1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên môn Ngữ văn THCS

67 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng phương pháp dạy học, giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh thực hiện chương trình GDTPT 2018
Tác giả ThS. Võ Thị Thoa
Trường học Trường Cao Đẳng Sư Phạm Gia Lai
Chuyên ngành Ngữ Văn THCS
Thể loại Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên
Năm xuất bản 2020
Thành phố Pleiku
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 625,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M�C L�C SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƢ PHẠM TÀI LIỆU BỒI DƢỠNG THƢỜNG XUYÊN 2020 MÔN NGỮ VĂN Chuyên đề SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC, GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH[.]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN 2020

Chuyên đề

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC, GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH THỰC HIỆN

CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018

ThS VÕ THỊ THOA

Pleiku – Tháng 8/2020

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HOC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.2 Dạy học Tập làm văn trong chương trình giáo dục phổ thông mới 8

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 13 2.1 Giúp học sinh nhận diện và xác định các thể loại văn bản được dạy ở trường THCS 13

2.2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài 15

2.3 Hướng dẫn học sinh (quan sát), tìm ý/ luận điểm 23

2.4 Hướng dẫn học sinh lập dàn ý 26

2.5 Hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn, liên kết, tách đoạn 32

2.6 Hướng dẫn học sinh viết phần mở, thân, kết bài 38

2.7 Hướng dẫn học sinh diễn đạt bằng văn nói 51

CHƯƠNG 3 BÀI SOẠN THAM KHẢO VỀ DAY HỌC TẬP LÀM VĂN THCS T HEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC - THỰC HÀNH SOẠN GIẢNG 53

Bài soạn tham khảo về luyện tâp viết đoạn văn chứng minh ( Ngữ văn lớp 7) 53

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

Giáo dục phổ thông Việt Nam đang chuyển từ chương trình định hướng nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Để đạt được mục tiêu và yêu cầu của dạy học theo định hướng năng lực, người dạy phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học nặng về thụ kiến thức sang dạy học cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho người học Yêu cầu dạy học này đòi hỏi được thực hiện ở tất

cả các môn học, trong đó có dạy học phát triển năng lực viết và nói

Môn Ngữ văn nói chung, Tập làm văn ở Trung học cơ sở nói riêng, được coi trọng do sự ứng dụng trong học tập và cuộc sống Tạo lập văn bản nhằm mục đích giao tiếp và học tập luôn được quan tâm trong nhà trường Tập làm văn là phân môn tổng hợp, thực hành những tri thức văn học, tiếng Việt, giúp học sinh có năng lực tạo lập các thể loại văn bản trong quá trình học tập Do đó, việc dạy học Tập làm văn khá quan trọng

Việc dạy học Tập làm văn cho học sinh trung học cơ sở rất hữu ích Song, các công trình nghiên cứu, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo khi biên soạn, các tác giả chưa dành nhiều sự quan tâm đến rèn kỹ năng…hình thành năng lực cho học sinh Thực tế qua các đợt thao giảng, thi GVG các cấp, tỉ lệ các tiết dạy tự chọn phân môn Tập làm văn rất ít; GV rất ngại dạy phân môn này vì tính khuôn mẫu của quy trình, thao tác chưa định hình chắc chắn Bên cạnh đó, thực tiễn dạy học, việc rèn luyện các kỹ năng, cung cấp tri thức cơ sở để thực hành chưa được thầy cô quan tâm đúng mức Học sinh khi tạo lập văn bản nói, viết gặp những trở ngại nhất định Vì thế quá trình dạy học Tập làm văn còn gặp một số khó khăn Đây là vấn đề cần quan tâm trong xu hướng dạy học hình thành năng lực, đặc biệt biệt năng lực tạo lập văn bản cho học sinh

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn chuyên đề: “Dạy

học phân môn Tập làm văn cho học sinh trung học cơ sở theo định hướng

phát triển năng lực người học” với mục đích cụ thể hoá việc dạy học Tập làm

văn, góp phần giúp học sinh biết cách tạo lập các bộ phận và văn bản hoàn chỉnh theo các thể loại ở trường trung học cơ sở (THCS)

Chuyên đề bao gồm các nội dung như sau: Những vấn đề chung về dạy học phân môn Tập làm văn cho học sinh THCS theo định hướng phát triển năng lực người học trong chương trình giáo dục phổ thông 2018; Dạy học môn Tập làm văn theo định hướng phát triển năng lực người hoc; Bài giảng tham khảo; thực hành soạn, giảng phân môn Tập làm văn cho học sinh Trung học cơ sở theo định hướng phát triển năng lực Cụ thể, chuyên đề cung cấp một số lý thuyết cơ bản, tinh giản và hướng dẫn thực hành về cách thức dạy học những đơn vị kiến thức, bộ phận và tạo lập văn bản các thể loại cho học sinhTHCS

Trang 4

2

Tài liệu sẽ giúp ích cho học viên trong quá trình tập huấn, bồi dưỡng

về dạy học phân môn Tập làm văn cho học sinh THCS theo định hướng phát

triển năng lực Bên cạnh đó tài liệu còn giúp học viên có thể tự học, tự nghiên

cứu để vận dụng những tri thức, kỹ năng dạy học Tập làm văn ở THCS

Trong quá trình biên soạn, chắc chắn còn những thiếu sót, mong sự

góp ý của thầy cô giáo, đồng nghiệp, học viên để chúng tôi tiếp tục chỉnh sửa

hướng đến việc đáp ứng yêu cầu thực tế, tài liệu sẽ hoàn thiện hơn!

Nhóm biên soạn

Trang 5

3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HOC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1.1 Cơ sở lý luận

1 1.1 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh THCS

1.1.1 1 Đổi mới cách dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh

Đặc điểm của đào tạo dựa trên năng lực hiện nay biểu hiện rõ nhất qua

năm đặc tính cơ bản:

- Tiếp cận năng lực dựa trên triết lý người học là trung tâm

- Tiếp cận năng lực đáp ứng các đòi hỏi của hoạt động nghề nghiệp

- Tiếp cận năng lực là định hướng cuộc sống thật, hoạt động nghề nghiệp thật

- Tiếp cận năng lực là rất linh hoạt và năng động

- Năng lực được hình thành ở người học một cách rõ ràng Các năng lực

là nội dung của tiêu chuẩn nghề

Những đặc tính cơ bản này dẫn tới những ưu điểm của đào tạo theo tiếp cận dựa trên năng lực là đào tạo cho phép cá nhân hóa việc học trên cơ sở mô hình năng lực, người học sẽ bổ sung những thiếu hụt của cá nhân để thực hiện

Bên cạnh đó là các năng lực chuyên biệt do các lĩnh vực- môn học cụ thể mang lại Tuy cách phát biểu về năng lực có thể khác nhau nhưng đều thống nhất trong cách hiểu về bản chất của khái niệm này Có thể nêu lên mấy điểm thống nhất sau:

Trang 6

4

Năng lực là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố: kiến thức, kĩ năng, thái

độ, tình cảm, ý chí, kinh nghiệm và nhiều nguồn lực tinh thần khác để giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống, học tập và lao động

Năng lực quan hệ chặt chẽ với tri thức, kỹ năng Để phát triển năng lực nào đó học sinh cần có một số kỹ năng nhất định Tri thức, kỹ năng tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy năng lực phát triển Ngược lại, năng lực giúp học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng cần thiết

- Đánh giá năng lực

Là đánh giá khả năng thực hiện, vận dụng; thông qua hành động để đo đếm, xác định chứ không chỉ yêu cầu biết và hiểu Việc thực hiện ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải thực

hiện một cách máy móc

Các thành tố cơ bản cấu thành năng lực vẫn là kiến thức và kĩ năng; vì thế muốn hình thành năng lực vẫn phải thông qua kiến thức và kĩ năng Tuy nhiên nếu chỉ mình kiến thức và kĩ năng, nhất là khi chúng tách rời nhau, thì chưa thể có năng lực thực sự

Trong dạy học theo định hướng năng lực, đánh giá kết quả học tập của học sinh không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện thông tin đã biết làm trọng tâm mà chú trọng khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức trong những tình huống cụ thể

1.1.1.3 Đổi mới cách dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh

Trong dạy học Tập làm văn, không phải tất cả những hiểu biết về các kiểu, loại văn bản tự nhiên đều biến thành kỹ năng nói, viết thành thạo các kiểu, loại văn bản ấy Phải từ những kiến thức được học, học sinh phải vận dụng vào thực tế, khả năng đó gọi là kỹ năng Như vậy giữa tri thức, kỹ năng,

có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau, tuy nhiên chúng cũng có tính độc lập riêng biệt

Trong nhà trường THCS, việc dạy học Tập làm văn bắt đầu từ việc rèn luyện các kỹ năng trong hệ thống kỹ năng tạo lập văn bản Đó là kỹ năng tìm hiểu- phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, diễn đạt, trình bày văn bản

Việc đổi mới dạy học Tập làm văn ở THCS theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…

Trang 7

5

Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới… Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo

Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở

thành môi trường giao tiếp GV- HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết

và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung

Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót

Năng lực Ngữ văn và đánh giá năng lực Ngữ văn

Năng lực Ngữ văn: Là trình độ vận dụng các kiến thức, kĩ năng cơ bản

về văn học và tiếng Việt, TLV để thực hành giao tiếp trong cuộc sống Học sinh tiếp nhận văn bản là khả năng lĩnh hội, nắm bắt được các thông tin chủ yếu Ttừ đó hiểu đúng, hiểu thấu đáo, thấy cái hay, cái đẹp của văn bản, nhất

là văn bản văn học Muốn có năng lực tiếp nhận phải biết cách tiếp nhận Tức

là dựa vào những yếu tố, cơ sở (từ, ngữ, câu, đoạn, hình ảnh, biểu tượng, số liệu, sự kiện, tiêu đề, dấu câu…) để có thể có được các thông tin và cách hiểu

ấy

Đánh giá năng lực tiếp nhận thường dựa vào kết quả của 2 kĩ năng chính

là nghe và đọc Năng lực sản sinh ( tạo lập văn bản) dựa vào 2 kỹ năng nói, viết

Văn bản ở đây cần hiểu không chỉ các thể loại thiên về văn chương mà còn như là một thông báo nơi công cộng, một bản thuyết minh công dụng và cấu tạo của máy móc, một đơn xin việc…

Tóm lại, bên cạnh việc yêu cầu học sinh đọc hiểu một đoạn văn, bài thơ; nhà trường cần dạy và yêu cầu các em biết đọc hiểu các loại văn bản để nắm được thông tin và hiểu đúng ý nghĩa của văn bản

Để đánh giá năng lực Ngữ văn ( cả tiếp nhận và tạo lập) cần phải cụ thể hóa các kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) thành nhiều mức độ khác nhau Mục tiêu của đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực cần xác định được khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp những gì đã học của học sinh trong quá trình học tập

1.1.1.4 Dạy học Tập làm văn hướng đến hình thành các năng lực cụ thể

Trang 8

6

Trong dạy học Tập làm văn, chủ yếu rèn cho học sinh hai kỹ năng nói, viết để tạo lập văn bản Năng lực tạo lập văn bản là khả năng biết nói, viết, tổ chức, xây dựng một văn bản hoàn chỉnh đúng quy cách và có ý nghĩa Muốn

có năng lực tạo lập phải biết cách tạo lập Tức là nắm được cách viết một loại văn bản nào đó

Đánh giá năng lực tạo lập thường dựa vào kết quả của 2 kĩ năng chính là nói và viết Cũng như kĩ năng đọc ở năng lực tiếp nhận; việc kiểm tra đánh giá năng lực tạo lập chủ yếu dồn vào cho kĩ năng viết văn bản

Văn bản yêu cầu học sinh trung học cơ sở tạo lập là tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận, ứng dụng

Cụ thể, bậc THCS chú trọng dạy cho HS cách tiếp nhận văn bản thơ văn nghệ thuật nhưng khó yêu cầu các em tạo lập ra được loại văn bản này Bởi đây là loại văn bản phụ thuộc vào năng khiếu, không phải muốn là có, cố

mà thành Ngoài ra còn chú trọng cung cấp cho HS biết tạo lập các vawbn bản ứng dụng Mức độ yêu cầu của bậc học là biết kể lại, tả lại một sự việc, con người, quang cảnh; biết phát biểu những suy nghĩ, cảm tưởng của bản thân một cách trung thực, xúc động, tạo lập được các văn bản thuyết minh, nghị luận…theo đúng mẫu đã học

Từ những vấn đề trên, trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi chỉ lựa chọn những vấn đề cơ bản trong dạy học Tập làm văn, đặc biệt ở các thể loại văn bản nhằm đề xuất cách rèn luyện cho học sinh THCS theo định hướng phát

triển năng lực một cách hiệu quả

1.1.1.5 Dạy học Tập làm văn đáp ứng đặc trưng, tính chất thực hành của bộ môn

Lý thuyết Tập làm văn ở trường phổ thông là lí thuyết thực hành Sách giáo khoa Ngữ văn phần Tập làm văn hiện nay ở trung học cơ sở bao gồm lí thuyết về kiểu bài và lí thuyết về kĩ năng; trong đó, lí thuyết kĩ năng chủ yếu

là thực hành nhận biết và tạo lập các loại văn bản

Thực hành Tập làm văn là những giờ dùng để luyện tập, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tạo lập văn bản cho học sinh Thời gian dùng để luyện tập có thể được bố trí xen kẽ với việc giảng lí thuyết nhưng thường được tách ra thành những tiết luyện riêng Hiện nay, chương trình và sách giáo khoa phần Tập làm văn không định ra cụ thể số tiết thực hành cho từng chương hoặc từng bài

cụ thể nhưng qua sách giáo viên, chúng ta có thể tìm được những chỉ dẫn rõ hơn cho tỉ lệ giữa lí thuyết và thực hành ở từng bài, từng kiểu loại văn bản

Để bảo đảm đặc trưng thực hành trong dạy học Tập làm văn đạt hiệu quả, giáo viên cần chú ý:

+ Cung cấp đầy đủ những kiến thức lí thuyết định hướng thực hành Không có lí thuyết định hướng, học sinh sẽ nói, viết tuỳ tiện Có những tiết luyện tập chỉ nhằm vào việc luyện một thao tác, khẳng định, củng cố một loại kiến thức nhưng phần lớn những tiết luyện tập đều nhằm vào việc củng cố,

Trang 9

7

làm sáng tỏ lí thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng Bởi vậy, dù là giờ thực hành nhằm khẳng định, củng cố, rèn luyện một hay nhiều kĩ năng giáo viên cũng đều cần cung cấp đủ các nội dung lí thuyết, dù là lí thuyết về các thao tác thực hành

+ Chuẩn bị tốt nội dung viết (hoặc nói ) Nếu chỉ có kiến thức lí thuyết

về các kiểu bài Tập làm văn và các thao tác làm văn, học sinh chưa thể tạo ra được một văn bản tốt Học sinh sẽ không biết viết gì, nói gì trong bài làm của mình khi chưa có những hiểu biết đầy đủ về đối tượng trình bày

+ Tạo được nhu cầu giao tiếp cho học sinh Đây là điều hết sức quan trọng, đặc biệt đối với những giờ luyện nói Học sinh sẽ không thể nói được, viết được bất cứ điều gì khi các em không có nhu cầu giao tiếp

+ Tạo môi trường giao tiếp tốt Đây là yêu cầu quan trọng đối với giờ Tập làm văn nói

+ Dạy học định hướng hành động là dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện đặc trung bộ môn Tập làm văn kết hợp lý thuyết với thực hành

1.1.2 Cơ sở Ngôn ngữ học

Ngôn ngữ học văn bản là một bộ môn chuyên nghiên cứu đặc điểm của văn bản, kết cấu văn bản, các dạng thông tin của văn bản Quá t nh giao tiếp giữa người viết và người đọc là quá trình mã hóa văn bản, cụ thể đây chính là việc tạo lập văn bản trong nhà trường Bởi vậy, ngôn ngữ học văn bản được xem là một tiền đề lí thuyết quan trọng của môn Tập làm văn Viết các bộ phận văn bản và văn bản hoàn chỉnh là hướng đến mục đích của quá trình đó Một trong những quan điểm dạy học hiện đại là dạy theo quan điểm giao tiếp Giao tiếp được thực hiện bằng văn bản Như vậy có thể nói rằng văn bản là đơn vị giao tiếp cơ bản nhất của ngôn ngữ Mặt khác, làm văn là sáng tạo, sản sinh các loại văn bản Việc dạy Tập làm văn chính là dạy cách tổ chức giao tiếp bằng văn bản

Giao tiếp bằng ngôn ngữ không đơn thuần chỉ nhằm mục đích thông tin

mà chủ yếu là quá trình tác động tới người nhận về nhận thức, quan điểm, thẩm mĩ và hành động Không có một văn bản nào chỉ nhằm mục đích thông tin thuần túy (hay nói chính xác hơn là rất ít những văn bản chỉ nhằm mục đích thông tin) mà qua thông tin để nhằm những mục đích nhất định Do vậy tạo lập văn bản trong dạy học Tập làm văn rất quan trọng

Chuyên đề hướng tới việc rèn luyện kĩ năng tạo lập các bộ phận và văn

bản hoàn chỉnh (cả văn bản nói và văn bản viết) cho học sinh trung học cơ sở

1.1.3 Cơ sở Tâm lý- Giáo dục học

Dưới ánh sáng của Tâm lý học, Giáo dục học, bao giờ một hoạt động diễn ra cũng gồm nhiều hành động Trong một hành động lại có nhiều hành

vi Ở từng hành vi bao gồm một loạt các thao tác Như vậy, để thành thạo một

Trang 10

8

hoạt động hay một hành động nào đó, con người cần thành thạo các hành vi, thao tác Điều đó có được không có con đường nào khác cần phải trải qua quá trình rèn luyện

Dạy học Tập làm văn ở THCS, đặc biệt cách thức tìm hiểu, rèn kỹ năng viết các thành phần và tạo lập văn bản các thể loại văn cho học sinh THCS cần phải dựa vào các quy luật của Tâm lý học, Giáo dục học và đặc thù của phân môn Chính vì thế, để hình thành kỹ năng ấy cho học sinh cần thông qua con đường luyện tập nhiều lần về một loại hình công việc nhất định

Quá trình viết một bài văn nghị luận cho học sinh là một quá t nh thực hiện một chuỗi các thao tác như tìm hiểu đề hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết mở bài, thân bài, kết bài, tạo lập văn bản hoàn chỉnh Như vậy để các thao tác này đạt tới sự thuần thục, nhuần nhuyễn, trong dạy học Tập làm văn, giáo viên cần kết hợp giữa dạy lí thuyết và hướng dẫn học sinh thực hành qua hệ thống bài tập rèn luyện

1.2 Dạy học Tập làm văn trong chương trình giáo dục phổ thông mới

1.2.1 Chương trình Ngữ văn- trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018

Chương trình Ngữ văn 2018 xuất phát từ các yêu cầu cần có cho HS về năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học để lựa chọn các nội dung văn học và ngữ học cần dạy Như thế các kiế n thức chỉ có ý nghĩa và lọt vào CT mới khi chúng phục vụ đắc lực, trực tiếp cho yêu cầu phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học Cũng vì thế loại bỏ được những kiến thức không thiết thực,

xa với mục tiêu của CT

Chương trình trước đây thường được thiết kế độc lập theo các cấp khác nhau về người biên soạn, thời điểm và cách thức triển khai Hệ quả có sự vênh lệch khá lớn trong quan niệm, cách tiếp cận, thuật ngữ, khái niệm giữa

CT các cấp CT Ngữ văn mới lần này được thiết kế cùng một lúc cả các cấp

do một tập thể tác giả, với cùng một quan điểm chung, thống nhất với CT tổng thể của tất c ả các môn học Vì thế t ạo được sự thống nhất, đồng bộ trong quan điểm, cách tiếp cận, nội dung và cấu trúc văn bản CT

1.2.1.1 Những yêu cầu về dạy học viết văn bản trong chương trình giáo dục phổ thông mới

Chương trình Ngữ văn THCS hiện hành chia ra 6 kiểu văn bản chính:

Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và văn bản nhật dụng ( sử dụng nhiều trong các công việc hành chính - công vụ, giao dịch hằng ngày)

cụ thể như sau

Lớp 6, 7: học văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, cách thức tạo lập một số văn bản hành chính thông dụng

Lớp 8, 9: Ôn lại và nâng cao cách tạo lập các loại văn bản đã học ở lớp

6, 7 nhưng các loại văn bản được học theo lối kết hợp, chẳng hạn: tự sự gắn

Trang 11

9

với miêu tả, trữ tình; biểu cảm gắn với miêu tả, nghị luận; nghị luận kết hợp với thuyết minh, biểu cảm để học sinh có năng lực viết văn tự nhiên, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu biểu đạt của mình

Trong Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, nội dung chương trình ở bậc THCS yêu cầu:

Học sinh viết được các kiểu văn bản với mức độ cao hơn Tiểu học như:

+ Viết được văn bản tự sự có sáng tạo, có kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm;

+ Viết được văn bản biểu cảm về tác phẩm văn học, làm được một số câu thơ có ý, có vần, có hình ảnh;

+ Viết được bài tùy bút đơn giản;

+ Viết được văn bản nghị luận thể hiện suy nghĩ và chủ kiến cá nhân, đòi hỏi những thao tác lập luận tương đối đơn giản, bằng chứng dễ tìm kiếm;

1.2.1.2 Y êu cầu cụ thể từng khối lớp

1.2.1.2.1 Đối với học sinh lớp 6

* Quy trình vi ết

- Biết viết văn bản bảo đảm các bước: chuẩn bị trước khi viết (xác định

đề tài, mục đích, thu thập tư liệu); tìm ý và lập dàn ý; viết bài; xem lại và

chỉnh sửa, rút kinh nghiệm

* Th ực hành viết

- Viết được bài văn kể lại một trải nghiệm của bản thân; dùng người kể chuyện ngôi thứ nhất chia sẻ trải nghiệm và thể hiện cảm xúc trước sự việc được kể

- Viết được bài văn kể lại một truyền thuyết hoặc cổ tích

- Viết được bài văn tả cảnh sinh hoạt

- Bước đầu biết làm bài thơ lục bát; viết đoạn văn ghi lại cảm xúc của mình sau khi đọc một bài thơ lục bát

- Bước đầu biết viết bài văn trình bày ý kiến về một hiện tượng mà mình quan tâm: nêu được vấn đề và suy nghĩ của người viết, đưa ra được lí lẽ

và bằng chứng để làm sáng tỏ cho ý kiến của mình

- Bước đầu biết viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện

- Viết được biên bản ghi chép đúng quy cách, nêu đầy đủ các nội dung chính về một vụ việc hay một cuộc họp, cuộc thảo luận

- Tóm tắt được nội dung chính của một số văn bản đơn giản đã đọc

bằng sơ đồ

Trang 12

10

1.2.1.2 2 Đối với học sinh lớp 7

* Quy trình vi ết

- Biết viết văn bản bảo đảm các bước: chuẩn bị trước khi viết (xác định

đề tài, mục đích, thu thập tư liệu); tìm ý và lập dàn ý; viết bài; xem lại và

chỉnh sửa, rút kinh nghiệm

* Th ực hành viết

- Viết được bài văn kê lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc

sự kiện lịch sử; bài viết có sử dụng các yếu tố miêu tả

- Viết được bài văn biêu cảm (về con người hoặc sự việc)

- Bước đầu biết làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ; viết đoạn văn ghi lại cảm xúc của mình sau khi đọc một bài thơ bốn, năm chữ

- Bước đầu biết viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống trình bày rõ vấn đề và ý kiến (tán thành hay phản đối) của người viết; đưa ra được lí lẽ rõ ràng và bằng chứng đa dạng

- Bước đầu biết viết bài phân tích đặc điêm nhân vật trong một tác

phẩm văn học

- Bước đầu biết viết văn bản thuyết minh về một quy tắc hay luật lệ trong trò chơi hay hoạt động

- Viết được văn bản tường trình rõ ràng, đầy đủ, đúng quy cách

- Biết tóm tắt một văn bản theo yêu cầu về độ dài khác nhau, đảm bảo được nội dung chính của văn bản

1.2.1.2.3 Đối với học sinh lớp 8

- Viết được bài văn kể lại một chuyến đi hay một hoạt động xã hội đã

để lại cho bản thân nhiều suy nghĩ và tình cảm sâu sắc, có dùng yếu tố miêu tả hay biểu cảm hoặc cả 2 yếu tố này trong văn bản

- Bước đầu biết làm một bài thơ tự do (sáu, bảy chữ) Viết được đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tự do

- Viết được văn bản nghị luận về một vấn đề của đời sống, trình bày rõ

vấn đề và ý kiến (đồng tình hay phản đối) của người viết về vấn đề đó; nêu được lí lẽ và bằng chứng thuyết phục

- Viết được bài phân tích một tác phẩm văn học: nêu được chủ đề; dân

ra và phân tích được tác dụng của một vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật

Trang 13

11

được dùng trong tác phẩm

- Viết được văn bản thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên

hoặc giới thiệu một cuốn sách; nêu được những thông tin quan trọng; trình bày mạch lạc, thuyết phục.Viết được văn bản kiến nghị về một vấn đề đời

sống 1

1.2.1.2 4 Đối với học sinh lớp 9

* Quy trình vi ết

- Biết viết văn bản bảo đảm các bước: chuẩn bị trước khi viết (xác định

đề tài, mục đích, người đọc, hình thức, thu thập thông tin, tư liệu); tìm ý và

lập dàn ý; viết bài; xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm

- Có hiểu biết và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, biết cách trích dân văn

phẩm và hiệu quả thẩm mĩ của nó

- Viết được bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử, có sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh minh hoạ

- Viết được một quảng cáo hoặc tờ rơi về một sản phẩm hay một hoạt động, sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ

1.2.2 Một số định hướng về phương pháp dạy kĩ năng viết ở THCS

Dựa vào yêu cầu cần đạt của chương trình, có thể thấy trong việc dạy kĩ năng viết, người GV cần nắm được một số phương pháp theo nhóm sau:

- Phương pháp dạy kĩ thuật viết ( chủ yếu ở cấp Tiểu học)

- Phương pháp dạy viết đoạn văn và văn bản (có ở 3 cấp) găn với 6 kiểu văn bản chính: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và hành chính - công vụ

Để dạy viết đoạn văn và văn bản, có thể sử dụng các phương pháp như rèn luyện theo mẫu, đặt câu hỏi, thảo luận nhóm, viết sáng tạo

Bản chất của dạy viết là rèn luyện tư duy cho HS, cả tư duy hình tượng

và tư duy logic, qua đó GD phẩm chất và phát triển nhân cách người học, Vì

Trang 14

Thông qua thực hành, giáo viên hướng dẫn để học sinh nắm được quy trình tạo lập văn bản gồm các bước: (1) xác định mục đích và nội dung viết; (2) thu thập tư liệu, hình thành ý tưởng và lập dàn ý cho bài viết; (3) viết văn bản; (4) chỉnh sửa văn bản Để hướng dẫn học sinh thực hiện các bước này, giáo viên cần sử dụng các câu hỏi giúp học sinh xác định mục đích và nội dung viết (Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết về cái gì?); giới thiệu các nguồn

tư liệu, hướng dẫn tìm ý tưởng và phác thảo dàn ý (ví dục như bằng sơ đồ tư duy); yêu cầu viết văn bản; hướng dẫn học sinh tự chỉnh sửa và trao đổi dựa trên tiêu chí đánh giá bài viết Thông qua mỗi bài học viết, sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ có thói quen viết theo quy trình

Thông qua các văn bản đã học ở phần đọc hiểu văn bản bổ sung, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu đọc để nắm được đặc điểm của các kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểm cảm, nghị luận, thuyết minh, nhật dụng Ở cấp trung học cơ sở, học sinh thực hành đầy đủ cả 6 kiểu văn bản

Ở Trung học cơ sở, giáo viên cần yêu cầu học sinh thực hiện những nhiệm vụ phức tạp hơn như thu thập thông tin cho bài viết từ nhiều nguồn (tài liệu in, tài liệu trên mạng, phỏng vấn, thu thập dữ liệu từ thực tế); thảo luận, phân tích về tiêu chí đánh giá bài viết; biết sự chỉnh sửa, trao đổi trong nhóm

để hoàn thiện bài viết và rút kinh nghiệm sau mỗi lần viết bài Ở cấp học này, ngoài việc tiếp tục phương pháp phân tích mẫu các kiểu văn bản, giáo viên cần chú ý hướng dẫn kĩ thuật viết tích cục nhằm giúp học sinh vừa thành thạo

kĩ năng tạo lập theo từng kiểu văn bản, vừa phát triển tư duy phê phán, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo thể hiện qua bài viết Bên cạnh các văn bản thông thường, học sinh còn được rèn luyện tạo lập văn bản điện tử và văn vản

đa phương thức

Tổ chức dạy viết đoạn và bài văn thường gồm các hoạt động chủ yếu như: nêu nhiệm vụ mà học sinh cần thực hiện; yêu cầu học sinh làm việc cá nhân, cặp đôi hoặc theo nhóm; tổ chức trình bày kết quả làm việc, thảo luận

về các nhiệm vụ được giao và tự rút ra nội dung bài học; nhận xét, đánh giá,…

Định hướng chung của các phương pháp, kĩ thuật dạy viết là học sinh thực hành trên cơ sở được giáo viên hỗ trợ trong suốt quá trình học cách tạo lập văn bản từ quan sát, phân tích văn bản mẫu, tự viết văn bản theo yêu cầu đến chỉnh sửa văn bản Sau khi viết xong, học sinh cần có cơ hội nói, trình bày những gì đã viết

Trang 15

13

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Để giúp học sinh THCS nhận diện đúng văn bản tự sự, giáo viên cần tiến hành 3 bước sau:

- Bước 1: Cho học sinh tri giác văn bản ( trong SGK hoặc văn bản GV

tự chọn) Ví dụ văn bản Thạch Sanh

- Bước 2: Hướng dẫn HS xác định: Có câu chuyện được tái hiện không?

Nhân vật? Có lời dẫn chuyện, lời nhân vật? Văn bản đó có ý nghĩa gì ?

- Bước 3: Tổ chức cho HS trình bày kết quả, thảo luận, GV chốt kiến thức, khẳng định thể loại

2.1 2 Văn miêu tả

Đối tượng trong văn miêu tả là con người, sự vật, hiện tượng…được tái hiện lại thông qua đặc điểm, tính chất một cách sinh động, giàu hình ảnh, cảm xúc

Để giúp học sinh THCS nhận diện đúng văn bản miêu tả, giáo viên cần tiến hành 3 bước sau:

- Bước 1: Cho học sinh tri giác văn bản miêu tả (trong SGK hoặc văn bản GV tự chọn) Ví dụ văn bản Động Phong Nha hoặc Chú gà ri

- Bước 2: Hướng dẫn học sinh xác định: Có đối tượng miêu tả nói đến trong văn bản? Có nêu bật những đặc điểm, tính chất của đối tượng? Có thể hiện tình cảm của người viết với đối tượng?

- Bước 3: GV tổ chức cho HS thảo luận, trình bày kết quả, GV chốt kiến

thức

2.1 3 Văn biểu cảm

Những đối tượng, sự vật, hiện tượng gợi sự xúc động, tình cảm của người viết Người viết trực tiếp bộc lộ cảm xúc, suy tư của mình trước đối

Trang 16

14

tượng được đề cập đến trong văn bản

Để giúp học sinh THCS nhận diện đúng văn bản biểu cảm, giáo viên cần tiến hành 3 bước sau:

- Bước 1: Cho học sinh tri giác văn bản biểu cảm ( trong SGK hoặc văn bản GV tự chọn) Ví dụ văn bản Sau phút chia ly, Hồi hương ngẫu thứ

- Bước 2: Hướng dẫn học sinh xác định: Người viết bộc lộ cảm xúc, tình cảm về vấn đề gì trong văn bản? Tình cảm của người viết bộc lộ như thế nào (nội dung, hình thức nggon ngữ )?

- Bước 3: Trình bày kết quả cá nhân, thảo luận, GV chốt kiến thức

2.1 4 Văn nghị luận

Trình bày tư tưởng, ý kiến, quan điểm của người viết về một vấn đề của cuộc sống, văn học nhằm thuyết phục người đọc tin tưởng, nhận thức và hành động theo mình

Để giúp học sinh THCS nhận diện đúng văn bản nghị luận, giáo viên cần tiến hành 3 bước sau:

- Bước1: Cho học sinh tri giác văn bản nghị luận (trong SGK hoặc văn bản GV tự chọn) Ví dụ văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Tiếng nói của văn nghệ; bài viết NL của HS

- Bước 2: Hướng dẫn học sinh xác định: Văn bản trình bày ý kiến, quan điểm của người viết về vấn đề gì? Vấn đề đó thuộc phạm vi nào? Có thuyết phục không?

- Bước 3: Trình bày kết quả, thảo luận, GV chốt kiến thức- văn bản thuộc thể loại nghị luận

2.1 5 Văn thuyết minh

Trình bày, giới thiệu tính chất, cấu tạo, công dụng, làm rõ về bản chất bên trong và nhiều phương diện có tính khách quan, lý do phát sinh, phát triển nhằm cung cấp những thông tin về đối tượng được thuyết minh

Để giúp học sinh THCS nhận diện đúng văn bản thuyết minh, giáo viên cần tiến hành 3 bước sau:

- Bước 1: Cho học sinh tri giác văn bản thuyết minh (trong SGK hoặc văn bản GV tự chọn) Ví dụ Ca Huế trên Sông Hương; Phích nước

- Bước 2: Hướng dẫn học sinh xác định: Văn bản nói về đối tượng nào?

Có nêu tính chất, cấu tạo, quy trình, công dụng của đối tượng? Người đọc nhận thức về lai lịch, sự phát triển của đối tượng?

- Bước 3: Trình bày kết quả, thảo luận, GV chốt kiến thức

2.1 6 Văn nhật dụng

Truyền đạt những nội dung và yêu cầu nào đó tới các thành viên trong

Trang 17

15

xã hội có liên quan hoặc trình bày, đề xuất ý kiến, nguyện vọng của cá nhân

hay tập thể tới các cơ quan và người có quyền hạn nắm bắt và giải quyết

Để giúp học sinh THCS nhận diện đúng văn bản nhật dụng, giáo viên

cần tiến hành 3 bước sau:

- Bước 1: Cho học sinh tri giác một số văn bản nhật dụng (trong SGK

hoặc văn bản GV tự chọn) Ví dụ văn bản Báo cáo sơ kết lớp học kỳ 1, Đơn

xin phép nghỉ học

- Bước 2: Hướng dẫn học sinh xác định: Văn bản trình bày về vấn đề gì?

Có đề đạt nhu cầu, nguyện vọng hay thông tin một vấn đề nào đó cho mọi

người biết không?

- Bước 3: Trình bày kết quả, thảo luận, GV chốt kiến thức

2.2 H ƣớng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài

2.2.1 C ách ra đề và các loại đề Tập làm văn trong nhà trường hiện nay

Dạy học TLV trong nhà trường là hình thức hướng dẫn học sinh luyện

tập viết các văn bản theo một chương trình định sẵn Để học sinh luyện tập

tạo lập các bộ phận và văn bản hoàn chỉnh, giáo viên phải ra các đề văn Đề

văn có tác dụng định hướng nội dung, hình thức làm văn Bên cạnh đó đề văn

cũng có tác dụng gây hứng thú viết văn đối với HS

Trước đây và hiện nay phổ biến trong dạy học Tập làm văn, GV thường

ra đề văn hạn định, trong đó bao giờ cũng có một phạm vi vấn đề, tri thức và

một yêu cầu dưới hình thức mệnh lệnh

Ví dụ các đề văn sau:

- Tục ngữ có câu: “ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” Em hãy làm

sáng tỏ câu tục ngữ ấy

- Hãy phân tích bài thơ Thu điếu (Câu cá mùa thu) của Nguyễn Khuyến

Mỗi đề đều có một đối tượng xác định và một mệnh lệnh yêu cầu học

sinh thực hiện trong bài làm văn Đặc điểm của đề văn đó là hướng dẫn học

sinh suy nghĩ và viết về một vấn đề cụ thể, vận dụng một số thao tác, huy

động một phạm vi kiến thức nhất định Đặc điểm thứ hai là giáo viên có thể

quy định một đáp án để dùng cho tất cả học sinh cùng làm một đề Nhược

điểm của nó là tính chất bắt buộc, gò bó, khả năng lựa chọn dành cho học sinh

ít, chưa tạo cơ hội cho học sinh chủ động lựa chọn phương án và hào hứng

làm văn

Ngày nay trong dạy học làm văn có khuynh hướng ra đề mở Nhưng đề

mở là gì?

Đề mở là loại đề có khả năng tạo không gian thoáng cho học sinh suy

nghĩ Đề văn nào cũng có tính hạn định nhưng đề mở độ hạn định giảm thiểu

để tạo khả năng cho học sinh lựa chọn; các em được tự do lựa chọn vấn đề và

cách giải quyết vấn đề của mình Các dạng đề mở thường gặp gồm có:

Trang 18

16

* Loại đề cho đề tài:

Đề ra như một đề tài chung để viết, học sinh có thể cụ thể hoá thành đề mục hay nhan đề của bài viết, có thể chọn kiểu bài nghị luận hay tự sự, biểu cảm (không được làm thơ)

Ví dụ, đề cho học sinh lớp 9:

- Viết về tình bạn

Học sinh tự chọn kiểu bài, không hạn chế kiểu bài, trừ thơ, viết bài văn không dưới 500 từ

- Cây xanh và con người

Học sinh tự đặt nhan đề, không hạn chế kiểu bài, trừ thơ, viết bài văn khoảng 500 từ

Trong hai đề này, ngoài hạn chế số chữ và không được làm thơ, học sinh không chỉ được tự do chọn kiểu bài như đã nói, mà còn tự do đặt nhan đề

Chẳng hạn đối với đề Viết về tình bạn, học sinh có thể viết về người bạn mới

quen, hay người bạn cũ, họăc nghị luận về tình bạn, bày tỏ cảm xúc đối với người bạn gặp khó khăn, nhớ người bạn đang ở xa hoặc kể về những tình bạn cao thượng và cảm động mà em biết Loại đề này chỉ có thể ra khi học sinh đã học hết các kiểu bài và thích hợp ra trong kì thi cuối năm hay thi chuyển cấp Khi đang học một kiểu bài nào đó thì phải tập trung vào kiểu bài đang học Lúc đó có thể sử dụng kiểu đề mở khác

* Loại đề cho tài liệu:

Đây là dạng đề cung cấp một bức tranh hoặc cho một truyện ngụ ngôn, truyện cười, một nhân vật lịch sử, hoặc một đoạn trích tác phẩm, một mẩu tin trên báo, học sinh tự chọn lấy vấn đề, chủ đề để viết bài phân tích, bình luận, biểu cảm

Ví dụ:

Đề: Chọn một trong ba tài liệu dưới đây làm bài theo yêu cầu:

a Báo Tuổi trẻ và đời sống tường thuật khoảng 16g30 ngày 17- 12-

2015, tại một con đường nhỏ ở TP Hà Nội, một bé gái đang lững thững đi ra đường đã bị một xe hơi loại bốn chỗ tông phải và cán lên phần gần đầu của

bé Lúc này bé gá i còn cử động, tài xế cho xe dừng lại vài giây rồi thản nhiên cho xe chạy tiếp và bánh xe sau lại nghiến nát một phần thân thể bé gái Chỉ vài phút sau, một chiếc xe tải nhỏ tiếp tục cán nát đôi chân của bé gái này

b Cậu bé 14 tuổi xả thân cứu người Trưa 8/9 em Nguyên học sinh THCS xã Bình Chánh, huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi đã ra đi vĩnh viễn Một nhóm học sinh sau khi tập múa lân đã rủ nhau xuống tắm Em Thơ không biết bơi, lội xa bờ, trượt chân đuối nước Nguyên lao ra cứu Thơ, hai

em vật lộn dưới nước, khi đưa được Thơ vào bờ, thì Nguyên đã kiệt sức sức,

Trang 19

2 tên trộm giàn giáo công trình ở quận 11 cũng bị anh bắt quả tang Ngưỡng

mộ trước thành tích hàng trăm lần bắt cướp của anh Tiến, nhiều người đã xin được làm “đệ tử” của anh, cùng anh rong ruổi trên khắp các tuyến đường Sài Gòn để bắt tội phạm Hiện nhóm các “hiệp sĩ đường phố” có khoảng chục người

Đọc kĩ tài liệu đã chọn, tự xác định đề mục, viết bài làm văn nghị luận, biểu cảm không quá 500 chữ

Đối với đề này học sinh có thể nhận ra tính vô cảm hay hành động nghĩa hiệp, quên mình vì người khác Học sinh có thể chọn chủ đề thói vô cảm hoặc tinh thần quả cảm để viết Tùy theo chủ đề được chọn mà xác định cách viết bài

* Loại đề cho học sinh điền vào chỗ trống

cha mẹ, em biết ơn nhà trường, em biết ơn thầy cô, bác sĩ…Đối với đề Em yêu , học sinh có thể viết em yêu quê hương, em yêu cây xanh, em yêu lá cờ

Tổ Quốc…Kiểu bài làm văn có thể là tự sự có thể là biểu cảm, có thể là nghị luận, tuỳ theo cách hiểu vấn đề và cách giải quyết vấn đề của học sinh

* Loại đề mở cho HS lựa chọn kết quả đọc hiểu

Loại đề này vừa mở, vừa có tính chất trắc nghiệm Ví dụ, GV cho một đoạn văn, sau đó nêu ra các cách hiểu về chủ đề đoạn văn để học sinh chọn lấy cách hiểu mà em cho là phù hợp nhất Đối với đề này cần lưu ý tính đa nghĩa của văn bản, trong các cách nêu chủ đề, cách nêu đúng và sai phải rõ ràng, nhưng cần tạo độ nhiễu phù hợp với nhận thức của lớp, bậc học

Đề mở có tác dụng cho học sinh được tự mình chủ động lựa chọn, gây hứng thú, phát huy sở trường và cá tính của học sinh, nhưng không có nghĩa

là loại đề hạn định không còn ý nghĩa nữa Trong nhiều trường hợp loại đề đó

Trang 20

18

có tác dụng luyện tập thao tác làm việc cho học sinh trong kiểu bài cụ thể Đề

mở có ý nghĩa và tác dụng trong các kì thi cuối năm, thi chuyển cấp Loại đề này có tác dụng phát huy tư duy sáng tạo, phân hóa khả năng ứng phó linh hoạt của học sinh

Đề mở là một hướng mới trong dạy học Tập làm văn, đặc biệt dạy học theo hướng phát triển năng lực cho HS Nhưng đây là một vấn đề mới, chưa được áp dụng nhiều Vấn đề này đòi hỏi giáo viên suy nghĩ, xác định mặt mạnh, hạn chế để nghiên cứu phương pháp dạy học và ra đề phù hợp Có như vậy dạng đề mở này mới phát huy được tác dụng tích cực của nó

Phạm vi chuyên đề này, chúng tôi chỉ định hướng cách tìm hiểu đề theo cách ra đề phổ biến hiện nay

2.2.2 Rèn kỹ năng tìm hiểu, xác định đề bài

Văn bản được viết ra theo một yêu cầu nào đó trong học tập hay cuộc sống Những vấn đề cần trình bày thường gần gũi với các em Ở nhà trường,

do mục đích cần rèn luyện sự mẫu mực, rõ ràng nên các yêu cầu của các văn bản cần tạo lập được nêu rõ ở đề bài Mỗi bài tập làm văn yêu cầu HS rèn luyện một số kỹ năng nhất định Vì vậy, việc giúp HS tìm hiểu, xác định đúng yêu cầu của đề bài, người viết mới viết đúng và trúng vấn đề Để rèn cho học sinh năng lực tạo lập văn bản hiệu quả, GV cần giúp HS biết xác định đúng những yêu cầu của đề bài

2.2.2 1 Đọc kỹ đề

Đọc kỹ đề để phát hiện những yêu cầu mà đề đặt ra Có đọc kỹ đề mới phát hiện những luận điểm để viết Vì vậy, đây là công việc trước tiên và bắt buộc đối với học sinh Yêu cầu HS đọc nhiều lần, lưu ý những dữ kiện mà đề nêu ra, đòi hỏi Đọc kỹ đề sẽ giúp học sinh hình thành cái nhìn tổng quát, bao trùm những vấn đề mà đề văn yêu cầu, trách cực đoan, phiến diện dẫn đến nhận thức sai, lệch đề Do vậy, trong dạy học, giáo viên cần chú trọng cho HS đọc kỹ đề bài, chỉ có đọc kỹ các em mới thực sự thâm nhập, trăn trở, suy nghĩ

về vấn đề nêu ra ở đề

2.2.2 2 Nhận diện cấu tạo của đề bài

Sau khi đọc kỹ đề, học sinh phải nhận diện được cấu tạo của đề Hiện nay có nhiều dạng đề khác nhau Nhưng ở trung học cơ sở, GV thường ra hai dạng đề: đề nổi (trực tiếp), đề chìm (gián tiếp) Trong đó chủ yếu là dạng đề nổi Cấu tạo của đề gồm 3 phần: phần nêu xuất xứ của vấn đề; phần chứa đựng nội dung, mục tiêu, phạm vi; phần hạn định phương pháp làm bài Đề khác nhau chủ yếu ở yêu cầu về phương pháp làm theo thể loại nào Còn những phần yêu cầu khác nhìn chung hiện lên rất rõ đối với học sinh Đôi khi người ta lược hết phần xuất xứ hay sắp xếp ba phần của đề theo những trật tự khác nhau Cách trình bày đề rất đa dạng, tuỳ người ra đề Vì thế, để tránh nhầm lẫn, giáo viên cần rèn các em biết phát hiện, suy luận logic để nhận ra cấu tạo của đề

Trang 21

2.2.2 3 Xác định yêu cầu về nội dung của đề bài

Đây là phần quan trọng Cách tốt nhất để rèn HS có kỹ năng xác định nội dung của đề bài là GV dùng nhiều mẫu đề thuộc các thể loại văn bản ở THCS để rèn GV nêu câu hỏi: Đề yêu cầu viết về vấn đề gì? HS căn cứ vào cấu tạo đề cụ thể sẽ xác định đúng và trúng nội dung GV cần chú ý những đề nêu các nội dung kép để hướng dẫn HS tìm hiểu các nội dung tương đồng hay chính phụ GV hướng dẫn các em xác định điều đó thông qua các từ quan hệ, dấu câu

2.2.2.4 Xác định yêu cầu về hình thức của đề

Để xác định đúng kiểu văn bản cần tạo lập, HS cần chú ý đề yêu cầu viết kiểu bài nào Dựa vào cấu trúc đề, giáo viên giúp HS đọc kỹ phần lệnh của đề Đó là những câu cầu khiến bộc lộ rõ ở dạng đề nổi Nếu ở đề chìm, cần phân tích, suy đoán để xác định đúng yêu cầu viết kiểu bài, thể loại văn bản nào Suy đoán, phân tích phải dựa trên mối quan hệ logic giữa các từ ngữ trong lệnh đưa ra ở đề bài

2.2.2 5 Xác định yêu cầu phạm vi, mức độ của đề

HS cần phải căn cứ vào các thông tin chỉ dẫn, giới thiệu nêu ra ở đề bài

để xác định phạm vi, mức độ làm bài Nếu đề bài không có những chỉ dẫn này

HS phải suy đoán, tìm hiểu, phân tích kỹ đề để xác định cho đúng Giáo viên hướng dẫn HS bám vào phần giới hạn phạm vi, mức độ (nếu đề yêu cầu cụ thể) hay phần nội dung chính của đề mà tìm ra mức độ, phạm vi làm bài Tìm

Phần nêu xuất xứ Phần nêu nội dung, mục tiêu cần nghị luận

Trong bài thơ Mùa xuân

nho nhỏ của Thanh Hải Có đoạn : “ Một mùa xuân nho nhỏ

Dù là khi tóc bạc”

Em hãy phân tích đoạn thơ trên

Đề nghị luận

Có thể một câu

dẫn dắt nêu xuất xứ Câu thường đặt trong ngoặc kép, hay một đoạn trích Câu diễn đạt mức độ, mệnh lệnh, yêu cầu

Phần yêu cầu về mức độ,phạm vi phương pháp làm bài

Trang 22

Đề 1 Hãy viết bài văn kể lại chuyện Thánh Gióng

Đê 2 Hãy tả quang cảnh trường em vào một buổi sáng chào cờ đầu tuần

Đề 3 Ý kiến của em khi đọc khổ thơ sau :

“ Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc”

Trang 23

21

Đề 4 Có người cho rằng, giá trị chủ yếu của bài thơ Qua Đèo Ngang nằm ở chỗ bài thơ là bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp của một vùng quê hương, lại có người cho rằng trong Qua Đèo Ngang, tác giả chỉ mượn cảnh để gửi gắm niềm tâm sự, để kết thúc một mảnh tình riêng

Ý kiến của em như thế nào? Hãy phân tích bài thơ để trả lời câu hỏi trên

Đề 5 Hãy chứng minh bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã bộc lộ

sâu sắc lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm của ông trước giặc ngoại xâm

Đề 6 Nhân dân ta có câu tục ngữ: “ Có công mài sắt, có ngày nên kim”

Em hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ trên

Đề 7 Nhân dân ta có câu tục ngữ: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” Em hãy giải thích câu tục ngữ trên

Đề 8 Cẩn thận là tính tốt của con người Em hãy viết bài văn ngắn khoảng 400 từ trình bày ý kiến của em về nội dung này

Căn cứ vào quy trình 3 bước đã trình bày, GV có thể dễ dàng hướng dẫn HS xác định các yêu cầu của đề Có thể mô hình hóa bằng cách lập Graph như sau:

Ví dụ hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề văn miêu tả:

Để hướng dẫn học sinh xác định đúng yêu cầu của đề bài, giáo viên tổ chức cho HS làm việc cá nhân hoặc nhóm: Đọc kĩ đề bài, gạch chân những từ ngữ quan trọng Sau đó, xác định yêu cầu về thể loại, nội dung, đối tượng, phạm vi miêu tả

GV chọn lọc một số đề văn miêu tả và bắt đầu thực hiện từ dễ đến khó,

đề yêu cầu tả cảnh đơn và đề tả nhiều cảnh ( tổng hợp) để học sinh xác định

miêu tả cái phích nước

quang cảnh sân trường, mùa hè nhà em

Trang 24

22

- Tả cảnh làng quê ( khu phố) của em vào một buổi chiều

Giáo viên hướng dẫn HS nhận biết, phân biệt đề tả cảnh đơn; đề tả tổng hợp thông qua việc yêu cầu HS đọc kĩ đề, xác định những từ ngữ quan trọng Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm tự xây dựng hệ thống câu hỏi tìm hiểu đề HS tự đặt câu hỏi và trả lời: Đề yêu cầu viết văn bản thuộc thể loại gì? đối tượng? nội dung? phạm vi? Từ đó giao nhiệm vụ cho các em làm việc cá nhân, trao đổi, thảo luận nhóm, thống nhất, trình bày Lớp nhận xét,

sửa chữa Sau đó GV chốt lại kiến thức chuẩn

- Đối với văn nghị luận, GV tiến hành theo 3 bước như đã trình bày, hướng dẫn các em phân tích, tìm hiểu đề dựa vào việc lập Graph để nắm các yêu cầu, cụ thể như sau:

Thực tế có những đề văn không đủ 3 phần hoặc trật tự các phần có thể đảo đổi Tương tự như các Graph đã trình bày, GV có thể hướng dẫn cho học

sinh tìm hiểu đề văn tự sự, biểu cảm

- H ướng dẫn tìm hiểu đề văn thuyết minh

+ Bước 3: Đọc cần chú trọng những câu, những ý lớn, ý tổng quát, khái quát nêu trong đề bài để nắm được toàn bộ những yêu cầu về đối tượng, phạm

vi của đề bài cần thuyết minh

- Xác định đối tượng, nội dung thuyết minh:

Phần nêu xuất xứ Phần nêu nội dung, mục tiêu cần nghị luận

Trong bài thơ Qua đèo

Ngang của Bà huyện

ĐỀ NGHỊ LUẬN

Có thể một câu

dẫn dắt nêu xuất xứ ngoặc kép, đoạn trích Câu thường đặt trong Câu diễn đạt mức độ, mệnh lệnh, yêu cầu

Phần yêu cầu về mức độ, phạm vi, PP nghị luận

Trang 25

23

Khi tìm hiểu đề người giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh xác định đúng đối tượng mình cần thuyết minh và phải biết được mục đích bài viết của mình Muốn vậy thì giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh kỹ năng đặt câu hỏi

Ví dụ: Đề bài thuyết minh về chiếc xe đạp

Học sinh phải biết tự đặt câu hỏi

+ Đề nêu lên đối tượng nào?

+ Đề yêu cầu gì?

- Nhận diện đề:

Trong thực tế thì có rất nhiều cách ra đề khác nhau, có đề thì nêu rõ yêu cầu là “thuyết minh hay giới thiệu”

Ví dụ: Em hãy giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam

Em hãy thuyết minh di tích lịch sử ngục Kon Tum

Nhưng cũng có những đề không nêu ra yêu cầu cụ thể Ví dụ: Chiếc xe đạp?

GV hướng dẫn HS thực hiện các bước:

Bước 1: Đặt câu hỏi và trả lời: Đề nêu lên đối tượng nào? Đề yêu cầu gì ( có hay không)?

Bước 2: Xác định ẩn ý đề yêu cầu mà trong đề không nêu trực tiếp Bước 3: Liên hệ kiểu loại văn bản đã học, so sánh, chọn lựa thể loại thuyết minh hay miêu tả, tự sự, nghị luận? Đối tượng nêu ra cần đến cách viết nào? Vì sao?

- Văn bản ứng dụng

Đối với đề văn yêu cầu tạo lập văn bản ứng dụng, GV căn cứ vào phần nổi, ngôn ngữ hiện rõ trong đề bài để hướng dẫn học sinh Cụ thể về mặt cấu tạo, đề thường có 2 phần (đôi khi có 3 phần) Đặc biệt 2 phần yêu cầu nội dung và phương pháp làm bài đề thể loại này chỉ dẫn rất rõ ràng, cụ thể, phù hợp với thể loại Bởi lẽ văn bản ứng dụng rất cần sự minh bạch, ngắn gọn, súc tích, phổ thông…

Ví dụ : Em hãy viết một lá đơn xin nghỉ học 1 buổi

Em hãy viết bản báo cáo sơ kết của lớp trong học kỳ 1 vừa qua

2.3 H ƣớng dẫn học sinh (quan sát), tìm ý/ luận điểm

Tìm ý là triển khai nội dung đề bài thành một hệ thống ý nhằm bao quát

sự vật, sự việc, phạm vi vấn đề hoặc lĩnh vực liên quan đến nội dung Do vậy trong quá trình dạy Tập làm văn, GV cần tổ chức, rèn luyện cho HS quan sát, tìm ý thật kỹ để các em có được năng lực phát hiện vấn đề ( cụ thể hóa thành

các kỹ năng) cần thiết

Trang 26

Do đó, trong dạy học văn miêu tả ở THCS, GV có thể hướng dẫn học sinh quan sát bằng cách:

- Tổ chức cho học sinh quan sát sự vật trong tình huống có vấn đề, nghĩa

là đặt đối tượng quan sát trong những bối cảnh, những mâu thuẫn, nghịch lý

đặc biệt mới phát hiện các chi tiết đặc sắc, mới có sự sáng tạo Quan sát luôn gắn với ghi chép, cơ sở để xác lập ý

- Hướng dẫn học sinh tái quan sát: Đọc lại những đoạn hoặc văn bản mẫu tiêu biểu, đặc sắc để HS phát hiện, nhận diện ra các chi tiết mà tác giả quan sát được rồi thảo luận, trao đổi với bạn bè…học tập cách quan sát và thể hiện ấy

- GV hướng dẫn HS kết hợp việc quan sát với khả năng tưởng tượng để

có cách quan sát, phát hiện được nét đặc sắc của đối tượng

Khi dạy văn miêu tả, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát đối tượng ngoài đời thực hay được đưa đến lớp (nếu có thể dược) để các em thực hành quan sát cá nhân, nhóm

Ngoài ra, GV cần lưu ý hướng dẫn cho HS:

- Phải xác định vị trí miêu tả khái quát: Thường là một vị trí thuận lợi,

trung tâm để có thể quan sát toàn cảnh, quan sát một cách tương đối trọn vẹn đối tượng

- Chọn điểm nhìn để quan sát, giới thiệu các chi tiết: Các chi tiết phục

vụ sát yêu cầu của đề đã xác định và những xúc cảm riêng của người quan sát Sau đó, hướng cho HS tái hiện từng hình ảnh của đối tượng theo thực tế

và trí tưởng tượng của các em nhưng phải hợp lý HS ghi lại những điều quan sát được, nghĩa là có ý

* Tìm ý trong văn miêu tả

Khi triển khai hoạt động tìm ý, GV có thể tổ chức cho HS làm việc cá nhân hoặc theo nhóm Các em nhớ lại những gì đã quan sát được, tưởng tượng ghi lại Sau đó đại diện các nhóm trình bày kết quả, cả lớp nhận xét bổ sung

Trang 27

25

Qua thảo luận nhóm, HS định hình được các bước tìm ý cho bài văn (theo trình tự: ý chung, khái quát trước, sau đó sẽ tìm các ý chi tiết, cụ thể) Với cách làm như trên, HS luyện tập tìm đặc điểm cho nhiều cách nhìn khác nhau với những thời gian, không gian đa dạng Các em được luyện tập

dưới hình thức “ thi nhau tìm đặc điểm”, sau đó giáo viên hệ thống lại và

giúp các em chọn lựa những đặc điểm tiêu biểu nhất trong mỗi đối tượng

Như thế sẽ tạo thành ý

2.3.2 Hướng dẫn học sinh tìm ý văn biểu cảm

Việc tìm ý cho văn biểu cảm phải gắn với việc tìm hiểu đề và những điều tâm đắc nhất khi tiếp cận Phát hiện được những yếu tố về nội dung, hình thức đặc sắc đối tượng Từ đó hướng dẫn cho HS tự xác định xem cảm xúc sâu đậm, ấn tượng nhất với đối tượng, sự kiện… là gì? Hướng dẫn HS biết cách đặt câu hỏi và tìm câu trả lời về đối tượng mình bộc lộ cảm xúc Cần chú

ý dù có sự sáng tạo bao nhiêu cũng phải bảo đảm tính chân thật Từ đó xác lập các ý dự định sẽ trình bày Khi tìm ý cũng cần quan tâm đến tính hệ thống,

cấp độ…của các ý

2.3.3 Hướng dẫn học sinh tìm ý, luận điểm văn nghị luận

Có 2 điều kiện cơ bản để tìm ý: Một là nắm chắc dạng, loại đề ; đề yêu cầu vấn đề gì? Hai phải biết liên hệ, huy động kiến thức phù hợp với dạng, loại đề yêu cầu Cần thực hiện các bước sau:

Bước 1: Hướng dẫn HS nhận diện, phân loại đề bài

Bước 2: Xác định đề yêu cầu gì, mục đích cần làm sáng tỏ của đề

Bước 3: Trình bày kết quả, thảo luận, bổ sung, thống nhất triển khai những luận điểm, luận cứ (lựa chọn, xác định ý)

Ví dụ cách tìm ý văn nghị luận về TPVH:

- Tìm ý bằng cách nêu câu hỏi: Tác phẩm được đề cập đặc sắc ở chỗ nào? Nó tác động và tạo sự xúc động tình cảm, tư tưởng gì? Hình thức nghệ thuật đặc sắc thể hiện ra sao, xây dựng bằng những thủ pháp nghệ thuật nào?

- Có thể tìm ý bằng cách đi sâu vào những hình ảnh, từ ngữ, tầng nghĩa

của tác phẩm…

2.3.4 Hướng dẫn học sinh tìm ý văn thuyết minh

Tìm ý cho bài văn thuyết minh có thể nói vừa dễ lại vừa khó Dễ vì các tri thức có thể thu lượm được qua các chuyến tham quan, du lịch; qua sách báo, truyền hình, tranh ảnh, nghe kể lại Khó vì muốn có tri thức người viết phải cần cù sưu tầm, lưu giữ tài liệu, phải biết hệ thống hoá các tri thức theo

đề tài của bài viết Muốn vậy, không chỉ cần các tri thức gián tiếp thu lượm được qua đọc tài liệu mà còn cần phải đến tận nơi để quan sát trực tiếp đối tượng thuyết minh

Do vậy, khi hướng dẫn HS tìm ý, GV cần lưu ý HS có thể tìm ý bằng

Trang 28

26

hai con đường:

- Con đường gián tiếp (qua sách báo, tranh ảnh, truyền hình, tài liệu )

- Con đường trực tiếp (quan sát trực tiếp khi đến tận nơi, nhìn tận mắt cuộc sống, đối tượng thuyết minh)

Ví dụ: Muốn giới thiệu Ngục Kon Tum, giáo viên nên hướng dẫn HS trước đó đến tham quan di tích (có quản lý, theo dõi, hướng dẫn); tìm đọc sách báo hoặc tạp chí về lịch sử, văn hoá; các bài viết, TPVH, nghe kể về Ngục Kon Tum Sau quá trình chuẩn bị công phu đó, HS sẽ thu nhận được thông tin, ghi lại các ý đã có

Khi dạy trên lớp, GV tiến hành các bước:

Bước 1: Nêu đề văn thuyết minh (ví dụ giới thiệu Ngục Kon Tum )

Bước 2: Hướng dẫn HS nhớ lại các sự kiện, hình ảnh, có được về đối tượng

Trình bày trước nhóm (nếu thảo luận nhóm), thảo luận

Bước 3: Thống nhất ghi lại các ý Chọn lựa các ý tiêu biểu

2.3.5 Văn bản nhật dụng ( hành chính - công vụ)

Văn bản nhật dụng thay bước tìm ý bằng cách huy động, sưu tầm tài liệu, thông tin liên quan đến vấn đề cần viết văn bản Ví dụ các thông tư, nghị quyết, văn bản các cấp, tình hình thực tế của công việc, căn cứ nội dung chỉ đạo, cuộc họp để làm cứ liệu, căn cứ pháp lý, thực tiễn… lập tạo ý Do vậy việc theo dõi, ghi chép nội dung liên quan đến nội dung văn bản cần tạo lập khá quan trọng

Ví dụ viết báo cáo : Dựa vào phạm vi, nội dung báo cáo, người viết sưu tầm các văn bản pháp quy làm căn cứ, dựa vào các kết quả đã thực hiện được, chưa được, lý do….để làm cơ sở tạo lập văn bản hoàn chinh ( văn bản ứng dụng hiện nay cần bảo đảm tính khuôn mẫu, các bộ phận của văn bản được mẫu hóa, bắt buộc ( Thông tư 01/2011 của Bộ Nội vụ)

Trong dàn ý, nội dung cần trình bày được phân ra thành những nhóm nhỏ theo từng tiểu chủ đề Mỗi tiểu chủ đề thể hiện một ý riêng không trùng lặp ý với tiểu chủ đề khác Trong từng tiểu chủ đề, các tư liệu được phối hợp, sắp xếp hợp lí sao cho bản thân các ý được nổi bật để cùng phối hợp với nhau

góp phần làm sáng tỏ chủ đề chung của toàn bộ bài văn

Trang 29

27

Việc lập dàn ý giúp HS bao quát được vấn đề, đảm bảo được tính hệ thống, tính cân đối của bài văn, xác định được mức độ trình bày mỗi ý, từ đó phân bố thời gian hợp lí Lập dàn ý tốt, viết sẽ dễ dàng, nhanh, đầy đủ nội dung hơn Từ đó tạo điều kiện để lựa chọn đúng cách diễn đạt, cách trình bày bài văn

- Kết bài: Là phần kết thúc bài viết Tổng kết, khái quát lại vấn đề đã đặt

ra ở mở bài và giải quyết ở thân bài Một kết bài hay không chỉ làm nhiệm vụ

“gói lại” mà còn phải khơi gợi suy nghĩ trong người đọc

Trên cơ sở đó, chúng tôi chọn lựa một số thể loại để trình bày nhằm

giúp GV hướng dẫn HS lập dàn ý hiệu quả

2.4.1 Lập dàn ý văn miêu tả

GV có thể chia lớp thành các nhóm, tổ chức hoạt động nhóm, yêu cầu

HS xây dựng dàn ý, mỗi em sẽ suy nghĩ và viết các nội dung của mình sau đó

cả nhóm sẽ thảo luận, tìm ra những ý kiến chung, thống nhất trong nhóm Khi có kết quả các nhóm sẽ trình bày và nhóm khác sẽ nhận xét, bổ sung GV sẽ nhận xét, hướng dẫn cụ thể, hoàn chỉnh dàn ý theo yêu cầu của

đề (luôn tôn trọng sự sáng tạo riêng của HS)

Ví dụ với đề bài: Hãy tả cảnh buổi sáng mùa hè trên quê hương em Lập dàn ý như sau:

Mở bài: Giới thiệu chung về khung cảnh định tả (thời gian, không gian,

điểm nhìn ); nêu cảm nhận chung về cảnh buổi sáng mùa hè ở quê hương

em

Thân bài: Tả được cảnh thiên nhiên, con người trong buổi sáng mùa hè trên quê hương (miêu tả theo một trình tự nhất định - trình tự thời gian, không gian )

- Cảnh khái quát: Bức tranh chung mùa hè, quang đãng, nắng vàng, không khí thanh bình…

- Cảnh thiên nhiên cụ thể:

+ Miêu tả cảnh bầu trời mùa hè: khí hậu, tiết trời, ánh nắng, gió mang đặc điểm mùa hè (vừa yên ả, thanh bình vừa tươi vui, náo nức, đầy sức sống) + Cảnh cây cối, hoa lá, đồng lúa chín vàng, hương thơm ngào ngạt, cây cối ướt sương sớm, sum suê hoa trái, toả bóng mát…

Trang 30

GV hướng dẫn HS sắp xếp các ý đã tìm được theo một trình tự có ý nghĩa,

sự việc diễn biến logic, hợp lý

Trình bày bài văn theo một bố cục mạch lạc 3 phần Tuỳ theo yêu cầu đối tượng kể mà lựa chọn chi tiết, tình huống, sắp xếp sự việc Chú ý cốt chuyện, nhân vật, lời kể, ngôi kể, tránh việc sa đà dẫn đến nhầm lẫn sang loại văn khác

Ví dụ lập dàn bài kể chuyện kỷ niệm về thầy cô

Mở bài:

- Ngày hội thầy cô ở nhà trường, xã hội

- Suy nghĩ về thầy cô cũ

- Nhớ lại những kỉ niệm với thầy cô, có kỉ niệm sâu sắc

Thân bài:

- HS giới thiệu câu chuyện kể

+ Kỷ niệm đã diễn ra trong hoàn cảnh ,thời gian nào, buồn, vui?

- Kể lại toàn bộ diễn biến câu chuyện như hoàn cảnh, tình huống, chi tiết diễn ra câu chuyện

+ Kỉ niệm liên quan đến thầy cô

+ Đó là người thầy cô như thế nào?

+ Hình dáng ấn tượng của thầy cô, tính tình, công việc

+ Tấm lòng của của học sinh đối với thầy cô

- Diễn biến của câu chuyện:

+ Mở đầu, diễn biến, đỉnh điểm của câu chuyện

+ Tình cảm, ứng xử của thầy cô, người chứng kiến sự việc

+ Câu chuyện kết thúc như thế nào?

- Suy nghĩ về câu chuyện, nhận thức về tấm lòng, vai trò to lớn của thầy

cô, lòng biết ơn, kính trọng đối với thầy cô

Kết bài:

- Kỷ niệm sâu đậm, không thể quên

- Tình cảm, bài học làm người, làm nghề giáo…

Trang 31

29

2.4.3 L ập dàn ý văn biểu cảm

Thực tế có nhiều cách tạo ra bố cục văn bản biểu cảm Trong nhà trường THCS vẫn cần sự chuẩn mực, nên GV hướng dẫn cho HS lập dàn ý theo bố cục có 3 phần:

- Mở bài: Có thể giới thiệu trực tiếp hay gián tiếp nhưng cần phải giới

thiệu được đối tượng, không gian, thời gian, tạo cảm xúc về đối tượng được bày tỏ cảm xúc, đánh giá…

- Thân bài: Giới thiệu được tình cảm của mình về đối tượng: Cảm xúc chung, cảm xúc cụ thể, có thể gợi ra những kỷ niệm, câu chuyện gắn với bản thân, đối tượng…Nếu phân tích, giải thích, minh chứng về một hiện tượng, văn thơ cần đi vào đánh giá cụ thể hình thức, nội dung biểu đạt đó, tác động đến mình như thế nào ?

- Kết bài: Ý nghĩa sâu xa, khái quát nhất, cảm xúc sâu đậm nhất về đối

tượng

2.4 4 Lập dàn ý văn nghị luận

Văn nghị luận được dạy ở THCS khá quen thuộc đối với GV, tuy nhiên đối với HS, đây là kiểu bài khó nhất trong số các thể loại HS được học Vì vậy khi dạy thể loại văn này, GV cần chú ý nắm chắc các thao tác nghị luận như chứng minh, giải thích, phân tích, bình luận Văn nghị luận có 2 loại là nghị luận văn học và nghị luận xã hội Khi hướng dẫn HS lập dàn bài, GV chú trọng định hương dàn ý chung, từ đó có thể vận dụng vào các kiểu bài cụ thể

Mở bài:

Cách 1: Mở bài gián tiếp

Dẫn dắt ý kiến, nêu vấn đề cần nghị luận, bộc lộ cảm xúc, nhận xét….của HS Cách 2:

Trực tiếp

Giới thiệu trực tiếp tác giả, tác phẩm

Nêu vấn đề nghị luận (trích dẫn ý kiến, vấn đề cần nghị luận)

Trang 32

30

Chú ý khi viết cần có sự dẫn dắt, chuyển ý, liên kết giữa các luận điểm, luận cứ

Kết bài:

Khái quát lại vấn đề, những nội dung tiêu biểu

Suy nghĩ của HS về vấn đề nghị luận

2.4 5 Lập dàn ý văn thuyết minh

Ở trường THCS, GV hướng dẫn HS cách lập dàn bài văn thuyết minh chung như sau:

Từ các câu hỏi trên, GV hướng dẫn HS lập dàn ý phần thân bài dễ dàng

Ở thân bài, GV cần lưu ý vì đối tượng thuyết minh rất đa dạng nên phải dựa vào từng dạng bài thuyết minh để có cách sắp xếp ý cho phù hợp Sau đây

là một số cách sắp xếp ý cơ bản:

Sắp xếp ý theo trình tự đặc điểm - cấu tạo - công dụng: Cách sắp xếp ý

này phù hợp với bài thuyết minh về đồ vật như giới thiệu chiếc xe đạp, phích nước…

Sắp xếp ý theo trình tự đặc điểm - cấu tạo- sự xuất hiện và các giai đoạn phát triển trong lịch sử Cách sắp xếp này phù hợp với kiểu bài huyết minh

các đối tượng gắn với truyền thống văn hoá của dân tộc như giới thiệu chiếc

áo dài Việt Nam hay chiếc nón lá Việt Nam

Sắp xếp ý theo trình tự đặc điểm không gian bên trái, bên phải, đằng

trước, đằng sau Cách sắp xếp ý này phù hợp với kiểu bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh

Sắp xếp ý theo trình tự đặc điểm về nội dung và hình thức; giá trị văn hoá Cách sắp xếp ý này phù hợp với kiểu bài giới thiệu về các tác phẩm văn học nghệ thuật, các thể loại văn học

Trang 33

31

Sắp xếp ý theo trình tự nguyên liệu- cách chế biến - yêu cầu về thành phẩm Cách này dùng cho kiểu bài giới thiệu về phương pháp, cách làm một

đối tượng nào đó

Kết bài: Nhấn mạnh những đặc điểm tiêu biểu nhất của đối tượng Cảm

- Giới thiệu đặc điểm, cấu tạo ngoài của cây bút bi gồm:

+ Hình dáng của cây bút bi: Độ dài, độ to của thân bút, đặc điểm của đầu bút

+ Màu sắc của bút Đường hoa văn, nút bấm của bút

- Giới thiệu đặc điểm cấu tạo bên trong của bút:

+ Ruột bút Lò xo trong thân bút

+ Màu mực

- Nêu cách sử dụng và giữ gìn bút bi

Lưu ý GV khi rèn kỹ năng lập dàn ý phần thân bài:

Để làm phần này, GV hướng dẫn học sinh thực hiện các bước sau: + Bước 1: Học sinh xác định được đối tượng mình thuyết minh? Biết được đối tượng đó có những đặc điểm gì?

+ Bước 2: Cần biết lựa chọn các đặc điểm tiêu biểu của đối tượng

+ Bước 3: Cần biết hệ thống, trình bày những đặc điểm nào trước, đặc điểm nào sau để thuyết minh

Kết bài:

- Khắc họa khái quát về cây bút bi

-Suy nghĩ và cảm xúc của mình, tạo ấn tượng mạnh về cây bút bi với người đọc

2.4 6 Hướng dẫn lập dàn ý văn nhật dụng

Để hướng dẫn HS lập dàn ý các văn bản nhật dụng, trước hết GV cần phải chuẩn bị các mẫu văn bản chuẩn thuộc các loại; đặc biệt cần đọc, nghiên cứu kỹ Thông tư 01/2011 của Bộ Nội vụ để nắm rõ những quy định về thể thức, kỹ thuật soạn văn bản Bên cạnh đó GV còn định hướng cho HS để thu thập, lựa chọn thông tin phục vụ nội dung của văn bản

Ngày đăng: 19/03/2023, 03:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán ( 2001), Phương pháp dạy học Tiếng Việt , NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Lê A, Nguyễn Trí (2001), Làm văn (Giáo trình đào tạo giáo viên THCS hệ CĐSP), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn
Tác giả: Lê A, Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8,9 và sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8,9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo ( 2002) , Chương trình trung học cơ sở môn Ngữ văn, NXB Giáo dục, H à Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình trung học cơ sở môn Ngữ văn
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Bộ Giáo dục &Đào tạo ( 2010), Sách GK& SGV Ngữ văn 6, 7, 8, 9 , NXB NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách GK& SGV Ngữ văn 6, 7, 8, 9
Nhà XB: NXB NXB Giáo dục
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018),, Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể (Dự thảo tháng 10 năm 2018) Khác
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018),, Chương trình giáo dục phổ thông - Môn Ngữ văn (Dự thảo tháng 10 năm 2018) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w