1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên môn Thể dục Tiểu học

66 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên môn Thể dục Tiểu học
Tác giả Phạm Thế Chính
Trường học Trường Cao Đẳng Sư Phạm Gia Lai
Chuyên ngành Thể Dục
Thể loại Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên
Năm xuất bản 2020
Thành phố Gia Lai
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 646,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC, ĐẶC ĐIỂM, CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT MỚI 2018, THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH TIỂU HỌC (12)
    • 1.1. Định hướng về đổi mới phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông mới (12)
    • 1.2. Định hướng về đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông mới (13)
    • 1.3. Đặc điểm môn học Giáo dục thể chất đƣợc xác định cụ thể nhƣ sau. 10 1.4. Quan điểm về xây dựng chương trình môn học (14)
    • 1.5. Mục tiêu của chương trình môn học (16)
    • 1.6. Yêu cầu cần đạt về phát triển phẩm chất và năng lực năng lực của học sinh (17)
    • 1.7. Nội dung giáo dục môn học Giáo dục thể chất trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 bao gồm Nội dung khái quát và Nội dung dạy học cụ thể (19)
    • 1.8. Tính kế thừa chương trình hiện hành trong chương trình môn học mới (20)
  • CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC, GIÁO DỤC ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC VÀ GIÁO DỤC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT THEO HƯƠNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC (22)
    • 2.1. Căn cứ xác định phương pháp giáo dục, kỹ thuật dạy học của chương trình môn học Giáo dục thể chất mới (22)
    • 2.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh theo chương trình Giáo dục phổ thông mới (25)
      • 2.2.1. Tính tích cự c h ọ c t ậ p (25)
      • 2.2.2. Phương pháp dạ y h ọc tích cự c (26)
      • 2.2.4. Đặc trưng của các phương pháp dạ y h ọc tích cự c (27)
      • 2.2.5. M ộ t s ố phương pháp dạ y h ọc tích cự c c ần phát triể n ở trườ ng ti ể u (30)
        • 2.2.5.1. Phương pháp vấn đáp (30)
        • 2.2.5.2. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề (30)
        • 2.2.5.3. Phương pháp hoạt động cặp đôi, nhóm (32)
        • 2.2.5.4. Phương pháp động não (33)
        • 2.2.5.5. Kĩ thuật “khăn trải bàn” (33)
    • 2.3. Vận dụng những phương pháp, kỹ thuật và hình thức tổ chức dạy học đặc thù phù hợp với những bài học khác nhau trong môn học Giáo dục thể chất theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh (34)
      • 2.3.1. Các phương pháp trực quan và phương pháp sử d ụ ng l ời nói (ngôn ngữ ) trong gi ả ng d ạ y th ể d ụ c th ể thao (34)
        • 2.3.1.1. Khái quát chung (34)
        • 2.3.1.2. Các phương pháp trực quan (35)
        • 2.3.1.3. Các phương pháp sử dụng lời nói (37)
      • 2.3.2. Các phương pháp thự c hi ện bài tậ p th ể ch ấ t (39)
        • 2.3.2.1. Các phương pháp thực hiện bài tập thể chất có định mức chặt chẽ về lƣợng vận động (39)
        • 2.3.2.2. Các phương pháp thực hiện bài tập thể chất không có định mức chặt chẽ lƣợng vận động (42)
      • 2.3.3. Phương pháp sử a ch ữa động tác sai trong giả ng d ạ y th ể d ụ c th ể (44)
        • 2.3.3.1. Nguyên nhân dẫn đến động tác sai (44)
        • 2.3.3.2. Phương pháp sửa chữa động tác sai (45)
      • 2.3.4. Phương pháp lên lớ p gi ờ th ể d ụ c (45)
        • 2.3.4.1. Các loại bài giảng (46)
        • 2.3.4.2. Cấu trúc giờ thể dục (47)
    • 3.1. Thi ế t k ế k ế hoạch dạy học (50)
    • 3.2. K ế hoạch dạy học minh họa (50)
    • 3.3. Thiết kế giáo án minh họa (60)
  • CHƯƠNG 4: THIẾT DẠY HỌC (0)
    • 4.1. Định hướng thiết bị dạy học (64)
    • 4.2. Ví dụ minh họa sử dụng 1 số thiết bị dạy học (64)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (65)

Nội dung

Untitled SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƢ PHẠM TÀI LIỆU BỒI DƢỠNG THƢỜNG XUYÊN 2020 MÔN THỂ DỤC Chuyên đề SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC, GIÁO DỤC MÔN HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT THEO HƢỚNG PH[.]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN 2020

MÔN: THỂ DỤC

Chuyên đề

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

PH ẠM THẾ CHÍNH

Gia Lai – Tháng 8/2020

Trang 2

M ỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC, ĐẶC ĐIỂM, CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT MỚI 2018, THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH TIỂU HỌC 8 1.1 Định hướng về đổi mới phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông mới 8 1.2 Định hướng về đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông mới 9 1.3 Đặc điểm môn học Giáo dục thể chất được xác định cụ thể như sau 10 1.4 Quan điểm về xây dựng chương trình môn học 11 1.5 Mục tiêu của chương trình môn học 12 1.6 Yêu cầu cần đạt về phát triển phẩm chất và năng lực năng lực của học sinh 13 1.7 Nội dung giáo dục môn học Giáo dục thể chất trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 bao gồm Nội dung khái quát và Nội dung dạy học cụ thể 15 1.8 Tính kế thừa chương trình hiện hành trong chương trình môn học mới 16 CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC, GIÁO DỤC ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC VÀ GIÁO DỤC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT THEO HƯƠNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 18 2.1 Căn cứ xác định phương pháp giáo dục, kỹ thuật dạy học của chương trình môn học Giáo dục thể chất mới 18 2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh theo chương trình Giáo dục phổ thông mới 21 2.2.1 Tính tích cực học tập 21 2.2.2 Phương pháp dạy học tích cực 22

Trang 3

2.2.3 Mối quan hệ giữa dạy và học, tích cực với dạy học lấy học sinh

làm trung tâm 23

2.2.4 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực 23

2.2.5 Một số phương pháp dạy học tích cực cần phát triển ở trường tiểu học 26

2.2.5.1 Phương pháp vấn đáp 26

2.2.5.2 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề 26

2.2.5.3 Phương pháp hoạt động cặp đôi, nhóm 28

2.2.5.4 Phương pháp động não 29

2.2.5.5 Kĩ thuật “khăn trải bàn” 29

2.3 Vận dụng những phương pháp, kỹ thuật và hình thức tổ chức dạy học đặc thù phù hợp với những bài học khác nhau trong môn học Giáo dục thể chất theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh 30

2.3.1 Các phương pháp trực quan và phương pháp sử dụng lời nói (ngôn ngữ) trong giảng dạy thể dục thể thao 30

2.3.1.1 Khái quát chung 30

2.3.1.2.Các phương pháp trực quan 31

2.3.1.3 Các phương pháp sử dụng lời nói 33

2.3.2 Các phương pháp thực hiện bài tập thể chất 35

2.3.2.1 Các phương pháp thực hiện bài tập thể chất có định mức chặt chẽ về lượng vận động 35

2.3.2.2 Các phương pháp thực hiện bài tập thể chất không có định mức chặt chẽ lượng vận động 38

2.3.3 Phương pháp sửa chữa động tác sai trong giảng dạy thể dục thể thao 40

2.3.3.1 Nguyên nhân dẫn đến động tác sai 40

2.3.3.2 Phương pháp sửa chữa động tác sai 41

2.3.4 Phương pháp lên lớp giờ thể dục 41

2.3.4.1 Các loại bài giảng 42

2.3.4.2 Cấu trúc giờ thể dục: 43

Trang 4

CHƯƠNG 3: KẾ HOẠCH DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH

TIỂU HỌC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

2018 46

3.1 Thiết kế kế hoạch dạy học 46

3.2 Kế hoạch dạy học minh họa 46

3.3 Thiết kế giáo án minh họa 56

CHƯƠNG 4: THIẾT DẠY HỌC 60

4.1 Định hướng thiết bị dạy học 60

4.2 Ví dụ minh họa sử dụng 1 số thiết bị dạy học 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

Ngày 04 tháng 11 năm 2013, an chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Ngày 28 tháng 11 năm

2014, Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ tám đã biểu quyết thông qua nghị quyết mới của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông ( Nghị quyết số 88/2014/QH13) Ngày 27 tháng 3 năm 2015, Thủ tướng Chính

phủ phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông( Quyết định số 404/QĐ-TTg)

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ

sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học

Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phải đảm bảo tính

hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp

Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành;

lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp với quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng

Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo

Trang 6

Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo

Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước

Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả

về phẩm chất và năng lực, hài hòa đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh

Kế thừa và phát triển những ưu điểm của chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông hiện hành, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam và phù hợp với xu thế quốc tế, đồng thời đổi mới toàn diện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; khắc phục tình trạng quá tải; tăng cường thực hành và gắn với thực tiễn cuộc sống Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông được tiến hành đồng bộ, công khai, minh bạch, tiếp thu rộng rãi ý kiến của nhân dân, các nhà khoa học, nhà giáo và người học

Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống văn hóa, lịch sử, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích họa tập suốt đời

Đổi mới nội dung giáo dục phổ thông theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và định hướng nghề nghiệp; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên Phù hợp với điều kiện thực tiễn về đội ngũ giáo viên, cơ

sở vật chất, kỹ thuật của nhà trường và khả năng tiếp thu của học sinh

Trang 7

Thực hiện một chương trình giáo dục phổ thông thống nhất nhưng mềm dẻo, linh hoạt Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú họa tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập; đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và

xã hội

Đổi mới căn bản phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng

hỗ trợ phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, phản ánh mức độ đạt chuẩn quy định trong chương trình, cung cấp thông tin chính xác, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh

Nghị quyết số 88/2014/QH13: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh”

Triển khai thực hiện nghị quyết số 88/2014/QH13, mục tiêu giáo dục cấp tiểu học là: Học sinh được hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất, học vấn và năng lực chung được nêu trong mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông; bước đầu phát triển những tiềm năng sẵn có để tiếp tục học trung học cơ sở

Chương trình mới yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh cần đạt được sau mỗi cấp học ( hay còn gọi là chuẩn đầu ra) của giáo dục phổ thông, là

sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục trên hai phương diện phẩm chất và năng lực của học sinh, là kết quả đầu ra cần đạt để xác nhận trình độ học tập sau khi kết thúc mỗi cấp học; được sắp xếp theo một logic hợp lý, chi tiết đến cấp lớp; làm cơ sở cho việc lựa chọn và cấu trúc nội dung khi biên soạn sách giáo khoa, xác đinh phương pháp và hình thức giáo duc

Chương trình giáo dục phổ thông mới hướng tới hình thành những phẩm chất, năng lực, là năng lực chung và năng lực đặc thù liên quan đến từng lĩnh vực giáo dục, môn học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo mà mọi học sinh đều cần có trong cuộc sống, đồng thời tạo điều kiện phát triển tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh Xác định các mức độ khác nhau của mỗi năng lực tương thích với từng cấp học và từng lĩnh vực giáo dục, môn học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo; tạo điều kiện để học sinh phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần Thực hiện giáo dục toàn diện: đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản; rèn luyện, phát triển các phẩm chất, năng lực cần thiết và định hướng nghề nghiệp Đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống cách mạng, đạo đức, lối sống,

Trang 8

năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội

Đối với môn học Giáo dục thể chất theo chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Giáo dục thể chất được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận và thực tiễn, cập nhật thành tựu của khoa học thể dục thể thao và khoa học sư phạm hiện đại Chương trình môn Giáo dục thể chất được thiết kế theo cấu trúc vừa đồng tâm vừa tuyến tính phù hợp với tâm - sinh lý lứa tuổi và quy luật phát triển thể lực của học sinh Thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh; vận dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với đặc điểm của môn học và hỗ trợ việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực vận động ở học sinh

Chương trình môn Giáo dục thể chất sẽ mang tính mở, tạo điều kiện để học sinh được lựa chọn các hoạt động phù hợp với thể lực, nguyện vọng của bản thân và điều kiện của nhà trường; đồng thời tạo điều kiện để các trường xây dựng kế hoạch phù hợp với yêu cầu giáo dục, điều kiện thực tế và đặc điểm cụ thể của học sinh địa phương Cùng đó, môn Giáo dục thể chất trong Chương trình Giáo dục phổ thông mới đặt ra những mục tiêu chung như: Phát triển các năng lực chăm sóc sức khỏe, vận động cơ bản và thể dục thể thao nhằm phát triển các tố chất thể lực của học sinh; giúp học sinh phát triển hài hoà về thể chất

và tinh thần Học sinh có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành công dân có trách nhiệm, người lao động có sức khỏe, văn hóa, cần cù, sáng tạo…

Môn Giáo dục thể chất trong Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng chia thành hai giai đoạn, gồm: Giáo dục cơ bản nhằm hướng dẫn học sinh biết cách chăm sóc sức khỏe và vệ sinh thân thể; hình thành thói quen tập luyện thể thao; hình thành kỹ năng vận động cơ bản, phát triển tố chất thể lực Giai đoạn này học sinh được lựa chọn nội dung hoạt động thể dục thể thao phù hợp với thể lực của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường Còn giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, môn Giáo dục thể chất được thực hiện thông qua câu lạc bộ thể dục thể thao Ngoài việc tiếp tục phát triển các kỹ năng như ở giai đoạn giáo dục cơ bản, những học sinh có năng khiếu thể thao có thể tự chọn định hướng nghề nghiệp phù hợp cho mình

Ngành Giáo dục - Đào tạo cũng tăng cường thời lượng học ở môn Giáo dục thể chất trong chương trình Giáo dục Phổ thông mới Theo đó, thời lượng dành cho môn Giáo dục thể chất ở mỗi lớp là 70 tiết trong năm học, được phân

bổ cho các nội dung phù hợp với từng cấp học Ở bậc tiểu học, nội dung vận động cơ bản với các bài tập đội hình đội ngũ, bài tập thể dục, tư thế và kỹ năng vận động chiếm 65% thời lượng Lên trung học cơ sở, môn Giáo dục thể chất giúp học sinh tiếp tục củng cố và phát triển các kỹ năng vận động cơ bản; thói

Trang 9

quen tập luyện thể dục thể thao, thực hiện các hoạt động thể chất một cách tự tin; phát triển thể chất; biết tự chăm sóc sức khoẻ…Và ở bậc trung học phổ thông, nội dung trên không còn mà thay vào đó là các môn thể thao tự chọn chiếm 90% thời lượng; thời gian còn lại dành cho đánh giá cuối kỳ, cuối năm học

Phát biểu tại Hội nghị nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học vừa được tổ chức tại Hà Nội, ộ trưởng ộ Giáo dục - đào tạo Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh: Giáo dục thể chất là thành tố quan trọng trong quá trình đào tạo con người hoàn thiện đạo đức - trí tuệ - thể chất - thẩm mỹ Mặc dù vậy, lâu nay, giáo dục thể chất trong nhà trường được xem là môn phụ, nhiều thầy cô dạy giáo dục thể chất cảm thấy “mặc cảm” trước đồng nghiệp Nhưng không phải cứ kêu gọi là môn phụ trở thành môn chính, mà bản thân giáo dục thể chất phải thay đổi để trở thành nhu cầu, niềm đam mê, có như thế giáo dục thể chất mới không còn được coi là môn phụ

Để làm được những điều này thì việc môn giáo dục thể chất có sách giáo khoa dành cho học sinh là một trong những giải pháp đầu tiên bởi nó thể hiện sự bình đẳng giữa các môn học với nhau trong chương trình Mặt khác, trong chương trình mới, môn giáo dục thể chất được thiết kế 3 mạch nội dung: Kiến thức chung về giáo dục thể chất (Kiến thức về vệ sinh tập luyện; đảm bảo an toàn trong tập luyện; sử dụng các yếu tố môi trường, tự nhiên trong tập luyện…); Vận động cơ bản gồm các nội dung: Đội hình đội ngũ; bài tập thể dục; các vận động cơ bản đi, chạy, nhảy, ném…; Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương

và nhà trường, học sinh được định hướng lựa chọn một môn thể thao phù hợp để tập luyện Do đó, sách giáo khoa môn Giáo dục thể chất sẽ là tài liệu giúp học sinh tự học để có những kiến thức cơ bản nhằm đạt hiệu quả cao trong quá trình tập luyện ên cạnh đó, sách giáo khoa môn Giáo dục thể chất cũng sẽ là tài liệu

để phụ huynh tham khảo, hướng dẫn cho học sinh tự tập luyện ở nhà hoặc biết chuẩn bị các điều kiện thiết yếu cho con trong tập luyện thể dục thể thao Ví dụ như, khi chơi bóng rổ, bóng bàn, bóng đá… cha mẹ phải đảm bảo điều kiện an toàn cho con như thế nào từ áo quần, giày, vật dụng hỗ trợ

Cùng với đó, để xóa bỏ định kiến môn Giáo dục thể chất được coi là môn phụ thì việc cần phải có đội ngũ giáo viên đủ trình độ, năng lực chuyên môn

và được bồi dưỡng kiến thức thường xuyên cùng hệ thống cơ sở vật chất là việc làm cấp thiết Theo thống kế, hiện nay cả nước có gần 80.000 giáo viên thể dục thể thao, trong đó có khoảng 74% giáo viên chuyên trách và 26% giáo viên bán chuyên trách Đặc biệt ở bậc tiểu học chỉ có 20% số trường có giáo viên chuyên trách Đối với hệ thống cơ sở vật chất, hiện nay, ở cấp Tiểu học có 17% số trường có nhà tập thể dục thể thao, 15% số trường có sân tập thể dục thể thao; cấp Trung học cơ sở có 12% số trường có nhà tập thể dục thể thao, 15% số trường có sân tập thể dục thể thao; cấp Trung học phổ thông có 30% số trường

có nhà tập thể dục thể thao, 15% số trường có sân tập thể dục thể thao

Trang 10

Con số thống kế này đã phần nào cho thấy thực trạng về việc thiếu đội ngũ giáo viên giáo dục thể chất cũng như hệ thống cơ sở vật chất ở trong các trường học Để giải quyết vấn đề này, trong Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất

và thể thao trường học giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025, Chính phủ cũng đưa ra những nhiệm vụ cụ thể trong việc tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ giáo dục thể chất và thể thao trường học cũng như tăng cường việc xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên thể dục, thể thao nhằm bảo đảm đủ về số lượng và đạt tiêu chuẩn quy định Trong đó, tập trung xây dựng kế hoạch phát triển cơ sở vật chất (bao gồm cả trang thiết bị, dụng cụ) phục vụ giáo dục thể chất và thể thao trường học, gắn với triển khai quy hoạch hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục, thể thao quốc gia; Từng bước đầu tư xây dựng phòng học giáo dục thể chất, hệ thống sân chơi, trang thiết bị, đồ chơi phát triển vận động cho trẻ em trong các trường mầm non; đầu tư xây dựng hệ thống sân tập, trang thiết bị, dụng cụ tập luyện và từng bước đầu tư xây dựng nhà tập đa năng cho các cơ sở giáo dục phổ thông ở những nơi có điều kiện; Tạo điều kiện thuận lợi về quỹ đất và việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất (công trình thể thao) phục

vụ giáo dục thể chất và thể thao trường học tại các địa phương; Hỗ trợ các cơ sở giáo dục tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh

tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn trong việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ phục vụ giáo dục thể chất và thể thao trường học;

khuyến khích đầu tư xây dựng hệ thống sân tập, nhà tập đa năng, bể bơi, mua sắm trang thiết bị trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học Từng bước đầu tư xây mới, nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị trong các cơ sở giáo dục đại học đào tạo giáo viên, giảng viên thể dục, thể thao

Đối với việc xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên thể dục, thể thao bảo đảm đủ về số lượng và đạt tiêu chuẩn quy định, sẽ tập trung vào việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bảo đảm đủ số lượng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, giảng viên thể dục, thể thao tại các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Tổ chức thường xuyên, có hiệu quả các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp dạy và học cho đội ngũ giáo viên, giảng viên thể dục, thể thao trong nhà trường Tăng cường năng lực, trách nhiệm đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học tham gia đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên thể dục, thể thao

Để đảm bảo chất lượng đội ngũ giáo viên giáo dục thể chất đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới, ộ trưởng ộ Giáo dục - Đào tạo Phùng Xuân Nhạ lưu ý: các trường Đại học sư phạm thể dục thể thao, khoa sư phạm giáo dục thể chất tập trung xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng tăng cường kỹ năng cho cả người dạy, người học, kỹ năng xử lý tình huống, mở rộng các chương trình hướng dẫn phong trào, tổ chức các câu lạc bộ;

Trang 11

tài liệu giáo trình tránh lý thuyết mà chú trọng tới tính hướng dẫn thực hành, thiết thực và hiệu quả ộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đề nghị các địa phương, các

cơ sở giáo dục bám sát mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục phổ thông mới ban hành, từ đó vận dụng các hoạt động giáo dục thể chất một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, vùng miền, phù hợp với thể trạng học sinh, tạo sự hứng khởi cho cả người dạy và người học Với những nhiệm vụ

và giải pháp cụ thể được đề ra chắc chắc môn giáo dục thể chất sẽ nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các trường bởi đây là nội dung quan trọng, góp phần rèn luyện thể lực cho học sinh, từ đó nâng cao tính tự giác, chủ động rèn luyện, giúp các em đảm bảo sức khỏe cho hoạt động học tập và hình thành công dân tương lai phát triển toàn diện cả về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ

Trang 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC, ĐẶC ĐIỂM, CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT MỚI 2018, THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG

LỰC HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Định hướng về đổi mới phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông mới

Do cách tiếp cận mục tiêu chương trình giáo dục hiện hành chủ yếu bằng trang bị kiến thức nên phương pháp dạy học vẫn theo lối truyền đạt một chiều, học sinh thụ động, ghi nhớ máy móc kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa mà ít được rèn luyện phương pháp học Hình thức tổ chức dạy học chủ yếu là trên lớp học, chưa dành thời lượng thỏa đáng cho các hoạt động trải nghiệm ( đây là một nguyên nhân làm mất dần hứng thú học tập, gây quá tải) Những hạn chế và cách thiết kế nội dung các môn học và hoạt động giáo dục cùng với những hạn chế về hình thức tổ chức và phương pháp dạy học, phương pháp và nội dung của hoạt động kiểm tra, đánh giá là nghuyên nhân chính hạn chế hiệu quả giáo dục đạo đức, rèn luyện kỹ năng; hạn chế hiệu quả hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đạo đức, lối sống, rèn luyện kỹ năng, phát triển khả năng sáng tạo, tự học để học tập suốt đời

Nghị quyết số 29-NQ/TW yêu cầu “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học”

Từ yêu cầu đó, việc đổi mới phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ thực hiện theo định hướng sau:

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục/dạy học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập của người học Học sinh tự tìm tòi kiến thức, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức; bồi dưỡng phẩm chất, năng lực thông qua các hoạt động học tập dưới sự chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của giáo viên; học sinh được trình bày và bảo vệ ý kiến của mình, được lắng nghe và phản biện ý kiến của bạn, nhất là khi tham gia các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc

Trang 13

- Về hình thức dạy học:

Khuyến khích và tạo điều kiện cho việc chuyển hình thức tổ chức giáo dục

từ chủ yếu là dạy học trên lớp sang đa dạng hóa hình thức học tập, đồng thời với dạy học trên lớp phải chú trọng các hoạt động xã hội và nghiên cứu khoa học Cân đối giữa dạy học và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo; giữa hoạt động tập thể, nhóm nhỏ và cá nhân; giữa dạy học bắt buộc và dạy học tự chọn để đảm bảo hiệu quả của việc giáo dục đạo đức, lối sống và rèn luyện kỹ năng của học sinh, vừa đảm bảo chất lượng giáo dục chung, vừa phát triển tiềm năng của

cá nhân người học

Cùng với dạy học trên lớp, coi trọng hơn các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo chú ý đến tính đặc thù của các lĩnh vực giáo dục khác nhau: lĩnh vực về học vấn, lĩnh vực về kỹ năng (ngoại ngữ, kỹ năng sống, kỹ năng tin học), lĩnh vực giáo dục năng khiếu (nghệ thuật, thể thao), lĩnh vực giáo dục giá trị sống

Tăng cường hiệu quả các phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ đổi mới việc lựa chọn và thiết kế nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Tạo điều kiện cho học sinh học tập qua các nguồn học liệu đa dạng, phong phú trong xã hội, nhất là qua Internet…

Từ đó phát triển năng lực tự học và chuẩn bị tâm thế cho học tập suốt đời

Trong những năm gần dây, việc đổi mới đồng bộ hình thức tổ chức, phương pháp dạy học và phương tiện dạy học đã bước đầu chuyển biến, đã khắc phục một phần những hạn chế và đặt cơ sở ban đầu cho những thay đổi mạnh mẽ trong thời gian tới

1.2 Định hướng về đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông mới

Thi, kiểm tra, đánh giá có vai trò vừa tạo động lực, điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học, hoạt động quản lý giáo dục, vừa xác nhận sự tiến bộ và thành tích học tập theo chuẩn đầu ra được quy định trong chương trình giáo dục

Vì vậy, đánh giá chất lượng giao dục phải phản ánh mức độ đạt chuẩn chương trình (của cấp học, môn học); phải cung cấp thông tin đúng, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động này, hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh

Việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục trong chương trình hiện hành chưa triển khai đúng và đầy đủ về nội hàm và ý nghĩa của hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục, còn phiến diện, lạc hậu, chưa hướng tới mục tiêu phát triển hài hòa phẩm chất và năng lực học sinh Việc thi, kiểm tra và đánh giá hiện nay chỉ chú trọng yêu cầu ghi nhớ kiến thức, chưa coi trọng vận dụng kiến thức, kỹ năng giải quyết các vấn đề thực tiễn; nặng về đo lường định kỳ kết quả học tập,

Trang 14

chưa coi trọng nhận xét của giáo viên để nhận xét sự tiến bộ và khuyến khích học sinh vươn lên; chưa hướng dẫn học sinh tự nhận xét, rút kinh nghiệm để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và học Việc phối hợp giữa đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội còn hạn chế

1.3 Đặc điểm môn học Giáo dục thể chất được xác định cụ thể như sau

Trong chương trình giáo dục phổ thông, có nhiều môn học chỉ xuất hiện ở một cấp học hoặc một số lớp Giáo dục thể chất là môn học bắt buộc, được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12 Tên môn học trong chương trình hiện hành là môn Thể dục; trong chương trình mới có tên là môn học Giáo dục thể chất (Luật TDTT - tại mục 2, khoản 1, điều 20 và Nghị định số 11/2015/NĐ-CP - tại điều 3)

cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp:

Môn Giáo dục thể chất góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, trọng tâm là: trang bị cho học sinh kiến thức

và kĩ năng chăm sóc sức khoẻ; kiến thức và kĩ năng vận động; hình thành thói quen tập luyện, khả năng lựa chọn môn thể thao phù hợp để luyện tập nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực và tố chất vận động; trên cơ sở đó giúp học sinh có ý thức, trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng, thích ứng với các điều kiện sống, sống vui vẻ, hoà đồng với mọi người

Nội dung chủ yếu của môn Giáo dục thể chất là rèn luyện kĩ năng vận động và phát triển tố chất thể lực cho học sinh bằng những bài tập thể chất đa dạng như: các bài tập đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao và kĩ năng phòng tránh chấn thương trong hoạt động thể dục thể thao

Nội dung giáo dục thể chất được phân chia theo hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Môn Giáo dục thể chất giúp học sinh biết cách chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể; hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khoẻ; thông qua các trò chơi vận động và tập luyện thể dục, thể thao hình thành các kĩ năng vận động

cơ bản, phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển toàn diện Học sinh được lựa chọn nội dung hoạt động thể dục thể thao phù hợp với thể lực của mình

và khả năng đáp ứng của nhà trường

Trang 15

- Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp:

Môn Giáo dục thể chất được thực hiện thông qua hình thức câu lạc bộ thể dục thể thao Học sinh được chọn nội dung hoạt động thể thao phù hợp với nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường để tiếp tục phát triển

kĩ năng chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể, phát triển về nhận thức và năng khiếu thể thao, đồng thời giúp những học sinh có năng khiếu thể thao tự chọn định hướng nghề nghiệp phù hợp

Chương trình hiện hành đề cao tính giáo dục về kiến thức, kĩ năng cơ bản về thể dục thể thao và phương pháp tập luyện,…chưa giải quyết tốt mối quan hệ và tác động qua lại giữa môn Giáo dục thể chất với các môn học và thực tiễn đời sống Chương trình mới nhấn mạnh thêm tính công cụ, tính chất tổng hợp liên ngành, thể hiện rõ mới quan hệ qua lại giữa các môn học và hoạt động giáo dục: Nội dung chương trình môn Giáo dục thể chất mang tính tổng hợp bao gồm cả tri thức văn hóa, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Khoa học tự nhiên, Sinh học, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm,… trong đó môn học đề cao yêu cầu liên

hệ và vận dụng vào thực tiễn đời sống hằng ngày

1.4 Quan điểm về xây dựng chương trình môn học

Chương trình môn Giáo dục thể chất quán triệt đầy đủ quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực, kế hoạch giáo dục và định hướng

về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục được quy định tại Chương trình tổng thể Xuất phát từ đặc trưng của môn học, một số quan điểm sau được nhấn mạnh trong xây dựng chương trình:

- Chương trình môn Giáo dục thể chất được xây dựng dựa trên nền tảng lí luận và thực tiễn, cập nhật thành tựu của khoa học thể dục thể thao và khoa học

sư phạm hiện đại, trong đó có các kết quả nghiên cứu về giáo dục học, tâm lí học, sinh lí học, phương pháp giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao; kinh nghiệm xây dựng chương trình môn Giáo dục thể chất của Việt Nam và các nước

có nền giáo dục tiên tiến; kết quả phân tích thực tiễn giáo dục, điều kiện kinh tế -

xã hội Việt Nam và sự đa dạng của học sinh

- Chương trình môn Giáo dục thể chất bảo đảm phù hợp với tâm - sinh lí lứa tuổi và quy luật phát triển thể chất của học sinh; phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục; vận dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với đặc điểm của môn học, hỗ trợ việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực ở học sinh

- Chương trình môn Giáo dục thể chất được xây dựng theo hướng mở, tạo điều kiện để học sinh được lựa chọn các hoạt động phù hợp với thể lực, nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường; đồng thời tạo điều kiện

Trang 16

để nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế và đặc điểm của mỗi địa phương

Quan điểm xây dựng chương trình theo hướng mở này thể hiện điểm đổi mới thực sự trong việc xây dựng chương trình môn Giáo dục thể chất Tính chất

mở của chương trình được thể hiện ở những điểm như: không quy định chi tiết

về nội dung dạy học, mà chỉ quy định những yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực thể chất cho mỗi lớp, quy định những kiến thức cơ bản cốt lõi về giáo dục thể chất bắt buộc cho học sinh toàn quốc

1.5 Mục tiêu của chương trình môn học

Mục tiêu của Chương trình môn Giáo dục thể chất, cũng là mục tiêu của môn Giáo dục thể chất Việc xác định mục tiêu môn học dựa trên các căn cứ sau: yêu cầu của đất nước về giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ trong mỗi giai đoạn Vì giáo dục trong nhà trường phải hướng tới việc đào tạo được các thế hệ người lao động đáp ứng được yêu cầu của đất nước; tạo ra các công dân mang đậm bản sắc dân tộc và hội nhập được với thế giới Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, bối cảnh xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, môi trường, đòi hỏi người lao động phải có những đổi mới, đáp ứng được yêu cầu mới về nguồn nhân lực Đồng thời căn cứ vào mục tiêu của chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể, căn cứ vào đặc điểm của môn học Giáo dục thể chất, căn cứ vào quan điểm xây dựng chương trình, năng lực thể chất đặc thù, ngoài ra còn tham khảo về mục tiêu giáo dục Giáo dục thể chất của một số nước tiên tiến trên thế giới

Môn Giáo dục thể chất giúp học sinh hình thành, phát triển kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, kĩ năng vận động, thói quen tập luyện thể dục thể thao và rèn luyện những phẩm chất, năng lực để trở thành người công dân phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế, góp phần phát triển tầm vóc, thể lực người Việt Nam; đồng thời phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao

Môn Giáo dục thể chất giúp học sinh biết cách chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể, bước đầu hình thành các kĩ năng vận động cơ bản, thói quen tập luyện thể dục thể thao, tham gia tích cực các hoạt động thể dục, thể thao nhằm phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển toàn diện và phát hiện năng khiếu thể thao

Trang 17

1.6 Yêu cầu cần đạt về phát triển phẩm chất và năng lực năng lực của học sinh

Yêu cầu cần đạt thực chất là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục với hai phương diện là phẩm chất và năng lực Yêu cầu cần đạt khái quát của cả môn học Trong phần khái quát này có yêu cầu cần đạt về phẩm chất và yêu cầu cần đạt về năng lực Yêu cầu cần đạt về năng lực lại có yêu cầu cần đạt về năng lực chung và yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù (môn học)

Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể; Quan điểm xây dựng chương trình môn học; Đặc điểm của môn học; Mục tiêu của môn học; Năng lực thể chất; Đặc điểm lứa tuổi học sinh; điều kiện thực hiện chương trình tại Việt Nam,

Môn Giáo dục thể chất góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định tại Chương trình tổng thể, các môn học đều phải góp phần giúp học sinh có được các phẩm chất đó theo đặc trưng của riêng từng môn học Môn học Giáo dục thể chất là một trong những môn học trực tiếp hình thành và phát triển cả năm phẩm chất, xuyên suốt tất cả ba cấp học (cấp tiểu học; cấp trung học cơ sở; cấp trung học phổ thông) Đó là những phẩm chất chủ yếu sau: yêu nước, nhân

ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm

việc hình thành, phát triển các năng lực chung cho học sinh:

Môn Giáo dục thể chất góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định tại Chương trình tổng thể

Các môn học đều phải góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung tùy theo đặc trưng của mỗi môn học Môn Giáo dục thể chất có nhiều ưu thế trong việc góp phần hình thành và phát triển toàn diện các năng lực chung đã được nêu trong Chương trình tổng thể Những năng lực chung này được hình thành và phát triển không chỉ thông qua nội dung dạy học mà còn thông qua phương pháp và hình thức tổ chức dạy học mới với việc chú trọng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong hoạt động tập luyện, trò chơi và thi đấu

Cũng tương tự như với các phẩm chất chủ yếu, đồng thời cũng thống nhất với các môn học khác, Chương trình Giáo dục thể chất chỉ nêu yêu cầu chung

Trang 18

cho cả môn học dưới góc độ khái quát và gắn với đặc trưng môn học này, các yêu cầu cụ thể cho từng cấp đã được nêu trong Chương trình tổng thể

Trong dạy học môn Giáo dục thể chất, giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động tìm tòi, khám phá, tra cứu thông tin, lập kế hoạch và thực hiện các bài tập thực hành, từ đó hình thành và phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh

Môn Giáo dục thể chất tạo cơ hội cho học sinh thường xuyên được trao đổi, trình bày, chia sẻ và phối hợp thực hiện ý tưởng trong các bài thực hành, các trò chơi, các hoạt động thi đấu có tính đồng đội Từ đó, học sinh được hình thành

và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác

Thông qua các hoạt động luyện tập, trò chơi, thi đấu và vận dụng linh hoạt các phương pháp tập luyện, giáo viên tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức

để phát hiện vấn đề và đề xuất cách giải quyết, biết cách lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch để giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực và sáng tạo

việc hình thành, phát triển các năng lực đặc thù cho học sinh:

Chương trình môn Giáo dục thể chất giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực thể chất với các thành phần sau: năng lực chăm sóc sức khỏe, năng lực vận động cơ bản, năng lực hoạt động thể dục thể thao Yêu cầu cần đạt về năng lực thể chất được thể hiện sau:

+ Nhận biết được các vận động cơ bản trong chương trình môn học

+ Thực hiện được các kỹ năng vận động cơ bản

Trang 19

+ Có ý thức thường xuyên vận động phát triển các tố chất thể lực

+ Nhận biết được vai trò của hoạt động thể dục thể thao đối với cơ thể + Thực hiện được kĩ thuật cơ bản của một số nội dung thể thao phù hợp với bản thân

+ Tự giác tích cực trong tập luyện thể dục thể thao

1.7 Nội dung giáo dục môn học Giáo dục thể chất trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 bao gồm Nội dung khái quát và Nội dung dạy học

cụ thể

Nội dung khái quát trình bày những đơn vị nội dung giáo dục lớn của toàn

bộ chương trình, bao gồm nội dung: kiến thức chung về Giáo dục thể chất; vận động cơ bản; thể thao tự chọn Nội dung các hoạt động dạy học kiến thức chung

về Giáo dục thể chất; vận động cơ bản và thể thao tự chọn được xác định dựa trên các yêu cầu cần đạt của mỗi lớp được quy định trong chương trình

Nội dung dạy học cụ thể được trình bày ở từng lớp theo hai cột, gồm yêu cầu cần đạt và nội dung

các căn cứ sau:

+ Thứ nhất, căn cứ vào mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực nêu trong Chương trình tổng thể đã được cụ thể hóa vào mục tiêu của Chương trình môn học Giáo dục thể chất

+ Thứ hai, căn cứ vào thành tựu và kết quả nghiên cứu về chương trình môn học, nhất là Chương trình môn học thể dục hiện hành Phát triển chương trình là một quá trình liên tục qua nhiều thời kì khác nhau Không có chương trình nào được thiết kế, xây dựng mới hoàn toàn mà bao giờ cũng phải kết hợp được 2 phương diện: những yếu tố nền tảng, ổn định, truyền thống và những yêu

tố cập nhật, đổi mới, phát triển

+ Thứ ba, việc xác định nội dung giáo dục môn học Giáo dục thể chất cũng phải căn cứ vào logic của các lĩnh vực làm nền tảng cho môn học Giáo dục thể chất trong nhà trường, trên cơ sở các yêu cầu cần đạt cụ thể với từng cấp và lớp học, để lựa chọn nội dung giáo dục tương ứng theo hướng mở, đa dạng, cá biệt với nhiều cách tiếp cận khác nhau do đặc điểm của khoa học giáo dục thể chất cho phép

+ Thứ tư, xu thế quốc tế về phát triển Chương trình giáo dục phổ thông nói chung và Chương trình môn học Giáo dục thể chất nói riêng Để thiết kế Chương trình môn học Giáo dục thể chất mới, tiểu ban xây dựng đã tham khảo

Trang 20

nhiều chương trình môn học của một số nước như như Đức, Hàn quốc, Singapore, Scotland, Trung Quốc, Nga,… Từ việc khảo sát văn bản chương trình của các nước rút ra xu thể phát triển chương trình môn học này để vận dụng cho Việt Nam, không bê nguyên xi chương trình của nước ngoài, cho dù đó là nước

có nền giáo dục phát triển Trong đó có tính đến đặc điểm điều kiện cơ sở vật chất và nhân lực giáo dục thể chất của chúng ta hiện nay mà các đề tài nghiên cứu khoa học, các ý kiến tại các hội thảo gần đây đã cho thấy

1.8 Tính kế thừa chương trình hiện hành trong chương trình môn học mới

Kế thừa là một nguyên tắc và cũng là một trong các cơ sở khoa học quan trọng để thiết kế Chương trình môn học Giáo dục thể chất mới Có thể nêu lên một số điểm Chương trình Giáo dục thể chất mới kế thừa chương trình môn Thể dục hiện hành sau đây:

Chương trình Giáo dục thể chất mới tiếp tục mục tiêu coi trọng phát triển

về sức khỏe, thể lực; đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; có kĩ năng vận động cần thiết trong cuộc sống; có tác phong nhanh nhẹn, kỉ luật, tinh thần tập thể và phẩm chất đạo đức,…

Chương trình Giáo dục thể chất mới tiếp tục tập trung vào hệ thống kiến thức (ở cấp tiểu học: Đội hình đội ngũ; Tư thế và kĩ năng vận động cơ bản; ài tập thể dục, trò chơi vận động; ở cấp THCS: các nội dung học chạy, nhảy, Thể thao tự chọn,…) với các nội dung cơ bản, hiện đại, phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lí lứa tuổi của học sinh các cấp học, phục vụ trực tiếp cho việc phát triển phẩm chất và năng lực

Nhìn chung, hệ thống các mạch kiến thức lớn và những kĩ năng quan trọng của chương trình Thể dục hiện hành đều được kế thừa trong chương trình mới, chỉ giảm đi những kiến thức quá chuyên sâu, chưa hoặc không phù hợp với yêu cầu trình độ phổ thông và tâm-sinh lí lứa tuổi, không phục vụ nhiều cho việc giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực

Tính kế thừa của chương trình mới thể hiện ở chủ trương tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh,… Tất cả các phương pháp dạy học truyền thống và hiện hành đều được kế thừa trong Chương trình Giáo dục thể chất mới với một tinh thần và định hướng mới Đó là vận dụng linh hoạt, kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh và đều tập trung

Trang 21

hình thành, phát triển năng lực chăm sóc sức khỏe; năng lực vận động cơ bản và năng lực hoạt động thể dục thể thao của học sinh

Chương trình Giáo dục thể chất mới kế thừa tất cả các hình thức kiểm tra, đánh giá truyền thống còn hợp lí và đáp ứng được yêu cầu mới nhằm kiểm tra đánh giá đúng được phẩm chất và năng lực người học, như kiểm tra đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì; đánh giá định tính và đánh giá định lượng

Trang 22

C HƯƠNG 2: VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC, GIÁO DỤC ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC VÀ GIÁO DỤC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT THEO HƯƠNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC

CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 2.1 Căn cứ xác định phương pháp giáo dục, kỹ thuật dạy học của chương trình môn học Giáo dục thể chất mới

Để xác định phương pháp dạy học trong môn Giáo dục thể chất mới thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018, cần căn cứ vào nhiều yếu tố: Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, định hướng về phương pháp giáo dục, những thành tựu nghiên cứu về phương pháp dạy học những năm đầu thế kỉ XXI

- Căn cứ vào yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện chương trình giáo dục phổ thông năm 2018:

Yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo đục và đào tạo, trong đó có giáo dục phổ thông đã được nêu lên trong các nghị quyết của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Đó là Nghị quyết 29 của an chấp hành trung ương; Nghị quyết 88 của Quốc hội và quyết định 404 của Chính phủ về đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông Trong các văn kiện quan trọng này yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đều được đặt ra Cụ thể Nghị quyết 29 đã khẳng định:

“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.”

Nghị quyết 88 của Quốc hội nêu: “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập: đa dạng hóa hình thức

tổ chức học tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt

là công nghệ thông tin và truyền thông; giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội.”

Quyết dịnh 404 của Chính phủ yêu cầu: “Chương trình mới, sách giáo khoa mới phải đáp ứng yêu cầu và góp phần tạo động lực đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy và học, theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên nghiên cứu, khai thác tư liệu giáo dục, tìm hiểu thực tiễn để chuẩn bị tốt bài giảng; tăng cường tương tác, phát huy tính tích cực, chủ động và tạo cảm hứng học tập cho học sinh; tạo điều kiện cho học sinh dần nâng cao năng lực tự học

Trang 23

hỏi, tìm tòi, hiểu biết môi trường, cuộc sống xung quanh và rèn luyện các kĩ năng sống, làm việc; tạo điều kiện thuận lợi và tạo động lực để đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học; thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy

và học.” Những yêu cầu nêu trên là căn cứ quan trọng để chương trình giáo dục phổ thông nói chung và chương môn học Giáo dục thể chất xác định, điều chỉnh

và đổi mới phương pháp giáo dục sao cho đồng bộ với đổi mới mục tiêu và nội dung giáo dục của chương trình

- Căn cứ vào mục tiêu môn học:

Mục tiêu chung của môn Giáo dục thể chất: Môn Giáo dục thể chất giúp học sinh hình thành, phát triển kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, kĩ năng vận động, thói quen tập luyện thể dục thể thao và rèn luyện những phẩm chất, năng lực để trở thành người công dân phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế, góp phần phát triển tầm vóc, thể lực người Việt Nam; đồng thời phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao

Mục tiêu chung này được cụ thể hóa thành mục tiêu của 3 cấp học: mục tiêu của cấp tiểu học (TH), mục tiêu của cấp trung học cơ sở (THCS), mục tiêu của cấp trung học phổ thông (THPT) Sở dĩ cần có mục tiêu của từng cấp là để cho mục tiêu chung được phù hợp với đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của từng lứa tuổi học sinh

- Căn cứ vào nội dung môn học:

Môn Giáo dục thể chất có hai bộ phận nội dung lớn: Yêu cầu cần đạt và nội dung dạy học Để hình thành và phát triển kĩ năng vận động và hoạt động thể dục thể thao, cần chú trọng các phương pháp dạy học thông qua hoạt động tập luyện thực tế của học sinh

- Căn cứ vào định hướng về phương pháp giáo dục trong Chương trình tổng thể 2018:

Chương trình tổng thể đã đưa ra những định hướng cơ bản về phương pháp giảng dạy dùng chung cho các môn học Những định hướng đó là:

+ Sử dụng những phương pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh để học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng

và những kiến thức, kĩ năng đã tích lũy được để phát triển

+ Các hoạt động học tập của học sinh bao gồm hoạt động khám phá vấn

đề, hoạt động tập luyện và hoạt động thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống)

Trang 24

+ Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường thông qua một số hình thức chủ yếu sau: thực hiện bài tập, trò chơi, đóng vai, sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng,

+ Hình thức học của học sinh gồm: làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm, làm việc chung cả lớp

- Định hướng về phương pháp hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung:

+ Phương pháp hình thành, phát triển phẩm chất chủ yếu:

Thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập, giáo viên giúp học sinh rèn luyện tính trung thực, tình cảm bạn bè, đồng đội, tinh thần trách nhiệm và ý thức

tự giác, chăm chỉ tập luyện để phát triển hài hoà về thể chất, tinh thần, có những phẩm chất và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, có sức khoẻ, có văn hoá, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

+ Phương pháp hình thành, phát triển năng lực chung:

Đối với năng lực tự chủ và tự học: Trong dạy học môn Giáo dục thể chất, giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động tìm tòi, khám phá, tra cứu thông tin, lập kế hoạch và thực hiện các bài tập thực hành, từ đó hình thành

và phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh

Đối với năng lực giao tiếp và hợp tác: Môn Giáo dục thể chất tạo cơ hội cho học sinh thường xuyên được trao đổi, trình bày, chia sẻ và phối hợp thực hiện ý tưởng trong các bài thực hành, các trò chơi, các hoạt động thi đấu có tính đồng đội Từ đó, học sinh được hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác

Đối với năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Thông qua các hoạt động luyện tập, trò chơi, thi đấu và vận dụng linh hoạt các phương pháp tập luyện, giáo viên tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức để phát hiện vấn đề và đề xuất cách giải quyết, biết cách lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch để giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực và sáng tạo

- P hương pháp hình thành, phát triển năng lực đặc thù:

+ Hình thành, phát triển năng lực chăm sóc sức khoẻ:

Giáo viên tạo cơ hội cho học sinh huy động những hiểu biết, kinh nghiệm sẵn có để hình thành ý thức và kiến thức về chăm sóc sức khoẻ; đồng thời tăng cường giao nhiệm vụ ở nhà, đồng thời phối hợp với cha mẹ học sinh giúp đỡ học sinh thực hiện nền nếp giữ gìn vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ bản thân

+ Hình thành, phát triển năng lực vận động cơ bản:

Trang 25

Giáo viên khai thác ưu thế của Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục

mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và sự phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người Các giai đoạn dạy học động tác nhằm hình thành ở học sinh kĩ năng vận động, khả năng vận dụng vào thực tế Việc tổ chức các hoạt động vận động (bài tập và trò chơi vận động, ) giúp cho học sinh hình thành và phát triển được các tố chất thể lực cơ bản như: nhanh, mạnh, bền, khéo léo, mềm dẻo, … cũng như khả năng thích ứng của cơ thể và trí nhớ vận động

+ Hình thành, phát triển năng lực hoạt động thể dục thể thao:

Giáo viên vận dụng nguyên tắc giáo dục cá biệt, quan tâm phát hiện và hướng dẫn học sinh tập luyện các môn thể dục thể thao phù hợp với sở thích, sở trường; tạo cơ hội cho học sinh được quan sát và tham gia các trò chơi, các hoạt động cổ vũ và thi đấu thể thao, từ đó khơi dậy niềm đam mê hoạt động thể dục thể thao, khả năng hoạt động thể dục thể thao, phát triển khả năng trình diễn và thi đấu

2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh theo chương trình Giáo dục phổ thông mới

Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"

Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

2.2.1 T ính tích cực học tập

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục

Tính tích cực học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích

Trang 26

phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn…

* Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:

- ắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…

- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề…

- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu

2.2.2 Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

"Tích cực" trong phương pháp dạy học tích cực - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực

Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động

Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng

Phương pháp dạy học tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Như vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động"

Trang 27

2.2.3 Mối quan hệ giữa dạy và học, tích cực với dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Từ thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục ở nước ngoài và trong nước, một số văn bản của ộ Giáo dục và Đào tạo thường nói tới việc cần thiết phải chuyển dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh

hoạt động học và vai trò của học sinh trong qúa trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên

Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì giáo viên khó có điều kiện chăm lo cho từng học sinh nên đã hình thành kiểu dạy "thông báo - đồng loạt" Giáo viên quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học sinh hiểu và nhớ những điều giáo viên giảng Cách dạy này đẻ ra cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu cầu phát triển năng động của xã hội hiện đại Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, thực hiện "dạy học phân hóa"* quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân học sinh trong tập thể lớp Phương pháp dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung tâm ra đời từ bối cảnh đó

Trên thực tế, trong qúa trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới

sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế

Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy tính tích cực chủ động của người học Tuy nhiên, dạy học lấy học sinh làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể

Đó là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả qúa trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện,

tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học

2.2.4 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực

- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh:

Trang 28

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động

"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học:

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng

Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác:

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập

Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh

Trang 29

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới ài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò:

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh

Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế

Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học

Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến

Trang 30

thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên

2.2.5 Một số phương pháp dạy học tích cực cần phát triển ở trường tiểu học

hệ giữa các kiến thức vừa mới học

- Vấn đáp giải thích - minh hoạ:

Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn

- Vấn đáp đàm thoại:

Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy

2.2.5.2 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực

Trang 31

tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay

- Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt

và giải quyết vấn đề thường như sau:

+ Đặt vấn đề, xây dựng nội dung học nhận thức:

Tạo tình huống có vấn đề

Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh

Phát hiện vấn đề cần giải quyết

+ Giải quyết vấn đề đặt ra:

Đề xuất cách giải quyết Lập kế hoạch giải quyết

Thực hiện kế hoạch giải quyết

+ Kết luận:

Thảo luận kết quả và đánh giá

Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra

Phát biểu kết luận

Đề xuất vấn đề mới

- Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:

Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực

hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn

đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh

phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

Trang 32

Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của

mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc

Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh

2.2.5.3 Phương pháp hoạt động cặp đôi, nhóm

Lớp học được chia thành từng cặp đôi, nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay

có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau

Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu bết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp

- Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:

Phân công trong nhóm

Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm

Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm

+ Tổng kết trước lớp:

Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

Thảo luận chung

Trang 33

Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài

Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới ằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì ài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên

Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của địa điểm lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp

lý và học sinh đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và

ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hình thưc và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp dạy học và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới

- Phân loại ý kiến:

+ Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý

2.2.5.5 Kĩ thuật “khăn trải bàn”

Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động

cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:

Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực

Ngày đăng: 19/03/2023, 03:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Vi ệ n Khoa h ọc Giáo dụ c Vi ệ t Nam (2011), Kinh nghi ệ m qu ố c t ế v ề phát triển chương trình giáo dục phổ thông, NX Đạ i h ọ c Qu ốc gia Hà Nộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế vềphát triển chương trình giáo dục phổ thông
Tác giả: Vi ệ n Khoa h ọc Giáo dụ c Vi ệ t Nam
Năm: 2011
15. Vi ệ n Khoa h ọ c G iáo dụ c Vi ệ t Nam (2016), Xu th ế phát triển chương trình giáo dụ c ph ổ thông trên thế gi ớ i, NX Giáo dụ c Vi ệ t Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu thế phát triển chương trình giáo dục phổthông trên thế giới
Tác giả: Vi ệ n Khoa h ọ c G iáo dụ c Vi ệ t Nam
Năm: 2016
1. Đả ng C ộ ng s ả n Vi ệ t Nam, Ban Ch ấp hành Trung ƣơng khóa VIII (1998), Ngh ị quy ế t s ố 03- NQ/TW ngày 16/7/1998 về xây dựng và phát triể n n ề n văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bả n s ắc dân tộ c Khác
2. Đả ng C ộ ng s ả n Vi ệ t Nam, Ban Ch ấp hành Trung ƣơng khoá XI(2011) , Ngh ị quy ế t s ố 08-NQ/TW v ề tăng cườ ng s ự lãnh đạ o c ủa Đả ng, t ạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục, Thể thao đến năm 2020 Khác
4. Đả ng C ộ ng s ả n Vi ệ t Nam, Ban Ch ấ p hành Trung ƣơng khóa XI (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con ngườ i Vi ệt Nam đáp ứng yêu cầu phát triể n b ề n v ững đất nướ c Khác
7. Qu ố c h ội khóa XII (2009), Lu ậ t S ửa đổ i, b ổ sung m ộ t s ố điề u c ủ a Lu ậ t Giáo dụ c Khác
8. Qu ố c h ội khóa XIII (2014), Ngh ị quy ế t s ố 88/2014/QH13 v ề đổ i m ớ i chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông Khác
9. Chính phủ (2015), Ngh ị đị nh s ố 11/2015/NĐ -CP, Quy định về g iáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong n hà trường Khác
10. Chính phủ (2015), Quy ết đị nh s ố 404/QĐ - TTg phê duyệt Đề án đổ i m ới chương trình, sách giáo khoa giáo dụ c ph ổ thông Khác
11. Chính phủ (2016), Quy ết đị nh s ố 1981/QĐ -TTg ph ê duyệt Khung cơ c ấ u h ệ th ống giáo dụ c qu ốc dân Khác
12. Th ủ tướng Chính phủ (2016), Quy ết đị nh s ố 1076/QĐ -TTg p hê duy ệtĐề án tổ ng th ể phát triển giáo dụ c th ể ch ất và thể thao trườ ng h ọ c giai đoạ n 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025 Khác
13. B ộ Giáo dục và Đào tạ o (2006), Quy ết đị nh s ố 16/2006/QĐ - BGDĐT phê duyệt Chương trình giáo dụ c ph ổ thông môn Thể d ụ c Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm