin chân thành cám ơn ngài về điều huấn dụ của ngài sáng nay Tôi nói nhưthế nhân danh tôi nhưng cũng nhân danh mọi người hiện diện nơi đây vì tôi cảm thấythật xúc động, với tư cách Kitô hữu, khi nghe ngài đọc những lời lẽ của Chúa Giêsuvới một sự trong sáng và một sự lãnh hội ý nghĩa một cách thâm sâu như thế
Và giờ đây là lúc có cuộc hội thảo nhóm lần đầu tiên, tôi xin phép giớí thiệu vớingài hai nhân vật sẽ đặt câu hỏi là ông Robert Kiely và bà Isabelle Glover Ông
Robert Kiely thuộc dòng ba Biển Đức của cộng đồng tu trì chúng tôi và là giáo sư văn
chương thuộc đại học Harvard và bà Isabelle Glover cũng thuộc dòng ba Biển Đức
của cộng đồng tu trì chúng tôi và là giáo sư Phạn ngữ
Mục đích cuộc hội thảo nầy là để cho phép chúng tôi được lắng nghe một cách
chăm chỉ hơn “Lời” đã đánh động chúng tôi sáng nay Điều đó không nhằm tìm kiếm
những khác biệt nhưng chỉ để suy tư, trong một tinh thần càng cởi mở và độ lượng,vừa dựa trên những điểm tương đồng và dị biệt lý thú có thể có ở giữa hai tôn giáochúng ta
Tôi xin mời ông Bob Kiely bắt đầu bằng đôi lời mở đầu rồi sau đó chúng ta đi vàophần thảo luận.”
Ông Robert Kiely
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tôi xin phép được thêm đôi lời vào những câu cám ơn của cha Laurence Đượcbiết cuộc đời ngài, lịch sử dân tộc ngài như thế nào, tôi xúc động đặc biệt khi nghe
ngài đọc những Mối Phúc Thật và nhất là những câu sau đây: “Phúc thay ai than
khóc: họ sẽ được an ủi!” và “Phúc thay ai bị bách hại vì sự công chính: Nước Trời là của họ!”
Theo niềm tin Kitô giáo, nếu Thánh kinh được đọc bởi một người có đức từ tâm
sẽ trở nên sức sống cho mọi người Đối với tôi, cũng như đối với nhiều người ở đây,tôi thiết tưởng những lời mà ngài đã đọc cũng có hiệu quả như vậy
Một trong những câu hỏi mà tôi muốn đề cập với ngài có liên quan đến ý niệm
thuộc Do Thái giáo và Kitô giáo về “Đấng Tuyệt Đối đi vào trong lịch sử, trong thời
gian”
Trang 23Trong những đoạn sách mà ngài đã đọc và trong mọi giáo huấn của Chúa Giêsunói chung, Kitô hữu đã đặt để chúng vào trong một bối cảnh bao gồm ít nhất ba tiếntrình lịch sử
Tiến trình thứ nhất là “lịch sử đời sống Chúa Giêsu” Không một Kitô hữu nào khi
nhận lãnh giáo huấn của Chúa Giêsu mà không nhớ lại Ngài đã sinh ra nghèo hèn,Ngài là một người Do-Thái sống trong một nước bị chiếm đóng, đời công khai củaNgài tức giai đoạn Ngài dạy dỗ dân chúng, thì rất ngắn ngủi, Ngài đã bị bắt, bị đóngđinh như một tên tội phạm về công pháp và Ngài đã phục sinh
Trong tiến trình thứ hai, chúng tôi “không thể tách rời Phúc Âm ra khỏi lịch sử
dân tộc Do-Thái” vì lịch sử đó là một thành phần của Thánh Kinh Đó là một lịch sử
được đánh dấu bởi đời sống nô lệ ở Ai-Cập, được giải phóng dưới sự dẫn dắt củaMai-Sen là người đã ban bố Luật Pháp mà chính ông đã nhận lãnh từ Thiên Chúa và
đã chấm dứt bằng cuộc tản mát trên khắp địa cầu
Tiến trình lịch sử thứ ba luôn luôn là “lịch sử đời sống chúng ta”
Như vậy, những lời nói của Chúa Giêsu mà chúng ta suy niệm những ngày nầy
đây đã đến với chúng ta qua những câu chuyện được diễn biến trong lịch sử - lịch sử
cá nhân, lịch sử quốc gia và lịch sử thần học - trong cuộc sống của chính Chúa
Giêsu
Tôi xin phép được hỏi những suy tư nào đã gợi lại nơi ngài - một vị cao tăng
Phật giáo - khía cạnh “thời gian tính đó ở nơi Kitô giáo” và nếu có thể được xin ngài cho thấy sự “liên hệ gần gũi với Phật giáo”.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(đề cập đến đời sống Đức Phật và Chúa Giêsu)
“So sánh giữa hai truyền thống tâm linh kỳ cựu như Phật giáo và Kitô giáo chothấy một sự tương đồng nổi bật giữa đời sống các vị giáo chủ sáng lập: đó là ĐứcGiêsu Kitô trong Kitô giáo và Đức Phật Thích-Ca trong Phật giáo Tôi nhận ra một
điểm chung rất quan trọng: chính “đời sống các vị giáo chủ sáng lập” đã thể hiện điều
cốt yếu ẩn tàng trong những giáo huấn các Ngài
Như thế, trong đời sống Đức Phật, “Tứ Diệu Đế” biểu thị điều cốt yếu của giáo huấn Ngài: Diệu Đế về đau khổ (Khổ Đế), Diệu Đế về nguồn gốc sự đau khổ (Tập
Đế), Diệu Đế về sự diệt khổ (Diệt Đế) và Diệu Đế về cách hành đạo đưa đến diệt khổ
(Đạo Đế) Tứ Diệu Đế đã mặc nhiên thể hiện trong đời sống của vị giáo chủ sáng lập,
tức chính Đức Phật Thích-Ca
Tôi thiết tưởng đối với Đức Kitô cũng vậy Khi quan sát đời sống Chúa Giêsu,người ta nhận thấy đời sống đó đã biểu trưng tất cả mọi việc hành đạo và những giáohuấn căn bản của Kitô giáo
Trang 24Tôi cũng nhận ra một điểm tương đồng khác nữa giữa hai đời sống đó là duy chỉbằng những thử thách, sự chấp nhận thử thách, sự cam kết cá nhân và sự gắn bóbền chặt vào những nguyên tắc mà người ta có thể tiến tới trên hành trình tâm linh vàđạt tới sự giải thoát Đối với tôi điều nầy xem ra đã tạo nên một sứ điệp chung và là
sứ điệp cốt lõi.”
Isabelle Glover
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Ngài đã nhắc tới sự “tái sinh” Có nhiều dấu hiệu cho phép nghĩ rằng, vào những
thời gian đầu của Giáo hội Kitô, luân hồi là một niềm tin được chấp nhận, nhưngngày nay không còn lưu hành trong tư duy Kitô giáo nữa Ngài có thể dẫn giải thêm
về điều đó được không? Tầm mức quan trọng của giáo huấn về “tái sinh và nghiệp
quả” như thế nào?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về luân hồi tái sinh)
“Quả nhiên người ta đã nói với tôi là trong những giáo huấn đầu tiên của Giáohội Kitô, người ta đã có thể giải thích một số đoạn Thánh Kinh một cách có thể minhchứng niềm tin ở sự tái sinh không nhất thiết xung khắc với đức tin Kitô giáo Do đó,tôi đã tự do thảo luận vấn đề nầy với nhiều linh mục khác nhau và với nhiều cấp lãnhđạo Kitô giáo khác nhau - tuy nhiên tôi chưa có cơ hội đặt vấn đề nầy với chính ĐứcGiáo Hoàng
Tuy chưa vấn nạn ngài, nhưng tôi đã hỏi han nhiều hành giả và nhiều linh mụcKitô giáo ở mọi nơi Tất cả đã đồng thanh nói với tôi là tín ngưỡng đó không đượcchấp nhận trong giáo lý Kitô giáo mà không cho biết lý do đặc thù tại sao khái niệmluân hồi không có chỗ đứng trong ngữ cảnh mở rộng của đức tin và đường lối thựchành Kitô giáo
Tuy nhiên, cách đây hai năm ở tại Úc châu, khi tôi gặp gỡ cha Bede Griffiths lần
sau cùng (tôi đã gặp cha nhiều lần và đích thân tôi đã quen biết cha), tôi đã đặt câuhỏi như thế với cha Tôi ghi nhớ rõ ràng cuộc tiếp xúc đầy cảm động đó Cha khoác
chiếc áo thiền sư Ấn-Độ màu vàng Cha cho biết, theo quan điểm Kitô giáo, niềm tin
ở sự tái sinh làm xoi mòn đức tin và sự hành đạo của Kitô hữu
Khi bạn chấp nhận cuộc sống nầy - cuộc sống cá nhân của bạn được trực tiếptạo dựng bởi Đấng Tạo Hóa - thì cuộc sống bạn là một tặng dữ trực tiếp của Ngài;điều đó tức thời tạo nên một dây liên kết rất đặc biệt giữa bạn - một tạo vật cá biệt -
và Đấng Tạo Hóa Tương quan cá nhân trực tiếp đó cho thấy một tình cảm thân cận
và mật thiết với Đấng Tạo Hóa của quí bạn
Trang 25Tin tưởng vào sự tái sinh sẽ làm lay chuyển mối liên kết đặc biệt đó với ĐấngTạo Hóa Tôi nhận thấy lối giải thích nầy rất có sức thuyết phục.”
Cha Laurence
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tôi thấy có một liên hệ giữa hai câu hỏi được nêu lên bởi ông Robert Kiely và bà
Isabelle, về sự tương quan giữa thời gian và vĩnh cửu, giữa tương đối và tuyệt đối Đối với Kitô hữu, Thiên Chúa cũng có danh xưng là “Chân Lý” Thế mà, do kinh nghiệm, mọi người đều biết chân lý là điều người ta khám phá từ từ Chân lý là điều
ló rạng dần dần Chân lý được mạc khải từng giai đoạn qua cuộc sống một cá nhân,
cuộc sống đó bao gồm một kiếp hay nhiều kiếp Chúng ta cũng biết rằng tôn giáo trảiqua một cuộc tiến hóa theo giòng lịch sử
Có một “cái nhân tuyệt đối” trong những giáo huấn của Đức Phật và của Chúa
Giêsu, nhưng chân lý của những giáo huấn đó ló rạng dần dần qua lịch sử, bằng suy
tư Nếu không, chúng ta đã không có một lý do nào để tổ chức một khóa hội thảo nhưhôm nay đây Chúng ta luôn có chân lý để khám phá và tái khám phá
Có thể nào ngài nói cho chúng tôi biết ngài cảm nghĩ như thế nào về ý niệm chân
lý như là một cái gì hiện hữu bây giờ và ở đây một cách sung mãn nhưng đồng thờichúng ta cũng chứng nghiệm chân lý từ từ, qua từng giai đoạn?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về chân lý - vĩnh cửu và thời gian - giáo pháp “tam than”)
“Giáo lý Phật giáo cũng đề cập đến vấn đề “chân lý chung cục” được biểu lộ qua
từng giai đoạn và ở trong diễn tiến lịch sử nhưng đồng thời cũng tuyệt đối hay chungcục
Có một đoạn trong “Kinh Bát Nhã Ba-La-Mật” (Prajnaparamitasutra) là một phần
của toàn bộ Kinh Trí Độ Luận quảng diễn chuyên biệt ý niệm đó Theo đoạn kinh đó,chư Phật quá khứ hay vị lai được đến trong thế gian nầy hay không, và cho dù cómột vị Phật sống giữa thế giới hay không, chân lý rốt ráo của mọi sự và mọi biến cố
vẫn luôn luôn là một Chân lý thì hiện tại đời đời; chân lý luôn luôn ở đó
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là mọi sinh vật đều được dự phần vàochân lý đó - nói cách khác, sẽ đạt tới sự giải thoát - một cách tự nhiên hay không chút
cố gắng nào, bởi vì mọi cá nhân phải có kinh nghiệm về chân lý đó một cách tuần
tự
Vì vậy chúng ta phải phân biệt giữa sự hiện hữu đích thực của chân lý là một việc và kinh nghiệm về chân lý đó là một việc khác Chính ở đây mà người ta có thể tìm ra điểm giao thoa giữa sử tính và bản chất tuyệt đối của chân lý
Trang 26Cha đã nêu lên một điểm lý thú Làm thế nào một nguyên lý tuyệt đối như ĐấngTạo Hóa thần linh lại có thể tỏ lộ trong một khuôn mặt lịch sử như Đức Kitô? Bản chấtđích thực của sự tương quan đó như thế nào và những cơ chế nào có thể giải thích
“sự liên hệ giữa tuyệt đối là cái phi thời gian và một khuôn mặt lịch sử là cái có thời
gian tính”?
Trong bối cảnh Phật giáo, vấn nạn đó được đề cập dưới góc độ của giáo lý “tam
than” (kayas) tức ba hình thức biểu lộ của một đấng đã giác ngộ Trong bối cảnh đó,
những biểu lộ vật chất và sử tính của những đấng giác ngộ được trông thấy, theo mộtnghĩa nào đó, như là những sự xuất hiện bộc phát của trạng thái chung cục và phi
thời gian của “Pháp Thân” (dharmakaya), tức Chân Thân hay Thân Chân Lý của một
Một trong những điều nghịch lý hiển nhiên của Kitô giáo ở chỗ chúng tôi gọi
“Chúa Giêsu là Anh chúng tôi và là Đấng Cứu Thế” của chúng tôi Theo từ ngữ cá
nhân, điều đó muốn ám chỉ rằng chúng tôi được mời gọi yêu mến Chúa Giêsu nhưmột con người, như một người anh hay một người chồng Đồng thời, chúng tôi tinrằng ngài cũng là Đấng Cứu Thế mà chúng tôi tôn thờ như Thiên Chúa Những danhxưng đó nhắc nhở chúng tôi rằng Chúa Giêsu đã cho chúng tôi năng lực yêu mếnNgài bằng hai cách đó, ràng Ngài tuôn đổ thần tính của Ngài trên con tim chúng tôi Điều đó có tương ứng xa gần với những cảm tình mà chư Phật tử cảm nhận đốivới Đức Phật, và tương ứng với những danh xưng mà chư Phật tử đã tặng choNgài?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về Đức Phật lịch sử - hóa thân Phật)
“Vì có nhiều môn phái Phật giáo nên không thể nghĩ tưởng ra một môn pháiđồng dạng, một đường hướng quyết định, nếu muốn nói như thế
Riêng cá nhân tôi, tôi thích gắn bó với một “Đức Phật như là một nhân vật lịch
sử” - một đấng đã đưa thân phận làm người đến sự tuyệt hảo và đã trở thành một
“Đấng Giác Ngộ viên mãn”
Tuy nhiên, theo nhiều môn phái tư duy Phật giáo, Đức Phật không những là một
khuôn mặt lịch sử, mà còn tham dự vào một chiều kích phi thời gian và vô biên nữa.
Trang 27Trong bối cảnh đó, cho dù Đức Phật là một khuôn mặt lịch sử, sử tính của Đức PhậtThích-Ca-Mâu-Ni được xem như là một sự biểu lộ khéo léo của hành động từ bi của
Đức Phật được thể hiện từ trạng thái phi thời gian và viên mãn của “Pháp Thân”
(dharmakaya) hay “Chân Thân”, tức Thân của Chân Lý
Đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni, với tư cách một khuôn mặt lịch sử, là “hóa thân"
(nirmanakaya) tức Thân biểu lộ ra ngoài: một sự biểu lộ thích ứng với một không
gian, một thời gian và trong một bối cảnh riêng biệt Sự biểu lộ đó phát xuất từ một
trạng thái thuộc một chân tánh gọi là “Báo Thân” (sambhogakaya), tức trạng thái an lạc viên mãn và trạng thái nầy lại xuất phát từ phạm trù phi thời gian của “Pháp Thân”
sống tu trì, Đức Phật là Đấng đã sáng lập truyền thống tu viện Ngài là khởi điểm của
hệ phái tu sĩ Phật giáo Những tăng ni được tấn phong trọn vẹn trong hệ phái đó phảikiên trì trong việc chấp nhận hoàn toàn những lời khấn khi được tấn phong
Muốn trở thành một “tì-khưu” (bhiksu), tức một vị tăng được tấn phong trọn vẹn hay một “tì-khưu ni” (bhiksuni), tức một ni cô được tấn phong trọn vẹn, phải là một
con người Vì vậy, nếu người ta liên hệ với Đức Phật trong tư cách một tăng, ni đượctấn phong trọn vẹn, điều đó ám chỉ rằng người ta liên hệ tới một Đấng với tư cách làmột nhân vật lịch sử.”
Cha Laurence
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Việc thực hành trong Phật giáo xem ra đòi hỏi một sự phân tích lý giải tối đa và
ngài đã nói tặng vật lớn nhất của con người khi sinh ra là “bộ óc” Tuy nhiên người ta
có thể từ bi mà không cần thông minh Ngài có thể giúp chúng tôi lãnh hội điều đóđược không? Có cần phải rất thông minh và có một khối óc rất thành thạo, uyên bác
và chính xác để đạt tới giác ngộ không?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(đề cập đến thông minh và giác ngộ - đức tin)
“Hiển nhiên không phải như vậy Cũng như trong bất cứ mọi việc, đường lối cựcđoan bao giờ cũng là một điều sai lầm
Những kinh sách Phật giáo phân biệt ba hạng người tùy theo khả năng cá nhân
đối với đường lối tu đức, bằng cách chứng minh những hạng người nào sẽ rút tỉa lợi
Trang 28ích tối đa đối với việc thực hành tu đức thâm sâu
Quí bạn miễn chấp cho tôi vì không trích dẫn đúng câu kinh, nhưng nội dung câu
đó như sau: Thông thường, những cá nhân thích ứng nhất để thực hành tu đức là
những kẻ không những chỉ có năng khiếu trên bình diện trí thức, mà cũng phải có một đức tin và một sự chú tâm tập trung trên một tiêu điểm duy nhất và phải có sự
minh triết Những người đó là những kẻ thụ cảm nhất đối với việc thực hành tu đức
Trong hạng thứ hai, người ta tìm thấy những người không nhất thiết phải thông
minh trổi vượt nhưng phải có một điểm tựa không lay chuyển trên đức tin
Khốn nạn nhất là những kẻ thuộc hạng thứ ba Mặc dù họ có thể rất thông minh,
họ luôn bị gặm nhắm bởi sự hoài nghi và ngờ vực Họ rất tài tình, nhưng có khuynh hướng tỏ ra do dự, nghi ngờ và không bao giờ có thể thực sự kiên trì đối với bất cứ
một sự việc nào Những người đó được xem như là những kẻ kém thụ cảm nhất Khi chúng ta đề cập tới trình độ trí thức, chúng ta xem xét một hiện tượng tươngđối Một người có thể khôn ngoan hơn khi so sánh với một số người, nhưng lại kémthông minh khi so sánh với một số người khác
Nói chung, xem ra được xác nhận là mọi đức tin hay niềm xác tín căn cứ trên một sự hiểu biết xuất phát từ một sự suy lý thì rất vững chãi Một niềm tin như thế thì
vững chãi vì quí bạn tin chắc chắn về hiệu năng hay hiệu lực của ý niệm mà trên đóquí bạn đặt để niềm tin Và niềm xác tín đó, dĩ nhiên, là một động cơ mạnh mẽ thúcđẩy hành động
Do đó, Phật giáo quả quyết trí thông minh rất quan trọng trong tiến trình tu đức
Trong truyền thống đó, trí thông minh phối hợp với con tim vì con tim nặng về xúc
cảm Như thế đức tin và tâm từ bi - mà bản chất lệ thuộc trạng thái cảm xúc nhiềuhơn - cần được hỗ trợ bởi một niềm xác tín mạnh mẽ là kết quả của suy tư và tìm tòinghiên cứu thì mới không thể mai một được
Còn đức tin hay tâm từ bi mà không đặt căn bản trên một lý luận vững chắc thì
sẽ dễ dàng trở nên cảm xúc và có tính cách bản năng nhiều hơn nên không vữngchắc được Đức tin đó có nguy cơ dễ bị lay chuyển khi đối diện với những nghịch
cảnh hay hoàn cảnh bất trắc Theo một ngạn ngữ Tây-Tạng: “Một người mà đức tin
không đâm rễ sâu trong sự suy lý thì cũng giống như một giòng thác mà người ta có thể điều hướng bất cứ nơi đâu.”
Robert Kiely
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tiếp theo câu hỏi liên quan đến khía cạnh “cảm xúc và lý trí”, ngài có thể soi sáng cho chúng tôi về vai trò của “nghi lễ” trong tôn giáo được không?
Trang 29Trong nhiều thế kỷ, nghi lễ đã là đối tượng của những bất đồng ý kiến trầm trọng
ở giữa cộng đồng Kitô hữu Có người đồng ý cho rằng nghi lễ, hát xướng, xônghương, đèn đuốc, áo lễ sặc sỡ và sự tôn trọng một số tục lệ nào đó tạo nên một sựkhác biệt rõ rệt trong cách thức thờ phượng Thiên Chúa của chúng tôi
Ngài có thể nói cho chúng tôi biết vai trò của nghi lễ trong truyền thống của ngàikhông?”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về nghi lễ)
“Khi suy tư về vai trò và tầm mức quan trọng của nghi lễ trong cách thực hành đạo giáo, thiết tương rất quan trọng nên xem xét người ta bị ảnh hưởng bởi môi
trường như thế nào Do đó, xem ra đã được xác nhận là nhiều việc thực hành nghi lễ
hay lễ nhạc giúp chúng ta tạo nên một bầu không khí đặc biệt thuận lợi cho trạng tháitâm linh mà chúng ta muốn đạt tới và, trong ý nghĩa đó, nghi lễ đóng một vai trò quantrọng
Lấy thí dụ một người cầu mong thực hiện một điều gì, một người khác cươngquyết muốn khấn hứa thực hiện một điều khác thì nghi lễ sẽ tác động họ rất nhiều và
sẽ có một hiệu quả rất lớn trên hành động của họ Cũng thế, khi quí bạn sử dụngnhững nghi thức và nghi lễ để tạo ra khung cảnh linh thiêng mà quí bạn tìm kiếm, lúcbấy giờ phương cách đó sẽ có một hiệu quả lớn lao trên cuộc sống bạn
Nếu thiếu sót chiều kích nội tâm về kinh nghiệm tâm linh mà quí bạn khát khao,nghi lễ lúc bấy giờ chỉ thuần là những cử chỉ đứng ngồi, những sự chế biến bênngoài mà thôi Trong trường hợp đó, rõ ràng nghi lễ mất hết ý nghĩa và trở nên nhữngthói quen vô bổ - xin lỗi chỉ để cho thời giờ qua đi mà thôi
Thiền sư nổi tiếng Tây-Tạng là Milarepa thường hay chỉ trích những nghi lễ và lễ
nhạc Những văn phẩm của ông chứa đựng rất nhiều lời bình luận châm biếm vềnhững khía cạnh khác nhau liên quan đến “nghi lễ và lễ nhạc!”
Cha Laurence
“Thưa Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Tôi xin có một câu hỏi, nảy sinh do cuộc hội thảo hôm nay liên quan đến nghi lễnhư là một sự biểu lộ đức tin bằng thể lý, như là một phương tiện biểu lộ đức tin quathân xác và giác quan
Ngày xưa, Kitô giáo Tây phương rất là nhị nguyên Người ta chấp nhận rằng thểxác và tinh thần đối kháng nhau, rằng thể xác phải được chế ngự và tùng phục bởitinh thần Ngày nay, người ta chứng kiến một sự khởi đầu của cuộc trở về với tình
cảm Kitô hữu nguyên thủy liên quan đến sự gắn bó mật thiết giữa “thể xác và tinh
Trang 30thần” Trong cuộc sống, chúng ta không thể tách rời xác, hồn và lý trí; chúng đương
nhiên phải sống mật thiết với nhau
Có thể nào ngài giúp chúng tôi hiểu biết tương quan giữa thể xác và tinh thầntheo quan điểm Phật giáo Nếu tôi không lầm, hình như xưa kia Phật giáo chấp nhậnmột sự đối kháng giữa thể xác và tinh thần còn sâu đậm hơn trong Kitô giáo nữa.”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
(bàn luận về thể xác và linh hồn)
“Cha nói có lý Trong vài đoạn kinh sách Phật giáo, người ta tìm được những lờituyên bố của Đức Phật cho thấy cảm tưởng một quan niệm nhị nguyên giữa thể xác
và tinh thần Trong một kinh (sutra) Đức Phật quả quyết rằng “ngũ uẩn” (skandhas)
giống như một gánh nặng và con người giống như kẻ mang gánh nặng đó Do đóĐức Phật trở nên phát ngôn viên của thuyết nhị nguyên giữa con người và nhữngthành phần tâm vật lý tạo nên con người Nhưng kết cục điều đó không phải là quanđiểm Phật giáo
Theo như sự diễn giải truyền thống, đoạn đó được viết ra cho những người,
đứng về phương diện triết học, bị thử thách bởi niềm tin vào một cái “ngã” (atman),
tức là một linh hồn vĩnh cửu và thường hằng Nhưng quan điểm của Đức Phật về bảnchất sự tương quan giữa thể xác và tinh thần đối chiếu với căn tính con người là giáo
lý “vô ngã” (anatman) Nguyên lý đó quả quyết rằng, ngoại trừ “ngũ uẩn” (skandhas),
tức là những tập hợp tâm vật lý mà bản thể con người được tạo nên, không có linhhồn như là một thực thể riêng biệt, tự chủ và vĩnh cửu thường hằng Giáo thuyết đóthì chung cho mọi môn phái Phật giáo
Mặc dù giáo huấn đó là tổng quát như vậy, nhưng Phật giáo đã trải qua nhữngtrào lưu triết lý phân rẽ về quan điểm muốn hiểu biết đúng ra cái gì tạo nên bản chấtcái tôi hay là con người Có nhiều môn phái Phật giáo đồng nhất hóa con người chỉ
thu gọn vào một uẩn mà thôi, đó là “cái thức”; nhiều môn phái khác thì đồng nhất hóa
con ngoài vào toàn bộ năm uẩn v.v…Có những môn phái tư tưởng chấp nhận mộtlập trường có tính cách duy danh hơn, khẳng định con người hay cái tôi chỉ là một
“danh xưng thuần túy” mà thôi.”
Trang 31CHƯƠNG III:
BÌNH ĐẲNG(MAC-CÔ 3, 31-35)
Phúc Âm Thánh Mác-Cô (3, 31-35)
“Mẹ và anh em Đức Giêsu đến, đứng ở ngoài, cho gọi Ngài ra Lúc ấy, đám đông đang ngồi chung quanh Ngài Có kẻ nói với Ngài rằng: “Thưa Thầy, có mẹ và anh em chị em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy!” Nhưng Ngài đáp lại: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh
em tôi”’ Rồi Ngài rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói:”‘Đây là mẹ tôi, đây
là anh em tôi Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.”
Ý nghĩa đoạn Phúc Âm theo Kitô giáo
Phúc Âm thánh Mác-Cô ngắn nhất Theo truyền thống, thánh Mác-Cô là môn đệthánh Phêrô, người đứng đầu mười hai môn đệ của Chúa Giêsu Đó là Phúc Âmđược viết đầu tiên vào năm 65 Công Nguyên, có lẽ cho các Kitô hữu không phải gốcDo-Thái đang sinh sống ở La-Mã, nơi mà Thánh Phêrô bị tử hình
Thánh Mác-Cô cho rằng giáo huấn của Chúa Giêsu về Nước Trời khai mở một
kỷ nguyên mới cho thế giới Nước đó không bao gồm trong một giáo huấn có tínhcách tín lý giản lược, nhưng đó là một bí nhiệm hay một bí mật về thực thể cuối cùng(tức Thiên Chúa) mà Chúa Giêsu đích thân nhập thể và mạc khải cho các môn đệ
Sứ mệnh của Chúa Giêsu trước hết là để mạc khải căn tính đặc thù, chính xác
và thâm sâu của Ngài Sứ Mệnh đó được thể hiện bằng việc dạy dỗ và nằm trongmối liên hệ nối kết Ngài với các môn đệ Phúc Âm đó thường cho thấy các môn đệkhông thể hiểu được những gì mà Chúa Giêsu giảng dạy
Đoạn nầy tiếp theo sau câu chuyện trong đó Chúa Giêsu chọn mười hai môn đệchính và sai họ đi công bố Nước Trời Ngài trở về quê hương mình, nơi mà gia đìnhNgài tưởng rằng Ngài trở nên điên rồ Ngay buổi đầu tiên bắt đầu giảng dạy côngkhai Chúa Giêsu đã làm cho những người Pha-ri-siêu đang nắm quyền hành tôn giáogiận dữ, bởi vì Ngài tố cáo sự giả dối của họ bằng quyền uy lớn lao của cá nhânNgài Đối với những người khác, họ tố giác Ngài là bị quỉ ám
Chúa Giêsu đang giảng dạy khi người ta đến cho Ngài hay là Mẹ Ngài và cácngười liên hệ trong gia đình Ngài đến gặp Ngài Họ không tới gần Ngài, có lẽ vì engại hay vì không chấp nhận hành động của Ngài Chúa Giêsu không khước từ họtrong tư cách là những thành phần trong gia đình, nhưng Ngài lên tiếng phản đối việc
Trang 32họ không thấu hiểu Ngài vì họ đã biểu lộ điều đó đối với giáo huấn và sứ mệnh củaNgài
Ngài đã thay thế mối liên hệ huyết tộc bằng mối liên hệ nối kết những “ai thi hành
thánh ý Thiên Chúa”, như chính Ngài đã làm Ở đây hiện rõ lên ý tưởng là những
“con cái Thiên Chúa” tham dự vào bản tính phổ cập của Thiên Chúa
“Nước Thiên Chúa” đòi hỏi chúng ta – trên bình diện cá nhân – những thay đổi triệt để Là “con cái Thiên Chúa” bao gồm việc xem mọi liên hệ nhân sinh của chúng
ta tùy thuộc vào tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa Đối với Kitô hữu, tươngquan với Thiên Chúa đó có thể hiểu được trong mối liên hệ của chúng ta với ChúaGiêsu Thiên Chúa thì vô hình và không thể hiểu được, nhưng mối liên hệ nối kếtchúng ta với Thiên Chúa được biểu lộ trong cách thức chúng ta kết hợp lại vớinhau
Do đó, mối liên hệ của chúng ta với Chúa Giêsu Phục Sinh cũng dẫn đưa chúng
ta đến những mối liên hệ hỗ tương nghiêm túc hơn Đó là nguồn gốc ý niệm về Giáo
hội – “thân thể Chúa Kitô” - tức là một hình thức hòa hợp trọn vẹn hết thảy mọi đồ đệ
của Ngài và một tổng thể của vũ trụ, trong tầm mức Ngài là “Logos” (Ngôi Lời) phổcập
Đoạn nầy là một trong những đoạn mà “Đức Maria”, Mẹ Chúa Giêsu xuất hiện.
Ngài là Đấng được các người Công giáo cách riêng tôn kính đặc biệt Đức Mariakhông phải là một vị thần linh mà là một nhân vật lịch sử với một sự thánh thiện vàmột thụ cảm tính rất đặc biệt đối với Thiên Chúa Đối với nhiều Kitô hữu, Ngài còntiếp tục thi hành mục vụ tình thương với một năng lực đặc biệt Nỗi ưu tư của Ngàiđối với nhân loại khổ đau là một cách thế dẫn dắt loài người trong Nhiệm Thể ChúaKitô, Con của Ngài
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Ý tưởng đầu tiên xảy đến trong trí óc tôi khi đọc xong là đoạn nầy không những
chỉ trình bày một định nghĩa thế nào là từ bi mà còn đề cập đến những diễn tiến phát
sinh tâm từ bi Trong đoạn nầy, Đức Giêsu chấp nhận một thái độ theo đó Ngài không
đặt để một tầm mức quan trọng đặc biệt đối với Mẹ Ngài hay anh chị em Ngài Theotôi, điều đó chứng tỏ tâm từ bi chân chính đích thật thì khước từ mọi sự gắn bó,khước từ những giới hạn của sự thiên vị cá nhân
Điểm nầy rất gần với ý niệm Phật giáo theo đó tâm từ bi đích thực phải thoát ly
những ràng buộc của sự quyến luyến Như tôi đã nhấn mạnh trong buổi thảo luận
trước đây về bản chất tâm từ bi, điều kiện tiên quyết để có tâm từ bi chân thật là phải
có một tình cảm bình đẳng với mọi chúng sinh
Trang 33Tình trạng trí thức bình thường của chúng ta in đậm dấu vết của sự thiên vị.Chúng ta xa lánh những người mà chúng ta xét thấy không thân thiện hay thù nghịch
và chúng ta cảm thấy một tình cảm thân cận hay gắn bó đối vớí những người màchúng ta cho là bạn bè thân thương Chúng ta thấy rõ sự phản ứng có tính cách xúcđộng của chúng ta đối với người khác thì có tính cách dao động và hay thiên vị Bao lâu chúng ta không chế ngự những thành kiến đó, chúng ta không thể nàophát huy một tâm từ bi chân chính được Cho dẫu khi chúng ta có thể cảm nhận mộtmức độ từ bi nào đó đối với tha nhân, tâm từ bi đó vẫn bị hoen ố bởi thiên vị bao lâu
nó không được đặt trên nền tảng của một sự bình đẳng thâm sâu vì còn lẫn lộn với
sự quyến luyến
Nếu quí bạn quan sát tâm từ bi xen lẫn với sự gắn bó - cho dù sự xen lẫn có tínhcách xúc động đó lớn lao và vững chắc đến đâu - quí bạn sẽ nhận thấy tâm từ bi đó
dựa trên những đặc tính thiết thực về đối vật của tâm từ bi - đối vật đó là bạn thân,
người trong gia đình hay bất cứ ai Tình cảm quí bạn cũng sẽ đổi thay tùy theo sựthay đổi thái độ của quí bạn với đối vật đó Chẳng hạn, trong sự tương giao với mộtngười bạn thân, ngày kia – phủ phàng làm sao – bạn khám phá ra người bạn đókhông còn những đức tính tốt như trước kia và thái độ mới đó đương nhiên ảnhhưởng đến những tình cảm của quí bạn đối với người bạn đó
Tâm từ bi đích thực, trái lại, phát xuất từ một sự “nhận thức sáng suốt về kinh
nghiệm khổ đau” mà đối vật của tâm từ bi quí bạn phải nhận chịu và sự ý thức về
sinh vật đó đáng được thương xót và cảm mến Tình cảm xót thương nảy sinh từ sựnhận thức đó không bị lay chuyển - cho dù phản ứng của đối phương đối với quí bạnxem ra thù nghịch Cho dù tiêu cực đến đâu, điều đó không mảy may ảnh hưởng trêntâm từ bi của quí bạn Tâm từ bi đó luôn luôn vẫn thế hay còn được củng cố thêmlên
Nếu quí bạn xem xét một cách nghiêm túc bản chất tâm từ bi, quí bạn cũng nhận
thấy rằng tâm từ bi chân chính có thể trải rộng ra cho địch thủ mình - những kẻ xem
ra thù nghịch với quí bạn Ngược lại, tâm từ bi pha lẫn sự gắn bó không thể chiếu tỏatrên người nào mà quí bạn xét thấy là địch thủ Theo ngôn ngữ thông thường, chúng
ta định nghĩa một kẻ thù địch là một người hoặc làm hại chúng ta một cách trực tiếphay bị thúc đẩy bởi ý tưởng đó Ý thức một con người như thế đang cố làm hại quíbạn thì không thể phát sinh một tình cảm thân cận hay tha giác được, bởi vì nhữngtình cảm đó đòi buộc một sự gắn bó đối với con người
Tuy nhiên, ý thức rằng một người khác muốn làm hại quí bạn mà không thể làm
lay chuyển tâm từ bi đích thực - một thứ từ bi đặt căn bản trên một sự nhận thức
sáng suốt về người đó với tư cách là một cá nhân đau khổ, được thúc đẩy bởi lòng
Trang 34ước muốn tự nhiên và theo bản năng để tìm kiếm hạnh phúc và lướt thắng khổ đaunhư chúng ta vậy
Trong bối cảnh linh đạo Kitô giáo, điều đó có thể được diễn tả như sau: kẻ địch
thù đó chia sẻ cùng một bản tính thần linh hoàn toàn như tôi; họ là một sinh vật được
sáng tạo bởi quyền năng của Đấng Tạo Hóa Thật ra, họ xứng đáng được thiện cảm
và xót thương Loại từ bi đó hoặc tình cảm tha giác đó là tâm từ bi đích thực, đượcgạn lọc mọi tình cảm gắn bó
Câu cuối của đoạn Phúc Âm nầy quả quyết rằng bất cứ ai thực thi ý muốn
Thượng Đế là mẹ tôi, là anh em chị em tôi Theo nghĩa đen, điều đó xem ra dẫn nhập
một hình thức thiên vị nào đó, một sự phân biệt dựa trên một điều kiện: chỉ những kẻvâng theo ý muốn của Thượng Đế mới là mẹ tôi, anh em chị em tôi
Tuy nhiên, trong ngữ cảnh Kitô giáo, tôi thiết nghĩ người ta có thể đề cập đoạnPhúc Âm nầy bằng cách diễn dịch một cách rộng nghĩa hơn Người ta cũng có thể
hiểu rằng hết “mọi kẻ chia sẻ một thần tính” – những kẻ có khả năng thực thi ý muốn
Thượng Đế - là mẹ tôi, anh chị em tôi Điều đó bao gồm toàn thể nhân loại và nhấnmạnh đến tính cách duy nhất và bình đẳng của mọi chúng sinh
Trong bối cảnh đó, tôi muốn nhấn mạnh một yếu tố đặc thù liên hệ đến việc thưc
thi “BồTát hạnh” Có một loại giáo huấn và thực hành chuyên biệt gọi là “lojong”
-luyện tập trí thức hay biến đổi ý thức hệ - có thể áp dụng trong trường hợp nầy Thật
ra trong nhiều văn bản có đề cập một cách đặc biệt để suy tư về lòng mẫn cảm (từtâm) của chúng sinh, những người được nói tới trong đoạn sách nầy Chẳng hạn,chúng ta có thể dễ dàng nhận ra lòng mẫn cảm (từ tâm) của một người liên hệ đếnđời sống chúng ta Nhưng nếu quí bạn quan sát bản chất cuộc sống các bạn, kể cả
sự sống còn của thể xác, quí bạn sẽ nhận thấy hết mọi yếu tố đóng góp vào sự sinhtồn và an sinh của quí bạn - cơm ăn, nhà ở và cả danh thơm tiếng tốt - đều là thành
quả của sự “hỗ trợ bởi tha nhân”
Điều đó rất đúng nếu người ta sinh sống ở chốn đô thị Hầu hết mọi khía cạnh
đời sống quí bạn tùy thuộc một cách chặt chẽ vào người khác Nếu chẳng may cómột sự đình công cửa ngành điện lực, dù chỉ một ngày thôi, toàn thể thành phố quíbạn trở nên đen tối Sự liên hệ chặt chẽ đó quá rõ rệt không cần phải nêu lên Đối vớithực phẩm và vấn đề gia cư cũng thế Quí bạn cần đến sự hợp tác trực tiếp hay giántiếp của nhiều người mới có thể hưởng dụng những sản phẩm cần thiết đó Dù chođối với một hiện tượng xem ra phù phiếm như danh vọng, quí bạn cũng cần đếnngười khác
Nếu quí bạn sống đơn độc trong chốn rừng sâu núi thẳm, điều duy nhất có thể
mang lại vinh danh mà quí bạn muốn tạo ra đó là tiếng đồn xa! Nếu không có người
Trang 35khác hỗ trợ, không thể tạo ra danh thơm tiếng tốt được Như vậy, hết mọi tha nhânđều liên hệ và tham gia vào hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống quí bạn
Bằng cách theo đuổi dòng tư tưởng đó, quí bạn bắt đầu nhận chân lòng nhân (từtâm) của người khác và nếu quí bạn là một hành giả tu đức, quí bạn cũng sẽ nhậnthấy rằng mọi truyền thống tâm linh lớn trên thế giới đều chấp nhận giá trị của lòng vịtha và tâm từ bi Nếu quí bạn xem xét cảm xúc quí báu đó hay tinh thần vị tha, mẫmcảm, quí bạn sẽ thấy rằng quí bạn cần phải có một đối vật để phát sinh tình cảm đó:
và đối vật đó là một người anh em đồng loại
Nhìn theo quan điểm đặc biệt đó thì tâm từ bi không thể thành tựu nếu không có
sự “hiện hữu của tha nhân” Hết mọi khía cạnh liên quan đến đời sống quí bạn - việc
thực hành đạo giáo, việc phát triển tâm linh, sự sống còn về thể xác của quí bạn không thể thực hiện được, nếu không có tha nhân Khi suy tư như thế, quí bạn sẽ tìm
-ra đầy đủ lý do để cảm thấy mình liên hệ đến người khác, để cảm thấy nhu cầu phảiđáp trả lòng tốt của họ
Dưới ánh sáng của những xác tín trên đây, không thể tin được rằng có một sốngười không một chút quan trọng gì hết đối với cuộc sống quí bạn và cho phép quíbạn có một thái độ lãnh đạm đối với họ Không có nhân vật nào mà không liên hệmảy may đến quí bạn hết
Tôi xin làm sáng tỏ việc sử dụng từ ngữ “cảm xúc” Người ta nói với tôi là đối với
nhiều người từ ngữ “cảm xúc” mang một ý nghĩa rất tiêu cực - quá sơ đẳng, có tínhcách xung động, nếu không muốn nói là gần với thú tính Tuy nhiên, cách đây nhiềunăm, nhân một cuộc diễn thuyết có sự tham dự của các nhà sinh vật học và tâm lýgia, chúng tôi đã bàn luận bản chất của cảm xúc và những phương cách để địnhnghĩa
Kết quả sau nhiều cuộc thảo luận lâu dài, chúng tôi đều đồng ý trên sự kiện làcảm xúc có thể tích cực, tiêu cực hay trung dung Trong ý nghĩa đó, cho dù đứng trênquan điểm Phật giáo, không có chút mâu thuẫn nào khi gán những cảm xúc cho một
vị Phật hoàn toàn giác ngộ Chính trong ý nghĩa rộng rãi đó mà tôi dùng từ ngữ “cảmxúc”
Trang 36CHƯƠNG IV:
NƯỚC TRỜI (MAC-CÔ 4,26-34)
Phúc Âm Thánh Mac-Cô (4, 26-34)
Ngài nói: “Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết Đất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa.”
Rồi Ngài lại nói: “Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây? Lấy dụ ngôn nào
mà hình dung được? Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau
cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng.”
Ngài dùng nhiều ngụ ngôn tương tự mà rao giảng lời cho họ, tùy theo mức họ có thể nghe Ngài không bao giờ rao giảng cho họ mà không dùng dụ ngôn Nhưng khi chỉ có thầy trò với nhau thì Ngài giải nghĩa hết
Ý nghĩa đoạn Phúc Âm theo Kitô giáo
Chúa Giêsu giảng dạy bằng những “dụ ngôn”, những câu chuyện và những lý
luận đơn giản có tính cách loại suy rút ra từ những hoàn cảnh xảy ra trong cuộc sống
hằng ngày Ở đây, có hai dụ ngôn mô tả “Nước Thiên Chúa” đã tạo thành nhân tố của
giáo huấn Ngài Đoạn nầy gợi lên hai đường hướng suy tư: phương pháp thuộc linh
về sự giảng dạy bằng dụ ngôn và ý nghĩa Nước Thiên Chúa trong giáo huấn củaChúa Giêsu
Trước đó, Chúa Giêsu đã nói với môn đệ là Ngài giảng dạy một cách công khai
bằng những dụ ngôn nhưng “đối với họ được ủy thác điều bí nhiệm về Nước Trời”.
Mặc dù Ngài giảng dạy bộc trực trước mặt mọi người, cử tọa của Ngài đã phản ứng
và lĩnh hội khác nhau Ngài tôn trọng khả năng lãnh hội khác nhau đó, nhưng giáohuấn Kitô giáo nhấn mạnh rằng hết thảy mọi người, dù thế nào đi nữa, đều được mờigọi trở nên thánh thiện và có thể đạt được điều đó nếu chấp nhận để Ân Sủng tácđộng
Nước Thiên Chúa cũng được diễn tả bằng sự “cai trị” hay “quyền năng của
Thiên Chúa”, điều đó làm cho ý nghĩa của Nước Thiên Chúa có tính cách năng động
hơn Như cha John Main đã nói, Nước Thiên Chúa không phải là một nơi chốn mà là
Trang 37một kinh nghiệm Chúa Giêsu đã nói (Mat-thiêu 11, 25) là Nước Trời không được mạc
khải cho những kẻ thông minh và người thông thái nhưng cho những kẻ khiêm hạ vàđơn sơ
Vào cuối đời Ngài, khi người ta thách thức Ngài tự cứu lấy mình cho khỏi sự
chết bằng cách dùng quyền năng làm vua của mình, Ngài đã đáp lại là “Nước của
Ngài không thuộc trần gian nầy” Nước Thiên Chúa được mạc khải trong tác động hỗ
tương của giáo huấn Chúa Giêsu với những ai nghe Ngài và sự mạc khải về chân lý
đó tạo thành động lực của “Ngôi Lời Thiên Chúa”
Những dụ ngôn đó làm sáng tỏ ý nghĩa trái ngược của Nước Trời - như một hạtcải rơi xuống đất và phải mục nát nếu người ta muốn có một mùa gặt Những dụngôn đó dùng những hình ảnh về sự phát triển tự nhiên để minh chứng Nước Trờiđược thể hiện như thế nào Vậy đó là một tiến trình kéo dài suốt cả đời sống conngười
Trong dụ ngôn thứ nhất Chúa Giêsu minh chứng là Nước Trời lớn lên ngày nầyqua ngày khác ở bên trong con người mà họ không ý thức một cách bình thường.Điều đó đã dẫn tới một mùa gặt: Chúa Giêsu nói là Ngài đã đến để “con người có đời
sống sung mãn” Nước Trời chính là “trạng thái sung mãn” của cuộc sống con người,
điều đó bao gồm một sự tham gia một cách sung mãn và trọn vẹn vào bản tính ThiênChúa
Dụ ngôn thứ hai minh chứng sự sung mãn của đời sống không phải là một kinhnghiệm riêng tư, có tính cách cá nhân Sự sung mãn đó đã khởi đầu một cách bé
nhỏ, nghĩa là trong những “giới hạn tự ngã” của một cá nhân nhưng lớn lên cho đến khi siêu việt lên trên những giới hạn đó để trở thành một “kinh nghiệm khai phóng và
độ lượng” mà không còn những rào cản
Mặc dù biểu tượng về vua chúa và vương quốc gợi lên một thứ quyền uy có tíchcách trần thế, Chúa Giêsu nhấn mạnh là quyền uy của Thiên Chúa không dùng tới vũ
lực và bạo động, mà là “tình yêu” Những đặc điểm làm nổi bật Nước Trời, theo Tân
Ước, là “tình yêu, an bình, kiên nhẫn, âu yếm, nhân từ, dịu dàng, trung tín và tựchế”
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Câu cuối của đoạn Phúc Âm gợi lại cho tôi một thành ngữ đặc biệt của Tây
Tạng – “me ngag pe khyu” - có nghĩa là chỉ truyền đạt điều cốt lõi thâm sâu nhất của
giáo huấn cho một nhóm nhỏ được chọn lọc Người ta thường cắt nghĩa điều đó như
là một cách nói lửng của người đối thoại vì không muốn tiết lộ điều bí mật, e ngạinhững người khác sẽ biết được
Trang 38Truyền thống Phật giáo Tây Tạng phân biệt nhiều cách tiếp cận những điều
giảng dạy “Tsog she” là lối “giáo huấn được trình bày công khai” mà nội dung thì bỏ ngỏ và ai cũng có thể tiếp thu được Còn “lop she” theo nguyên ngữ là loại “giáo huấn
dành cho nhóm đệ tử” Trong trường hợp nầy, phần chú giải có tính cách chọn lọc,
được trình bày cho một nhóm nhỏ có khả năng lĩnh hội thực sự chiều sâu và ý nghĩacác sứ điệp
Đoạn nầy liên quan trực tiếp đến ý tưởng “Nước Thiên Chúa” Ẩn dụ được dùng
ở đây là hạt cải, nảy mầm đâm mộng và một thân cây đã thoát ra khỏi hạt cải đó Sự
liên kết giữa hai yếu tố - ý tưởng về Nước Thiên Chúa và ẩn dụ về hạt cải - cho thấynhững giai đoạn khác nhau về sự triển nở và cải tiến bản chất thần linh nơi chúng ta,như đã bàn luận trước đây
Ngay trước hay sau đoạn nầy, cũng có nói về trình độ triển nở tùy thuộc một số
yếu tố như đất đai mầu mỡ và nơi chốn ươm trồng Có chỗ đất, người ta sẽ thu
hoạch một mùa gặt tốt, ở chỗ đất khác, cây mọc nhanh hơn Cũng có chỗ đất, dĩnhiên cây mọc nhanh hơn nhưng cũng chết nhanh hơn Và cứ như thế…
Đối với một Phật tử như tôi, những đoạn nầy qui chiếu về một giáo huấn tương
tự ở trong Phật giáo nhằm phân tích tính cách đa dạng của các chúng sinh và những
trình độ tiếp thu khác nhau của họ khi xét riêng từng cá nhân Như vậy, theo tín
ngưỡng chúng tôi, “Phật tánh” thì phổ cập và tâm từ bi của đức Phật thì không thiên
vị, ôm ấp hết mọi chúng sinh, điều đó khiến chúng ta quay về với ẩn dụ mặt trời mọclên cho người lành kẻ dữ trong Phúc Âm theo Thánh Matthêu Tuy nhiên, vì cácchúng sinh khác nhau theo trình độ tiếp thu nên sự tiến bộ tâm linh cũng sẽ khácnhau giữa cá nhân nầy với cá nhân khác
Tôi thấy ý tưởng đó - thường được nhấn mạnh và diễn đạt rõ ràng trong văn học
Phật giáo - thì rất hấp dẫn: ở giữa nhân loại có một sự đa dạng về khả năng thuộc
linh và trình độ tiếp thu, sự say mê cũng như những khuynh hướng tâm linh
Trong văn học Phật giáo, hết mọi trường phái tư duy đều qui hướng về một vị
minh sư, đó là Đức Phật Thích Ca Tuy nhiên sự đa dạng của những giáo huấn được
gán cho Đức Phật thì khác nhau cho đến đỗi - có vài giáo huấn xem ra mâu thuẫnnhau - nên người ta phải cẩn thận kẻo rơi vào chủ nghĩa giáo điều
Hết mọi giáo huấn đa dạng đó thì đều liên hệ đến những khuynh hướng thuộc
linh, những nhu cầu và khả năng tâm linh khác nhau của chúng sinh Và nếu tôi hiểu
rõ lý do tồn tại của sự đa dạng đó thì chắc chắn tôi sẽ ái mộ sự phong phú và giá trị
của những truyền thống tôn giáo khác, bởi vì điều đó cho phép tôi áp dụng “nguyên
tắc đa dạng” cho những truyền thống đó
Vì tính cách đa dạng của những giáo thuyết được giảng dạy trong những kinh
sách riêng của Đức Phật, các Phật tử đã phân biệt giữa chất liệu mà một văn bản
Trang 39riêng biệt đã đề cập tới và chủ ý của tác giả Một điều công bố xuất hiện trong một
văn bản không hẵn đã tương ứng với quan điểm của tác giả
Ở trong Kitô giáo, xem ra có nhiều cách để diễn đạt và hiểu biết về ý niệm ThiênChúa Trong một cuộc thảo luận trước đây với cha Laurence về vấn đề nầy, xem rakhông những có nhiều quan điểm khác nhau mà còn có một sự lãnh hội có phần bínhiệm thâm sâu về ý niệm Thiên Chúa, đó là cách dự kiến Thiên Chúa nhẹ về đặctính thần thiêng có tính cách bản vị mà nặng về nền tảng có tính cách bản thể
Vì vậy những đặc tính như từ bi cũng có thể quy hướng về nền tảng thần thiêng
của bản thể Do đó, nếu chúng ta phải hiểu biết “Thiên Chúa” - như là nền tảng tối
hậu của bản thể - người ta có thể tiếp cận với vài yếu tố thuộc về tư duy và có tính
cách thực hành trong Phật giáo, cũng như với đôi khía cạnh thuộc trường phái tư
tưởng Ấn giáo là Samkhya như khái niệm về “Đại Ngã” (mahabrahman)
Vì vậy chúng ta phải coi chừng việc giản lược tất cả vào một tập hợp nhữngthành ngữ chung đến đỗi cuối ngày không còn gì phân biệt được để làm nổi bật giá trịcủa những truyền thống liên hệ của chúng ta Như tôi đã nói trước đây, tôi thiết tưởngrất hữu ích là những tôn giáo lớn nên duy trì nét độc đáo, tín ngưỡng, thị kiến vànhững thực hành riêng biệt của mình
Chẳng hạn, nếu người ta muốn bằng mọi cách tìm kiếm một điểm so sánh trong
Phật giáo với khái niệm về “Thiên Chúa Ba Ngôi”, khái niệm đầu tiên đến trong trí óc
sẽ là “Tam Thân Phật” (kayas) - giáo thuyết về ba thân của Đức Phật: “Pháp
Thân”(Dharmakaya),“Báo Thân”(Sambhogakaya) và“HóaThân”(Nirmanakaya) Dĩ
nhiên, khi có thể được, nên kiếm tìm những điểm tương đồng, tuy nhiên tôi thiếttưởng chúng ta phải lưu ý là đừng đi quá xa trong việc so sánh đó
Cha Laurence đã nhấn mạnh - tôi đã ghi nhận một cách thích thú - là trong nhiều
trường hợp thần học Kitô giáo cho thấy “Chúa Con” được đồng hóa với “Ngôi Lời
Thiên Chúa” trong một buổi hội thảo về Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con
và Chúa Thánh Thần Tôi liền nghĩ ngay tới một điểm tương đồng trong Phật giáo
Đại-Thừa mà “Báo Thân” (Sambhogakaya) - một trong Tam Thân Phật - thường được định nghĩa như là “lời nói hoàn thiện của Đức Phật”
Tuy nhiên một ngạn ngữ Tây Tạng đã nói là bất cứ điều gì có thể chấp nhậnđược đều được trình bày bởi một nhân vật thông minh! Vậy nếu người ta tìm kiếmbằng mọi giá để phanh phui ra những điểm tương đồng tiếp cận, người ta có thể gặp
phải rủi ro là pha trộn tất cả vào một đại thực thể duy nhất Tôi xin nhắc lại là tôi không tán thành việc tìm kiếm một tôn giáo đại đồng Tôi không tin đó là việc làm
sáng suốt Nếu chúng ta quá tiến sâu trong việc truy tầm những điểm tương đồng màquên đi những dị biệt, thì điều đó sẽ đi về đâu?
Trang 40Bởi đó, điều chủ yếu là các vị minh sư tôn giáo đã giảng dạy theo trình độ lãnhhội, khuynh hướng tâm linh và khả năng trí thức của mỗi người Cũng như người takhông thể ăn bất cứ vật gì rồi nói “vì cái đó ngon cho tôi nên mọi người cũng phảiăn”; mỗi người phải ăn vật gì mang lại cho họ điều tốt nhất về sức khỏe thể xác tùytheo cấu trúc thể xác
Người ta phải theo một chế độ ăn uống thích ứng với sức khỏe cá nhân bởi vìkhi ăn uống, điều mà người ta tìm kiếm, đó là nuôi sống cơ thể Thật là điên rồ khimuốn ăn một món đặc biệt cho dù món đó không thích hợp và có thể nguy hại chosức khỏe vì lý do duy nhất là món đó trân quí và đắt tiền
Cũng thế, tôn giáo là của ăn tinh thần Khi người ta dấn thân theo đuổi một linh
đạo, điều quan trọng là việc thực hành phải thích hợp nhất cho sự phát triển thuộclinh, những khả năng tâm linh Điều cốt yếu là mỗi cá nhân nên tìm kiếm hình thứcthực hành và niềm tin thích hợp nhất cho những nhu cầu cá biệt Nhờ thế, họ sẽ đạttới sự biến đổi nội tâm và sự an bình bên trong nhờ đó họ trở nên một con ngườitrưởng thành về mặt tâm linh và một con người lương hảo, khoan dung với con timrộng mở Đó là tiêu chuẩn nên xem xét khi người ta muốn tìm kiếm một của ăn thuộclinh
Niềm tin vào “Sự Sáng Tạo” và “Một Đấng Thiêng Liêng” thì không chung cho hết
mọi truyền thống tôn giáo lớn Nếu có nhiều người đặt niềm tin và sự thực hành củamình trên căn bản tiền đề thiết yếu đó thì có nhiều người khác không cùng niềm tin
đó
Tuy nhiên điều chung cho hết mọi tôn giáo là tầm mức quan trọng của một nềntảng vững chắc về việc thực hành linh đạo của mỗi một người về đà vươn lên trongđức tin hoặc sự tín nhiệm nơi một đối vật nương tựa Chẳng hạn, trong trường hợpPhật giáo - tôn giáo phi thần - người ta phó thác sự yên ổn tâm linh nơi đà vươn lên
dựa vào “Tam Bảo” tức “Phật, Pháp và Tăng” Đó là nền tảng việc thực hành trong
Phật giáo
Để có được một sự tín thác hướng về một điểm duy nhất và một sức mạnh đểtrao phó cho một đối vật nương tựa cho sự an sinh về thuộc linh, người ta cần pháthuy một tình cảm thân mật và những sự liên kết sâu xa với những đối vật của ĐứcTin
Trong trường hợp những tôn giáo hữu thần mà theo đó hết mọi tạo vật đượcsáng tạo bởi chính một thần lực, quí bạn có những điểm tựa vững chắc để phát huytình cảm liên kết thân mật sẽ là nền tảng của Đức Tin hay một sự tín thác được tụtiêu một cách tuyệt hảo cho phép quí bạn trao phó sự an sinh thuộc linh của quí bạnvào đối vật đó.”