1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - Mỹ Học - Đề Tài - Thị Hiếu Thẩm Mỹ Qua 2 Dòng Tranh Dân Gian Việt Nam Đông Hồ & Hàng Trống

24 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị Hiếu Thẩm Mỹ Qua 2 Dòng Tranh Dân Gian Việt Nam Đông Hồ & Hàng Trống
Tác giả Nhóm 5
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Bắc Ninh
Chuyên ngành Mỹ Thuật
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 24,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PowerPoint Presentation Tranh Hàng Trống Tranh Đông Hồ Chủ đề 5 Thị hiếu thẩm mỹ qua 2 dòng tranh dân gian Việt Nam Đông Hồ & Hàng Trống Nhóm 5 Thành viên nhóm 5 Dương Ngọc Thành B16DCPT140 Phạm Quang[.]

Trang 1

Tranh Hàng Trống Tranh Đông Hồ

Chủ đề 5

Thị hiếu thẩm mỹ qua 2 dòng tranh dân gian Việt Nam:

Đông Hồ & Hàng Trống

Nhóm 5

Trang 2

Thành viên nhóm 5

Dương Ngọc Thành B16DCPT140 Phạm Quang Huy B16DCPT071 Nguyễn Thành Nam B16DCPT104 Phan Trung Kiên B16DCPT080 Trần Thiện Trường B16DCPT160 Phạm Thị Thùy B16DCPT148

Trang 3

Sơ lược về tranh Đông Hồ

Sơ lược về tranh Hàng Trống

Kết luận qua hai dòng tranh

Thị hiếu thẩm mỹ

Nội dung

Trang 4

Sơ lược về tranh Đông Hồ

Đám cưới chuột

Nguồn gốc

Ra đời thế kỉ XVII, Bắc Ninh

Đây là dòng tranh gắn bó và thể hiện

sinh động xã hội nông nghiệp Việt cổ

truyền, cuộc sống lao động của người

nông dân bình dị, chất phác, phong tục,

tập quán, sinh hoạt của người dân Việt

Trang 5

Sơ lược về tranh Đông Hồ

Giấy in là loại giấy dó truyền thống, có quét

điệp và màu sử dụng in tranh được chế từ

nguồn gốc tự nhiên, như màu vàng của hoa

hòe, màu đỏ của hoa hiên, màu trắng từ bột vỏ

sò, điệp và màu đen của than lá tre , tạo ra

mỹ cảm dung dị, độc đáo

Ngày nay, người ta còn vẽ tranh theo cách thức khác (ngoài in), đó là tô màu, vờn màu trên tranh đã được in ván nét trước (theo lối vẽ tranh Hàng Trống) và vẽ tranh trên giấy trắng hoặc giấy màu bồi Khi vẽ tranh trên giấy đã in ván nét, người nghệ nhân chỉ việc phân bố màu sắc sao cho hài hoà, hợp lý, thể hiện rõ nội dung của bức tranh, mà vẫn biểu đạt được giá trị thẩm mỹ

Hình thức

Trang 6

Sơ lược về tranh Đông Hồ

Đàn lợn âm dương

Đề tài và nội dung

Tranh dân gian Đông Hồ phản ánh sâu sắc

đời sống tinh thần, vật chất của con người, xã hội

theo quan điểm mỹ học dân gian của người dân

nơi đây Đó là những bức tranh khắc hoạ ước

mơ ngàn đời của người lao động về cuộc sống

gia đình thuận hoà, ấm no, hạnh phúc, về một xã

hội công bằng, tốt đẹp

Tranh dân gian Đông Hồ góp phần không nhỏ

vào việc lưu giữ những vốn văn hoá truyền thống

của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của

người Việt Nam thêm phong phú

Trang 7

Sơ lược về tranh Đông Hồ

"Vinh hoa – Phú Quý" mang ý nghĩa sâu sắc

với mong muốn chúc tụng cũng như cầu may cho

gia đình có một cuộc sống giàu sang, đầy đủ

“vinh hoa – phú quý” điều này đồng nghĩa với việc

gia đình có đông con, nhiều cháu (người xưa có

quan niệm nhà đông con chính là nhà có phúc)

Gà gáy năm canh

Trang 8

Sơ lược về tranh Đông Hồ

Đàn gà

Giá trị nghệ thuật

Tranh dân gian Đông Hồ có tính biểu trưng,

trang trí nhưng vẫn giữ được nét mộc mạc, dễ

hiểu, gần gũi với đời sống của người dân vùng

châu thổ Bắc Bộ, độc đáo trong việc sử dụng

đường nét tiết giản và những mảng màu dẹt

đều, là màu tự nhiên của cỏ cây, hoa lá, tươi

sáng trên nền giấy dó quét điệp óng ánh

Trang 9

Sơ lược về tranh Hàng Trống

Tứ bình bốn mùa

Nguồn gốc

Tranh dân gian Hàng Trống ra đời tại

Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ XVI, là

kết quả giao thoa tinh hoa giữa Phật giáo

và Nho giáo giữa loại hình tượng thờ,

điêu khắc ở đình chùa với những nét

đẹp trong sinh hoạt văn hoá hằng ngày

Dòng tranh này được gọi là tranh

hàng trống do được sản xuất và buôn

bán chủ yếu tại phố Hàng Trống Hà Nội

Trang 10

Sơ lược về tranh Hàng Trống

Tranh hàng trống phát triển rực

rỡ vào khoảng cuối thế kỉ XIX đầu

thế kỉ XX, nhưng đến giữa và cuối

thế kỉ XX thì dòng tranh này bắt đầu

suy tàn một phần do thú chơi tranh

của người Hà Nội đã đổi khác, một

phần do việc làm tranh không có thu

nhập cao nên nhiều người đã

chuyển nghề

Cá chép

Trang 11

Sơ lược về tranh Hàng Trống

Hình thức

Tranh Hàng Trống sử dụng kỹ thuật nửa in nửa

vẽ, tranh chỉ in ván nét lấy hình, còn màu là thuốc

nước, tô bằng bút lông mềm rộng bản

Tranh chỉ có một bản đen đầu tiên, sau khi in thì

tranh được tô màu lại bằng tay Từ các bản khắc

gốc, những bức tranh đã được in ra, bằng mực

Tàu mài nguyên chất

Tranh dùng các gam màu chủ yếu là lam, hồng đôi khi có thêm lục, đỏ, da cam, vàng Tỷ lệ được tạo không hề đúng với công thức chuẩn mà chỉ để cho thật thuận mắt và ưa nhìn

Tranh Hàng Trống được tô màu bằng bút lông

và phẩm nhuộm nên màu sắc đậm đà hơn tranh Đông Hồ

Trang 12

Sơ lược về tranh Hàng Trống

Đề tài và nội dung:

Tranh Hàng Trống được chia thành

nhiều loại như tranh thờ, sinh hoạt, thiên

nhiên, tranh Tết, trong đó tranh thờ là

loại tranh nổi tiếng và phát triển nhất,

được dùng trong tín ngưỡng dân gian,

tiêu biểu như tranh thờ của Đạo Mẫu –

Phủ Giày, Bà chúa thượng ngàn, Ngũ

hổ,…

Tứ bình bốn mùa

Trang 13

Sơ lược về tranh Hàng Trống

Giá trị nghệ thuật:

Tranh hàng trống khắc hoạ đề tài cuộc sống, hay

những ước nguyện của người dân vào dịp tết đến xuân

về qua những bức tranh sống động và đầy màu sắc qua

dòng tranh sinh hoạt thiên nhiên hay dòng tranh tết

Tranh hàng trống cũng phục vụ đời sống văn hoá tín

ngưỡng dân gian qua dòng tranh thờ thường được thấy

trong các đền chùa

Tranh Hàng Trống cũng góp phần quan trọng vào tiến

trình phát triển nghề làm tranh dân gian, làm cho nghề

làm tranh truyền thống Việt Nam trở nên phồn thịnh một

thời

Ngũ hổ

Trang 14

Kết luận qua hai dòng tranh

Thị hiếu thẩm mĩ của con người Việt nam

❖Thị hiếu thẩm mỹ Việt Nam hình thành lâu đời trong môi trường thiên nhiên –

xã hội – văn hoá Đất nước ta luôn đương đầu với hiểm họa thiên nhiên và ngoại xâm, từ đó người Việt Nam hình thành nên tình cảm thiết tha yêu quê hương đất nước, yêu con người và thiên nhiên, trân trọng những đức tính cần cù, giản dị, kiên cường, bất khuất

❖Thị hiếu thẩm mỹ truyền thống của con

người Việt Nam là một thị hiếu tinh tế

hướng tới cái thanh tao, trang nhã gắn

với thiên nhiên, hoà vào thiên nhiên,

hướng tới một cái đẹp bình dị, hồn nhiên

yêu đời như bản thân cuộc sống vốn rất

vất vả, nhưng yêu lao động, yêu thiên

nhiên và yêu con người

❖Thị hiếu về màu sắc: thích mầu sắc dịu

dàng, nhẹ nhàng, sáng sủa, thanh nhã,

hài hoà, ưa thích những mầu sắc của

thiên nhiên có nguồn gốc từ thiên nhiên

Trang 15

Kết luận qua hai dòng tranh

Đề tài

Các dòng tranh dân gian nói chung trước hết ra đời là để

phục vụ nhu cầu về tôn giáo, do đó tranh Thờ là đề tài chung mà

cả tranh Hàng Trống và tranh Đông Hồ đều khai thác Sau khi

nhu cầu về tín ngưỡng được đáp ứng đầy đủ thì tùy theo sinh

hoạt của từng vùng mà nghệ nhân vẽ các đề tài về sinh hoạt xã

hội có tính chất địa phương

Hứng dừa – Tranh Đông Hồ

Tranh Đông Hồ tập trung

vào các đề tài giản dị, gần

gũi, phản ảnh đời sống sinh

hoạt của người dân quê như

“Đánh ghen”, “Hứng dừa”,

“Đánh vật”, “Rước trống”…

Tranh Hàng Trống có các đề tài sinh hoạt xã hội ca ngợi thuần phong mỹ tục của dân tộc như “Múa rồng”, “Múa lân”… và các đề tài sinh hoạt

xã hội trong thời kỳ Hà Nội thuộc Pháp như “Duyệt binh”,

“Hội Tây”…

Trang 16

Kết luận qua hai dòng tranh

Đối tượng

Tranh Đông Hồ do người nông dân vẽ và thường

để phục vụ cho nhu cầu của chính những người dân

Trang 17

Tranh Đông Hồ do người dân nông thôn sáng tạo Còn cái nôi của tranh Hàng Trống lại nằm ở xứ kinh kỳ Thăng Long

Tranh Hàng Trống mang một bản sắc riêng và thẩm mĩ của dân thị thành Và những người tạo ra tranh Hàng Trống

thường là tầng lớp tri thức, nghệ nhân

Tranh Hàng Trống với chủ đề cá chép ngắm trăng và chim công

Hồ: nông dân

Tranh Hàng Trống: trung lưu, trí thức

và nghệ sĩ

Ví dụ

Trang 18

Thị hiếu thẩm mỹ

Khái niệm:

Thị hiếu thẩm mĩ là các sở thích tương đối ổn định của cá

nhân hay cộng đồng về phương diện thẩm mỹ

Tại sao lại là tương đối ổn định?

Sở thích xã hội không nhất thành bất biến Mọi sự thay đổi bên trong và hoàn cảnh sống của

con người đều có thể đưa tới sự thay đổi trong sở thích Có điều, đã là thị hiếu, trong đó có thị

hiếu nghệ thuật thì những sở thích phải mang tính ổn định tương đối Đó là vì thị hiếu thẩm mỹ

không phải và không thể được hình thành ngày một ngày hai Đó còn vì thị hiếu được nảy sinh

trên cơ sở của nhiều nhân tố vật chất và tinh thần, bên trong và bên ngoài khác nhau của con

người

Trang 21

Tính hài hoà vô tư

Đó là sự đánh giá thẩm mĩ không vụ lợi, chỉ nhằm thỏa mãn lòng hâm mộ của mình Một thị hiếu vô tư giúp con người lựa chọn đúng các giá trị Chân – Thiện – Mĩ Con người phải chọn một giữa hai hướng: mơ

mộng hay thực dụng Mơ mộng quá sẽ rơi vào phiêu lưu, không tưởng Thực dụng quá dẫn đến khô khan,

nghèo nàn cảm xúc trước vẻ đẹp của đối tượng, và khi chán nản thì đã muộn Người thực dụng sẽ không tránh khỏi dục vọng tầm thường

Trang 22

Thị hiếu thẩm mỹ

Tính cá biệt và tính xã hội

Mỗi cá nhân có sự thích thú khác nhau, xã hội được hình thành từ nhiều cá nhân, không có nghĩa là một tập hợp lộn xộn các thị hiếu thẩm mĩ cá nhân Đó là những giá trị thẩm mĩ chung của cộng đồng, có tác dụng lôi cuốn, định hướng thị hiếu thẩm mĩ cá nhân (nói cách khác, cá nhân chịu áp lực tự nhiên của xã hội ) Nhưng đó là mối quan hệ hai chiều, biện chứng trong đời sống thẩm mĩ

Một cá nhân nghệ sĩ sáng tạo ra những giá trị nghệ thuật, sau đó được cả cộng đồng thừa nhận như một giá trị chung của xã hội, thậm chí của chung nhân loại

Tính giai cấp

Mỗi giai cấp có một thị hiếu riêng, nghĩa là, có quan niệm khác nhau về cái đẹp

Quí tộc phong kiến ca tụng và ưa chuộng mẫu người “yểu điệu thục nữ” , “liễu yếu đào tơ”, “hào hoa phong nhã”, “nho nhã” Người nông dân đề cao con người khỏe mạnh thậm chí mập mạp, chất phác, có

duyên Ca dao “Mười thương” bộc lộ quan niệm của nhân dân xưa về cái đẹp phụ nữ thôn quê (Một thương tóc bỏ đuôi gà, Hai thương ăn nói mặn mà có duyên, Ba thương má lúm đồng tiền )

Trang 23

Thị hiếu thẩm mỹ

Tính dân tộc và tính nhân loại

Trải qua lịch sử, mỗi dân tộc hình thành một thị hiếu thẩm mĩ riêng, có khi trái ngược với dân tộc khác

phương Đông: con rồng là đẹp đẽ cao quí, còn phương Tây, con rồng là độc ác, xảo quyệt …)

Nghệ thuật phương Tây ưa tả thực, chuẩn xác khiến khán giả thán phục, còn nghệ thuật phương Đông ưa tạo “khoảng trống” và ước lệ khiến cho người thưởng thức phải tưởng tượng và đồng sáng tạo

Mặt khác, có những chuẩn mực chung về Chân – Thiện – Mĩ đặc biệt cái đẹp được cả nhân loại công nhận Chẳng hạn, màu xanh da trời được coi là màu hi vọng, ước mơ, hòa bình Màu đỏ hạnh phúc, màu

trắng bình đẳng, màu đen tang tóc, buồn bã… Cành nguyệt quế (olive) được coi là biểu tượng của chiến

thắng vinh quang Con chim bồ câu tượng trưng ước vọng hoà bình v.v…

Tính thời đại

Thẩm mĩ trang phục thay đổi theo mùa, theo lứa tuổi, theo mode (model), rất hiếm có loại trang phục được ưa chuộng lâu bền như chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam, bộ complet châu Âu … Chưa ai biết chiếc quần jeans Âu Mĩ sẽ còn tồn tại bao lâu

Trang 24

Cảm ơn

cô và các bạn

Ngày đăng: 19/03/2023, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w