Nghiên cứu ứng dụng nội soi ổ bụng trong chẩn đoán và điều trị chấn thương bụng kín
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ y tế
trường đại học y hμ nội
lê tư hoμng
nghiên cứu ứng dụng nội soi ổ bụng
trong chẩn đoán
vμ điều trị chấn thương bụng kín
Chuyên ngμnh : ngoại-tiêu hóa
Mã số : 62.72.07.01
Tóm tắt luận án tiến sĩ y học
Hμ nội - 2009
Trang 2Công trình được hoàn thành tại :
trường đại học y hμ nội
Người hướng dẫn khoa học : GS TS Đỗ đức vân
Pgs.ts trần bình giang
Phản biện 1 : GS.TS phạm gia khánh
Phản biện 2 : pgs.ts hoμng công đắc
Phản biện 3 : pgs.ts nguyễn tiến quyết
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước tổ
chức tại : Trường đại học Y Hà Nội
Vào hồi: 14 giờ, ngày 11 tháng 3 năm 20092006
Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Thông tin Y học Trung ương
- Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội
- Thư viện Bệnh viện Việt Đức Hà Nội
Danh mục các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án đ∙ công bố
1 Lê Tư Hoàng, Lê Nhật Huy, Trần Bình Giang (2004), “Chẩn đoán
và thái độ xử trí chấn thương bụng kín tại bệnh viện Việt Đức từ
2001-2003.Vai trò của phẫu thuật nội soi?”, Ngoại khoa, 5, tr 11-17
2 Lê Tư Hoàng, Lê Nhật Huy, Đỗ Anh Tiến, Bùi Huy Mạnh,
Nguyễn Thanh Xuân, Phạm Thị Thanh Huyền, Trần Bình Giang, Đỗ Đức Vân (2006), “Vai trò của phẫu thuật nội soi trong
chẩn đoán và thái độ xử trí chấn thương bụng kín tại bệnh viện Việt
Đức từ 8/2005 đến 7/2006”, Ngoại khoa, 4, tr 2-8
3 Lê Tư Hoàng, Nguyễn Ngọc Hùng, Trần Bình Giang (2006),
“Bước đầu áp dụng nội soi ổ bụng trong chẩn đoán và điều trị chấn
thương bụng kín tại bệnh viện Việt Đức”, Y học Việt Nam,319 (2),
tr 84-92
Trang 3Các chữ viết tắt trong luận án
đặt vấn đề
Ngày nay chấn thương nói chung, CTBK nói riêng đang gia tăng
về số lượngphức tạp về mức độ
Theo nhiều thống kê, CTBK chiếm khoảng 8-10% số tai nạn nói
chung, trong đó 70 – 75% là do tai nạn giao thông Tại bệnh viện Việt
Đức trong 5 năm gần đây trung bình có khoảng 400 CTBK trong 1
năm Khoảng 60% CTBK nằm trong bệnh cảnh đa chấn thương
Có nhiều tạng trong ổ bụng, các tạng có nhiều mức độ tổn
thương khác nhau lại không nhìn thấy trực tiếp nên rất khó chẩn đoán
chính xác tổn thương Khi chưa có các phương tiện chẩn đoán hỗ trợ,
việc chẩn đoán CTBK chỉ dựa vào thăm khám lâm sàng vì vậy dễ bỏ
sót tổn thương hoặc mở bụng thăm dò (mở bụng không có tổn
thương) Chọc dò ổ bụng rồi chọc rửa ổ bụng được sử dụng giúp nâng
cao độ chính xác của chẩn đoán CTBK lên nhưng tỷ lệ mở bụng thăm
dò vẫn từ 20-30%, tỷ lệ mở bụng khi có tổn thương tạng là 100% Với
CHT : Cộng hưởng từ
95%CI : Khoảng tin cậy 95%
CLVT : Cắt lớp vi tính
CROB : Chọc rửa ổ bụng
CT BK : Chấn thương bụng kín
CTCS : Chấn thương cột sống
CTSN : Chấn thương sọ não
NSOB : Nội soi ổ bụng
PTNS : Phẫu thuật nội soi
sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, người ta cố gắng tìm các biện pháp mới để chẩn đoán chính xác hơn, nhanh hơn, nhằm tránh
mổ muộn đồng thời giảm thiểu số mổ không cần thiết Các thăm dò hiện đại như X quang, siêu âm, chụp CLVT, chụp CHT…đã làm giảm tỷ lệ mở bụng thăm dò còn 10-20%, tỷ lệ điều trị bảo tồn không
mổ lên trên 30% Nhưng các biện pháp hiện đại này cũng vẫn chỉ
đánh giá gián tiếp tổn thương nên thực tế vẫn còn khá nhiều ca mổ mang tính chất thăm dò kiểm tra hoặc chỉ can thiệp tối thiểu Đối với những trường hợp như vậy người ta có thể sử dụng NSOB như một biện pháp chẩn đoán có độ chính xác cao do nhìn được trực tiếp tổn thương, đồng thời cũng là một cách điều trị thương tổn hữu hiệu, nhưng lại ít xâm hại nhất Điều đó giảm bớt cho BN một mở bụng lớn, đau lâu, lâu ra viện, nguy cơ tắc ruột sau mổ cao…
PTNS là một tiến bộ của y học, là thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại Với đường vào xâm hại tối thiểu, qua những lỗ nhỏ đặt trocart người ta đặt camera, các dụng cụ phẫu thuật để có thể quan sát
rõ các tạng và thực hiện các phẫu thuật Nó mang lại nhiều lợi ích cho
BN và xã hội: ít đau hơn, sớm ra viện, sớm trở lại cuộc sống bình thường, sẹo mổ nhỏ, đẹp, ít biến chứng xa …
Việt Nam cũng đã nhanh chóng tiếp thu và phát triển kỹ thuật tiên tiến này rất sớm tuy có những khó khăn nhất định về trang thiết
bị, kỹ thuật…Hiện nay ở các trung tâm lớn đều đã triển khai PTNS trên nhiều lĩnh vực đặc biệt PTNS ổ bụng Các bác sĩ Việt Nam cũng
đã thực hiện các phẫu thuật: cắt túi mật, cắt nang gan, nang thận, lấy sỏi ống mật chủ, cắt tử cung, phần phụ, cắt ruột thừa, cắt đại tràng, tạo hình tâm vị…
Việc ứng dụng NSOB vào chẩn đoán và điều trị CTBK là khả thi,
sẽ đem lại nhiều lợi ích và cần thiết Tuy nhiên cho đến nay việc ứng dụng này còn khá mới mẻ không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới Theo những nghiên cứu gần đây nhất, ứng dụng kỹ thuật này làm giảm tỷ lệ mở bụng thăm dò còn 5%-8% Kỹ thuật này an toàn, ít biến chứng, rất ít sót tổn thương hơn nữa có thể điều trị các tổn thương Tại Việt Nam cho đến nay rất ít nghiên cứu đi sâu đánh giá
Trang 4khả năng chẩn đoán và điều trị của PTNS đối với CTBK, trên cơ sở
đó tôi thực hiện đề tài này với các mục tiêu:
1 Xác định giá trị chẩn đoán của PTNS đối với CTBK
2 Đánh giá kết quả điều trị sớm của PTNS trong CTBK
Tính cấp thiết của đề tài
Tai nạn các loại đang gia tăng, CTBK chiếm 8-10% số tai nạn
nói chung CTBK là một cấp cứu ngoại khoa gặp rất nhiều khó khăn
trong chẩn đoán cũng như điều trị Có nhiều biện pháp chẩn đoán
nhưng tỷ lệ mổ bụng thăm dò hoặc mổ muộn còn cao Rất cần có một
biện pháp chẩn đoán chính xác hơn, ít sang chấn Vì vậy đề tài
“Nghiên cứu ứng dụng nội soi ổ bụng trong chẩn đoán và điều trị
chấn thương bụng kín” mang tính thời sự và cấp thiết
Những đóng góp mới của luận án
- PTNS rất phát triển can thiệp nhiều lĩnh vực nhưng ứng dụng
vào chẩn đoán và điều trị CTBK còn rất mới cả trên thế giới và Việt
Nam Đề tài lần đầu nghiên cứu ở BN bị CTBK với số lượng lớn ở
Việt Nam
- Giải quyết được 2 mục tiêu đề ra, luận án chứng minh NSOB là
biện pháp chẩn đoán ít sang chấn, chính xác, an toàn, hiệu quả đồng
thời là biện pháp điều trị được các tổn thương không quá phức tạp
giảm tỷ lệ mổ bụng thăm dò, mổ muộn và mở bụng lớn
Bố cục luận án
Luận án gồm 140 trang Ngoài phần đặt vấn đề (3 trang), phần
kết luận (2 trang), kiến nghị (1 trang), còn có 4 chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan tài liệu 42 trang; Chương 2: Đối tượng và
phương pháp nghiên cứu 16 trang; Chương 3: Kết quả nghiên cứu 32
trang; Chương 4: Bàn luận 44 trang Luận án gồm 41 bảng; 59 hình; 8
biểu đồ và 132 tài liệu tham khảo (Tiếng Việt 16; Tiếng Anh 107;
Tiếng Pháp 9)
Chương 1
tổng quan
CTBK được định nghĩa là chấn thương gây tổn thương thành bụng và các tạng trong ổ bụng (bao gồm cả sau phúc mạc, ngoài phúc mạc như thận, bàng quang…) nhưng không gây rách phúc mạc Chấn thương các tạng trong CTBK hay bị bỏ sót đặc biệt trong bệnh cảnh đa chấn thương gây hậu quả nghiêm trọng hoặc mở bụng không cần thiết Chính vì vậy chẩn đoán CTBK luôn là bài toán khó cho thày thuốc trong
xử lý cấp cứu Khó hơn nữa, tuy có chấn thương tạng nhưng tuỳ các mức
độ khác nhau mà có cần mở bụng để sửa chữa tổn thương hay không Như vậy trước một BN có chấn thương thì cần trả lời 2 câu hỏi: có chấn thương tạng trong bụng không? và có cần mở bụng không?
Để trả lời những câu hỏi nêu trên ngoài thăm khám lâm sàng thày thuốc có sự hỗ trợ của các thăm dò có sang chấn cũng như của các thăm dò hình ảnh hiện đại không sang chấn: X quang, siêu âm, chụp CLVT, chụp CHT…
Năm 1895 K Roentgen tìm ra tia X, ứng dụng của nó trong y học là chụp X quang sớm được thực hiện Chụp X quang ổ bụng cấp cứu có thể cho thấy hình liềm hơi của vỡ tạng rỗng …
Năm 1906 Saloman lần đầu dùng kim chọc dò để hút dịch trong
ổ bụng xác định có tổn thương tạng trong ổ bụng hay không, nhưng
nó có nhiều nhược điểm nên được thay thế bằng các phương pháp khác ưu việt hơn và ngày nay hầu như không còn được sử dụng nữa Năm 1965 Root và cộng sự lần đầu sử dụng phương pháp chọc rửa ổ bụng Phương pháp có thể phát hiện, đánh giá được dịch ổ bụng qua đó xác định được có tổn thương trong ổ bụng hay không, chính vì vậy phương pháp này được chỉ định rộng rãi và còn được sử dụng đến ngày nay Tuy nhiên phương pháp này quá nhạy, không đánh giá
được mức độ tổn thương nên tỷ lệ mở bụng không cần thiết còn cao,
Trang 5hơn nữa nó là biện pháp chẩn đoán có sang chấn nên ngày càng ít
được sử dụng
Năm 1950 siêu âm mới được ứng dụng vào y học và từ những
năm 1980 nó mới được áp dụng để chẩn đoán CTBK Là một thăm dò
không sang chấn, rẻ tiền, dễ sử dụng có thể phát hiện tốt dịch ổ bụng,
phát hiện được tổn thương nhu mô… nên siêu âm nhanh chóng trở
thành biện pháp thăm dò chẩn đoán CTBK rất hữu hiệu, gần như
không thể thiếu trong sàng lọc tổn thương Nhưng siêu âm cũng còn
nhiều cản trở: bụng trướng hơi, thăm dò các tạng ở sâu, tràn khí dưới
da, vết thương… nên cần có những phương pháp khắc phục những
khó khăn đó
Năm 1971 chụp CLVT (Computer Tomography Scanner) do
Cormack AM và Hounsfield GM phát minh ra Đến cuối những năm
80, chụp CLVT mới được sử dụng nhiều nhưng nó đã cho thấy khả
năng phát hiện rất tốt dịch ổ bụng, đánh giá độ tổn thương tạng đặc,
có thể phát hiện vỡ tạng rỗng… khắc phục được những điểm yếu của
siêu âm nên được nhiều tác giả coi như chuẩn vàng trong chẩn đoán
hình ảnh CTBK Chính việc xác định được rõ tổn thương, độ tổn
thương đã làm thay đổi mạnh mẽ thái độ xử trí CTBK, thay vì cứ có
tổn thương trong bụng là mở bụng người ta có thể điều trị bảo tồn
theo dõi không nhất thiết phải mở bụng
Những năm gần đây một phương tiện chẩn đoán hình ảnh mới ra
đời đó là chụp cộng hưởng từ (CHT), có nhiều ưu điểm như chụp
CLVT ngoài ra còn có thể xác định được tổn thương các ống tụy,
đường mật…nhưng ít áp dụng vì giá thành cao, chụp lâu, bị kim loại
làm nhiễu…
Các biện pháp chẩn đoán dù có sang chấn như chọc dò ổ bụng,
chọc rửa ổ bụng hay không sang chấn như chụp X quang, siêu âm,
chụp CLVT, chụp CHT… cũng đều gián tiếp đánh giá tổn thương
Những tổn thương nhỏ, bề mặt, mạc treo, mạc nối… các biện pháp
này đều không thấy được
Mổ thăm dò: Khi tình trạng BN nặng không cho phép làm nhiều các thăm dò, theo dõi lâm sàng người ta buộc phải mở bụng thăm dò Trong trường hợp này phải chấp nhận nguy cơ không có tổn thương hoặc tổn thương không cần mổ, BN phải chịu đường mổ dài, đau nhiều sau mổ, suy hô hấp, dính ruột sau mổ…
Ngày nay NSOB là một biện pháp thăm dò sang chấn tối thiểu không những cho phép nhìn rõ tổn thương mà còn có khả năng sửa chữa tổn thương Vì vậy NSOB được chỉ định thăm dò trong những trường hợp khó chẩn đoán hoặc để sửa chữa những tổn thương không quá phức tạp
NSOB có nhiều ưu điểm: Can thiệp tối thiểu, BN ít đau, diễn biến hậu phẫu thuận lợi Quan sát tổn thương trực tiếp thậm chí rõ hơn bằng mắt thường do khả năng phóng đại của ống kính và camera
Có thể quan sát, can thiệp những vùng, vị trí chật hẹp khó can thiệp khi mổ mở như tiểu khung, hố lách, vòm gan… đặc biệt ở BN béo ít gây sang chấn nên giảm nguy cơ dính ruột, tắc ruột sau mổ Nguy cơ nhiễm trùng, thoát vị vết mổ được giảm thiểu tối đa Nhanh ra viện vì thế giảm được viện phí nói chung Sẹo mổ để lại nhỏ, đẹp, tính thẩm
mỹ cao
Bên cạnh đó nó cũng có những nhược điểm: Là loại phẫu thuật cần phải gây mê toàn thân nên có các biến chứng của gây mê như ngừng thở, suy thở, ngừng tim…Nguy cơ cao ở những BN suy tim nặng, suy thở nặng, hôn mê sâu… Có các biến chứng của tăng áp lực
ổ bụng: giảm lưu lượng tuần hoàn, tăng áp lực đường thở, tăng áp lực nội sọ…Có nguy cơ tăng CO2 máu, ưu thán khi gây mê Có nguy cơ tắc mạch do hơi: khi có rách mạch lớn, có shunt phải-trái ở tim Dù
là xâm hại tối thiểu nhưng NSOB vẫn có những nguy cơ như chọc trocart, kim bơm khí vào tạng, gây sang chấn tạng khác khi thăm dò, phẫu thuật, nhiễm trùng lỗ trocart, thoát vị lỗ trocart (tỷ lệ gặp rất thấp, thấp hơn nhiều lần so với mở bụng lớn) Là biện pháp thăm dò ít xâm hại, chỉ quan sát qua camera nên không trực tiếp sờ nắn tổn
Trang 6thương bằng tay nên khó đánh giá các tổn thương kín đáo, thao tác
chỉ thông qua camera, dụng cụ nên khó thực hiện các động tác khó
như mổ xẻ kinh điển, thời gian mổ kéo dài nếu không thành thạo kỹ
thuật Là một biện pháp thăm dò hiện đại nên đòi hỏi trang thiết bị đắt
tiền, đồng bộ đó là một dàn máy nội soi đồng bộ kèm các dụng cụ mổ
nội soi đi kèm Vì vậy chi phí cho NSOB cũng cao Đòi hỏi phẫu thuật
viên được đào tạo và thành thạo NSOB
Từ những năm 60 của thế kỷ trước Heselson ở Nam Phi đã thực
hiện NSOB cho CTBK
1976: Gazzaniga được coi là người đầu tiên sử dụng NSOB vào
chẩn đoán CTBK ở Mỹ cho kết quả tốt
Các năm tiếp theo NSOB được ứng dụng nhưng để chẩn đoán
nhiều hơn với độ an toàn chính xác cao Các tác giả đều nhận thấy
50-60% số BN CTBK (trong nhóm NSOB) không cần thiết mở bụng
Đến năm 2003 có nhiều nghiên cứu kết hợp với điều trị tổn
thương cho thấy NSOB chẩn đoán chính xác tổn thương và điều trị
được các tổn thương như khâu cầm máu gan, lách, cắt lách, cắt đuôi
tụy, khâu cắt ruột, khâu cơ hoành vỡ… nhưng với số lượng BN ít
Tại Việt Nam từ năm 1976 Nguyễn Thuyên tại bệnh viện Việt
Đức đã áp dụng phương pháp này Tác giả công bố một kết quả khả
quan: đúng tổn thương 90%, đúng chỉ định 98,5% Nhưng do trang
thiết bị hạn chế nên không được sử dụng nữa
2001: tại bệnh viện Chợ Rẫy, NSOB để chẩn đoán và điều trị
CTBK và vết thương bụng cũng được tiến hành NSOB là biện pháp
chẩn đoán chính xác, an toàn không bỏ sót tổn thương tạng, tránh mổ
mở cho 42,7% số BN (không phải xử trí gì) Đồng thời qua NSOB xử
trí tổn thương cho 44,5 % số BN với kết quả tốt
Đến cuối năm 2003 NSOB để chẩn đoán và điều trị CTBK mới
bắt đầu triển khai tại bệnh viện Việt Đức
Chương 2
đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những BN bị CTBK được sử dụng NSOB
để chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện Việt Đức từ 1/1/2004 đến 31/12/2006
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn BN vào nhóm nghiên cứu
- BN không phân biệt nam, nữ và ở mọi lứa tuổi được chẩn đoán
có CTBK dựa vào khám lâm sàng và thăm dò cận lâm sàng
- Tình trạng huyết động duy trì ổn định được
- BN được đặt trong tình trạng theo dõi có khả năng mở bụng hoặc đã có chỉ định mổ thăm dò
- BN có chỉ định mở bụng để sửa chữa tổn thương nhưng lựa chọn PTNS để xử trí
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- BN bị đa chấn thương, có tổn thương đe doạ tính mạng: suy hô hấp, suy tuần hoàn, chấn thương sọ não mê sâu…
- BN có chỉ định mổ rõ ràng, cần can thiệp gấp: vỡ gan, lách… dịch ổ bụng nhiều, tụt huyết áp, viêm phúc mạc muộn, nặng…
- Các BN có chống chỉ định bơm hơi ổ bụng để mổ nội soi: suy tim, tăng áp lực nội sọ…
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu
• Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu
• Cỡ mẫu (số lượng BN)
Số lượng BN được tính theo công thức cho một nghiên cứu mô tả:
Chọn α = 0,05 thì z1ưα/2= 1,96
α p (1 - p)
2
n = z1- /2 2
e
Trang 7Chấp nhận tỷ lệ tránh mở bụng không cần thiết của các nghiên
cứu trước là 50% (p = 0,5) Tỷ lệ này tính trong nhóm những BN được
áp dụng NSOB, tức là ở những BN khó chẩn đoán Sai số của nghiên
cứu so với các nghiên cứu trước chấp nhận 10% (e = 0,1)
Thay vào công thức ta có n = 3,84.0,5.0,5/0,01 = 96
Như vậy số lượng BN trên 96 là phù hợp về lý thuyết cỡ mẫu và có ý
nghĩa thống kê khi sử dụng các phần mềm thống kê y học hiện có
2.2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.2.1 Lâm sàng
• Tình trạng trước khi đến viện: loại tai nạn, thời điểm tai nạn,
sơ cứu như thế nào…
• Tình trạng BN khi đến viện: tình trạng toàn thân, các tổn
thương phối hợp (CTSN, CTCS, chấn thương chi…)
• Thăm khám bụng: tình trạng thành bụng, phản ứng thành
bụng, cảm ứng phúc mạc…
• Chẩn đoán lâm sàng: Chẩn đoán ban đầu chỉ dựa vào thăm
khám lâm sàng
2.2.2.2 Cận lâm sàng
• Xét nghiệm máu: Xét nghiệm thường quy
• Chụp X quang bụng không chuẩn bị: tư thế đứng
• Siêu âm bụng: Thực hiện cho 100% các BN Có chung cách
đánh giá nhận định
• Chụp CLVT: Chỉ định cho BN nghi ngờ có tổn thương tạng
Sử dụng phân độ tổn thương tạng của AAST 1994
• Chọc rửa ổ bụng:
2.2.2.3 Chẩn đoán và thái độ xử trí
Những BN cần mổ ngay và điều trị bảo tồn không nằm trong
nghiên cứu BN còn khó chẩn đoán, nghi ngờ có tổn thương tạng có
chỉ định mở bụng thăm dò, sử dụng NSOB để chẩn đoán (nội soi chẩn
đoán) Những BN có chỉ định mổ (vỡ bàng quang, vỡ tạng rỗng…) sử
dụng NS để điều trị (nội soi điều trị)
2.2.2.4 Biện pháp xử trí: nội soi đơn thuần, nội soi có hỗ trợ, chuyển
mổ mở
2.2.2.5 Kỹ thuật
• Vô cảm: Gây mê nội khí quản
• Trang thiết bị: Dàn máy nội soi đồng bộ
• Tư thế BN: Nằm ngửa, 2 chân dạng Cố định vào bàn mổ có khả năng thay đổi tư thế trong mổ
• Vị trí kíp mổ: Tùy theo thương tổn và phẫu thuật viên
• Vị trí đặt trocart: Thường dùng 3 trocart (trocart 10mm ở rốn đặt camera, trocart 5mm ngang rốn ở mạng sườn phải, trocart 5mm còn lại chếch về hố chậu trái) Nếu kiểm tra tá tràng, đầu tụy, lách thêm trocart thứ tư ở mũi ức
• Kiểm tra ổ bụng: Lần lượt kiểm tra từ tầng trên mạc treo
đại tràng ngang (gan, lách, tụy, tá tràng, túi mật, cơ hoành)
đến tầng dưới mạc treo đại tràng ngang (bàng quang, ruột non, đại tràng)
• Xử trí tổn thương qua nội soi Tổn thương tạng đặc: Đốt điện hoặc khâu cầm máu Tổn thương tạng rỗng: Khâu dạ dày, ruột non, bàng quang qua nội soi Tổn thương phức tạp sử dụng nội soi có hỗ trợ (đưa quai ruột
có tổn thương ra ngoài ổ bụng để xử trí)
2.2.3 Thu thập số liệu
• Trước mổ: tình trạng trước vào viện, khi vào viện, chẩn
đoán lâm sàng, các thăm dò lâm sàng và cận lâm sàng, chẩn đoán trước mổ và thái độ xử trí…
• Trong mổ: dịch ổ bụng, các tổn thương tạng, phân độ Các biện pháp xử trí tổn thương, thời gian mổ…
• Sau mổ: thời gian có lại lưu thông tiêu hóa, các biến chứng chảy máu, xì, bục chỗ khâu, áp xe tồn dư, viêm phúc mạc…
2.2.4 Xử lý số liệu
BN có mẫu bệnh án riêng, được số hóa và xử lý theo phần mềm thống kê SPSS 15.0
Trang 8Chương 3
kết quả
3.1 Mẫu nghiên cứu
3.1.1 Giới, tuổi
Nam: 88 BN chiếm 73,3%, Nữ: 32 BN chiếm 26,7%
Tuổi trung bình: 31,27 ± 13,83 (Thấp nhất 4, cao nhất 75)
Thời gian từ khi tai nạn đến khi vào viện: 16,43 ± 41h
Sớm nhất: 0,75 h Muộn nhất: 264 h (11 ngày)
3.1.2 Các tổn thương phối hợp
Bảng 3.5: Các loại thương tổn đi kèm CTBK
3.2 Thăm khám lâm sàng
20 BN đến viện trong tình trạng sốc, 35 BN có sốt trên 37,50
C 51,7 % số BN có tổn thương thành bụng các loại: sây sát, tụ máu,
rách da, đụng giập
68,3 % có phản ứng thành bụng rõ, 26,7% phản ứng không rõ
30,8% có cảm ứng phúc mạc rõ, 29,2% cảm ứng phúc mạc
không rõ
Loại tổn thương Số BN %
ctsn
Vỡ xương
Ctcs
3.3 Các thăm khám cận lâm sàng
3.3.1 Xét nghiệm máu: không có giá trị chẩn đoán
3.3.2 X quang bụng không chuẩn bị
Giá trị chẩn đoán của dấu hiệu liềm hơi dưới hoành: Độ nhạy: 16,7%; Độ đặc hiệu 100%; Dương tính giả: 0%; Âm tính giả: 50%;
Dự báo dương tính:100 %; Dự báo âm tính: 50%
3.3.3 Siêu âm bụng 100% BN được siêu âm bụng Độ nhạy phát hiện dịch ổ bụng: 86,7% Độ chính xác phát hiện tổn thương tạng đặc tùy thuộc từng tạng Không phát hiện được vỡ tạng rỗng
3.3.4 Chụp CLVT
Có 36 BN được chỉ định chụp CLVT (30%) Độ nhạy phát hiện dịch ổ bụng: 94,4% Độ chính xác phát hiện tổn thương tạng tùy thuộc vào từng tạng
3.4 Chẩn đoán trước mổ
Bảng 3 15: Chẩn đoán trước mổ
Thời gian theo dõi BN tính từ khi vào viện đến khi quyết định mổ Thời gian trung bình: 16,31 ± 27,24h
Chẩn đoán Số BN %
Tổng 120 100
Trang 93.5 Thái độ xử trí
Bảng 3.16: Thái độ xử trí
Thái độ xử trí Số BN %
3.6 Giá trị chẩn đoán
Bảng 3.24 : Các tổn thương tạng và phân độ
Tạng Độ I Độ II Độ III Độ IV ĐộV Tổng
Có 63 BN có tổn thương ở 1 tạng (68,5%), số còn lại tổn thương từ 2
tạng trở lên Tổn thương nhiều vị trí ở ống tiêu hóa chỉ tính 1 tạng
28 BN không có tổn thương, 14 BN có tổn thương không cần xử
trí gì 18 BN có tổn thương cần mổ mở 60 BN có tổn thương xử trí
được bằng nội soi
Bảng 3.26: Giá trị chẩn đoán của NSOB
Kết quả
NSOB
Có tổn thương
Không có tổn thương Tổng
Có tổn thương 92 0 92
Độ nhạy: 99%; Độ đặc hiệu: 100%; Dương tính giả: 0%; Âm
tính giả: 3,6%; Dự báo dương tính: 100%; Dự báo âm tính: 96,4%
- Thời gian mổ nội soi ở nhóm NSOB chẩn đoán Thời gian trung bình: 61,27 ± 30 (phút)
Thời gian ngắn nhất 15 phút, lâu nhất 150 phút
3.7 Khả năng điều trị của PTNS
3.7.1 Xử trí tổn thương gan
Bảng 3.40: Các biện pháp xử trí tổn thương gan
Xử trí
Độ Không xử trí điện Đốt Khâu NS có hỗ trợ Mổ mở Tổng
điện)
3 9
3.7.2 Xử trí tổn thương lách
Bảng 3.41: Các biện pháp xử trí tổn thương lách
Xử trí Độ
Không
xử trí Đốt điện Khâu Mổ mở Tổng
3.7.3 Xử trí tổn thương ruột non Bảng 3.42: Các biện pháp xử trí tổn thương ruột non
Xử trí
Độ
Không
xử trí
Khâu qua
NS
Khâu qua NS
có hỗ trợ
Chuyển
mổ mở
Số BN
Trang 103.7.4 Điều trị tổn thương đại tràng
Có 1 BN phát hiện vỡ đại tràng góc lách khi nội soi chẩn đoán
Chỗ vỡ khoảng 1 cm Qua nội soi giải phóng đại tràng góc lách Mở
nhỏ thành bụng hạ sườn trái đưa chỗ vỡ đính ra thành bụng khâu chỗ
vỡ 2 lớp Sau mổ 1 tuần, BN ăn uống bình thường, đại tiện bình
thường, chỗ khâu không bục, tiến hành đưa đại tràng vào ổ bụng tại
giường bệnh bằng gây tê tại chỗ
3 7.5 PTNS điều trị vỡ bàng quang
Bảng 3.44: Các biện pháp xử trí tổn thương bàng quang
Xử trí
Độ
Không
xử trí
NS đơn thuần
NS có hỗ trợ
Mổ
mở Tổng
3.7.6 Xử trí các tổn thương khác
- 2 tổn thương tụy kèm tổn thương khác trong ổ bụng cần mổ mở
2 BN chỉ bị đụng giập tụy đơn thuần đã được điều trị dẫn lưu qua NS
- Không điều trị tổn thương thận qua NSOB
- Khâu rách mạc treo cho 8 BN
- Có 1 BN chấn thương túi mật đơn thuần được cắt TM qua nội soi
- 1 BN vỡ cơ hoành trái được khâu qua nội soi
3.7.7 Thời gian PTNS điều trị trung bình
Thời gian trung bình: 124,11 ± 50,27 (phút)
Thời gian ngắn nhất: 15 phút, lâu nhất 240 phút
Bảng 3.45: Các biện pháp xử trí tổn thương
Biện pháp xử trí Số BN %
- Các lý do cần phải chuyển mổ mở: Vỡ tá tràng (6 BN); Vỡ cơ
hoành (3 BN) Cả 3 BN này đều có tổn thương phối hợp trong ổ bụng;
Vỡ lách lớn (3 BN); Rách mạc treo lớn (4 BN) do khó kiểm soát đến gốc mạc treo; Vỡ ruột non (2BN) do ruột tổn thương nhiều chỗ, ổ bụng bẩn nhiều thức ăn
- Các tổn thương cần nội soi có hỗ trợ: 1 BN rách thanh mạc ruột rộng; Vỡ ruột non (10 BN); Rách mạc treo lớn (2 BN); Vỡ bàng quang lớn (1 BN)
3.8 Kết quả hậu phẫu
3.8.1 Thời gian có lưu thông tiêu hóa trở lại Bảng 3.46: Thời gian có lưu thông tiêu hóa trở lại ở các nhóm BN
Nhóm Số
BN
Thời gian trung bình 95% CI
Nội soi đơn thuần 42 26,64 ± 16,05 20,94 – 32,33 PTNS điều trị 60 47,54 ± 16,05 40,33 – 54,75 Chuyển mổ mở 18 65,85 ± 11,21 59,07 – 72,62
Với các khoảng tin cậy 95% khác nhau rõ rệt ở 3 nhóm cho ta thấy nhóm chỉ cần nội soi chẩn đoán có lưu thông tiêu hóa trở lại sớm nhất (trong khoảng 1 ngày) rồi đến nhóm có tổn thương nhưng xử trí
được bằng nội soi (trong khoảng 2 ngày) cuối cùng là nhóm có tổn thương cần mổ mở (trong khoảng 3 ngày)