Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phương pháp điều trị phẫu thuật viêm tuỵ cấp ở người có sỏi đường mật
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ y tế
Trường Đại học Y Hμ Nội
-
Susat vôngphachăn
Nghiên cứu đặc điểm lâm sμng,
cận lâm sμng vμ phương pháp điều trị phẫu thuật viêm TỤY cấp ở người
Trang 2Trường Đại học Y Hμ Nội
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Hà Văn Quyết PGS.TS Nguyễn Ngọc Bích
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Quang Hùng
Phản biện 2: PGS.TS Hoàng Công Đắc
Phản biện 3: PGS.TS Trần Bình Giang
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước tại Trường Đại học Y Hà Nội
Vào hồi 14 giờ, ngày 10 tháng 06 năm 20009
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Y học Trung ương
- Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội
Trang 3Các công trình đ∙ công bố liên quan đến luận án
1 Susạt Vôngphachăn, Hà Văn Quyết (2007) “Đánh giá kết
quả phẫu thuật cắt túi mật nội soi trong viêm tuỵ cấp”, Hội nghị khoa học của nghiên cứu sinh lần thứ XIII, Báo cáo khoa
học tr 30
2 Hà Văn Quyết, Susạt Vôngphachăn (2008), “Đánh giá kết
quả điều trị phẫu thuật viêm tuỵ cấp do sỏi mật”, Y Học Thực Hành, số 7 tr 56-59
3 Hà Văn Quyết, Susạt Vôngphachăn (2008), “Đánh giá kết
quả bước đầu phẫu thuật cắt túi mật nội soi trong viêm tuỵ
cấp”, Ngoại khoa, số 1 tr 6-10
Trang 4đặt vấn đề
Viêm tuỵ cấp (VTC) là một trong những bệnh cấp cứu ngoại khoa
thường gặp Bệnh thường xuất hiện đột ngột với các triệu chứng lâm sàng
đa dạng, diễn biến nặng nề, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ mắc theo Tổ chức Y tế
Thế giới tần suất này khoảng 25-50/100000 dân, ở châu Âu tỷ lệ này là
22/100000 dân và chiếm khoảng 1% trong số những BN cấp cứu bụng ở
Việt Nam chưa thấy báo cáo thống kê cả nước, theo một số tài liệu nghiên
cứu tại Bệnh viện Việt - Đức cho thấy tỷ lệ này khoảng 1/300
Năm 1579 Aubert là người đầu tiên mô tả về bệnh này dựa trên cơ sở
mổ tử thi, năm 1685 Nicola Kulpe mô tả qua gfb về VTC Năm 1912
Zoepfel cho rằng sỏi mật cũng là một nguyên nhân gây VTC Từ đó trên
thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về VTC nói chung, VTC do
sỏi giun đường mật - tụy nói riêng, nhưng vẫn chưa tìm được sự thống nhất
về: căn nguyên, bệnh sinh, chẩn đoán, và thái độ xử trí
Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, sự hiểu
biết sâu hơn về sinh lý, sinh hoá tụy, sự ra đời các phương pháp thăm dò
enzym tụy, siêu âm, chụp cắt lớp vi tính… nhờ đó mà chẩn đoán, điều trị,
theo dõi và tiên lượng bệnh VTC đã được tốt hơn Mặc dù có nhiều phương
pháp thăm dò hỗ trợ như vậy, nhưng việc kết hợp chặt chẽ giữa thăm dò hỗ
trợ với đặc điểm lâm sàng để chẩn đoán, theo dõi, tiên lượng, trong điều trị
VTC là rất cần thiết, đặc biệt là trong hoàn cảnh nước ta hiện nay
Điều trị VTC: VTC ở người có sỏi đường mật điều trị nội khoa chỉ
mang tính chất hồi sức và hỗ trợ cho điều trị phẫu thuật, việc can thiệp lấy
sỏi trong đường mật có ý nghĩa quyết định trong điều trị Phương pháp
phẫu thuật: bên cạnh phẫu thuật kinh điển (mổ mở), phẫu thuật nội soi
cũng được áp dụng trong điều trị bệnh VTC ở BN có sỏi đường mật và
mang lại kết quả khả quan Cho dù mỗi phương pháp đều có ưu - nhược
điểm nhất định và có chỉ định riêng cho từng phương pháp, nên việc lựa
chọn các phương pháp thích hợp cho từng trường hợp để mang lại kết quả
điều trị cao nhất cho người bệnh, đó là một vấn đề cần phải đặt ra Chính vì
Trang 5thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng,
cận lâm sàng và phương pháp điều trị phẫu thuật viêm tuỵ cấp ở người có sỏi đường mật" Nhằm mục tiêu:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tổn thương giải phẫu của vtc ở người có sỏi đường mật
- Đánh giá kết quả các phương pháp điều trị: phẫu thuật kinh
điển, phẫu thuật nội soi đối với các bệnh nhân này
tính cấp thiết của đề tμi
VTC là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp với hai thể bệnh khác nhau đó là VTC do nguyên nhân cơ học và VTC không do nguyên nhân cơ học ở Việt Nam VTC có nguyên nhân cơ học mà đặc biệt là sỏi đường mật là rất thường gặp Ngày nay việc chẩn đoán xác định đã có nhiều tiến
bộ nhờ các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại như siêu âm, cắt lớp
vi tính, cộng hưởng từ điều đó giúp ích rất nhiều cho chỉ định mổ Về điều trị: điều trị nội chỉ mang tính chất hồi sức và hỗ trợ cho phẫu thuật Phương pháp phẫu thuật ngoài mổ mở, phẫu thuật nội soi được áp dụng cho một số chỉ định nhất là điều trị VTC ở người có sỏi đường mật và đã cho những kết quả kích lệ Do đó việc nghiên cứu chẩn đoán và phương pháp điều trị phẫu thuật VTC ở người có sỏi đường mật, là một nhu cầu cấp thiết trong
điều kiện hiện nay
những đóng góp mới của luận án
Đề tài này đã giúp cho thầy thuốc có cách nhìn tổng hợp về bệnh lý VTC ở người có sỏi đường mật, để có phương pháp chẩn đoán và thái độ
xử trí cả về thời gian và kỹ thuật
Đánh giá kết quả của phương pháp điều trị: phẫu thuật kinh điển (PTKĐ), đặc biệt là phẫu thuật nội soi (PTNS) với loại bệnh lý này nhằm góp thêm hiểu biết tổng thể về mặt bệnh lý và phương pháp xử trí Từ đó
đưa ra những khuyến cáo trong việc áp dụng phương pháp phẫu thuật thích hợp trong từng thời điểm với các thể bệnh
Trang 6Bố cục luận án
Luận án gồm có 4 chương và 124 trang: đặt vấn đề 2 trang, tổng quan
36 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 14 trang, kết quả nghiên cứu 37 trang, bàn luận 32 trang, kết luận 2 trang, kiến nghị 1 trang, các công trình đã công bố 1 trang Luận án gồm 39 bảng, 6 biểu đồ, 8 hình,
6 ảnh và có 109 tài liệu tham khảo (tiếng Việt 43, tiếng Anh 54, tiếng Pháp 12), bệnh án nghiên cứu 3 trang và danh sách bệnh nhân nghiên cứu (86 bệnh nhân)
Chương 1 Tổng quan tμi liệu
1.1 Nghiên cứu bệnh viêm tụy cấp trên thế giới
Dựa trên cơ sở mổ tử thi vào thế kỷ 16 của Aubert vào năm 1579 đó là người đầu tiên báo cáo về VTC, sau đó Nicola Kulpe tiếp tục nghiên cứu và mãi đến năm 1685 ông mô tả bệnh lý của VTC Mặc dù VTC đã được biết
đến từ lâu nhưng cách điều trị VTC đã trải qua nhiều thế kỷ diễn biến trái ngược nhau, nhất là cuộc tranh luận giữa điều trị nội khoa và điều trị phẫu thuật của Senn và Fitz vào những năm cuối 1800 Năm 1901 Opie là người
đầu tiên phát hiện khi mổ tử thi VTC do sỏi kẹt ở bóng Vater ở BN tử vong
do Halsted mổ cấp cứu VTC Tiếp theo là Zoepfel năm 1912 đã mô tả tổn thương VTC như thể phù và thể hoại tử chảy máu và là người đầu tiên cho rằng sỏi mật là một nguyên nhân gây VTC Năm 1959 Chau báo cáo một trường hợp mổ thành công cắt 40% tuỵ phần thân và đuôi, BN sống và ra viện Tiếp đến là Watts, Khedroo, Waterman Năm 1974 Ranson qua nghiên cứu của mình, đã đưa ra bảng tiên lượng sớm gồm 11 dấu hiệu Năm 1982 Imrie đưa ra một bảng yếu tố tiên lượng bệnh VTC gồm 8
điểm, dựa trên những đánh giá từ khi bệnh nhân vào viện
Trang 71.2 Nghiên cứu bệnh VTC ở Việt Nam
Năm 1945, Tôn Thất Tùng qua 54 bệnh án VTC đã gặp ở Việt Nam từ
1935 đến 1945, đã phân tích, trình bày khá toàn diện, đầy đủ về các mặt:
Đặc điểm lâm sàng, thương tổn giải phẫu bệnh, đối chiếu giữa lâm sàng và giải phẫu bệnh, từ đó đưa ra những minh chứng về căn nguyên sinh bệnh của VTC Năm 1966 Nguyễn Xuân Thụ và Nguyễn Như Bằng đã công bố
mổ tử thi 14 TH VTC do giun chui lên ống mật Năm 1971 Đỗ Kim Sơn
và Phạm Đình Châu báo cáo trường hợp VTC do giun chui lên ống Wirsung Năm 1991, Trần Văn Phối qua tổng kết 28 trường hợp VTC có
mổ, cho biết tỷ lệ tử vong là 42,85% Năm 1993 Nguyễn Quang Nghĩa, Hoàng Công Đắc tổng kết điều trị VTC trong 5 năm tại Bệnh viện Việt
Đức với 173 trường hợp, cho biết tỷ lệ mổ là 26% Năm 1994, Nguyễn Tiến Quyết, Đỗ Kim Sơn, Trần Gia Khánh, Nguyễn Quang Nghĩa qua 228 trường hợp VTC được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Việt Đức từ 1991
đến 1993 cho biết tỷ lệ mổ giảm còn 15%, tỷ lệ tử vong giảm còn 23% Năm 1995, Nguyễn Quang Nghĩa qua nghiên cứu 107 trường hợp VTC có
mổ tại Bệnh viện Việt Đức từ 1986-1994, đã đưa ra kết luận: VTC thể phù hay gặp (70%), thể hoại tử chảy máu (30%), nguyên nhân sỏi, giun đường mật-tụy (24,3%), tử vong (18,7%) Năm 2000, Nguyễn Khắc Đức qua nghiên cứu 78 bệnh nhân VTC do sỏi mật, với kết quả tốt 64,1%, xấu 6,4%, tỷ lệ tử vong 3,8% Năm 2002, Trịnh Văn Thảo qua nghiên cứu điều trị phẫu thuật 70 trường hợp, VTC hoại tử tại Bệnh viện Việt Đức, đưa ra kết luận: VTC hoại tử thường không có nguyên nhân rõ ràng chiếm 74,28%, sỏi giun đường mật -tụy chiếm 17,15%, sau phẫu thuật vùng mật- tụy chiếm 1,43%, kết quả tốt và trung bình là 77,13%, xấu 7,15%, tử vong 15,72% Năm 2003 Hoàng Thọ nghiên cứu trên 90 bệnh nhân VTC không
do nguyên nhân cơ học được mổ tại Bệnh viện Việt Đức với kết quả tốt 64,4%, trung bình 16,7%, tử vong 18,9% Năm 2004 Hà Văn Quyết và Lê Quang Cường “Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị can thiệp VTC do sỏi và giun tại Bệnh viện Việt - Đức, với các trường hợp 70% cho kết quả tốt
Trang 8Chương 2
Đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm tất cả BN đều làm siêu âm và chụp cắt lớp vi tính trước mổ
và được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Đức với chẩn đoán trong mổ
là VTC ở người có sỏi đường mật từ năm 2000-2006, không giới hạn giới Loại trừ những trường hợp chẩn đoán trong mổ không có sỏi mật hoặc mô tả tuỵ bình thường, BN can thiệp phẫu thuật ở tuyến trước
tuổi-2.2 Phương pháp nghiên cứu
Công trình nghiên được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Cỡ mẫu nghiên cứu
Số BN tối thiểu cần nghiên cứu được tính theo công thức:
2
2 2 / 1
E
) P 1 ( P x ) Z (
= ư α
Trong đó: N là số BN tối thiểu cần có, Z1-α/2 = 1,96 (giá trị giới hạn tin cậy), E = 0,01 (sai số tối thiểu cho phép), P = Tỷ lệ phẫu thuật có kết quả theo ước lượng chung của một số tác giả đánh giá điều trị phẫu thuật VTC
do sỏi mật (P≈70%), Thay vào công thức trên, có N≈80 Như vậy số BN tối thiểu cần phải nghiên cứu là 80 BN
2.2.2 Chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.2.1 Đặc điểm của nhóm nghiên cứu: tỷ lệ phẫu thuật trong năm, tuổi-
giới, địa dư và nghề nghiệp
2.2.2.2 Đặc điểm lâm sàng: tiền sử VTC và sỏi mật, dấu hiệu cơ năng, dấu
hiệu toàn thân, dấu hiệu thực thể
2.2.2.3 Đặc điểm cận lâm sàng: làm các xét nghiệm đặc biệt là Amylase
máu và niệu, siêu âm (SA) và cắt lớp vi tính (CLVT) được thực hiện ngày khi BN đến khám bệnh
2.2.2.4 Chẩn đoán
* Chẩn đoán trước mổ: dựa vào dấu hiệu lâm sàng, các chỉ số về xét
nghiệm, siêu âm, CLVT và đánh giá tổn thương tuỵ theo bảng phân độ nặng VTC hoại tử của Balthazar, để chẩn đoán trước mổ VTC và sỏi mật, chẩn đoán khi chỉ định phẫu thuật
Trang 9* Chẩn đoán trong mổ: tất cả BN trong nhóm nghiên cứu đều chẩn đoán
sau mổ là VTC ở BN có sỏi trong đường mật Dựa trên đại thể trong mổ
đánh giá tổn thương tuỵ, vị trí sỏi và tổn thương phối hợp khác
2.2.2.5 Tổn thương GFB và nuôi cấy: dựa theo kết quả nuôi cấy vi khuẩn
dịch ổ bụng, dịch mật và GPB lý tuỵ và túi mật
2.2.2.6 Phương pháp điều trị phẫu thuật: gồm phẫu thuật kinh điển
(PTKĐ) và phẫu thuật nội (PTNS) soi để can thiệp trên tuỵ và đường mật
2.2.2.7 Điều trị sau mổ
2.2.2.8 Đánh giá kết quả
* Đánh giá kết quả sớm sau mổ
- Biến chứng: tỷ lệ biến chứng sớm sau mổ, biến chứng giữa các thời
điểm phẫu thuật và các thể VTC, biến chứng giữa thời điểm can thiệp và
phương pháp phẫu thuật, điều trị biến chứng
- Theo dõi hậu phẫu: thời gian đau, trung tiện sau mổ; thời gian nằm
viện; thời gian nằm viện sau mổ (hậu phẫu)
- Đánh giá kết quả điều trị: của VTC hoại tử và VTC thể phù; kết
quả điều trị của PTKĐ và PTNS, kết quả trong từng thời điểm phẫu thuật
* Kết quả xa sau mổ: sau mổ ít nhất một tháng để phát hiện các biến
chứng và di chứng sau mổ
2.2.2.9 Xử lý số liệu Các số liệu được xử lý theo các thuật toán của thống
kê y học, theo chương trình phần mềm SPSS phiên bản 11.5
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Số liệu tổng quát
VTC ở người có sỏi đường mật được chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Đức từ năm 2000-2006 có 86 BN gồm: phẫu thuật kinh điển 62,8%, phẫu thuật nội soi là 37,2%, tuổi trung bình 48,9 ±16,8(18-88 tuổi), nữ 65,1%, nam 34,9%, tỷ lệ mắc ở nông thôn 58,1%, thành thị 41,9%
3.2 Kết quả nghiên cứu về lâm sμng
* Tiền sử VTC gặp 12,8% và có tiền sử sỏi mật gặp 57%
Trang 10Đau và phản ứng vùng thượng vị, hạ sườn phải 71 82,5
- Triệu chứng đau thượng vị, hạ sườn phải 100%
- Bụng chướng 83,7%, phản ứng vùng thượng vị, hạ sườn phải 82,5%
3.3 Triệu chứng cận lâm sμng
3.3.1 Các xét nghiệm
- Hematocrit > 35% chiếm 76,4% và < 25% có 8,3%
- Bạch cầu > 9000 có 76,83% và tăng > 15000 là 24,4%
- Ure máu tăng chiếm 15,1%, trong đó tăng ≥ 16 mmol/l có 2,3%
- Đường máu tăng chiếm 46,5%, trong đó tăng > 11 mmol/l chiếm 3,5%
- Canxi máu giảm chiếm 36,3% trong đó giảm < 2 mmol/l có 7,5%
- Bilirubin máu: Billirubin máu toàn phần tăng ≥ 20 là 86%, Bilirubin
máu toàn phần bình thường 14%
- SGOT; SGPT: Tăng SGOT chiếm 83,7%, SGPT là 86%
Bảng 3.2: Amylase máu và niệu
Amylase máu N≤ 220 U/l
Amylase niệu
N ≤ 1000 U/l Xét nghiệm
- Amylase máu tăng > 3 lần chiếm 93%, và > 10 lần là 26,7%
- Amylase niệu tăng > 3 lần chiếm 95,3%, tăng >10 lần chiếm 31,4%
Trang 11- H×nh ¶nh gi·n ®−êng mËt kh«ng cã sù kh¸c biÖt gi÷a SA vµ CLVT
B¶ng 3.4: VÞ trÝ cña sái mËt trªn siªu ©m vµ CLVT
Siªu ©m CLVT H×nh ¶nh
OMC + trong gan 15 17,4 15 17,4
Trang 12Bảng 3.5: CLVT tụy phân độ theo Balthaza-Ranson
Trang 13Trong số 5 BN SA không xác định sỏi trước mổ nhưng trong mổ: sỏi
OMC 1 BN, TM + OMC + trong gan 2 BN, Oddi 1 BN, TM + Oddi 1 BN
Trang 143.5 tổn thương giải phẫu bệnh vμ nuôi cấy vi khuẩn
* Thương tổn giải phẫu bệnh lý tuỵ: có 12 BN có kết quả GPB của tuỵ
trong đó tổ chức hoại tử 7 BN (58%) và tổ chức viêm cấp 5 BN (41,7%)
* Thương tổn GPB lý TM: Tổng số BN cắt túi mật 49 BN có kết quả GPB
38 BN chiếm (77,5%), tỷ lệ gặp thể mạn tính 55,3%, tiếp đến thể viêm cấp
31,6%, thể cấp viêm mủ 7,9%, thể viêm cấp hoại tử 5,2%
* Nuôi cấy vi khuẩn trong dịch mật-dịch ổ bụng
- 48 BN nuôi cấy vi khuẩn, kết quả dương tính 83,3%, âm tính 16,7%
- Chủng vi khuẩn trên mẫu E.coli là chiếm đa số 83,3%
3.6 Phương pháp phẫu thuật
3.6.1 Thời điểm phẫu thuật
Bảng 3.11: Thời điểm can thiệp của PTKĐ và PTNS
PTKĐ PTNS Tổng Can thiệp
- Chỉ định phẫu thuật < 7 ngày 87,2%, >7 ngày là 12,8% Trong đó chỉ
định mổ nhiều nhất ở thời điểm > 2 ngày chiếm 48,8%
- Thời điểm mổ sớm nhất là 12 tiếng muộn nhất là 18 ngày
Bảng 3.12: Thời điểm can thiệp giữa các thể bệnh
VTC thể phù VTC hoại tử Tổng Can thiệp
Trang 15VTC thể phù mổ ở thời điểm < 7 ngày chiếm 89,3%, > 7 ngày là 10,7%
VTC hoại tử mổ < 7 ngày chiếm 72,7%, > 7 ngày là 27,3%
3.6.2 Phương pháp can thiệp trên tuỵ và dẫn lưu HCMN
Bảng 3.13: Tỷ lệ phương pháp can thiệp trên tuỵ và dẫn lưu HCMN
Can thiệp trên tuỵ 8 BN (9,3%), mở bao tuỵ dẫn lưu 9,3%, dẫn lưu
hậu cung mạc nối 4,6% và 76,8% không can thiệp đến tuỵ
3.6.3 Phương pháp can thiệp trên đường mật
Bảng 3.14: Tỷ lệ giữa các phương pháp can thiệp trên đường mật
Phương pháp phẫu thuật
PP can thiệp đường mật BN % BN % BN %
2 Mở OMC lấy sỏi+kehr 14 87,5 2 12,5 16 18,6
3 Mở OMC lấy sỏi + kehr + MTHT 14 100 0 0,0 14 16,2
4 Cắt TM + mở OMC lấy sỏi + kehr 8 88,9 1 1,1 9 10,4
5 Cắt TM + mở OMC lấy sỏi 2 6,7 1 3,3 3 3,5
6 Cắt TM + mở OMC thăm dò + kehr 1 33,3 2 66,7 3 3,5
7 Mở OMC lấy sỏi+ kehr + DL áp xe
8 Mở OMC + kehr + cắt thuỳ gan trái 2 100 0 0,0 2 2,3
9 Mở OMC lấy sỏi+kehr + nối tuỵ ruột 1 100 0 0,0 1 1,2
10 Cắt TM + mở OMC lấy sỏi + kehr: