1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tài liệu tập huấn hướng dẫn thực hiện chương trình môn Vật lí

69 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài liệu tập huấn hướng dẫn thực hiện chương trình môn Vật lý
Tác giả PGS.TS Nguyễn Văn Khánh, PGS.TS Lê Đức Ánh, ThS. Đoàn Thị Hải Quỳnh
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Vật lý
Thể loại Tài liệu tập huấn
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 729,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. MỤC TIÊU (8)
  • B. NỘI DUNG TẬP HUẤN (8)
  • C. DỰ KIẾN KẾ HOẠCH TẬP HUẤN (48)
  • D. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TẬP HUẤN (50)

Nội dung

Untitled 0 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI TÀI LIỆU TẬP HUẤN HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MÔNVẬT LÍ Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 HÀ NỘI, 2019 1 TÁC GIẢ VÀ CỘNG T[.]

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MÔNVẬT LÍ

Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018

HÀ N ỘI, 2019

Trang 2

TÁC GI Ả VÀ CỘNG TÁC VIÊN

1 PGS.TS Nguyễn Văn Khánh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

2 PGS.TS Lê Đức Ánh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

3 ThS Đoàn Thị Hải Quỳnh, Trường TH,THCS&THPT thực nghiệm khoa

học giáo dục

Trang 3

M ỤC LỤC

A MỤC TIÊU 7

B NỘI DUNG TẬP HUẤN 7

NỘI DUNG 1: TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM GIÁO DỤC VẬT LÍ VÀ QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN VẬT LÍ 2018 7

NỘI DUNG 2: TÌM HIỂU MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH MÔN VẬT LÍ VÀ YÊU CẦU CẦN ĐẠT VỀ PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH 16

NỘI DUNG 3: TÌM HIỂU NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔN VẬT LÍ 26

NỘI DUNG 4: THỰC HIỆN DẠY HỌC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THEO CHƯƠNG TRÌNH MÔN VẬT LÍ 41

C DỰ KIẾN KẾ HOẠCH TẬP HUẤN 46

D ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TẬP HUẤN 48

PHỤ LỤC 1 KẾ HOẠCH DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “KHÍ LÍ TƯỞNG” – VẬT LÍ 12 50

PHỤ LỤC 2 ĐỀ ĐÁNH GIÁ 45 PHÚT 65

Trang 4

KÝ HI ỆU VIẾT TẮT

CT GDPT Chương trình giáo dục phổ thông

PISA Programme for International Student Assessment: là m ột khảo

sát quốc tế do tổ chức OECD (Organisation for Economic operation and Development) đề xuất, để đánh giá khả năng của học sinh 15 tuổi của các nước và vùng lãnh thổ trong và ngoài OECD, về toán, khoa học và đọc hiểu

Co-PASEC le Programme d’analyse des systèmes éducatifs de la

CONFEMEN: Chương trình phân tích hệ thống giáo dục của CONFEMEN (Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục các Quốc gia và Chính phủ cộng đồng Pháp ngữ)

Trang 5

CHÚ GI ẢI THUẬT NGỮ

1 Chương trình tổng thể:

Chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) là văn bản quy định những

vấn đề chung nhất, có tính chất định hướng của chương trình giáo dục phổ thông, bao gồm: quan điểm xây dựng chương trình, mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông và mục tiêu chương trình từng cấp học, yêu cầu cần đạt về

phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi của học sinh cuối mỗi cấp học, hệ

thống môn học và hoạt động giáo dục, thời lượng của từng môn học và hoạt động giáo dục, định hướng nội dung giáo dục bắt buộc ở từng cấp học đối với

tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc, định hướng về phương pháp giáo dục

và đánh giá kết quả giáo dục, điều kiện thực hiện chương trình giáo dục phổ thông

2 Năng lực:

Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn

có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các

kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong

muốn trong những điều kiện cụ thể

3 Phẩm chất:

Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người

4 Yêu cầu cần đạt:

Yêu cầu cần đạt là kết quả mà học sinh cần đạt được về phẩm chất và

năng lực sau mỗi cấp học, lớp học ở từng môn học và hoạt động giáo dục; trong đó, mỗi cấp học, lớp học sau đều có những yêu cầu riêng cao hơn, đồng thời bao gồm những yêu cầu đối với các cấp học, lớp học trước đó

5 Môn học

Môn học là lĩnh vực nội dung dạy học được thực hiện trong nhà trường có cấu trúc và logic phù hợp với ngành khoa học và thực tiễn tương ứng, phù

hợp với những quy luật Tâm- Sinh lí của dạy học

6 Giáo dục hướng nghiệp

Giáo dục hướn nghiệp bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường

phối hợp với gia đình và xã hội nhằm trang bị kiến thức, hình thành năng lực định hướng nghề nghiệp cho học sinh, từ đó giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích, quan niệm về giá trị của

Trang 6

bản thân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của gia đình và phù hợp với nhu

cầu của xã hội Giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa quan trọng góp phần thực

hiện mục tiêu giáo dục toàn diện và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở

và sau trung học phổ thông

Trong chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục hướng nghiệp được thực

hiện thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục, tập trung ở các môn Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật, Giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở, các môn học ở cấp trung học phổ thông và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cùng với Nội dung giáo dục của địa phương

7 Hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông được thực

hiện thường xuyên và liên tục, trong đó tập trung vào các năm học cuối của giai đoạn giáo dục cơ bản và toàn bộ thời gian của giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

8 Trải nghiệm

Trải nghiệm là quá trình hoạt động để thu nhận những kinh nghiệm, từ đó

vận dụng một cách có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống

9 STEM

STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (khoa học) Technology (công nghệ), Enginering (kỹ thuật), và Math (toán học) được sử dụng khi bàn đến

các chính sách phát triển về Khoa học, Công nghệ, kĩ thuật và Toán học Thuật

ngữ này lần đầu tiên được giới thiệu bởi Quỹ Khoa học Mĩ vào năm 2001

10 Giáo dục STEM

Giáo dục STEM được hiểu là mô hình giáo dục dựa trên tiếp cận liên môn , giúp học sinh áp dụng các kiến thức khoa học, công nghệ, kĩ thuật và Toán học vào giải quyết một số vấn đề thực tiễn trong bối cảnh cụ thể

11 Đánh giá tổng kết

Đánh giá tổng kết còn được gọi là đánh giá kết quả, là đánh giá có tính tổng hợp, bao quát nhằm cung cấp thông tin về sự tinh thông/ thành thạo của học sinh ở các mặt nội dung, kiến thức, kĩ năng và thái độ sau khi kết thúc một khóa

học/lớp học hoặc một môn học/học phần/ chương trình

12 Đánh giá quá trình

Đánh giá quá trình là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình hoạt động giảng dạy môn học/ khóa học, cung cấp thông tin phản hồi cho người học biết được mức độ đạt được của bản thân so với mục tiêu giáo dục, qua đó điều

Trang 7

chỉnh cách học, cách dạy giúp người học tiến bộ Đánh giá quá trình chính là đánh giá vì sự tiến bộ của người học

13 Tích hợp

Tích hợp là sự hợp nhất/ nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất dựa trên những nét bản chất của các thành phần đối tượng chứ không phải là phép cộng đơn giản những thuộc tính

của đối tượng ấy

14 Dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp: là định hướng dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng

15 Phân hóa

Phân hóa là chia một khối/ một nhóm thành nhiều phần / nhiều đối tượng

có các tính chất khác biệt nhau để thực hiện những tác động cho phù hợp

16 Dạy học phân hóa:

Dạy học phân hoá: là định hướng dạy học phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau, nhằm phát triển tối đa tiềm năng vốn có của mỗi học sinh dựa vào đặc điểm tâm - sinh lí, khả năng, nhu cầu, hứng thú và định hướng nghề nghiệp khác nhau của học sinh

17 Nội dung giáo dục điạ phương

Nội dung giáo dục địa phương là những vấn đề cơ bản hoặc thời sự về văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hộ , môi trường, hướng nghiệp …của địa phương bổ sung cho nội dung giáo dục bắt buộc chung thống nhất trong cả nước, nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, ý thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học để góp phần giải quyết những vấn đề của quê hương

18 Kế hoạch giáo dục nhà trường

Kế hoạch giáo dục nhà trường là sự cụ thể hóa tiến trình thực hiện CTGDPT (bao gồm cả nội dung giáo dục địa phương) phù hợp với điều kiện

cụ thể về thời gian, đặc điểm của người học, nhân lực, vật lực …của nhà trường Kế hoạch giáo dục của nhà trường được xây dựng hàng năm dựa trên

kế hoạch giáo dục chung và các hướng dẫn trong CTGDPT

Trang 8

A M ỤC TIÊU

Sau khóa tập huấn, học viên:

– Phân tích được: đặc điểm, quan điểm xây dựng, mục tiêu, yêu cầu cần đạt, nội dung giáo dục, định hướng về phương pháp giáo dục và đánh giá kết

quả giáo dục trong Chương trình môn Vật lí 2018;

– Phân tích được những điểm mới của Chương trình môn Vật lí 2018 so

với chương trình hiện hành về: đặc điểm, quan điểm xây dựng, mục tiêu, yêu

cầu cần đạt, nội dung giáo dục, định hướng về phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục;

– Xây dựng được 04 Kế hoạch tập huấn về Chương trình môn Vật lí 2018, bao gồm:

i) Tìm hiểu đặc điểm giáo dục vật lí và quan điểm xây dựng Chương trình môn Vật lí 2018;

ii) Tìm hiểu mục tiêu của Chương trình môn Vật lí và yêu cầu cần đạt về

phẩm chất, năng lực;

iii) Tìm hiểu nội dung giáo dục trong Chương trình môn Vật lí 2018;

iv) Thực hiện dạy học hình thành và phát triển năng lực trong Chương trình môn Vật lí 2018

B N ỘI DUNG TẬP HUẤN

1 N ội dung 1: Tìm hiểu đặc điểm giáo dục vật lí và quan điểm xây dựng

C hương trình môn Vật lí 2018

1.1 M ục tiêu

Sau khi được tập huấn nội dung này, học viên có thể:

– Trình bày, phân tích được đặc điểm của giáo dục vật lí trong CT GDPT 2018;

– Phân tích được quan điểm xây dựng Chương trình môn Vật lí 2018;

– Xây dựng được kế hoạch tập huấn: Tìm hiểu đặc điểm giáo dục vật lí và quan điểm xây dựng Chương trình môn Vật lí 2018

1.2 Ngu ồn tài liệu, học liệu

– Mục I và mục II của Tài liệu TEXT: Tài liệu tìm hiểu Chương trình môn

Vật lí trong Chương trình GDPT 2018

– Chương trình môn Vật lí, Tài liệu hỏi đáp, INFOGRAPHIC và VIDEO – Tài liệu đọc cho nội dung 1

Trang 9

– Sách “Hướng dẫn dạy học môn Vật lí theo Chương trình giáo dục phổ

thông 2018”, NXB Đại học Sư phạm, 2019

Ho ạt động 2 Tìm hiểu đặc điểm và quan điểm xây dựng Chương trình

môn Vật lí 2018

Giao nhiệm vụ (thời lượng từ 35 đến 40 phút):

+ Giảng viên trình bày tổng quan đặc điểm và quan điểm xây dựng Chương trình môn Vật lí (từ 15 đến 20 phút);

+ Chia nhóm học viên và phân công nhóm thực hiện các nhiệm vụ:

– Đọc tài liệu (nên chia thành bốn nhóm: hai nhóm đọc phần về đặc điểm Chương trình môn Vật lí, hai nhóm đọc phần quan điểm xây dựng Chương trình môn Vật lí);

– Thực hiện các yêu cầu sau (từ 15 đến 20 phút):

i) Phân tích các đặc điểm chủ yếu của giáo dục vật lí trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018;

ii) Phân tích những điểm kế thừa Chương trình môn Vật lí hiện hành trong Chương trình môn Vật lí 2018

ii) Phân tích những điểm mới (so sánh với chương trình hiện hành) trong quan điểm xây dựng Chương trình môn Vật lí 2018

Báo cáo kết quả tìm hiểu (thời lượng từ 35 đến 40 phút):

– Đại diện từng nhóm trình bày kết quả tìm hiểu theo các nội dung đã được phân công

– Thảo luận để chỉnh sửa các đáp án mà các nhóm đưa ra

Ho ạt động 3 Xây dựng kế hoạch tập huấn: Tìm hiểu đặc điểm giáo dục vật

lí và quan điểm xây dựng Chương trình môn Vật lí trong Chương trình giáo

dục phổ thông 2018

Giao nhiệm vụ (thời lượng từ 35 đến 40 phút):

Trang 10

+ Giảng viên giao nhiệm vụ cho học viên soạn kế hoạch tập huấn theo

mẫu 1

+ Học viên làm việc nhóm, thảo luận thống nhất nội dung bài soạn của nhóm

Báo cáo kết quả làm việc nhóm (thời lượng từ 35 đến 40 phút):

+ Đại diện từng nhóm trình bày kết quả xây dựng kế hoạch tập huấn theo các nội dung đã phân công;

+ Thảo luận để đánh giá các sản phẩm của các nhóm đưa ra;

+ Giảng viên hướng dẫn các nhóm tổng hợp kết quả làm việc nhóm và

thống nhất sản phẩm xây dựng kế hoạch tập huấn

1.4 D ự kiến sản phẩm hoạt động và định hướng đánh giá quá trình

S ản phẩm

Học viên xây dựng được bản kế hoạch tập huấn: Tìm hiểu đặc điểm giáo

d ục vật lí và quan điểm xây dựng Chương trình môn Vật lí trong Chương trình giáo d ục phổ thông 2018;

Định hướng đánh giá

Đánh giá thông qua các kết quả hoạt động của học viên sau đây:

– Kết quả học viên làm việc nhóm;

– Kết quả học viên trình bày, phát biểu, phân tích sản phẩm;

– Các sản phẩm của các nhóm đưa ra

Sản phẩm hoạt động của học viên khi tham gia các hoạt động trong Nội dung 1

và dự kiến đánh giá quá trình như bảng sau:

1.2 Nguồn tài liệu, học liệu

- M ục I và mục II của Tài liệu TEXT: Tài liệu tìm hiểu chương trình môn học/hoạt

động giáo dục trong Chương trình GDPT 2018

- Chương trình môn học, tài liệu hỏi đáp, INFOGRAPHIC và VIDEO

Trang 11

TT M ục tiêu Ho ạt động S ản phẩm

ho ạt động

Định hướng đánh giá

Kết quả trình bày của các nhóm theo các nội dung được phân công

+ Mức độ tham gia hoạt động + Độ chính xác của kết quả phân tích nội dung được phân công

dục vật lí và quan điểm xây

dựng Chương trình môn Vật

lí 2018

Bản kế hoạch

tập huấn: Tìm

hiểu đặc điểm giáo dục vật lí

và quan điểm xây dựng Chương trình môn Vật lí

2018

Thể hiện đủ nội dung: Mục tiêu; Nguồn học liệu

Tiến trình hoạt động; Sản phẩm

hoạt động và định hướng đánh giá quá trình

Tài li ệu đọc cho nội dung 1

Để thực hiện mục tiêu đổi mới, Chương trình môn Vật lí 2018 được phát triển trên cơ sở kế thừa những ưu điểm và khắc phục những hạn chế, bất cập của Chương trình môn Vật lí hiện hành

Nh ững điểm kế thừa chương trình hiện hành

Chương trình môn Vật lí 2018 kế thừa Chương trình môn Vật lí hiện hành những điểm sau đây:

– Về mục tiêu giáo dục

Chương trình môn Vật lí 2018 tiếp tục được xây dựng trên quan điểm cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác, góp phần giáo dục con người toàn diện, giúp học sinh phát triển hài hòa về đức, trí, thể, mỹ

Trang 12

– Về nguyên lý giáo dục

Chương trình môn Vật lí 2018 kế thừa các nguyên lý giáo dục nền tảng như

“học đi đôi với hành”, “lý luận gắn liền với thực tiễn”, “giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục ở gia đình và xã hội”

– Về nội dung giáo dục

Bên cạnh một số kiến thức được cập nhật để phù hợp với những thành tựu mới của khoa học – công nghệ và định hướng mới của chương trình, các kiến thức, kỹ năng nền tảng của Chương trình môn Vật lí 2018 chủ yếu là những kiến thức, kỹ năng cốt lõi, tương đối ổn định trong lĩnh vực vật lí của nhân loại, được

kế thừa từ Chương trình môn Vật lí hiện hành, nhưng được tổ chức lại để giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực một cách hiệu quả hơn

– Về đánh giá kết quả giáo dục

Kế thừa mục tiêu đánh giá là đều nhằm cung cấp thông tin về năng lực và

sự tiến bộ của học sinh;

Kế thừa các phương thức đánh giá bảo đảm độ tin cậy, khách quan, phù

hợp với từng lứa tuổi, từng cấp học, không gây áp lực lên học sinh: đánh giá thường xuyên, đánh giá định kì sau từng chủ đề, từng chương nhằm mục đích điều chỉnh quá trình dạy học (đánh giá quá trình);

Kế thừa việc tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá (sử dụng các phần mềm thẩm định các đặc tính như độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt, độ giá trị, …của câu hỏi thi và sử dụng các mô hình thống kê vào xử

lí phân tích, lí giải kết quả đánh giá)

Nh ững điểm mới trong quan điểm xây dựng Chương trình môn Vật lí 2018

Tuân theo các xu hướng tiến bộ của giáo dục thế giới và các quan điểm chỉ đạo trong các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Chương trình môn Vật lí 2018 được xây dựng trên những quan điểm

mới như sau:

Th ứ nhất

Trang 13

Chương trình môn Vật lí hiện hành được xây dựng theo mô hình định hướng nội dung, nặng về truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng đúng mức đến chủ thể người học, chưa chú trọng giúp học sinh vận dụng kiến thức, kỹ năng

học được trong những tình huống thực tiễn Theo mô hình này, kiến thức vừa là

“chất liệu”, tức là “đầu vào” vừa là “kết quả”, tức là “đầu ra” của quá trình giáo

dục Vì vậy, học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng thực hành

vận dụng trong thực tiễn rất hạn chế

Chương trình môn Vật lí 2018 được xây dựng theo mô hình phát triển năng

lực Năng lực được hiểu theo nghĩa là “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.”

Cần nhấn mạnh rằng, theo định nghĩa năng lực nói trên, kiến thức, kĩ năng

và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, là nguyên liệu đầu vào để giúp người học hình thành, phát triển năng lực của mình Nói cách khác, các nguyên liệu đầu vào này phải được kết hợp một cách khoa học thì mới

tạo điều kiện cho người học hình thành, phát triển được năng lực Cách dạy nhồi nhét kiến thức tuyệt nhiên không thể giúp hình thành, phát triển năng lực của người học!

Theo cách tiếp cận này, kiến thức được dạy học là nhằm để giúp phát triển năng lực học sinh Nói cách khác, mục đích giáo dục trong Chương trình môn

Vật lí 2018 không phải chỉ để truyền thụ kiến thức mà nhằm giúp học sinh hoàn thành các công việc, giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận

dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức, kỹ năng đã học Tức là thông qua

những kiến thức, kỹ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích

cực hóa hoạt động của người học để giúp học sinh hình thành và phát triển

những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kỳ vọng; kết hợp phát triển các năng lực chung (tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn

đề và sáng tạo) với phát triển các năng lực đặc thù (năng lực khoa học tự nhiên, năng lực vật lí); kết hợp phát triển năng lực với phát triển phẩm chất Quan điểm này được thể hiện nhất quán ở nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục

Th ứ hai

Trang 14

Chương trình môn Vật lí hiện hành quy định chi tiết nội dung dạy học và

thời lượng cho từng bài học cụ thể nên khó phù hợp cho các đối tượng học sinh

và điều kiện dạy học cụ thể

Trong Chương môn Vật lí 2018, nội dung được xác định thông qua các yêu

cầu cần đạt và chia thành các chủ đề, chỉ quy định thời lượng đến từng chủ đề Trong dạy học phát triển năng lực học sinh, kiến thức không phải là mục đích mà là phương tiện để đạt được năng lực Tư tưởng này chi phối cách lựa chọn nội dung dạy học và phương pháp dạy học Mỗi khi dạy một vấn đề, một kiến thức, kĩ năng nào đó, giáo viên cần phải xác định rõ dạy cái này để làm gì, giúp phát triển năng lực gì cho người học; những kiến thức, kĩ năng ấy có thể vận dụng vào tình huống nào trong cuộc sống Chính vì thế, trong Chương trình môn Vật lí 2018, nội dung được xác định thông qua các yêu cầu cần đạt, bao gồm 24 chủ đề kiến thức, kĩ năng phổ thông, cốt lõi về mô hình hệ vật lí, năng lượng và sóng, lực và trường, đáp ứng các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng

lực của học sinh Nói cách khác, các kiến thức, kĩ năng được chọn theo liều lượng và mức độ đáp ứng được việc hình thành năng lực cho học sinh Kết quả đầu ra được thể hiện thông qua các “yêu cầu cần đạt”

Th ứ ba

Chương trình môn Vật lí hiện hành có nội dung giáo dục đồng nhất cho tất

cả học sinh; việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh chưa được xác định rõ ràng

Tiếp cận với xu hướng tiến bộ của giáo dục phổ thông thế giới, Nghị quyết

29 của Ban chấp hành trung ương yêu cầu: “Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân

luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp

và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng Nâng cao chất lượng

phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020” Thực

hiện yêu cầu này, trong Chương trình giáo dục phổ thông mới, giáo dục vật lí được phân theo hai giai đoạn: giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp Nội dung giáo dục ở mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng

Ở giai đoạn giáo dục cơ bản (cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở), giáo dục

vật lí góp phần đắc lực giúp học sinh phát triển năng lực khoa học tự nhiên và được thực hiện thông qua giáo dục tích hợp trong các môn học bắt buộc: môn

Tự nhiên và Xã hội, môn Khoa học, môn Khoa học tự nhiên

Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp trung học phổ thông), giáo dục vật lí được thực hiện thông qua môn Vật lí – là môn học thuộc nhóm

Trang 15

môn Khoa học tự nhiên, được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh Trong giai đoạn này, môn Vật lí giúp học sinh tiếp tục phát triển các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ

bản, tạo điều kiện để học sinh bước đầu nhận biết đúng năng lực, sở trường của

bản thân, có thái độ tích cực đối với môn học Trên cơ sở nội dung nền tảng đã trang bị cho học sinh ở giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình môn Vật lí lựa

chọn phát triển những vấn đề cốt lõi thiết thực nhất, đồng thời chú trọng đến các

vấn đề mang tính ứng dụng cao là cơ sở của nhiều ngành kĩ thuật, khoa học và công nghệ

Trong mỗi năm học, những học sinh có định hướng nghề nghiệp cần vận

dụng nhiều kiến thức, kĩ năng vật lí được học thêm các chuyên đề học tập Tổng

thời lượng 3 chuyên đề học tập là 35 tiết/năm học Các chuyên đề được thiết kế bao gồm: những chuyên đề nhằm thực hiện yêu cầu phân hoá sâu, giúp học sinh tăng cường kiến thức, kĩ năng; những chuyên đề nhằm giúp học sinh vận dụng

kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết một số vấn đề của thực tiễn; những chuyên đề đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp của học sinh

Th ứ tư

Chương trình môn Vật lí hiện hành thiếu tính mở nên hạn chế khả năng chủ động và sáng tạo của địa phương và nhà trường cũng như của tác giả sách giáo khoa và giáo viên

Chương trình môn Vật lí 2018 bảo đảm định hướng thống nhất và những

nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa

chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp

với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp

phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã

hội

Tính chất mở của Chương trình môn Vật lí 2018 thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:

– Không quy định chi tiết về nội dung dạy học mà chỉ quy định những yêu

cầu học sinh cần đạt về nhận thức, tìm hiểu và vận dụng Những yêu cầu này là

thống nhất và bắt buộc cho học sinh toàn quốc

– Chỉ đưa ra các định nghĩa cụ thể cho các khái niệm trong trường hợp có

những cách hiểu khác nhau

Trang 16

– Căn cứ vào các yêu cầu cần đạt, các tác giả sách giáo khoa chủ động, sáng tạo trong việc triển khai các nội dung dạy học cụ thể theo yêu cầu của chương trình

– Trên cơ sở bám sát mục tiêu và đáp ứng yêu cầu cần đạt, giáo viên có thể

lựa chọn, sử dụng một hay kết hợp nhiều sách giáo khoa, nhiều nguồn tư liệu khác nhau để dạy học

– Trong một lớp, thứ tự dạy học các chủ đề (bao gồm các chủ đề bắt buộc

và các chuyên đề tự chọn) là không cố định “cứng”, các tác giả sách giáo khoa, giáo viên có thể sáng tạo một cách hợp lí, sao cho không làm mất logic hình thành kiến thức, kĩ năng và không hạn chế cơ hội hình thành và phát triển phẩm

chất, năng lực của học sinh Thứ tự dạy học các chủ đề được thực hiện sao cho

chủ đề mô tả hiện tượng vật lí được thực hiện trước để cung cấp bức tranh toàn cảnh về hiện tượng, sau đó đến chủ đề giải thích và nghiên cứu hiện tượng để cung cấp cơ sở vật lí sâu hơn, rồi đến chủ đề ứng dụng của hiện tượng đó trong khoa học hoặc thực tiễn

Ví dụ:

Thực hiện lần lượt Chủ đề động học, Chủ đề động lực học, Chủ đề Năng lượng, Công, công suất, Chủ đề động lượng rồi mới thực hiện Chủ đề chuyển động tròn chính là tuân theo logic mô tả các đặc tính của chuyển động, sau đó đến giải thích và nghiên cứu hiện tượng để cung cấp cơ sở vật lí sâu hơn, rồi đến

chủ đề ứng dụng của hiện tượng đó Chủ đề chuyển động tròn được thiết kế với

mục tiêu vận dụng bốn chủ đề đã học trước đó

Thực hiện Chủ đề Sóng trước để cung cấp bức tranh toàn cảnh về hiện tượng sóng, sau đó đến Chủ đề Dao động để giải thích và cung cấp cơ sở vật lí sâu hơn về sóng, rồi đến Chuyên đề Truyền thông tin bằng sóng vô tuyến đề cập đến một số ứng dụng sóng trong khoa học hoặc thực tiễn

Thứ năm

Ở chương trình hiện hành, đánh giá chủ yếu theo hướng nội dung, kiểm tra trí nhớ, chưa xây dựng được chuẩn năng lực (yêu cầu cần đạt về các biểu hiện

của năng lực vật lí) cho từng lớp; các câu hỏi của đề kiểm tra, đề thi được xây

dựng theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng với bốn mức: nhận biết, thông hiểu, vận

dụng thấp, vận dụng cao

Trong Chương trình môn Vật lí 2018, việc kiểm tra đánh giá được thực

hiện dựa trên các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh đã được quy định trong chương trình Các yêu cầu cần đạt này được thiết kế dựa trên đặc điểm của môn Vật lí và các mức độ nhận thức trên cơ sở các mức độ theo thang

Trang 17

Bloom: nhận biết, hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo mà ở Việt Nam quen dùng rút gọn là biết, hiểu, vận dụng

2 N ội dung 2: Tìm hiểu mục tiêu của chương trình môn Vật lí và yêu cầu

c ần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh

2.1 M ục tiêu

Sau khi được tập huấn nội dung này, học viên có thể:

– Trình bày và phân tích được mục tiêu của Chương trình môn Vật lí 2018; – Phân tích được yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh trong Chương trình môn Vật lí 2018;

– Xây dựng được kế hoạch tập huấn: Tìm hiểu mục tiêu của Chương trình

môn V ật lí 2018 và yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh 2.2 Ngu ồn tài liệu, học liệu

– Mục III và mục IV của Tài liệu TEXT: Tài liệu tìm hiểu Chương trình

môn Vật lí trong Chương trình GDPT 2018

– Chương trình môn Vật lí, Tài liệu hỏi đáp, INFOGRAPHIC và VIDEO – Tài liệu đọc cho nội dung 2

– Sách “Hướng dẫn dạy học môn Vật lí theo Chương trình giáo dục phổ

thông 2018”, NXB Đại học Sư phạm, 2019

có khó khăn hay mong muốn gì khi tham gia tập huấn…);

Ho ạt động 2 Tìm hiểu mục tiêu của Chương trình môn Vật lí 2018

Giao nhiệm vụ (thời lượng từ 35 đến 40 phút):

+ Giảng viên trình bày tổng quan mục tiêu của Chương trình môn Vật lí

2018 và yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực (từ 15 đến 20 phút);

+ Chia nhóm học viên và phân công nhóm thực hiện các nhiệm vụ:

– Đọc tài liệu (Nên chia thành bốn nhóm: hai nhóm đọc phần “mục tiêu của Chương trình môn Vật lí”, hai nhóm đọc phần “yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh” trong Chương trình môn Vật lí);

– Thực hiện các yêu cầu sau:

Trang 18

i) Nêu và phân tích các điểm mới trong mục tiêu của Chương trình môn

Báo cáo kết quả làm việc nhóm (thời lượng từ 35 đến 40 phút):

+ Đại diện từng nhóm trình bày kết quả tìm hiểu theo các nội dung đã phân công

+ Thảo luận để chỉnh sửa các đáp án mà các nhóm đưa ra

Hoạt động 3 Xây dựng kế hoạch tập huấn: Tìm hiểu mục tiêu của Chương

trình môn V ật lí 2018 và yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh

Giao nhiệm vụ (thời lượng từ 35 đến 40 phút):

+ Giảng viên giao nhiệm vụ cho học viên soạn kế hoạch tập huấn “Tìm hiểu

m ục tiêu của Chương trình môn Vật lí 2018 và yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh” theo mẫu2;

+ Học viên làm việc nhóm, thảo luận thống nhất nội dung bài soạn của nhóm

2.2 Nguồn tài liệu, học liệu

- M ục III và mục IV của Tài liệu TEXT: Tài liệu tìm hiểu chương trình môn học/hoạt

động giáo dục trong Chương trình GDPT 2018

- Chương trình môn học, tài liệu hỏi đáp, INFOGRAPHIC và VIDEO

Trang 19

Báo cáo kết quả làm việc nhóm (thời lượng từ 35 đến 40 phút):

+ Đại diện từng nhóm trình bày kết quả xây dựng kế hoạch tập huấn theo các nội dung đã phân công;

+ Thảo luận để đánh giá các sản phẩm của các nhóm đưa ra;

+ Giảng viên hướng dẫn các nhóm tổng hợp kết quả làm việc nhóm và

thống nhất sản phẩm xây dựng kế hoạch tập huấn

2.4 D ự kiến sản phẩm hoạt động và định hướng đánh giá quá trình

+ Sản phẩm

Học viên xây dựng được bản kế hoạch tập huấn: Tìm hiểu mục tiêu của

Chương trình môn Vật lí 2018 và yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của

h ọc sinh;

+ Định hướng đánh giá

Đánh giá thông qua các kết quả hoạt động của học viên sau đây:

– Kết quả học viên làm việc nhóm;

– Kết quả học viên trình bày, phát biểu, phân tích sản phẩm;

– Các sản phẩm của các nhóm đưa ra

Sản phẩm hoạt động của học viên khi tham gia các hoạt động trong Nội dung 2

và dự kiến đánh giá quá trình như bảng sau:

ho ạt động

Định hướng đánh giá

+ Thuận lợi và khóa khăn của

cần đạt về

phẩm chất, năng lực của

học sinh trong Chương trình môn Vật lí

Kết quả trình bày của các nhóm theo các

nội dung được phân công

+ Mức độ tham gia hoạt động + Độ chính xác

của kết quả phân tích nội dung được phân công

Trang 20

TT M ục tiêu Ho ạt động S ản phẩm

ho ạt động

Định hướng đánh giá

cần đạt về

phẩm chất, năng lực của

học sinh trong Chương trình môn Vật lí

chất, năng lực

của học sinh trong Chương trình môn Vật

lí 2018

Thể hiện đủ nội dung: Mục tiêu; Nguồn học liệu

Tiến trình hoạt động; Sản phẩm

hoạt động và định hướng đánh giá quá trình

Tài li ệu đọc cho nội dung 2

M ục tiêu của chương trình môn Vật lí 2018

Mục tiêu của Chương trình môn Vật lí 2018 được xác định trên cơ sở kế

thừa ưu điểm của chương trình giáo hiện hành; thực hiện yêu cầu giáo dục thế

hệ trẻ trong giai đoạn mới của đất nước; phù hợp với đặc trưng của môn học; tuân theo xu hướng giáo dục tiên tiến của thế giới

Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước với bối cảnh xã hội, kinh tế, chính

trị, văn hóa, môi trường, đòi hỏi người lao động phải có những phẩm chất, năng lực đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhà trường, thông qua các môn học, phải góp phần đáp ứng yêu cầu ấy

Yêu cầu của đất nước được thể hiện trong các văn kiện chính trị, những nghị quyết về chủ trương, đường lối phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước

Mục tiêu giáo dục của Chương trình giáo dục phổ thông mới cụ thể hóa mục tiêu

Trang 21

giáo dục được quy định tại Luật Giáo dục và mục tiêu đổi mới giáo dục nêu trong Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành TW Đảng về đổi mới căn bản, toàn

diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết 88 của Quốc hội và Quyết định 404 của

Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, đồng thời tham khảo mục tiêu giáo dục trong Chương trình Chương trình giáo

dục phổ thông của nhiều quốc gia và định hướng giáo dục của các tổ chức quốc

tế lớn, trong đó có Tuyên bố của UNESCO về “bốn trụ cột của giáo dục” (Pillars

of Learning) – Học để biết, Học để làm, Học để chung sống, Học để tự khẳng định mình Các ý tưởng cơ bản trong tuyên bố này được coi là mục tiêu giáo dục chung mà nhân loại hướng đến và đã được thể hiện đầy đủ trong phần mục tiêu giáo dục của Chương trình giáo dục phổ thông 2018

Mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được cụ thể hóa thành mục tiêu của mỗi chương trình môn học

Môn Vật lí là một trong số các môn học có ưu thế trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; đóng vai trò chủ đạo giúp học sinh tìm

hiểu, nhận thức thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí Môn Vật lí cũng có ưu thế trong việc giáo dục phẩm chất, tinh thần, đạo đức và nhân cách người học

Từ các căn cứ nói trên, Chương trình môn Vật lí 2018 xác định mục tiêu

là góp phần phát triển phẩm chất, năng lực chung đồng thời tập trung phát triển năng lực vật lí của người học, cụ thể là:

– Góp phần cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, giúp học sinh hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực chung được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể

– Giúp học sinh đạt được năng lực vật lí, với các biểu hiện sau:

+ Có được những kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí; năng lượng và sóng; lực và trường

+ Vận dụng được một số kĩ năng tiến trình khoa học để khám phá, giải quyết vấn đề dưới góc độ vật lí

+ Vận dụng được một số kiến thức, kĩ năng trong thực tiễn, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường

+ Nhận biết được năng lực, sở trường của bản thân, định hướng được nghề nghiệp và có kế hoạch học tập, rèn luyện đáp ứng yêu cầu của định hướng nghề nghiệp

Trang 22

Chương trình môn Vật lí hiện hành và Chương trình môn Vật lí 2018 đều được xây dựng trên cùng các nguyên lý giáo dục nền tảng và cùng quan điểm là góp phần giáo dục con người toàn diện Tuy nhiên, ở chương trình môn Vật lí hiện hành, dù có chú ý tới giáo dục phẩm chất, kĩ năng, nhưng vẫn thiên về trang

bị kiến thức, chưa xác định rõ các năng lực chung và các năng lực đặc thù của môn học, cũng như chưa đề xuất được phương thức khả thi nhằm phát triển cho người học các năng lực này

Trong Chương trình môn Vật lí 2018, hệ thống kiến thức không phải là mục tiêu hướng đến mà là phương tiện để đạt được mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực, trong đó trực tiếp là năng lực vật lí – một biểu hiện của năng lực khoa học tự nhiên Điều này cũng có nghĩa là mục đích của dạy học vật lí không phải là trang bị thật nhiều kiến thức, giải thật nhiều bài tập khó mà là nhận thức được bản chất hiện tượng vật lí, áp dụng được các kiến thức, kĩ năng trong học tập và trong thực tiễn Nói cách khác, Chương trình môn Vật lí 2018không chỉ quan tâm đến các chất liệu (kiến thức, kỹ năng, thái độ ) mà quan trọng hơn là sự kết hợp chúng thế nào để có thể hình thành và phát triển được năng lực của người học

Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực

Trong các chương trình giáo dục phổ thông trước đây, giữa mục tiêu và nội dung dạy học thiếu sự chi phối, ràng buộc chặt chẽ lẫn nhau Chương trình môn Vật lí 2018 được thiết kế theo sơ đồ ngược (back–mapping), tức là bắt đầu

từ mục tiêu để xác định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực (kết quả đầu ra) Sau đó, từ kết quả đầu ra này mà lựa chọn, đề xuất các nội dung dạy học

và các phương pháp, hình thức dạy học

Yêu cầu cần đạt chính là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục của môn học về phát triển phẩm chất và phát triển năng lực cho người học Chương trình môn Vật lí 2018 xác định yêu cầu cần đạt dựa vào mục tiêu của Chương trình tổng thể và mục tiêu Chương trình môn Vật lí, chuẩn đầu ra của Chương trình môn Vật lí ở một số nước phát triển và một số tổ chức quốc tế đồng thời có kế thừa những ưu điểm trong quy định về chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình hiện hành

Chương trình tổng thể đã xác định là các môn học và hoạt động giáo dục phải giúp học sinh hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân

ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và các năng lực chung (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo)

Trang 23

Từ các biểu hiện cụ thể của 5 phẩm chất chủ yếu và 3 năng lực chung này

ở mỗi cấp học, Chương trình môn Vật lí lựa chọn một số biểu hiện cụ thể phù hợp với đặc trưng và ưu thế của mình để xác định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực mà môn Vật lí thực hiện

Mặt khác, các yêu cầu cần đạt còn được xây dựng dựa trên định hướng về vai trò, mục tiêu của lĩnh vực giáo dục khoa học tự nhiên và của môn Vật lí đã được nêu trong Chương trình tổng thể (các trang 19, 20, 21); cụ thể như sau:

– Bên cạnh vai trò góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu

và năng lực chung cho học sinh, giáo dục khoa học tự nhiên có sứ mệnh hình thành và phát triển thế giới quan khoa học ở học sinh; đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục học sinh tinh thần khách quan, tình yêu thiên nhiên, tôn trọng các quy luật của thiên nhiên để từ đó biết ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và môi trường Giáo dục khoa học tự nhiên giúp học sinh dần hình thành và phát triển năng lực khoa học tự nhiên qua quan sát và thực nghiệm, vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống; thực hiện giáo dục tích hợp khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán (giáo dục STEM), một trong những xu hướng giáo dục được coi trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới và được quan tâm thích đáng trong đổi mới giáo dục phổ thông của Việt Nam

– Ở cấp trung học phổ thông, giáo dục khoa học tự nhiên được thực hiện qua các môn Vật lí, Hoá học và Sinh học (lớp 10, lớp 11 và lớp 12) Đây là các môn học thuộc nhóm môn khoa học tự nhiên được học sinh lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp, sở thích và năng lực của bản thân Chương trình mỗi môn học giúp học sinh tiếp tục phát triển năng lực khoa học tự nhiên dưới các góc độ đặc thù (vật lí, hóa học, sinh học); vừa bảo đảm phát triển kiến thức, kĩ năng trên nền tảng những năng lực chung và năng lực khoa học tự nhiên đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp vào một số ngành nghề cụ thể

Đóng góp của môn Vật lí trong việc bồi dưỡng phẩm chất cho học sinh

Môn Vật lí có vai trò góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu cho học sinh thông qua việc tìm hiểu thế giới tự nhiên Từ việc thực hiện các nhiệm vụ thực hành, tìm hiểu khoa học, làm việc nhóm, … môn Vật lí tạo cho học sinh cơ hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, biết đồng cảm,

sẻ chia với người khác, có cá tính và đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với quê hương,

Trang 24

đất nước, con người; ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; giúp học sinh thấy rõ vai trò và tác dụng của môn học đối với đời sống con người, có thói quen và nhu cầu tìm hiểu, nhận thức thế giới tự nhiên, có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại,

có khả năng hội nhập quốc tế, có ý thức và tác phong của một công dân toàn cầu

Môn Vật lí góp phần đắc lực vào việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học cho học sinh, tạo cơ hội để học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên qua hệ thống các quy luật vật lí, đồng thời giáo dục học sinh trách nhiệm công dân trong việc tôn trọng các quy luật của thiên nhiên, biết trân

trọng, giữ gìn, bảo vệ và ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển

bền vững

Trong hoạt động thực hành, thí nghiệm, tìm hiểu khoa học, cùng với cơ hội tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng, học sinh cũng được rèn luyện và phát triển nhiều đức tính như cẩn thận, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm…

Đóng góp của môn Vật lí giúp học sinh HT, PT các năng lực chung

Môn Vật lí góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung đã được nêu trong Chương trình tổng thể Những năng lực chung này được hình thành và phát triển không chỉ thông qua nội dung dạy học mà còn thông qua phương pháp

và hình thức tổ chức dạy học mới với việc chú trọng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong hoạt động nhận thức, tìm hiểu khoa học, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học

Năng lực tự chủ và tự học

Thông qua các nhiệm vụ thực hành, các dự án học tập, tìm hiểu thế giới tự nhiên, môn Vật lí mang lại cho học sinh những trải nghiệm phong phú; nhờ đó, học sinh phát triển được vốn sống; có khả năng nhận biết cảm xúc, tình cảm, sở thích, cá tính và khả năng của bản thân; biết tự làm chủ để có hành vi phù hợp,

sự tự tin và tinh thần lạc quan trong học tập và đời sống Môn Vật lí cũng giúp người học có khả năng suy ngẫm về bản thân, tự nhận thức và điều chỉnh được những hạn chế của mình trong quá trình học tập và không ngừng học hỏi để tự hoàn thiện

Các kĩ năng tìm hiểu thiên nhiên theo tiến trình được hình thành, phát triển từ môn Vật lí là công cụ tốt giúp học sinh trong việc học một số môn học khác và trong tự học Học sinh biết tự tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn nguồn tài

Trang 25

liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; biết lưu trữ và xử lí thông tin bằng các hình thức phù hợp

Năng lực giao tiếp và hợp tác

Năng lực giao tiếp và hợp tác là năng lực mà môn Vật lí có nhiều lợi thế trong hình thành và phát triển Trong môn Vật lí, cùng với việc thực hiện các dự

án học tập, học sinh thường xuyên được thực hiện các bài thực hành, thực tập theo nhóm Khi thực hiện các nhiệm vụ học tập này, học sinh được trao đổi, trình bày, chia sẻ ý tưởng, nội dung học tập Đó là những cơ hội tốt để học sinh

có thể hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Giải quyết vấn đề và sáng tạo là một đặc thù của việc tìm hiểu, khám phá khoa học Một trong những nội dung giáo dục của môn Vật lí là tìm hiểu, khám phá khoa học Vì thế, trong hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề

và sáng tạo, Vật lí là một trong số môn học có nhiều lợi thế Năng lực chung này được thể hiện trong đề xuất vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí Trong chương trình giáo dục vật lí phổ thông, phát triển năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên được nhấn mạnh và xuyên suốt từ cấp tiểu học đến cấp trung học phổ thông và được hiện thực hóa thông qua các mạch thực hành, trải nghiệm với các mức độ khác nhau

Môn Vật lí đề cao vai trò của học sinh với tư cách là người học tích cực, chủ động, không chỉ trong hoạt động tiếp nhận mà còn sáng tạo trong thực hiện các dự án tìm hiểu thiên nhiên Qua việc học môn Vật lí, học sinh có kĩ năng hình thành ý tưởng và triển khai ý tưởng một cách sáng tạo Qua những hình thức rèn luyện từ thấp đến cao, học sinh có được khả năng đề xuất ý tưởng, tạo

ra sản phẩm mới trong học tập và cuộc sống; suy nghĩ không theo lối mòn, nhờ

đó đề xuất được các giải pháp phù hợp với bối cảnh

Đóng góp của môn Vật lí giúp học sinh HT, PT năng lực Vật lí

Nh ận thức vật lí

Con người luôn có nhu cầu và trách nhiệm nhận thức thế giới xung quanh

Nhận thức vật lí chính là nhận thức một khía cạnh của khoa học tự nhiên

Trong Chương trình môn Vật lí, học sinh nhận thức vật lí tức là có được

kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí; năng lượng và sóng;

lực và trường; nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến vật lí

Để học sinh phát triển được năng lực nhận thức vật lí, giáo viên cần tạo cho học sinh cơ hội huy động những hiểu biết, kinh nghiệm sẵn có để tham gia

Trang 26

hình thành kiến thức, kĩ năng mới Chú ý tổ chức các hoạt động, trong đó học sinh có thể diễn đạt hoặc mô tả bằng cách riêng, phân tích, giải thích so sánh, hệ

thống hoá, áp dụng trực tiếp kiến thức, kĩ năng đã được học để giải quyết thành công tình huống, vấn đề trong học tập; qua đó, kết nối được kiến thức, kĩ năng

mới với vốn kiến thức, kĩ năng đã có

Tìm hi ểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí

Trong Chương trình môn Vật lí học sinh tìm hiểu được thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí nghĩa là vận dụng được một số kĩ năng tiến trình khoa học để khám phá, giải quyết vấn đề dưới góc độ vật lí

Để giúp học sinh phát triển được năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí, giáo viên cần vận dụng một số phương pháp dạy học có ưu thế như: phương pháp trực quan (đặc biệt là thực hành, thí nghiệm, ), phương pháp

dạy học nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học theo dự án, tạo điều kiện để học sinh đưa ra câu hỏi, xác định vấn đề cần tìm hiểu, tự tìm các bằng

chứng để phân tích thông tin, kiểm tra các dự đoán, giả thuyết qua việc tiến hành thí nghiệm, hoặc tìm kiếm, thu thập thông tin qua sách, mạng Internet, ; đồng

thời chú trọng các bài tập đòi hỏi tư duy phản biện, sáng tạo (bài tập mở, có nhiều cách giải, ), các bài tập có nội dung gắn với thực tiễn thể hiện bản chất vật lí, giảm các bài tập nặng về tính toán,

V ận dụng kiến thức, kĩ năng đã học

Kiến thức, kĩ năng của nhân loại là kết tinh của quá trình tìm hiểu, nhận

thức thiên nhiên qua rất nhiều thế hệ Đối với người học, để kiểm nghiệm các

nhận thức của mình về một vấn đề đã học, không gì chính xác hơn là vận dụng vấn đề đó trong thực tiễn Tức là kiểm nghiệm xem nhận thức về nội dung đã

học có phù hợp với đối tượng mà nội dung đó mô tả hay không Chỉ có thực tiễn

mới cho biết nhận thức đó có chính xác hay không, và cũng chỉ kiểm nghệm trong thực tiễn thì mới biết một kĩ năng có thể thực hiện hiệu quả hay không

Trong Chương trình môn Vật lí, yêu cầu học sinh vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học tức là vận dụng được một số kiến thức, kĩ năng trong thực

tiễn, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và

bảo vệ môi trường; đồng thời nhận biết được năng lực, sở trường của bản thân, định hướng được nghề nghiệp và có kế hoạch học tập, rèn luyện đáp ứng yêu cầu

của định hướng nghề nghiệp

Để học sinh phát triển được năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học, giáo viên cần chú ý tạo cơ hội cho học sinh tương tác tích cực thông qua quá

Trang 27

trình phát hiện, đề xuất ý tưởng, giải quyết vấn đề bằng cách: đưa ra phán đoán

và xây dựng giả thuyết; lập kế hoạch thực hiện; tìm kiếm thông tin qua tài liệu in

và tài liệu đa phương tiện; thu thập, lưu trữ dữ liệu từ các thí nghiệm trong phòng thực hành hoặc quan sát ở thiên nhiên; phân tích, xử lí, đánh giá các dữ

liệu dựa trên các tham số thống kê đơn giản; so sánh kết quả với giả thuyết, giải thích, rút ra được kết luận; viết, trình bày báo cáo và thảo luận; vận dụng kiến

thức, kĩ năng vật lí để đưa ra những phản hồi hợp lí hoặc giải quyết thành công tình huống, vấn đề mới trong học tập, trong cuộc sống

3 N ội dung 3: Tìm hiểu nội dung giáo dục môn Vật lí

3.1 M ục tiêu

Sau khi được tập huấn nội dung này, học viên có thể:

– Nêu được khái quát nội dung giáo dục môn Vật lí

– Trình bày được quan điểm xây dựng mạch các chủ đề trong chương trình môn Vật lí;

– Phân loại được các chủ đề theo tiêu chí phù hợp; xác định được các

phẩm chất, năng lực mà mỗi loại chủ đề có thể góp phần chủ yếu để hình thành, phát triển;

– So sánh được việc tổ chức dạy học chủ đề theo chương trình hiện hành

và theo chương trình mới;

– Từ các kết quả phân tích, đề xuất được quy trình xây dựng kế hoạch dạy

học một chủ đề trong chương trình môn Vật lí nhằm phát triển năng lực học sinh đáp ứng các yêu cầu cần đạt trong chủ đề đó;

– Xây dựng được kế hoạch tập huấn “Tìm hiểu nội dung giáo dục môn Vật

lí theo ch ương trình phổ thông mới”

3.2 Ngu ồn tài liệu, học liệu

– Mục V của Tài liệu TEXT: Tài liệu tìm hiểu Chương trình môn Vật lí

trong Chương trình GDPT 2018

– Chương trình môn Vật lí, Tài liệu hỏi đáp, INFOGRAPHIC và VIDEO – Tài liệu đọc cho nội dung 3

– Sách “Hướng dẫn dạy học môn Vật lí theo Chương trình giáo dục phổ

thông 2018”, NXB Đại học Sư phạm, 2019

3.3 Ti ến trình tổ chức hoạt động

Ho ạt động 1: Tìm hiểu khái quát nội dung giáo dục môn Vật lí

Thời lượng từ 80 đến 90 phút

Trang 28

– Báo cáo viên trình bày nội dung khái quát, tổng quan nội dung giáo dục môn

Vật lí trong từng lớp (từ 15 đến 20 phút):

+ Nguyên t ắc lựa chọn nội dung học tập cốt lõi ở Chương trình môn Vật lí;

+ Tiêu chu ẩn lựa chọn nội dung học tập cốt lõi ở Chương trình môn Vật lí; + Nguyên t ắc thiết kế, sắp xếp các chủ đề trong chương trình môn Vật lí

– Chia nhóm học viên và phân công nhóm thực hiện các nhiệm vụ:

+ Đọc mục V và VI trong Chương trình môn Vật lí trong chương trình GDPT 2018, thảo luận để chỉ ra nguyên tắc thiết kế, sắp xếp các chủ đề trong chương trình;

+ Thảo luận để phân loại các chủ đề trong chương trình theo tiêu chí phù

hợp và xác định các năng lực được phát triển chủ yếu qua dạy học mỗi loại chủ

đề

Nên chia thành 3 (hoặc 6) nhóm lớn, mỗi nhóm lớn thực hiện phân loại các chủ đề thuộc chương trình Vật lí 10, Vật lí 11 hoặc Vật lí 12 theo mẫu gợi ý sau (Báo cáo viên có thể gợi ý cách phân loại dựa theo mức độ yêu cầu cần đạt của

mỗi chủ đề):

Phi ếu hoạt động 3.1 Phân loại các chủ đề Vật lí lớp … theo tiêu chí …

Loại chủ đề Tên chủ đề Năng lực chủ đề góp phần phát triển

Loại 1: … 1

2

Loại 2: … 1

2 – Mỗi nhóm lớn cử 1 nhóm đại diện trình bày về cách phân loại các chủ đề thuộc chương trình môn Vật lí ở mỗi lớp với yêu cầu:

+ Nêu khái quát các chủ đề được thực hiện ở lớp 10/lớp 11/lớp 12

+ Nêu nguyên tắc lựa chọn thứ tự dạy học các chủ đề

+ Nêu các năng lực mà chủ đề góp phần phát triển

– Báo cáo viên điều khiển các nhóm trao đổi ý kiến để thống nhất được:

+ Nội dung giáo dục trong chương trình môn Vật lí 2018 được xây dựng thành các chủ đề

+ Trong một lớp, thứ tự dạy học các chủ đề (bao gồm các chủ đề bắt buộc

và các chuyên đề tự chọn) là không cố định “cứng”, các tác giả sách giáo khoa, giáo viên có thể sáng tạo một cách hợp lí, sao cho không làm mất logic hình thành kiến thức, kĩ năng và không hạn chế cơ hội hình thành và phát triển phẩm

Trang 29

chất, năng lực của học sinh

+ Các chủ đề trong chương trình môn Vật lí 2018 được xây dựng theo hướng mở Cụ thể là không quy định nội dung dạy học và thứ tự dạy học các nội dung trong chủ đề mà chỉ quy định những yêu cầu học sinh cần đạt về nhận

2013 – 2014, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã giao quyền tự chủ xây dựng và thực

hiện kế hoạch giáo dục; chỉ đạo các cơ sở giáo dục trung học, tổ chuyên môn và giáo viên chủ động, linh hoạt trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, địa phương và khả năng của học sinh Việc rà soát chương trình, xây dựng và tổ

chức dạy học các chủ đề nội môn, chủ đề tích hợp liên môn đã được các tổ chuyên môn, các giáo viên trong nhà trường triển khai thực hiện chính là tiền đề thuận lợi cho việc tổ chức dạy học các chủ đề theo chương trình mới

– Học viên (được yêu cầu nghiên cứu trước tài liệu 1 và 2) làm việc cá nhân trong 10 phút để so sánh việc tổ chức dạy học chủ đề theo chương trình

hiện hành và theo chương trình mới theo bảng gợi ý sau:

Phi ếu hoạt động 3.2 So sánh việc tổ chức dạy học chủ đề theo chương trình

hi ện hành và chương trình mới

Nội dung so sánh Theo chương trình

hiện hành

Theo chương trình 2018

Cơ sở pháp lí của việc tổ chức dạy

học theo chủ đề

Quy trình xây dựng chủ đề

Tính linh hoạt khi dạy học chủ đề

Trang 30

Nội dung so sánh Theo chương trình

hiện hành

Theo chương trình 2018 Nguyên tắc thiết kế tiến trình dạy

học chủ đề

– Học viên được chia thành các nhóm 4 – 5 người, chia sẻ ý kiến cá nhân

đã chuẩn bị và thảo luận để thống nhất ý kiến nhóm về so sánh việc tổ chức dạy

học chủ đề theo chương trình hiện hành và theo chương trình mới

– Đại diện 1 – 2 nhóm trình bày ý kiến của nhóm

– Báo cáo viên điều khiển các nhóm trao đổi ý kiến để thống nhất được: + Giáo viên đã thực hiện dạy học chủ đề trong chương trình hiện hành, do

đó có thể thực hiện được tiến trình và kĩ thuật dạy học chủ đề

+ Việc dạy học chủ đề theo chương trình mới thuận lợi hơn so với chương trình cũ do có sẵn các chủ đề đã xác định các yêu cầu cần đạt

+ Các chủ đề dạy học theo chương trình hiện hành được xây dựng theo

mạch nội dung Các chủ đề theo chương trình mới 2018 được xây dựng và sắp xếp theo mạch phát triển năng lực Do đó cần phân tích để xác định loại của mỗi

chủ đề để có thể tổ chức dạy học chủ đề phù hợp nhất với mạch phát triển năng

lực của chương trình Vật lí (Giới thiệu vào Hoạt động 3)

Ho ạt động 3: Tìm hiểu quy trình xây dựng kế hoạch dạy học một chủ đề

– Báo cáo viên đặt vấn đề: Để thực hiện dạy học chủ đề thì từ các yêu cầu cần đạt đã được quy định trong chương trình cùng với các năng lực được phát triển qua mỗi loại chủ đề (theo kết quả phân loại ở trên), giáo viên cần xác định được: mạch phát triển nội dung, chuỗi hoạt động học và phương tiện, thiết bị cần cho việc tổ chức và đánh giá hoạt động của học sinh khi tiến hành dạy học chủ đề – Học viên làm việc theo các nhóm 4 – 5 người thảo luận về các nội dung: + Những nội dung cần xác định khi xây dựng kế hoạch dạy học một chủ đề + Quy trình xây dựng kế hoạch dạy học một chủ đề

– Báo cáo viên điều khiển để 1 – 2 nhóm chia sẻ nội dung thảo luận quy trình xây dựng kế hoạch dạy học một chủ đề với toàn thể học viên Các học viên khác

Trang 31

hoạt động học và phương tiện cần cho việc tổ chức và đánh giá hoạt động của

học sinh khi tiến hành dạy học chủ đề

+ Quy trình xây dựng Kế hoạch dạy học một chủ đề

Bước 1: Từ các yêu cầu cần đạt được quy định trong chương trình, xác định

loại chủ đề và các năng lực có thể được góp phần phát triển thông qua dạy học

chủ đề đó

Bước 2: Xác định chuỗi hoạt động học và mạch phát triển nội dung trong

chủ đề để tạo cơ hội phát triển các năng lực được xác định ở Bước 1

Bước 3: Xác định công cụ, tiêu chí để theo dõi, đánh giá học sinh qua các

hoạt động học

Bước 4: Xác định các phương tiện, thiết bị, học liệu cần để tổ chức dạy học

và theo dõi học sinh trong chuỗi hoạt động học

Ho ạt động 4: Xây dựng kế hoạch tập huấn nội dung 3

– Học viên làm việc theo nhóm để xây dựng kế hoạch tập huấn nội dung 3 – Báo cáo viên gợi ý học viên có thể tham khảo các hoạt động đã thực hiện trong

nội dung 3 để xây dựng kế hoạch tập huấn theo mẫu gợi ý sau:

Phi ếu hoạt động 3.4 Kế hoạch tập huấn nội dung 3

TT M ục tiêu Ho ạt động S ản phẩm

ho ạt động

Định hướng đánh giá

Đánh giá thông qua các kết quả hoạt động của học viên sau đây:

– Kết quả học viên làm việc nhóm;

– Kết quả học viên trình bày, phát biểu, phân tích sản phẩm;

– Các sản phẩm của các nhóm đưa ra

Sản phẩm hoạt động của học viên khi tham gia các hoạt động trong Nội dung 3

và dự kiến đánh giá như bảng sau:

Trang 32

TT M ục tiêu Ho ạt động S ản phẩm

ho ạt động

Định hướng đánh giá

1 Nêu được khái

quát nội dung giáo

dục môn Vật lí

Ho ạt động 1:

Tìm hiểu khái quát nội dung giáo dục môn

học viên

Chỉ ra được các chủ

đề được thiết kế, sắp xếp từ trực quan đến trừu tượng, từ đơn giản đến phức tạp, từ hệ được xem như một hạt đến nhiều hạt Phân loại được các

Bảng phân

loại các chủ

đề

Xác định được các năng lực thường được phát triển ở

và chương trình mới

Phiếu hoạt động 3.2

So sánh

việc dạy

học chủ đề theo

chương

So sánh được việc

tổ chức dạy học

chủ đề theo chương trình hiện hành và theo chương trình mới để thấy được

những thuận lợi khi

Trang 33

TT M ục tiêu Ho ạt động S ản phẩm

ho ạt động

Định hướng đánh giá

trình hiện hành và theo

chương trình mới

thực hiện dạy học

chủ đề theo chương trình mới

Phiếu hoạt động 3.3

Quy trình xây dựng

Kế hoạch

dạy học

chủ đề

Thể hiện đủ các nội dung: Yêu cầu cần đạt (năng lực được phát triển)  mạch nội dung chủ đề  hoạt động học và phương tiện dạy

Thể hiện đủ nội dung: Mục tiêu;

Hoạt động; Sản

phẩm hoạt động và Định hướng đánh giá sản phẩm

Tài li ệu đọc cho nội dung 3

Khái quát n ội dung giáo dục môn vật lí

Giáo dục vật lí trong Chương trình giáo dục phổ thông có nhiệm vụ trang bị cho học sinh học vấn vật lí học phổ thông, thông qua quá trình dạy học có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, được chọn lọc Tuy nhiên, nhà trường không thể đáp ứng tất cả mọi nhu cầu của cá nhân người học, của gia đình và xã hội, nhà trường chỉ có thể cung cấp cho người học những tri thức phổ thông nền tảng Đối với mỗi con người, nền tảng học vấn phổ thông có được không chỉ là kết

quả của giáo dục nhà trường mà còn là kết quả của giáo dục ngoài nhà trường,

Trang 34

đó không phải chỉ là tổng số những kiến thức, kỹ năng mà là hệ thống các phẩm

chất, năng lực cần thiết

Nội dung học tập cốt lõi của môn Vật lí được lựa chọn trên những nguyên

tắc và tiêu chuẩn sau đây:

Mục tiêu của môn Vật lí đã được cụ thể hóa thành yêu cầu cần đạt (chú ý hai yếu tố quan trọng là kĩ năng tiến trình và kết quả đầu ra về năng lực người

học)

Xác định các nội dung tối thiểu bắt buộc và đường phát triển của các mạch

và các chủ đề nội dung then chốt sao cho tạo được cơ hội để hình thành, phát triển các phẩm chất, năng lực cần đạt Nội dung dạy học là hệ thống những tri

thức khoa học vật lí cốt lõi để giúp học sinh có thể tiếp tục được quá trình giáo

Tăng cường tính ứng dụng của nội dung giáo dục vật lí trong nhà trường Điều này có nghĩa là đảm bảo một cách hài hòa và thích hợp giữa nội dung giáo

dục vật lí mang tính hàn lâm với nội dung giáo dục vật lí gắn với đời sống thực

t ế của học sinh và gắn với xu hướng phát triển hiện đại của kinh tế, khoa học và đời sống xã hội, gắn bó mật thiết với việc góp phần giúp học sinh hình thành, rèn luyện và làm chủ các"kỹ năng sống"

Nội dung dạy học đi từ trực quan đến trừu tượng, từ đơn giản đến phức tạp,

từ hệ được xem như một hạt đến nhiều hạt Coi trọng cách tiếp cận dựa trên vốn

kinh nghiệm và sự trải nghiệm của học sinh

Cấu trúc nội dung dạy học có tính hệ thống, chỉnh thể thống nhất từ tiểu học đến hết trung học phổ thông, và có tính đến yêu cầu định hướng nghề nghiệp

Mỗi đơn vị kiến thức, kĩ năng cơ bản được lựa chọn trên cơ sở có tính đến: + việc đáp ứng mục tiêu dạy học môn Vật lí ở trường phổ thông (có vai trò như thế nào đối với việc phát triển phẩm chất, năng lực người học);

+ vị trí như thế nào trong những kiến thức, kĩ năng cơ bản của khoa học

Vật lí của nhân loại;

Ngày đăng: 19/03/2023, 04:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w