1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh Nghiệm Một Số Nước Trên Thế Giới Trong Xây Dựng Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường.pdf

12 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh Nghiệm Một Số Nước Trên Thế Giới Trong Xây Dựng Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường
Trường học Viện Nghiên Cứu Lập Pháp
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 254,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Chuyên đề KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI, THÁNG 10 NĂM 2013 MỤC LỤC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI VIỆN NGH[.]

Trang 1

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Chuyên đề:

KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

HÀ NỘI, THÁNG 10 NĂM 2013

MỤC LỤC

ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Trang 2

STT Nội dung Trang

I KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI

TRƯỜNG

4

1 Pháp luật về bảo vệ môi trường của Trung Quốc 4 1.1 Quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở

Trung Quốc

4

1.2 Một số vấn đề cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường ở

Trung Quốc

5

2 Pháp luật về bảo vệ môi trường của Hàn Quốc 7 2.1 Quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở

Hàn Quốc

7

2.2 Một số vấn đề cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường ở Hàn

Quốc

9

3 Pháp luật về bảo vệ môi trường của Thái Lan 10 3.1 Quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở

Thái Lan

10

3.2 Một số vấn đề cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường ở Thái

Lan

12

4 Pháp luật về bảo vệ môi trường của Liên Bang Nga 14 4.1 Quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở

Liên bang Nga

14

4.2 Một số vấn đề cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường ở Liên

bang Nga

15

5 Pháp luật về bảo vệ môi trường của Singapore 17 5.1 Quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở

Singapore

17

5.2 Một số vấn đề cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường ở

Singapore

17

CHO VIỆT NAM

18

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIII, theo dự kiến, Quốc hội sẽ xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) Trong phạm vi Chuyên

đề này, xin được trình bày một số nét cơ bản về kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường, qua đó cung cấp thêm thông tin tham khảo nhằm góp phần vào việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay

Trong Chuyên đề này, 05 quốc gia (Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Nga và Singapore) đã được lựa chọn để nghiên cứu đánh giá, tham khảo Việc lựa chọn này dựa trên các tiêu chí về vị trí địa lý, hệ thống pháp luật, điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển… Nghiên cứu này không chỉ xem xét pháp luật của các quốc gia tại thời điểm hiện tại mà còn lưu ý cả lịch sử phát triển của hệ thống pháp luật đó, đặc biệt là những kinh nghiệm mà quốc gia

đó có được trong quá trình phát triển; từ đó, cố gắng chỉ ra một số vấn đề có thể cần được quan tâm nghiên cứu tham khảo thêm trong quá trình hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường bảo đảm hợp lý, khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam

Trang 4

I KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1 Pháp luật về bảo vệ môi trường của Trung Quốc

1.1 Quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở Trung Quốc

1.1.1 Quá trình xây dựng Luật Bảo vệ môi trường

- Luật Bảo vệ môi trường vào năm 1979

Trung Quốc lần đầu tiên ban hành Luật Bảo vệ môi trường vào năm 1979 Ngoài việc khẳng định mục tiêu của việc bảo vệ môi trường, Luật này đưa ra bốn chính sách cụ thể về bảo vệ môi trường (bao gồm việc khai thác tài nguyên thiên nhiên) đó là: (i) thành lập các cơ quan nhà nước về bảo vệ môi trường; (ii) quy định về trách nhiệm và phí bảo vệ môi trường; (iii) quy định chung về đánh giá tác động môi trường; (iv) việc xử lý ô nhiễm công nghiệp Với sự ra đời của Luật này, công tác bảo vệ và quản lý môi trường, ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm tại Trung Quốc đã có được những bước đi đầu tiên, đặc biệt là đã thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trường trực thuộc Chính phủ

- Luật Bảo vệ môi trường nước năm 1984

Năm 1984, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc ban hành Luật Bảo vệ môi trường nước Các nhà lập pháp Trung Quốc xem nước là thành phần môi trường đầu tiên và quan trọng cần được pháp luật bảo vệ bằng những quy định riêng Điều này bắt nguồn từ quan điểm trong quá trình đầu tư công nghiệp hóa, môi trường nước sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, từ môi trường nước sẽ dẫn đến ô nhiễm các thành phần môi trường khác như đất, sinh vật… và gây nhiều tác động xã hội nhất

- Luật Bảo vệ môi trường năm 1989

Năm 1989, Trung Quốc ban hành Luật Bảo vệ môi trường hoàn chỉnh dưới hình thức “luật cơ bản” và có hiệu lực cho đến ngày nay Điều đáng chú ý là Luật này không làm mất hiệu lực của Luật Bảo vệ môi trường nước đã được xây dựng trước đó

- Dự án Luật sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường năm 1989

Trang 5

Hiện nay, Trung Quốc đang tiến hành sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường (1989) sau 24 năm thi hành Trong tiến trình này, nhiều chuyên gia đã đưa kiến nghị về việc pháp điển hóa pháp luật về bảo vệ môi trường Tuy nhiên, đề xuất này chưa nhận được sự đồng thuận của đa số, đặc biệt là từ phía các cơ quan nhà nước Trung Quốc Những ý kiến này cho rằng việc pháp điển hóa là chưa cần thiết, bởi các quan hệ xã hội, đặc biệt là chính sách về bảo vệ môi trường của Trung Quốc chưa ổn định, dự báo còn nhiều đổi thay trong tương lai Hơn nữa, các vấn đề môi trường trên thực tiễn cũng chưa ổn định và điều chỉnh chúng thông qua các đạo luật nhỏ sẽ tạo điều kiện thuận lợi và linh hoạt cho công tác quản lý môi trường

1.1.2 Một số đạo luật chuyên ngành bảo vệ các thành phần môi trường

và đánh giá tác động môi trường

Vào nửa cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, Trung Quốc liên tiếp ban hành nhiều đạo luật về bảo vệ môi trường, bao gồm: Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm không khí (1995); Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm chất thải rắn (1995); Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước (1996); Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn môi trường (1996); Luật Bảo vệ môi trường biển (1999); Luật Đánh giá tác động môi trường (2002)

1.1.3 Một số đạo luật liên quan đến bảo vệ môi trường

Ngoài các đạo luật trực tiếp điều chỉnh về bảo vệ môi trường, Trung Quốc còn có một số đạo luật liên quan như: Luật Khuyến khích sản xuất sạch; Luật Bảo vệ động vật hoang dã; Luật Bảo tồn năng lượng; Luật Chống sa mạc hóa… Luật Hình sự Trung Quốc cũng dành một chương về các tội phạm liên quan đến gây ô nhiễm môi trường và bảo vệ tài nguyên

Dưới văn bản luật, các văn bản quy định chi tiết cũng được Chính phủ và các bộ ban hành dưới các hình thức văn bản khác nhau

1.2 Một số vấn đề cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường ở Trung Quốc

Nghiên cứu hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường Trung Quốc có thể rút

ra một số vấn đề cơ bản sau đây:

Trang 6

1.2.1 Pháp luật về bảo vệ môi trường Trung Quốc được điều chỉnh bởi nhiều đạo luật

Pháp luật về bảo vệ môi trường Trung Quốc được điều chỉnh bởi nhiều đạo luật trong đó, Luật Bảo vệ môi trường được coi là “luật khung” khi chỉ quy định những vấn đề chung, cơ bản, khái quát Còn việc bảo vệ, quản lý 4 thành phần quan trọng của môi trường gồm nước, không khí, chất thải rắn và tiếng ồn được quy định trong các đạo luật mang tính chuyên sâu

Luật Bảo vệ môi trường (1989) của Trung Quốc khá ngắn, chỉ có 47 điều

được chia thành 6 chương bao gồm: 1) Quy định chung; 2) Giám sát và quản lý môi trường; 3) Bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường; 4) Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường và các chất nguy hại; 5) Trách nhiệm pháp lý; 6) Điều khoản thực thi

Chương giám sát và quản lý môi trường đưa ra một số công cụ BVMT gồm tiêu chuẩn môi trường (cả môi trường xung quanh và tiêu chuẩn chất thải), quan trắc môi trường, điều tra đánh giá hiện trạng môi trường, đánh giá tác động môi trường và thanh tra môi trường Như vậy, kết cấu Luật Bảo vệ môi trường khung của Trung Quốc được phân chia theo ba nhóm hoạt động là: giám sát, quản lý; bảo vệ, nâng cao chất lượng; và ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm

1.2.2 Các đạo luật điều chỉnh 4 thành phần của môi trường được kết cấu khoa học theo những tiêu chí khác nhau để phù hợp với đặc tính và nhu cầu quản lý của từng thành phần

- Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước (1984) được kết cấu và điều

chỉnh theo hướng phân loại thành phần môi trường nước gồm nước mặt và nước ngầm

- Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm chất thải rắn(1995) được kết cấu

và điều chỉnh theo hai tiêu chí gồm mức độ nguy hại của chất thải và nguồn phát thải Trong chất thải thông thường lại chia thành chất thải cơ bản, chất thải công nghiệp và chất thải đô thị

- Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm không khí (1995) được kết cấu và

điều chỉnh theo nguồn gây ô nhiễm như ô nhiễm không khí gây ra bởi hoạt động

Trang 7

đốt than, bởi các phương tiện giao thông và chất thải khí, bụi, mùi

- Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn (1996) được kết cấu và

điều chỉnh theo từng hoạt động kinh tế - xã hội là nguồn gây ô nhiễm như ô nhiễm tiếng ồn nói chung, tiếng ồn công nghiệp, tiếng ồn xây dựng, tiếng ồn giao thông, tiếng ồn trong các hoạt động khác

- Luật Bảo vệ môi trường biển (1999) được kết cấu thành các chương về bảo tồn mảng xanh ở biển, ô nhiễm biển do hoạt động từ đất liền, từ dự án xây dựng ven biển, dự án xây dựng trên biển, việc xả thải ra biển, ô nhiễm tàu chở dầu

1.2.3 Hiệu lực của các đạo luật về BVMT được quy định rất rộng.

Theo pháp luật Trung Quốc, hiệu lực về không gian của đạo luật được xác định bao gồm toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và các vùng biển mà Trung Quốc có quyền tài phán Tuy nhiên, các đạo luật điều chỉnh về bốn thành phần của môi trường chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ đất liền của Trung Quốc; còn các vấn đề môi trường trên biển được quản lý bằng Luật Bảo vệ môi trường biển (1999)

1.2.4 Trong kết cấu hệ thống pháp luật của Trung Quốc, các biện pháp chế tài hành chính, hình sự và kỷ luật luôn được thể hiện trong cùng văn bản với các quy định về quyền và nghĩa vụ

Luật BVMT và các đạo luật khác luôn có một chương quy định về các hành

vi vi phạm và chế tài cụ thể Phương pháp thể hiện này đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống và cũng tiện cho việc tra cứu pháp luật Đặc biệt, phương pháp này cũng làm tăng khả năng áp dụng trực tiếp văn bản luật mà không phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành

2 Pháp luật về bảo vệ môi trường của của Hàn Quốc

2.1 Quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở Hàn Quốc

Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Hàn Quốc đã có một quá trình phát triển tương đối lâu dài và khá đầy đủ Điều 35 Hiến pháp Hàn Quốc quy định “Mọi người dân đều có quyền sống trong môi trường trong lành và thoải mái Nhà nước và người dân phải cố gắng bảo vệ môi trường”

Trang 8

Lịch sử xây dựng pháp luật về bảo vệ môi trường của Hàn Quốc có thể chia làm 3 giai đoạn gồm: 1961 - 1990, 1990 - 2008 và từ 2008 đến nay:

2.1.1 Trong giai đoạn 1961-1990:

Trong giai đoạn 1961-1990 Hàn Quốc đã ban hành 15 đạo luật có liên quan đến vấn đề môi trường Có thể kể một số đạo luật quan trọng như: Luật Ngăn chặn ô nhiễm môi trường (1963); Luật Bảo tồn môi trường (1977) sửa đổi Luật Ngăn chặn ô nhiễm môi trường (1963); Luật quản lý vật chất độc hại và nguy hiểm (1963); Luật làm sạch chất thải (1961); Luật Kiểm soát chất thải (1986) thay thế Luật làm sạch chất thải (1961)

Năm 1990 đánh dấu một bước chuyển rất lớn trong việc xây dựng pháp luật

về bảo vệ môi trường của Hàn Quốc Luật Bảo tồn môi trường (1977) được tách thành 5 luật khác nhau vào năm 1990, bao gồm: Luật khung về Chính sách môi trường; Luật Bảo tồn không khí sạch; Luật Kiểm soát tiếng ồn và độ rung; Luật Bảo tồn Chất lượng nước và Hệ sinh thái nước; Luật giải quyết tranh chấp môi trường

Điều này không đơn giản chỉ là sự thay đổi về kỹ thuật lập pháp và hình thức văn bản pháp luật mà sâu xa hơn đó là vấn đề BVMT đã được đặc biệt quan trọng Với việc từ bỏ mô hình một luật lớn mà chuyển sang mô hình nhiều luật nhỏ, Quốc hội Hàn Quốc đã tạo điều kiện tốt hơn cho Chính phủ khi muốn sửa đổi các quy định hoặc phải đối phó với một vấn đề môi trường mới phát sinh

2.1.2 Giai đoạn 1990 – 2008:

Sau năm 1990, Quốc hội Hàn Quốc tiếp tục ban hành nhiều đạo luật khác

để giải quyết từng vấn đề môi trường cụ thể, có thể kể đến như: Luật Bảo tồn môi trường tự nhiên (1991); Luật Trách nhiệm chi trả cải thiện môi trường (1991); Luật về nâng cao chất lượng không khí đô thị (2003); Luật Khuyến khích sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường (2004); Luật về Quan trắc và phân tích môi trường (2006); Luật khung về Phát triển bền vững (2007); Luật Sức khỏe môi trường (2008)

Lưu ý rằng, tại Hàn Quốc, lĩnh vực quản lý chất thải và lĩnh vực quản lý vật

Trang 9

chất độc hại và nguy hiểm được tách riêng và không nằm trong phạm vi điều chỉnh của đạo luật khung về chính sách môi trường

Trong giai đoạn từ 1980 – 2008, số lượng các đạo luật liên quan đến môi trường của Hàn Quốc tăng lên nhanh chóng, đến năm 2008 đã có 46 luật liên quan đến bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên

2.1.3 Giai đoạn 2008 đến nay:

Bắt đầu từ năm 2008 đến nay, Hàn Quốc tiến hành sửa đổi một loạt các luật

về bảo vệ môi trường Nhưng sự thay đổi này chỉ nhằm siết chặt hơn các quy định về bảo vệ môi trường mà không làm thay đổi cấu trúc hệ thống pháp luật về bảo vệ mội trường của nước này

2.2 Một số vấn đề cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường ở Hàn Quốc

2.2.1 Ở Hàn Quốc có nhiều đạo luật cùng quy định về BVMT và trong

đó có một đạo luật khung chỉ quy định những vấn đề mang tính chung nhất, còn các vấn đề cụ thể được điều chỉnh bằng các đạo luật khác (tương đồng với Trung Quốc)

Luật khung về Chính sách môi trường của Hàn Quốc không đưa ra quyền

và nghĩa vụ cụ thể về BVMT đối với các chủ thể, mà chỉ liệt kê ra các chính sách, công cụ BVMT sẽ được nhà nước áp dụng, bao gồm: tiêu chuẩn môi trường, quy hoạch môi trường, quan trắc và đánh giá môi trường, tuyên truyền giáo dục, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, trực tiếp đầu tư, thông báo mức phát thải được phép, kiểm soát đặc biệt đối với hóa chất độc hại, phóng xạ, đối với những khu vực đã bị ô nhiễm, thiệt hại, đánh giá tác động môi trường, giải quyết tranh chấp, giảm thiểu thiệt hại, thuế Mỗi loại công cụ cũng chỉ được kể tên và đưa ra một số nguyên tắc áp dụng, còn nội dung chi tiết của các công cụ này được thể hiện trong các đạo luật vệ tinh

2.2.2 Việc bảo vệ nguồn nước được đặc biệt coi trọng và quản lý theo hướng phân loại thành hai nguồn cơ bản gồm các nguồn ô nhiễm tập trung (như nước thải từ các cơ sở công nghiệp hoặc từ các thiết bị xử lý nước) và

Trang 10

nguồn ô nhiễm không tập trung (như nước thải sinh hoạt, nông nghiệp, giao thông)

Luật Bảo tồn chất lượng nước và hệ sinh thái nước là một trong những đạo luật quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật BVMT ở Hàn Quốc Luật này bao gồm các chương về quản lý môi trường nước nói chung và phân loại thành lưu vực sông, hồ chứa, đầm lầy; quản lý các nguồn gây ô nhiễm và kinh doanh dịch

vụ xử lý nước Việc đưa ra hai quy chế quản lý khác nhau đối với hai loại nguồn gây ô nhiễm là kinh nghiệm có thể nghiên cứu tham khảo

2.2.3 Hoạt động quản lý chất thải và quản lý chất nguy hiểm, độc hại được tách riêng để quy định trong hai đạo luật khác nhau và có sự gắn kết chặt chẽ với quá trình sản xuất kinh doanh

Điều này cho thấy, Hàn Quốc rất coi trọng vấn đề này để BVMT trước quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế; đồng thời, tạo cơ chế để gắn liền trách nhiệm BVMT với các doanh nghiệp

2.2.4 Nhìn chung các đạo luật của Hàn Quốc đều có một chương quy định về các biện pháp chế tài hình sự và hành chính áp dụng đối với hành vi

vi phạm (tương tự như Trung Quốc)

Đạo luật khung về Chính sách môi trường quy định cụ thể về các hành vi vi

phạm tại điều 27 và mức hình phạt tối đa là 5 năm tù hoặc phạt 50 triệu Won

Luật Bảo tồn chất lượng nước và hệ sinh thái cũng đưa ra hình phạt đối với rất nhiều hành vi vi phạm và cả hình thức xử phạt đối với lỗi vô ý Ví dụ: hành

vi xả thải vượt quá hạn ngạch mà không được phép của cơ quan nhà nước có thể

bị xử phạt tù đến 3 năm hoặc phạt tiền không quá 15 triệu Won Các đạo luật của Hàn Quốc không có quy định về đối tượng tác động hay hiệu lực về không gian Tuy nhiên, hiệu lực về không gian áp dụng chung cho các đạo luật tại Hàn Quốc bao gồm toàn bộ lãnh thổ và các vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia này Điều này cũng tương tự như quy định tại pháp luật Trung Quốc

3 Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Thái Lan

3.1 Quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở Thái Lan

Ngày đăng: 19/03/2023, 15:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w