Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi - silic ở công nhân sản xuất vật liệu xây dựng và hiệu quả biện pháp can thiệp
Trang 1Học viện Quân y
Lê thị Hằng
Nghiên cứu
đặc điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi Silic
ở công nhân sản xuất vật liệu xây dựng
vμ hiệu quả biện pháp can thiệp
Chuyên ngành: Dịch tễ học
Mã số: 3.01.11
Tóm tắt luận án tiến sĩ y học
Hμ nội - 2007
Trang 2Luận án được hoμn thμnh tại học viện quân y
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
- GS TS Trương Việt Dũng
- TS Đào Xuân Vinh
Phản biện 1: GS TS Bùi Xuân Tám
Phản biện 2: PGS TS Lê Văn Trung
Phản biện 3: PGS TS Bùi Thanh Tâm
Luận án đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại Học viện Quân y
Hồi 8 giờ 30 phút ngày 15 tháng 6 năm 2007
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện Quân y
Trang 31 Lê Thị Hằng, Đào Xuân Vinh, Đoàn Huy Hậu, Lê Khắc
Đức (2002), “Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi -
silic ở công nhân sản xuất vật liệu ngành xây dựng”, Tạp chí
Y học thực hành, 2 (408)-2002, tr 73-75
2 Lê Thị Hằng, Trương Việt Dũng, Đào Xuân Vinh (2006),
“Tỷ lệ mới mắc, chỉ số mật độ mới mắc và một số yếu tố liên quan của bệnh bụi phổi - silic ở công nhân sản xuất vật
liệu xây dựng”, Tạp chí Y học thực hành, 10 (555), tr.72-74
Trang 4Những chữ viết tắt trong luận án
BP-Si Bụi phổi - silic
CNHH Chức năng hô hấp
CSSX Cơ sở sản xuất
FEV1 Thể tích thở ra tối đa trong giây đầu tiên (Forced
expiratory volume in the first second) FVC Dung tích sống gắng sức (Forced vital capacity)
ILO Tổ chức lao động Thế giới (International Labour
Oganization) MEF25% Lưu lượng thở ra tại vị trí còn lại 25% của FVC
(Maximal expiratory flow when 25% of the FVC remain
in the lungs) MEF25%-75% Lưu lượng thở ra tại vị trí 25%-75% của FVC (Maximal
expiratory flow when 25%-75% of the FVC in the lungs) MEF50% Lưu lượng thở ra tại vị trí còn lại 50% của FVC
(Maximal expiratory flow when 50% of the FVC remain
in the lungs) MEF75% Lưu lượng thở ra tại vị trí còn lại 75% của FVC
(Maximal expiratory flow when 75% of the FVC remain
in the lungs) MTLĐ Môi trường lao động
NIOSH Viện Quốc gia an toàn sức khoẻ lao động (National
Institute for Occupational Safety and Health)
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
VSMT Vệ sinh môi trường
WHO Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization) YHLĐ Y học lao động
Trang 5mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Bệnh bụi phổi - silic là bệnh xơ hóa phổi, tiến triển, không hồi phục, do thở hít phải bụi có hàm lượng silic tự do cao trong quá trình lao
động, thậm chí cả ngay sau khi ngừng tiếp xúc bệnh vẫn tiến triển Tình hình đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang phát triển, với tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi - silic là 21% ư 54,6%
ở Việt Nam bệnh bụi phổi - silic đã được công nhận là bệnh nghề nghiệp được đền bù từ năm 1976 Cho đến nay, bệnh bụi phổi - silic chiếm 89,7% trong hơn 14.0000 trường hợp bệnh nghề nghiệp được giám định Ngành sản xuất vật liệu xây dựng có hơn 30.000 công nhân lao động thường xuyên vẫn phải tiếp xúc với các yếu tố bất lợi gây ảnh hưởng xấu cho sức khoẻ con người Sự tiếp xúc với các yếu tố tác hại nghề nghiệp
đang là nguy cơ phát sinh bệnh bụi phổi - silic nói riêng và bệnh nghề nghiệp nói chung
Vì tính chất phổ biến và nghiêm trọng của bệnh bụi phổi - silic, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đặc biệt chú ý đến việc phòng chống bệnh bụi phổi - silic Nhằm thúc đẩy sự hợp tác Quốc tế rộng rãi trong lĩnh vực này, năm 1995 ủy ban liên hợp về Y học lao động của ILO và WHO đã đưa ra Chương trình thanh toán bệnh bụi phổi - silic trên phạm vi toàn cầu với mục tiêu giảm tỷ lệ mới mắc bệnh bụi phổi - silic (đến 2010) và thanh toán bệnh (đến 2030) Để hưởng ứng Chương trình toàn cầu của ILO/WHO, Nhà nước ta đã cho phép ngành Y tế
thực hiện dự án “Kế hoạch hành động quốc gia phòng chống bệnh bụi phổi - silic” và dự án này đã được triển khai năm 1999
Cho đến nay, bệnh bụi phổi - silic chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nhưng là bệnh có thể dự phòng được Do vậy, việc chẩn đoán sớm, xác định
được tỉ lệ mới mắc, đánh giá được vai trò các yếu tố liên quan từ đó đề xuất các biện pháp quản lý, theo dõi, giám sát, phát hiện, dự phòng thích hợp tiến tới thanh toán bệnh bụi phổi - silic là nhiệm vụ to lớn, cấp bách, thường xuyên và bắt buộc đối với ngành Y tế và các nhà quản lý
Trang 6Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc
điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi - silic ở công nhân sản xuất vật liệu xây dựng và đề xuất biện pháp can thiệp”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi - silic ở công nhân sản xuất vật liệu xây dựng
- Xác định vai trò một số yếu tố liên quan đến tần số mắc bệnh bụi phổi - silic
- Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp can thiệp nhằm hạn chế các yếu tố nguy cơ mắc bệnh bụi phổi - silic
3 Những đóng góp mới của luận án
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi - silic ở công nhân sản xuất vật liệu xây dựng: xác định tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ mới mắc, chỉ số mật độ mới mắc
- Xác định được mối liên quan giữa tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi - silic với nồng
độ bụi tiếp xúc, hàm lượng silic tự do trong bụi hô hấp và tình trạng sử dụng phương tiện bảo hộ an toàn lao động
- Đánh giá hiệu quả các giải pháp can thiệp đã đề xuất nhằm phòng chống bệnh bụi phổi - silic, kết quả: cải thiện điều kiện và môi trường lao động, chuyển biến nhận thức của công nhân về bệnh bụi phổi - silic và mạng lưới
- Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 24 trang
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu: 35 trang
- Chương 4: Bàn luận: 30 trang
- Kết luận: 2 trang
- Kiến nghị: 1 trang
Trang 7- Tham khảo 188 tài liệu (90 tài liệu tiếng Việt, 98 tài liệu tiếng Anh)
- Phần phụ lục dày 15 trang, gồm 2 mẫu phiếu điều tra phỏng vấn công nhân và cán bộ y tế, 1 mẫu phiếu khám bệnh bụi phổi - silic, 1 mẫu phiếu
điều tra cơ sở sản xuất và một số hình ảnh minh hoạ phim X quang phổi
Chương1
Tổng Quan
1.1 Dịch tễ học môi trường lao động và sức khoẻ
Hội nghị Quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới tại Copenhagen, 1979 đã xác
định phạm vi ứng dụng dịch tễ học trong lĩnh vực y học lao động nhằm phát hiện các yếu tố nguy cơ sức khoẻ nghề nghiệp, xác định và xem xét các yếu
tố tiêu chuẩn tiếp xúc cho phép; đánh giá hiệu lực của các biện pháp dự phòng; xác định các vấn đề cần ưu tiên trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ người lao động; nghiên cứu các khía cạnh xã hội của sức khoẻ người lao động
Mức độ tổn thương bệnh lý do các yếu tố tác hại nghề nghiệp chia 3 giai
đoạn: tiếp xúc với yếu tố nguy cơ còn trong giới hạn bù trừ; tiếp xúc quá mức, bệnh lý xuất hiện ở thể dưới lâm sàng, thực chất đã có thương tổn bệnh lý; bệnh thể hiện rõ trên lâm sàng, bệnh nghề nghiệp thường nặng, khả năng phục hồi sức khoẻ chậm dù được chữa trị tích cực và có thể bị tử vong Tương ứng với 3 giai đoạn tổn thương bệnh lý bệnh nghề nghiệp có 3 cấp dự phòng:
- Dự phòng cấp I: hạn chế tiếp xúc, không để bệnh xảy ra
- Dự phòng cấp II: ngăn ngừa bệnh tiến triển, không để thể dưới lâm sàng phát triển thành thể lâm sàng
- Dự phòng cấp III: ngăn ngừa các tai biến nặng của bệnh nghề nghiệp, hạn chế tử vong sớm
1.2 Bệnh bụi phổi - silic
- Lịch sử nghiên cứu: Năm 400 trước công nguyên, Hypocrat mô tả hiện
tượng khó thở, đau tức ngực khi về già ở thợ mỏ Thuật ngữ Silicosis được
Trang 8Visconti đưa ra khi tìm thấy SiO2 trong phổi tử thi vào năm 1871 Colis và
cs (1915) đã chỉ ra, thạch anh là nguyên nhân gây bệnh bụi phổi - silic Hội nghị quốc tế (Johannesburg-Nam Phi, 1930) đã xác định nguyên nhân tổn thương silico là SiO2 và bảng phân loại đầu tiên về bệnh bụi phổi được thông qua
- Cơ chế bệnh sinh: Các hạt bụi Silic thở hít vào phổi gây hiện tượng xơ
hóa tạo keo, trong khi các hạt bụi khác không có tính chất này Cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu biết rõ chính xác tại sao? Vì vậy, có nhiều giả thuyết khác nhau về cơ chế bệnh sinh của bệnh bụi phổi - silic, trong đó thuyết miễn dịch được chú ý nhiều nhất
- Tình hình nghiên cứu bệnh bụi phổi - silic
Trên thế giới: Đầu thế kỷ 20 ở châu á, châu Phi và châu Mỹ với sự phát
triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp mỏ và khai thác khoáng chất đã làm tăng số công nhân có nguy cơ mắc bệnh BP-Si Năm 1932-1934, bang Virginia (Hoa Kỳ) > 700 công nhân chết (hầm cầu Gawley) sau 5 năm lao
động 1988, Ehrlich RI và cs qua nghiên cứu ở 217 công nhân đúc thép, sản xuất vật liệu chịu lửa và gốm sành sứ cho thấy tỷ lệ mắc bệnh BP-Si tới 83% 1998, Cowie RL và cs qua nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh BP-Si chiếm tới 75,6% ở 242 thợ mỏ vàng ở Nam Phi
Tại các nước đang phát triển, nguy cơ mắc bệnh BP-Si lên tới hàng triệu người Trong giai đoạn 5 năm từ 1991-1995, ở Trung Quốc đã báo cáo trong số 59.773 trường hợp mới mắc bệnh bụi phổi, có tới 29.274 trường hợp mắc bệnh BP-Si Tính đến cuối năm 1998, số hiện mắc lên tới 42.041 trường hợp Hiện có hơn 10 triệu công nhân đang tiếp xúc với bụi silic Số lượng mới mắc trung bình khoảng từ 12.000-15.000 ca và hàng năm có khoảng 5.000 trường hợp tử vong vì bệnh BP-Si
ở Việt Nam: Tháng 5ư1977, phát hiện và giám định được 61 trường
hợp bị bệnh BP-Si từ thể 1/0p đến thể A tại nhà máy cơ khí Trần Hưng
Đạo Trong ngành xây dựng, đặc biệt là các khu vực sản xuất vật liệu xây dựng, tình hình ô nhiễm khá trầm trọng, đồng thời tỷ lệ mắc rất cao chiếm tới 39,9% Nghiên cứu của Phạm Ngọc Cảnh và cs (1989) ở khu vực khai thác đá sản xuất vật liệu xây dựng miền Trung, nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩn cho phép là 5 ư 8,5 lần, hàm lượng Silic tự do 51 ư 53,3% và tỷ lệ mắc BP-Si là 21,96% Ngành sản xuất vật liệu chịu lửa, hàm lượng SiO2 từ
Trang 935 ư 40%, nồng độ bụi môi trường dao động từ 18 ư 26 mg/m3, tỷ lệ bụi hô hấp từ 45 ư 60%, dẫn tới tỷ lệ mắc bệnh BP-Si rất cao là 38,4%
- Lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh bụi phổi - silic:
Các dấu hiệu lâm sàng bệnh BP-Si thường nghèo nàn, có một số xuất hiện ho khan trong giai đoạn đầu (John M.P và Pappas G.) Giai đoạn sau của bệnh, xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng về hô hấp như khó thở, ho, khạc đờm (Goto A., 1995) Những dấu hiệu lâm sàng không có tính chất
đặc hiệu cho bệnh BP-Si và xuất hiện muộn sau các hình ảnh X quang X quang phổi phát hiện được hình ảnh bất thường đặc trưng sớm của bệnh BP-
Si và được coi là "tiêu chuẩn vàng" trong chẩn đoán BP-Si Trapido A.S và cs,1998: khi chụp phim tình cờ cho 238 thợ mỏ (Nam Phi) phát hiện tỉ lệ mắc BP-Si 25%- 36% Thăm dò chức năng thông khí phổi cho thấy bệnh càng nặng rối loạn thông khí phổi càng tăng do hậu quả xơ hoá phổi và viêm nhiễm mạn tính
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh BP-Si, mà chủ yếu
điều trị triệu chứng, biến chứng và phục hồi chức năng hô hấp như: Corticosteroid, Fomic, liệu pháp oxy, rửa toàn bộ phổi
- Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh bụi phổi - silic
Tiền sử tiếp xúc: Người lao động được chẩn đoán mắc bệnh BP-Si nghề nghiệp phải có thời gian lao động ≥ 5 năm tiếp xúc với môi trường lao động
có hàm lượng SiO2 tự do chứa trong bụi hô hấp vượt tiêu chuẩn cho phép Nếu < 5 năm phải được các thầy thuốc chuyên khoa bệnh nghề nghiệp hội chẩn và xác định
Thăm dò chức năng thông khí phổi
Dấu hiệu lâm sàng hô hấp: đau ngực, ho, khó thở
Hình ảnh X- quang (là tiêu chuẩn vàng): Chụp phim X- quang phổi thẳng,
đọc phim dựa vào bộ phim mẫu của ILO - 2000 để đối chiếu
Trang 10Chương 2
Đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng và địa điểm nghiên cứu: Đối tượng được chọn nghiên cứu
là công nhân ở các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng có thời gian lao động liên tục ít nhất là 5 năm, tiếp xúc với môi trường làm việc có nồng độ bụi chứa hàm lượng silic tự do vượt TCCP và chia thành 3 nhóm nghiên cứu:
Nhóm 1: Công nhân khai thác đá (khoan nổ mìn, nghiền đá, vận hành
nghiền đá ) và sản xuất gạch chịu lửa tại các đơn vị: Mỏ đá Hoá An - Biên Hoà; Công ty gạch ngói Đồng Nai - Biên Hoà; Mỏ đá Xuân Hoà - Vĩnh Phúc; Mỏ đá Tràng Kênh - Hải Phòng
Nhóm 2: Công nhân sản xuất xi măng ở các phân xưởng: trộn liệu, nghiền
Clinker, lò nung, đóng bao, sửa chữa lò…thuộc các công ty sản xuất xi măng: Công ty Xi măng Bỉm Sơn - Thanh Hoá; Công ty Xi măng Bút Sơn -
Hà Nam; Công ty Xi măng Hải Phòng; Công ty Xi măng Hoàng Thạch - Hải Dương; Công ty Xi măng Hà Tiên II
Nhóm 3: Công nhân làm nghề sản xuất kính , khoan đổ đúc bê tông và cơ
khí tại các cơ sở: Công ty Kính Đáp Cầu - Bắc Ninh; Công ty bê tông xây dựng Hà Nội; Công ty cơ khí Đông Anh - Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2001 - 2004
2.2 Mẫu nghiên cứu
- Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu với phương pháp mô tả cắt ngang
Trong đó, n: cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu; p: tỷ lệ ước đoán quần thể; ε: sai
số tương đối cho phép; z(1- α /2): hệ số tin cậy; ứng với độ tin cậy 95% hệ số tin cậy là 1,96 Với độ tin cậy của nghiên cứu là 95%; sai số tương đối là 12%; tỷ lệ ước đoán quần thể là 8,5%, cỡ mẫu tối thiểu tính được là:
n = 2872, trên thực tế nghiên cứu 3168 đối tượng
2
2
) 2
2
212,0085,0
)085,01)96,1(
Trang 11- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu
phân tầng Số nhóm công nhân nghiên cứu được xác định đúng bằng số nhóm công nhân theo nguy cơ mắc bệnh bụi phổi - silic Số đối tượng nghiên cứu ở các nhóm được lấy theo tỷ lệ kích thước nhóm Tại mỗi nhóm chúng tôi chọn phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống Công thức tính cỡ mẫu theo tỷ lệ cho từng nhóm như sau:
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
Thiết kế của đề tài kết hợp 2 phương pháp nghiên cứu dịch tễ học: + Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả (có phân tích, sử dụng kết hợp mô tả cắt ngang và mô tả tương quan, thu thập các thông tin định tính và định lượng)
+ Phương pháp dịch tễ học can thiệp với thiết kế nghiên cứu mô tả
2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
- Kỹ thuật phỏng vấn: Thông tin về tiền sử tiếp xúc, hiểu biết, thái độ hành
vi với các yếu tố độc hại nghề nghiệp và các triệu chứng cơ năng của bệnh hô hấp được thu thập theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn
- Kỹ thuật khám lâm sàng: Thăm khám lâm sàng trực tiếp đối tượng nghiên
cứu (mẫu bệnh án 1; Phụ lục )
- Kỹ thuật cận lâm sàng: theo thường quy kỹ thuật của Viện Y học lao động
& Vệ sinh môi trường và thường quy xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng + Chụp X quang phổi: Máy X quang ARCOMA-200 - Nhật Bản
+ Thăm dò chức năng hô hấp: Máy SPIRO ANALYZER ST-95, hãng FUKUDA SANGYO - Nhật Bản, có chương trình phần mềm với các hằng
số của người châu á
Trang 12+ Xét nghiệm huyết học bằng máy phân tích tự động KX21 của hãng SYSMEX - Nhật Bản
+ Phân tích khí máu bằng máy IL1640 của Italia
- Khảo sát và đánh giá nồng độ bụi môi trường lao động (nồng độ bụi toàn phần, bụi hô hấp và hàm lượng Silic tự do), vi khí hậu (nhiệt độ; độ ẩm; tốc
độ gió) theo thường quy kỹ thuật của Viện Y học lao động & Vệ sinh môi trường Đánh giá môi trường lao động dựa trên tiêu chuẩn 3733/2002/BYT của Bộ Y tế
2.5 Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học bằng chương trình EPI INFO 6.04 và SPSS 11.0 tại Bộ môn Dịch tễ ư Học viện Quân y
Chương 3
Kết quả vμ bμn luận
3.1 Đặc điểm dịch tễ học bện b i p ổi - si c
3.1.1 Tỷ lệ hiện mắc bện b i p ổi - si c theo đặc t n cá nhân
Bảng 3.1 Tỷ lệ hiện mắc các thể bện BP-Si theo n óm nghề
Số nghi ngờ (thể 0/1p)
Số mắc bệnh (thể ≥1/0p) Nhóm
Trang 133.1.2 Tỷ lệ hiện mắc bệnh BP-Si theo nhóm nghề, tuổi nghề, nhóm tuổi, giới tính
Bảng 3.5 Phân bố số hiện mắc bệnh bụi phổi - silic
theo nhóm nghề và tuổi nghề
Tuổi nghề (năm) Nhóm nghề
55 (46,1)
26 (21,7) 120 Tuổi nghề trung bình của đối tượng nghiên cứu: 17,2 ± 6,5 năm (tương tự như kết quả của Nguyễn Bình Tuynh: 17,4 ± 5,1 năm và Đặng Xuân Kết: 17,4 ± 4,6 năm)
Trong số 120 trường hợp mắc bệnh BP-Si, nhóm tuổi nghề 11ư20 năm chiếm tỷ lệ cao nhất là 46,1%, nhóm tuổi nghề > 20 năm là 21,7% Đặc biệt ở tuổi nghề ≤ 10 năm của nhóm nghề khai thác đá, sản xuất gạch chịu lửa, tỷ lệ hiện mắc bệnh bụi phổi - silic chiếm tới 32,2% Sở dĩ như vậy là
do tại khu vực sản xuất này, hàm lượng silic tự do chứa trong bụi hô hấp rất cao (từ 22% ư 39,2%) và tỷ lệ mắc bệnh BP-Si thì tỷ lệ thuận với hàm lượng silic tự do chứa trong bụi tại nơi làm việc Đây là mối tương quan liều đáp trả Kết quả nghiên cứu này phù hợp với các tác giả khác Ernst H
và cs: công nhân tiếp xúc với bụi silic < 5 năm chưa phát hiện thấy mắc bệnh BP-Si, trong khi tiếp xúc ≥ 20 năm, tỷ lệ mắc bệnh là rất cao > 60 % Mandryk J và cs: tỷ lệ mắc bệnh BP-Si chiếm 19% trong số những công nhân tiếp xúc với bụi silic <10 năm, nhưng chiếm 81% nếu thời gian tiếp xúc ≥ 11 năm
Qua điều tra cho thấy: số công nhân nam chiếm tỷ lệ 81,6%, nữ chiếm tỷ lệ
18,4% Tỷ lệ mắc bệnh BP-Si ở nam chiếm 3,2%, ở nữ chiếm tới 6,8% và
đều tập trung ở nhóm nghề khai thác đá và sản xuất gạch chịu lửa
Trang 14Tuổi đời trung bình của đối t−ợng nghiên cứu là 39,4 ± 6,5 (năm) và tỷ lệ hiện mắc bệnh BP-Si tăng theo tuổi đời Nhóm tuổi đời 30−39 chiếm cao nhất là 47,5%, đặc biệt ở tuổi đời <30 tuổi, tỷ lệ hiện mắc bệnh chiếm tới 11,7% và tập trung ở nhóm nghề khai thác đá, sản xuất gạch chịu lửa Nghiên cứu của Đỗ Hàm, cho thấy: tỷ lệ mắc bệnh BP-Si là 45,7% với nhóm tuổi 31 −
40 ở công nhân sản xuất vật liệu chịu lửa Công ty Gang thép Thái Nguyên
3.1.3 Tỷ lệ mới mắc và chỉ số mật độ mới mắc bệnh BP-Si
Bảng 3.7 Số mới mắc cộng dồn bệnh BP-Si theo nhóm nghề
trong 4 năm nghiên cứu (2000-2004) Nhóm
nghiên cứu
Số công nhân viên trung bình hàng năm
Số mới mắc hàng năm
Tỷ lệ mới mắc(%)
Chỉ số mật độ mới mắc