Nghiên cứu điều trị liệt thần kinh quay không hồi phục bằng phẫu thuật chuyển gân theo phương pháp Smith
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
*************
Phạm Hoàng Lai
NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ LIỆT THẦN KINH QUAY KHÔNG HỒI PHỤC BẰNG PHẪU THUẬT CHUYỂN GÂN THEO PHƯƠNG PHÁP SMITH
Chuyên ngành: Chấn thương - Chỉnh hình
Mã số: 62.72.07.25
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Hà nội – 2009
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Viện nghiên cứu khoa học y dược lâm sàng 108
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Việt Tiến
TS Lê Văn Đoàn
Phản biện 1: PGS.TS Trần Đình Chiến
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Ngọc Liêm
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Thái Sơn
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước họp tại:
Viện nghiên cứu khoa học y dược lâm sàng 108
Vào hồi:………giờ……….ngày…… tháng ………năm 2009
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia
Thư viện BVTƯQĐ 108
Thư viện Viện Thông tin Y hoc Trung ương
Trang 3QUAN ĐÃ CÔNG BỐ
1 Nguyễn Lâm Bình, Hà Phan Thắng, Phạm Hoàng Lai (2005), “ Tổng quan về các phương pháp chuyển gân phục hồi chức năng bàn tay trong điều trị
di chứng liệt thần kinh quay hiện nay”, Tạp chí Y học thực hành, số 3/505, tr 63-65
2 Phạm Hoàng Lai, Nguyễn Việt Tiến, Lê
Văn Đoàn (2008), “Kết quả bước đầu điều trị di
chứng liệt thần kinh quay cao bằng phẫu thuật chuyển
gân theo phương pháp Smith”, Tạp chí Y học Quân
sự, số 3/252, tr 23-26
3 Phạm Hoàng Lai, Nguyễn Việt Tiến, Lê Văn Đoàn (2008), “Kết quả điều trị di chứng liệt thần kinh quay bằng phẫu thuật chuyển gân theo phương
pháp Smith”, Tạp chí Y học thực hành, số
620+621/2008, tr 307-311
4 Phạm Hoàng Lai, Nguyễn Việt Tiến, Lê
Văn Đoàn (2008), “Liệt thần kinh quay thấp không
hồi phục và kết quả điều trị bằng phẫu thuật chuyển
gân”, Tạp chí thông tin y dược, số 11/ 2008, tr 14-17
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Liệt thần kinh quay (TKQ) thường gặp trong lâm sàng Nguyên nhân thường gặp do chấn thương, đặc biệt là trong gãy thân xương cánh tay Tỷ lệ liệt TKQ không hồi phục chiếm từ 10% đến 20% các trường hợp liệt TKQ Chuyển gân được xem là phương pháp điều trị hiệu quả nhất đối với liệt TKQ không hồi phục Có nhiều phương pháp chuyển gân được sử dụng Việc lựa chọn cơ làm động lực duỗi ngón còn chưa thống nhất
Các phương pháp sử dụng cơ gấp nông ngón III và IV làm động lực duỗi ngón có nhược điểm là quá trình tập luyện sau mổ rất khó khăn, nhất là ở những người lớn tuổi Hơn nữa, khi lấy đi gân gấp nông sẽ làm yếu lực nắm của bàn tay và có nguy cơ gây dính gân ở đầu ngoại vi Việc chọn cơ gấp cổ tay trụ làm động lực duỗi ngón có nhược điểm là làm thay đổi trục cơ năng, gây biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay, ảnh hưởng chức năng bàn tay Phương pháp chuyển gân của Smith là sử dụng cơ gấp cổ tay quay làm động lực duỗi ngón, cơ gấp cổ tay trụ được giữ lại nên bảo tồn được sự cân bằng và trục cơ năng của cổ tay Phương pháp này phù hợp hơn về mặt sinh cơ học, khắc phục được một số nhược điểm của các phương pháp trước đó
Ở Việt Nam, một số tác giả ứng dụng phương pháp chuyển gân của Djanelidze và của Iselin để điều trị liệt TKQ không hồi phục
và nhận thấy còn tồn tại một số nhược điểm Chưa có tác giả nào nghiên cứu ứng dụng phương pháp chuyển gân của Smith
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và qua tham khảo y văn, tôi
tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu điều trị liệt TKQ không hồi phục bằng phẫu thuật chuyển gân theo phương pháp Smith"
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá kết quả điều trị liệt TKQ không hồi phục bằng phẫu thuật chuyển gân theo phương pháp Smith
Trang 5- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật, đề
xuất biện pháp khắc phục để đạt kết quả phục hồi chức năng cao nhất
3 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài có tính khoa học và thực tiễn vì đã đề cập đến một phương pháp chuyển gân có nhiều ưu điểm, phù hợp hơn về mặt sinh
cơ học để điều trị liệt TKQ không hồi phục, một loại tổn thương phức tạp, thường gặp trong Chấn thương Chỉnh hình
Đề tài có ý nghĩa thời sự vì cho đến nay, chuyển gân vẫn là phương pháp điều trị hiệu quả nhất đối với liệt TKQ không hồi phục,
ở nước ta chưa có tác giả nào nghiên cứu và ứng dụng phương pháp chuyển gân của Smith trong điều trị liệt TKQ không hồi phục
4 Cấu trúc của luận án
Luận án có 124 trang, gồm các phần: đặt vấn đề (3 trang), tổng quan (34 trang), đối tượng và phương pháp nghiên cứu (20 trang), kết quả (33 trang), bàn luận (32 trang), kết luận (2 trang) Ngoài ra, luận án còn có 120 tài liệu tham khảo, 14 hình và 29 ảnh minh họa, 22 bảng biểu và phần phụ lục
Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Những đặc điểm giải phẫu và sinh cơ học các cơ
1.1.1 Đặc điểm giải phẫu các cơ vùng cẳng tay
1.1.1.1 Khu cẳng tay trước
Cơ sấp tròn có nguyên uỷ ở mỏm trên ròng rọc xương cánh tay, bắt chéo phía trước hai xương cẳng tay và bám tận vào bờ ngoài 1/3 giữa xương quay, tác dụng làm sấp cẳng tay Cơ gấp cổ tay quay,
cơ gan tay dài và cơ gấp cổ tay trụ có nguyên uỷ là gân chung bám ở mỏm trên ròng rọc xương cánh tay Cơ gấp cổ tay quay bám tận vào mặt trước nền xương bàn II, tác dụng gấp và nghiêng quay cổ tay Cơ gan tay dài bám tận vào mặt trước dây chằng vòng cổ tay và cân gan tay, tác dụng hổ trợ gấp cổ tay Cơ gấp cổ tay trụ bám tận vào nền
Trang 6xương bàn V, là cơ gấp cổ tay khoẻ nhất, duy trì trục cơ năng của khớp cổ tay
Ứng dụng: cơ sấp tròn được xem là cơ động lực phù hợp nhất cho phục hồi duỗi cổ tay do đặc điểm giải phẫu và hướng đi của cơ Hơn nữa, vẫn còn cơ sấp vuông bù trừ cho động tác sấp cẳng tay
Một số tác giả lấy cơ gấp cổ tay trụ làm động lực duỗi ngón vì
cơ này rất khoẻ Tuy nhiên, việc lấy đi cơ gấp cổ tay trụ sẽ làm yếu đi lực gấp cổ tay, thay đổi trục cơ năng và gây biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay Vì vậy, việc giữ lại cơ gấp cổ tay trụ là cần thiết và việc chọn cơ gấp cổ tay quay làm cơ động lực duỗi ngón là phù hợp hơn
1.1.1.2 Khu cẳng tay sau
Cơ duỗi cổ tay quay dài, cơ duỗi cổ tay quay ngắn và cơ duỗi
cổ tay trụ là những cơ duỗi cổ tay, có nguyên ủy ở mỏm trên lồi cầu xương cánh tay Cơ duỗi cổ tay quay dài bám tận vào mặt sau nền xương bàn II, tác dụng duỗi và nghiêng quay khớp cổ tay Cơ duỗi cổ tay quay ngắn bám tận vào mặt sau nền xương bàn III, là cơ động lực chính cho động tác duỗi cổ tay Cơ duỗi cổ tay trụ bám tận vào bờ trong của nền xương bàn V, tác dụng duỗi cổ tay và nghiêng trụ
Ứng dụng: Trong liệt TKQ cao, các cơ duỗi cổ tay bị liệt Cơ sấp tròn được chọn làm động lực duỗi cổ tay Trước đây, cơ sấp tròn được chuyển cho cả cơ duỗi cổ tay quay dài và duỗi cổ tay quay ngắn Điều này làm tăng thêm biến dạng nghiêng quay của cổ tay Hiện nay,
cơ sấp tròn được chuyển cho cơ duỗi cổ tay quay ngắn để khắc phục biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay
1.1.2 Đặc điểm sinh cơ học các cơ
1.1.2.1 Sức cơ và độ dài co cơ
Sức cơ và độ dài co cơ là những chỉ tiêu đánh giá khả năng co
cơ của một cơ Sức cơ là lực tạo ra khi cơ co và tỷ lệ thuận với thiết diện cắt ngang của cơ Độ dài co cơ là khoảng cách mà gân di chuyển
Trang 7khi cơ co và tỷ lệ thuận với chiều dài sợi cơ cấu tạo nên nó Sức cơ có thể tăng lên do luyện tập nhưng độ dài co cơ thì không thay đổi
Ứng dụng: Đối với động tác duỗi, biên độ duỗi quan trọng hơn lực duỗi Vì vậy, độ dài co cơ của cơ động lực quan trọng hơn sức
cơ Cơ gấp cổ tay quay không khỏe bằng cơ gấp cổ tay trụ nhưng có
độ dài co cơ lớn hơn nên sẽ phục hồi biên độ duỗi ngón tốt hơn và được xem là cơ động lực duỗi ngón phù hợp hơn cơ gấp cổ tay trụ
1.1.2.2 Sự hoạt động hiệp đồng của các cơ
Các cơ hoạt động hiệp đồng là các cơ cùng co đồng thời để tăng thêm hiệu quả co cơ của từng cơ riêng lẻ Điển hình là sự hiệp đồng giữa các cơ gấp cổ tay và các cơ duỗi ngón hoặc giữa các cơ duỗi cổ tay và các cơ gấp ngón Khi duỗi ngón thì các cơ duỗi chung
là cơ động lực thực hiện động tác trong khi các cơ gấp cổ tay đóng vai trò cân bằng làm vững khớp để tạo điều kiện cho các ngón duỗi thuận lợi hơn Vì vậy, chuyển cơ gấp cổ tay quay hoặc cơ gấp cổ tay trụ cho
cơ duỗi ngón thì kết quả sẽ tốt hơn chuyển các cơ gấp nông
1.2 Các nhóm phương pháp chuyển gân phổ biến hiện nay
1.2.1 Các phương pháp sử dụng cơ gấp nông làm động lực
Đại diện là Boyes J H và Chuinard R G Với nội dung chuyển cơ sấp tròn cho cơ duỗi cổ tay quay ngắn, cơ gấp nông ngón
IV cho cơ duỗi dài ngón I và duỗi riêng ngón II, cơ gấp nông ngón III cho cơ duỗi chung, cơ gấp cổ tay quay cho cơ giạng dài và duỗi ngắn ngón I Các tác giả báo cáo kết quả ứng dụng phương pháp sử dụng cơ gấp nông làm động lực duỗi ngón cho 22 BN Kết quả phục hồi vận động khá thoả đáng Tuy nhiên, tác giả không nêu cụ thể mức độ phục hồi biên độ vận động các khớp cũng như ảnh hưởng đến lực nắm
Theo Brand P W., Green D P., Tsuge K…, phương pháp này
có ưu điểm là cơ gấp nông có độ dài co cơ lớn nên đạt được biên độ duỗi tối đa các ngón Nhược điểm là khó khăn trong tập luyện sau mổ
Trang 8vì không phải là cơ đồng pha Việc lấy đi gân gấp nông sẽ làm giảm lực nắm của bàn tay và có nguy cơ dính gân gấp
1.2.2 Các phương pháp sử dụng cơ gấp cổ tay trụ làm động lực
Đại diện cho nhóm này là các tác giả như: Riordan D C., Skoll P J., Green D P Nội dung là chuyển cơ sấp tròn cho cơ duỗi cổ tay quay ngắn, cơ gấp cổ tay trụ cho cơ duỗi chung, cơ gan tay dài cho
cơ duỗi dài ngón I
Năm 1980, Tsuge K tổng kết 25 BN được chuyển gân theo phương pháp này và thấy rằng kết quả phục hồi biên độ các khớp đạt được khá thỏa đáng Phương pháp này có ưu điểm là cơ gấp cổ tay trụ
có sức cơ khoẻ nên dễ phục hồi, kết quả đáng tin cậy và là cơ hoạt động hiệp đồng với các cơ duỗi ngón nên thuận lợi cho quá trình luyện tập sau mổ Nhược điểm là độ dài co cơ của cơ gấp cổ tay trụ ngắn nên không thể duỗi hết biên độ các ngón đồng thời khi duỗi khớp
cổ tay Việc lấy đi cơ gấp cổ tay trụ làm yếu lực gấp cổ tay, thay đổi trục cơ năng và tăng thêm biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay Hơn nữa, do không phục hồi động lực giạng ngón I nên động tác giạng ngón I bị hạn chế
1.2.3 Các phương pháp sử dụng cơ gấp cổ tay quay làm động lực
Các tác giả như Brand P W., Tsuge K thực hiện chuyển cơ sấp tròn cho cơ duỗi cổ tay quay ngắn; cơ gấp cổ tay quay qua màng liên cốt cho cơ duỗi chung; cơ gan tay dài cho cơ duỗi dài ngón I Tsuge K đã ứng dụng phương pháp này này điều trị cho 27
BN liệt TKQ Kết quả đạt được sự phục hồi biên độ vận động các khớp rất tốt, hạn chế được biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay Tác giả thấy rằng chuyển cơ gấp cổ tay quay qua màng liên cốt có ưu điểm
là đường đi thẳng nên làm tăng hiệu quả co cơ, ít có nguy cơ dính gân hơn chuyển cơ gấp cổ tay trụ qua bờ trụ cẳng tay Tuy nhiên, tác giả cũng thừa nhận là biên độ giạng ngón I còn hạn chế vì phương pháp này không phục hồi được động lực để giạng ngón I
Trang 9Smith R J thấy rằng động tác giạng ngón I có vai trò rất quan trọng đối với chức năng của bàn tay nên chủ trương phục hồi Tác giả cải biên kỹ thuật phục hồi vận động ngón I từ phương pháp của Tsuge
K bằng cách treo gân cơ giạng dài ngón I vào chỗ bám tận của gân cơ cánh tay quay trong tư thế xương bàn I giạng tối đa Sau đó, chuyển
cơ gan tay dài cho cơ duỗi ngắn và duỗi dài ngón I sau khi đã chuyển hướng hai cơ này qua đường hầm dưới da ra bờ ngoài cổ tay Mục đích nhằm tạo thế cân bằng cho xương bàn I để cơ gan tay dài làm động lực vừa duỗi, vừa giạng ngón I
Năm 2003, Ishida O và Ikuta Y ứng dụng phương pháp chuyển gân của Tsuge K và Smith R J điều trị cho 35 BN lịêt TKQ Kết quả phục hồi rất tốt cả về chức năng và thẩm mỹ Tất cả các BN đều thỏa mãn với kết quả phẫu thuật Theo tác giả, chọn cơ gấp cổ tay quay làm động lực duỗi ngón có ưu điểm là độ dài co cơ lớn hơn cơ gấp cổ tay trụ, đường đi thẳng qua màng liên cốt làm tăng hiệu quả co
cơ, vẫn bảo đảm độ vững của khớp cổ tay do cơ gấp cổ tay trụ được bảo tồn Từ kết quả trên, các tác giả nhận thấy rằng chọn cơ gấp cổ tay quay làm động lực là phù hợp hơn cơ gấp cổ tay trụ
1.3 Ứng dụng phẫu thuật chuyển gân điều trị liệt thần kinh quay không hồi phục ở Việt Nam
Năm 1983, Đỗ Lợi nghiên cứu điều trị 61 BN di chứng liệt TKQ cao do vết thương hỏa khí bằng chuyển gân theo phương pháp Djanelidze và phương pháp Iselin Theo Starr C L., Zachary R B và Smith R J., việc sử dụng cả hai cơ gấp cổ tay là cơ gấp cổ tay trụ và
cơ gấp cổ tay quay làm động lực cho các cơ duỗi theo Djanelidze sẽ gây mất cân bằng ở khớp cổ tay Dần dần, khớp cổ tay trở nên quá duỗi làm cho khớp bàn ngón không duỗi được thỏa đáng, ảnh hưởng đến chức năng của bàn tay Hơn nữa, vì các cơ động lực này vừa làm nhiệm vụ duỗi ngón vừa đồng thời hỗ trợ duỗi cổ tay nên khớp cổ tay không thể duỗi độc lập, khi các ngón gấp thì cổ tay cũng thụ động gấp
Trang 10theo Phương pháp Iselin thì sử dụng cơ gấp cổ tay trụ làm động lực duỗi ngón nên có những nhược điểm đã được phân tích ở phần trên
Đến năm 2005, Hoàng Vĩnh Phúc báo cáo kết quả chuyển gân theo phương pháp Iselin (phương pháp mà Đỗ Lợi đã ứng dụng trước đó) điều trị cho 15 trường hợp di chứng liệt TKQ cao Kết quả phục hồi chức năng vận động đạt được khá tốt Tuy nhiên, tác giả cũng thấy rằng, phương pháp này có nhược điểm là động tác duỗi và giạng ngón
I hạn chế cả về biên độ lẫn sức co cơ, tất cả các BN đều có biến dạng nghiêng quay cổ tay với các mức độ khác nhau
Tóm lại, phương pháp chuyển gân của Smith, với những cải biên kỹ thuật như chuyển gân cơ gấp cổ tay quay qua màng liên cốt cho cơ duỗi chung và kỹ thuật treo gân cơ giạng dài ngón I vào gân cơ cánh tay quay là phù hợp về mặt sinh cơ học, làm tăng thêm hiệu quả phục hồi chức năng bàn tay Ở nước ta hiện nay, vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Chính vì vậy, đây là lý do để tiến hành nghiên cứu đề tài này
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- 72 BN bị tổn thương TKQ không hồi phục Trong đó, có 22
BN hồi cứu và 50 BN tiến cứu Tuổi trung bình là 29,5 Tập trung nhiều nhất ở lứa tuổi từ 20 đến 40 tuổi Có 36 BN liệt TKQ cao và 36
BN liệt thấp Có 49 BN liệt TKQ do vết thương làm đứt TK, 21 BN tổn thương TKQ có liên quan đến gãy xương
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Tất cả các BN hồi cứu cũng như tiến cứu đều được lựa chọn theo chỉ tiêu thống nhất và áp dụng cùng một quy trình kỹ thuật mổ
Về hồi cứu, dữ liệu được thu thập qua nghiên cứu, tổng hợp từ hồ sơ, bệnh án và gọi BN tái khám định kỳ để theo dõi kết quả xa Tiến hành khám, chụp ảnh làm tư liệu, ghi chép thống kê kết quả
Với nhóm tiến cứu, được tiến hành theo các bước sau:
Trang 11- Khám xét, đánh giá tình trạng toàn thân, tổn thương tại chổ
và các tổn thương phối hợp Khám tình trạng các cơ để đánh giá sức
cơ động lực, khả năng bù trừ sau khi lấy đi cơ động lực Đánh giá tình trạng các khớp qua biên độ vận động chủ động và thụ động
- Ghi chép, chụp ảnh làm tư liệu nghiên cứu trước mổ
- Tiến hành phẫu thuật theo phương pháp được lựa chọn
- Phương pháp phẫu thuật:
+ Chuyển cơ sấp tròn cho cơ duỗi cổ tay quay ngắn
+ Cơ gấp cổ tay quay qua màng liên cốt cho cơ duỗi chung + Cơ gan tay dài cho cơ duỗi dài, duỗi ngắn ngón I sau khi chuyển hướng 2 cơ này qua đường hầm dưới da ra bờ ngoài cổ tay
+ Treo gân cơ giạng dài ngón I vào điểm bám tận của gân cơ cánh tay quay trong tư thế xương bàn I giạng tối đa
- Theo dõi điều trị sau mổ
- Kiểm tra kết quả định kỳ (đánh giá kết quả phục hồi biên độ vận động các khớp theo tiêu chuẩn của Tajima, kết hợp mức độ phục hồi lực nắm, mức độ nghiêng quay cổ tay và kết quả khảo sát ý kiến chủ quan của BN) Kết quả được xếp loại như sau:
* Rất tốt: Các ngón duỗi hết biên độ khi cổ tay duỗi 100 trở lên
Các ngón gấp hết biên độ khi cổ tay gấp 100 trở lên Ngón I duỗi và giạng hết biên độ
Không có biến dạng nghiêng quay khớp cổ tay
Phục hồi lực nắm đạt từ 60% trở lên
BN theo được nghề cũ
BN rất hài lòng với kết quả phẫu thuật
* Tốt: Các ngón gấp và duỗi hết biên độ khi cổ tay ở tư thế 00
Ngón I duỗi và giạng hết biên độ
Nghiêng quay khớp cổ tay dưới 100
Phục hồi lực nắm đạt từ 50% - 60%
BN theo được nghề cũ
Trang 12BN hài lòng với kết quả phẫu thuật
* Trung bình: Các ngón duỗi hết biên độ khi cổ tay gấp 200
Các ngón gấp hết khi cổ tay duỗi 200 Nghiêng quay từ 100 - 200
Phục hồi lực nắm đạt từ 40% - 50%
BN chấp nhận kết quả phẫu thuật
Khó khăn khi theo nghề cũ hoặc phải chuyển nghề
* Xấu: Biên độ vận động kém hơn mức trung bình
Nghiêng quay trên 200
Phục hồi lực nắm dưới 40%
BN không hài lòng với kết quả phẫu thuật
Khó khăn khi sử dụng bàn tay trong sinh hoạt hàng ngày
- Ghi chép, chụp ảnh, làm tư liệu nghiên cứu kết quả sau mổ
- Phân tích, xử lý số liệu bằng các thuật toán thống kê
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.2 Xử trí kỳ đầu sau tổn thương
- Xử trí kỳ đầu trong liệt cao
Bảng 3.1: Xử trí kỳ đầu trong liệt cao (n=36)
Xử trí kỳ đầu Số lượng Tỷ lệ Cắt lọc, khâu vết thương đơn thuần 19 52,8%
Kết hợp xương và xử trí thần kinh 1 2,8%
Cắt lọc vết thương và xử trí TK 1 2,8%
Chỉ có 2 trường hợp (5,6%) được xử trí tổn thương TKQ cùng
với xử trí vết thương hoặc ổ gãy xương Tất cả những trường hợp còn
lại, tổn thương TK đều bị bỏ sót
Trang 13- Xử trí kỳ đầu trong liệt thấp
Bảng 3.2: Xử trí kỳ đầu trong liệt thấp (n=36)
Xử trí kỳ đầu Số lượng Tỷ lệ Cắt lọc, khâu vết thương đơn thuần 25 69,5%
3.3 Thời điểm tiến hành phẫu thuật chuyển gân
- Trong liệt cao
Bảng 3.3: Thời điểm phẫu thuật trong liệt cao (n=36)
Thời điểm phẫu thuật Số lượng Tỷ lệ
Từ 6 tháng đến 1 năm 19 52,8%
Tất cả các BN được phẫu thuật chuyển gân ở thời điểm sau 6
tháng từ khi tổn thương Trong đó, thời điểm từ trước 1 năm là 19/36
trường hợp (52,8%) và sau 1 năm là 17/36 trường hợp (47,2%)
- Trong liệt thấp
Bảng 3.4: Thời điểm phẫu thuật trong liệt thấp (n=36)
Thời điểm phẫu thuật Số lượng Tỷ lệ
Từ 3 tháng đến 1 năm 29 80,6%