1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Kết quả không sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc trẻ em tại bệnh viện

7 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả không sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc trẻ em tại bệnh viện
Tác giả Hồ Thanh Phong, Phạm Văn Lình
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2019
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 685,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ – SỐ 22 23 24 25/2019 1 KẾT QUẢ KHÔNG SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG PHẪU THUẬT BỆNH LÝ TỒN TẠI ỐNG PHÚC TINH MẠC TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ NĂM 2017 2018 Hồ Thanh Phon[.]

Trang 1

1

KẾT QUẢ KHÔNG SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG PHẪU THUẬT BỆNH LÝ TỒN TẠI ỐNG PHÚC TINH MẠC TRẺ EM TẠI

BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG CẦN THƠ NĂM 2017-2018

Hồ Thanh Phong 1* , Phạm Văn Lình 2

1 Bệnh Viện Đa khoa Đầm Dơi

2 Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ

* Email: phongho377@gmail.com

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Phẫu thuật được chỉ định với các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh

mạc Việc không sử dụng kháng sinh trong điều trị còn tranh cãi và chưa được áp dụng

rộng rãi n h n Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ trong phẫu thuật bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc tr em kh ng sử dụng kháng sinh Đố ượn

hư n h n h n Nghiên cứu cắt ngang, mô tả ại các ệnh nhi (BN) bị bệnh

do tồn tại ống phúc tinh mạc tr dưới 16 được phẫu thuật cắt cột ống phúc tinh mạc không sử dụng kháng sinh tại ệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ t 1 5 2 17 đến 3 4 2 18

Có 96 BN thuộc đối tượng nghi n cứu Thường gặp tr 1 đến 6 tuổi chiếm

78 1 với tuổi trung nh 4 69 2 75 tuổi (1 - < 16 tuổi) Chẩn đoán dựa vào triệu chứng m sàng 1 và si u m chẩn đoán 86 5 thời gian phẫu thuật 25,78±7,66, thời gian nằm viện 2,40 ± 0,91 ngày, tỷ lệ nhiễm trùng 2,1% , tỷ lệ thành công 97,8%,

không biến chứng và không tái phát n: Không sử dụng kháng sinh trong phẩu

thuật bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc tr em là an toàn

h Không dùng kháng sinh, ống phúc tinh mạc, tr em

ABSTRACT

NON ANTIBIOTIC IN SURGERY REPAIR PROCESSUS VAGINALIS IN PEDIATRIC AT CAN THO CHILDRENS HOSPITAL 2017-2018

Ho Thanh Phong 1 , Pham Van Linh 2

1 Dam Doi Gennera ’s Hospita

2 Can Tho University of Medicine and Pharmacy

Background: The processus vaginalis diseases is indicated surgical Non anti iotic in surgery is a controversia issue and hasn’t een wide y app ied Objectives:

To describe of rate of will infection that non antibiotic in surgery processus vaginalis in

pediatric Materials and methods: A cross-sectional descriptive study was used for the

patients of processus vaginalis under 16 years of ages who were surgical closure processus vaginalis without antibiotic at Can Tho Pediatrics Hospital from 1/5/2017 to

30/4/2018 Results: A total of 96 patients had mean age was 4,69 ± 2,75 years old

(range: 1 -<16 years old) The total infection rate was 2,1 % The average surgical time was 25,78±7,66 minutes The medium length of stay in hospital was 2.18 ± 0,62 days The success rate of a the patients were 97 9 A tota of 96 patients weren’t

complication and recurrence Conclusion: Non antibiotic in surgery repair for processus vaginalis in pediatric was safe for children

Keywords: Non antibiotic, processus vaginalis, children

Trang 2

2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc gồm: thoát vị bẹn, nang thừng tinh và tràn dịch màng tinh hoàn ở trẻ nam là thường gặp ở trẻ em

Theo bảng phân loại phẫu thuật Altermeier, phẫu thuật thoát vị bẹn không nghẹt ở trẻ em được phân vào nhóm phẫu thuật sạch, nhóm có tỷ lệ nhiễm trùng là 1-5 % Việc không dùng kháng sinh trong phẫu thuật bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em đã được ứng dụng khắp nơi trên thế giới và một số tỉnh thành tại Việt Nam như An Giang, Bình Định, với nhiều ưu điểm: giảm chi phí, giảm sự đề kháng kháng sinh của vi trùng Tại Bệnh Viện Nhi Đồng Cần Thơ (BVNĐCT) chưa áp dụng việc không dùng kháng sinh trong phẫu thuật bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Kết quả không sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc trẻ em tại bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ năm 2017 - 2018” với mục tiêu nghiên cứu:

1 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và siêu âm bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em tại

bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ năm 2017 - 2018

2 Đánh giá sớm kết quả phẫu thuật bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc không sử dụng kháng

sinh ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ năm 2017 - 2018

II ĐỐI T NG V PH ƠNG PH P NGHI N C U

2.1 Đ t n n n u Tất cả trẻ em mắc bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc được phẫu

thuật không sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018

2.2 P n p p n n u

- Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu mô tả cắt ngang Cỡ mẫu 96 bệnh nhi

- Tiêu chuẩn loại trừ: Các bệnh nhi không đáp ứng yêu cầu gây mê, bệnh tự ý dùng kháng sinh sau

mổ, phẫu thuật các bệnh lý khác ở vùng bẹn bìu như hạch, u bạch huyết…,tinh hoàn ẩn, bệnh nhi phẫu thuật cấp cứu do thoát vị bẹn nghẹt hoặc xoắn tinh hoàn

- Cách tiến hành: Chọn tất cả các bệnh nhi mổ chương trình bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc Một bệnh án mẫu soạn sẵn, ghi nhận các biến về giới, tuổi, chẩn đoán, kỹ thuật mổ, thời gian mổ, tình trạng vết mổ, biến chứng, ngày điều trị, tử vong

Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ (Nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật)

a Chảy dịch hoặc mủ từ vết

b Phân lập vi khuẩn từ cấy dịch hay mô được lấy vô trùng từ vết mổ

c Có ít nhất một trong những dấu hiệu hay triệu chứng sau: đau, sưng, nóng,

đỏ và cần mở bung vết mổ

o Loại 1: Vết mổ khô, sạch hoàn toàn liền kỳ đầu

o Loại 2: Vết mổ có chảy dịch, không liền tốt nhưng không có mủ

o Loại 3: Vết mổ có mủ

nhi sẽ được dùng kháng sinh điều trị và đây cũng là thất bại của nghiên cứu

III KẾT QUẢ

Có 96 bệnh nhi đủ tiêu chẩn đưa vào nghiên cứu Tuổi tập trung từ 1-6 tuổi, độ tuổi trung bình 4,69 ± 2,75 tuổi

Trang 3

3

Bảng 1: Phân bố nhóm tuổi

3.1 Đặ đ ểm lâm sàn

Có 100 % trẻ đến với triệu chứng khối phồng bẹn bìu Trong đó, kích thước khối phồng từ 2-3

cm chiếm 68,8% các trường hợp

Bảng 2: Đánh giá tỷ lệ triệu chứng

3.2 Siêu âm

Chúng tôi ghi nhận được 86,5% các trường hợp siêu âm phát hiện được bệnh với nội dung trong ống phúc tinh mạc chứa 43,8% là mạc nối lớn

Bảng 3: Nội dung siêu âm ghi nhận được

P ân loạ bện Tỷ lệ thoát vị bẹn , nang thừng tinh theo thứ tự là 50% và 24%, trong đó bên

phải chiếm ưu thế với 70,8%, bên trái 28,1% và cả 2 bên có 1,0%

3.3 Kết quả đ ều trị

Phương pháp điều trị thì 100% bệnh nhi được phẫu thuật qua nếp bẹn bụng thấp, chiều dài trung bình vết mổ là 2,03±0,28 cm ngắn nhất là 1,5cm và dài nhất là 3,0 cm, thời gian phẫu thuật trung bình 25,78±7,66 phút Có 93/96 bệnh nhi thấy đau rất ít hoặc không đau sau mổ

Đánh giá hiệu quả điều trị sau phẫu thuật: chúng tôi ghi nhận được có 4,2% bệnh nhi có vết mổ loại 2 và 3 Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ là 2,1% (2 trường hợp) chỉ cần chăm sóc vết mổ và dùng kháng sinh sau mổ

Bảng 4: Phân loại vết mổ

Chúng tôi ghi nhận thời gian mổ trên 30 phút có nguy cơ nhiễm trùng vết mổ cao hơn so với nhóm còn lại có ý nghĩa thống kê với Fisher's exact test P = 0,01

Trang 4

4

Chúng tôi ghi nhận có 2,1% bệnh nhi có nhiễm trùng vết mổ có sử dụng kháng sinh sau mổ và 2,1% bệnh có vết mổ loại 2 chỉ cần thay băng sau mổ Đồng thời với tỷ lệ sử dụng kháng sinh như trên chúng tôi ghi nhận mức độ thành công của nghiên cứu là 97,9%

Bảng 5: Phân bố nhiễm trùng vết mổ theo thời gian mổ

Nhiễm trùng vết mổ theo thời

Tổng cộng

Fisher's exact test

P = 0,01

Thời gian mổ trung bình của bệnh nhi là 6,23±3,049 giờ

Thời gian nằm viện trung bình sau phẫu thuật của bệnh nhi là 2,40± 0.91 ngày

Bảng 6: Theo dõi sớm kết quả sau mổ

Có 100% người nhà được hỏi cho là hài lòng với kết quả điều trị

IV B N LUẬN

4.1 Lâm sàng

Theo nhiều nghiên cứu, tỉ lệ thoát vị bẹn xảy ra chiếm 4-5% trẻ em sinh ra khoẻ mạnh và lên đến 30% ở trẻ đẻ non, nang thừng tinh cũng chiếm tỷ lệ tương đương[8] Thường bên phải chiếm tỷ lệ cao hơn bên trái với tỷ lệ theo thứ tự là 60% - 40%, độ tuổi mắc bệnh chủ yếu dưới 6 tuổi[5]

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận độ tuổi trung bình là 4,69 ± 2,75 tuổi và đồng thời chủ yếu tập trung ở nhóm từ 1 - tuổi Điều này cũng tương đồng với nhiều nghiên cứu khác như tác giả Hồ Nguyễn Hoàng [3] báo cáo tại hội nghi khoa học bệnh viện An Giang năm 2014 và tác giả U E Usang [14] báo cáo năm 2008 nghiên cứu về kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật thoát vị bẹn ở trẻ

em tại Nigeria

4.2 Siêu âm

Chúng tôi ghi nhận được 86,5% các trường hợp siêu âm phát hiện được bệnh với nội dung trong ống phúc tinh mạc chứa 43,8% là mạc nối lớn Tỷ lệ này của chúng tôi có cao hơn tác giả Syed Hashim Zaidi báo cáo năm 2017, với độ nhạy 75 % và giá trị tiên đoán dương tính lên tới 97%.[3]

Siêu âm là một chẩn đoán hình ảnh học không xâm lấn tương đối rẻ tiền nhưng lại phụ thuộc chủ quan vào kinh nghiệm của người trực tiếp thực hiện

4.3 Kết quả

Thời gian phẫu thuật trung bình là 25,78±7,66 phút, ngắn nhất là 15 phút, dài nhất là 45 phút cũng khá tương đồng với nghiên cứu của Hồ Nguyễn Hoàng (2014[3] Chiều dài trung bình vết mổ 2,03±0,28 cm Với mục đích tìm ống phúc tinh mạc và khâu tại lỗ bẹn sâu, đa số các phẫu thuật viên

Trang 5

5

đã mở cân chéo lớn theo hướng đi các sợi cân của nó từ lỗ bẹn ngoài hướng về lỗ bẹn sâu, chiều dài đường rạch khoảng 2 – 3 cm[6], đây là đường mổ tương đối phù hợp

Tất cả 96 trường hợp bệnh nhi chúng tôi ghi nhận 95,8% vết mổ khô lành trong kỳ đầu (loại 1), còn lại 4 trường hợp bệnh nhi có vết loại 2 và 3 Chúng tôi tiến hành cấy dịch, mủ đối với 4 bệnh có vết

mổ loại 2 và 3 ghi nhận được: có 2 trường hợp kết quả là Staphylococus Influenza thuộc về loại 3 (nhiễm trùng vết mổ) chiếm 2,1 % còn lại không mọc khi nuôi cấy thuộc loại 2 (phản ứng tấy da rỉ dịch do phản ứng chỉ) chiếm 2,1 % Chúng tôi tiến hành sử dụng kháng sinh cho những trường hợp có nhiễm trùng vết

mổ này

Năm 2014 tác giả Hồ Nguyễn Hoàng báo cáo tại An Giang với tỷ lệ vết mổ loại 1 chiếm 98,8%

và loại 3 chiếm 1,3% và không có loại 2 So với tỷ lệ này thì tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ của chúng có cao hơn nhưng nhiễm trùng vết mổ trong phẫu thuật có rất nhiều báo cáo với tỷ lệ nhiễm khuẩn khác nhau

Trong nước, các bệnh viện từ trung ương đến địa phương có rất nhiều báo cáo về tình hình nhiễm khuẩn trong phẫu thuật cũng như những báo cáo về tình hình vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh trong phẫu thuật tại các bệnh viện Năm 2016 tác giả Phạm Văn Tân [9] báo cáo tình hình nhiễm khuẩn vết mổ tại bệnh viện Bạch Mai với tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở các vết mổ sạch, sạch nhiễm là 1,3% mặc dù đã có sử dụng kháng sinh, cao hơn có báo cáo của tác giả Vũ Bảo Châu [2] năm 2008 với

tỷ lệ nhiễm khuẩn vêt mổ bệnh lý thoát vị bẹn tại bệnh viện 175 TPHCM là 26,67% và tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ sạch là 17,11% cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ nhiễm trùng của nghiên cứu chúng tôi nhưng theo phân loại Alchermier về tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ sạch không sử dụng kháng sinh giao động từ 1-5% điều này là khá hợp lý với nghiên cứu của chúng tôi

Trong 96 bệnh nhi có 2 trường hợp nhiễm trùng vết mổ thuộc nhóm có thời gian mổ > 30 phút thì có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn nhóm ≤ 30 phút có ý nghĩa thống kê với P = 0,01<0,05

Chúng tôi nhận thấy nhóm có thời gian mổ dài hơn thì có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn nhóm

có thời gian mổ ngắn hơn có ý nghĩa thống kê Tác giả Ali E Joda báo có tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ 4% và có thời gian mổ trung bình 33,52 (>30 phút) điều này chúng tôi thấy nghiên cứu của chúng tôi

có nét tương đồng.[11]

Còn riêng các nghiên cứu có sử sựng kháng sinh dự phòng thì tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ khi sử dụng kháng sinh dự phòng, theo báo cáo của Phạm Thúy Trinh (2009) 3%[10] Nguyễn Văn Kính (2010) tỷ lệ này ở một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh ở miền Bắc giai đoạn tháng 11/2009 đến tháng 02/2010 là 7,5%[4] Phan Văn Bé (2013) là 4,2%[1]Tác giả Hồ Nguyễn Hoàng báo cáo với tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ với không sử dụng kháng sinh dự phòng là 1,3% Phạm Văn Phú (2009) báo cáo tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ điều trị các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em với liều kháng sinh dự phòng duy nhất là 0%.[7]Nhưng hầu như dù có sử dụng kháng sinh dự phòng thì tỷ lệ nhiễm khuẩn vết

mổ của các tác giả cũng không thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi

Năm 2008 tác giả U E Usang [14]có báo cáo tương tự về việc sử dụng kháng sinh dự phòng

và không kháng sinh dự phòng đối với phẫu thuật thoát vị bẹn ở trẻ em cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết

mổ chung cho nhóm không sử dụng kháng sinh là 4,8%

Năm 2012, Sanchez-Manuel FJ báo cáo một tổng quan về kháng sinh dự phòng trong mổ thoát

vị bẹn, thì tỷ lệ nhiễm trùng chung là 3,1%[12] Trong đó, tỷ lệ nhiễm trùng ở nhóm bệnh nhân mổ thoát vị đơn thuần là 3,5% và nhóm bệnh nhân mổ thoát vị với phục hồi mảnh ghép có tỷ lệ nhiễm trùng là 2,4%

Năm 2016 tác giả Ali E.Joda [11] phân hai nhóm trẻ được chỉ định phẫu thuật thoát vị bẹn với nhóm có sử dụng kháng sinh dự phòng và nhóm còn lại thì không được sử dụng với kết quả thu được khi tỷ lệ nhiễm khuẩn chung của hai nhóm là 3,3% và nhóm có kiểm soát bằng kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật là 2,67% và nhóm không sử dụng kháng sinh là 4% Nghiên cứu của chúng tôi với tỷ

Trang 6

6

lệ nhiễm khuẩn vết mổ là 2,1% thấp hơn các nghiên cứu kể trên Do đó việc không sử dụng kháng sinh

dự phòng trong phẫu thuật là khả thi để áp dụng đối với bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em

Về đánh giá hiệu quả sớm sau 1 tuần, 1 tháng và 3 tháng chỉ 2,1% bệnh nhi có nhiễm trùng và sử dụng lại kháng sinh sau ra viện đồng thời những triệu chứng biến chứng sớm của phẫu thuật hầu như không đáng kể Khi được hỏi có 100% người nhà bệnh nhi cho rằng hài lòng với kết quả điều trị cho thấy nghiên cứu có tính khả quan và có thể áp dụng

V KẾT LUẬN

Tỷ lệ thành công 97,9 % và 100 % người nhà bệnh nhi cho rằng hài lòng với kết quả điều trị cho thấy không dùng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật bệnh lý ống phúc tinh mạc là an toàn và có thể áp dụng trong điều trị

T I LIỆU THAM KHẢO

1 Phan Văn Bé Đánh giá nhiễm trùng vết mổ trong mổ thoát vị bẹn bằng kháng sinh dự phòng tại Bệnh viện đa khoa An Giang Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Bệnh viện An Giang số tháng 10/ 2013 Trang: 37-42

2 Vũ Bảo Châu (2008), “ Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết mổ và sự đề kháng kháng sinh”, Y học thành phố Hồ Chí Minh, Số 01 năm 2009 ,tr.324-327

3 Hồ Nguyễn Hoàng (2014), “Đánh giá kết quả phẫu thuật không dùng kháng sinh trong bệnh lý thoát vị bẹn ở trẻ em tại bệnh viện đa khoa trung tâm an giang”, Kỷ yếu hội nghị khoa học bệnh viện An Giang

4 Nguyễn Văn Kính (2010), "Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh ở Việt Nam", Global Antibiotic Resistance Partnership, pp 3 - 4

5 Trương Nguyễn Uy Linh (2018), “Thoát vị bẹn và thủy tinh mạc”, Giáo trình ngoại nhi lâm sàng, ĐHYD TPHCM, Tr 203-215

6 Nguyễn Thanh Liêm (2000), “Phẫu thuật tiết niệu trẻ em”, Nhà xuất bản Y học

7 Phạm Văn Phú Kết quả phẫu thuật điều trị các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em với liều kháng sinh dự phòng duy nhất (2009) Tạp chí khoa học công nghệ tỉnh Bình Định

8 Lê Tấn Sơn (2002), "Bệnh lý vùng bẹn bìu", Bệnh học và điều trị học ngoại khoa Ngoại nhi, NXB Y học, TP Hồ Chí Minh, tr 143-161.Giáo trình ngoại nhi

9 Phạm Văn Tân (2016), “Nghiên cứu nhiễm khuẫn vết mổ tại khoa ngoại tiêu hóa bệnh viện bạch mai”, Luận án tiến sỹ y học, Học viện quân y, Tr 74-75

10 Phạm Thúy Trinh (2009) Nghiên cứu tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ tại khoa ngoại tổng hợp bệnh viện đại học y dược Tp HCM

11 Ali E Joda M.B.Ch.B , F.I.C.M.S, “prophylactic antibiotics with inguinal hernia repair”, Mustansiriya Medical Journal Volume 15 Issue 2 August 2016

12 Sanchez-Manuel FJ, Lozano - García J, Seco-Gil JL Cochrane Database Syst Rev 2012 Feb 15;2:CD003769 Source: General and Digestive Surgery, Complejo Asistencial Universitario de Burgos Hospital General Yagüe, Burgos, Spain frajasama@telefonica.net

Trang 7

7

13 Syed Hashim Zaidi (2017) “Exploration of the contralateral groin in paediatric inguinal hernia or hydrocele based on ultrasound findings – is it justified?”, J Ayub Med Coll Abbottabad, pp.26-29

14 U E Usang (2008), “The role of preoperative antibiotics in the prevention of wound infection after day case surgery for inguinal hernia in children in Ile Ife, Nigeria”, Pediatr Surg Int 2008, pp 1181 – 1185

(Ngày nhận bài: 24/9/2019- Ngày duyệt đăng: 08/11/2019)

Ngày đăng: 19/03/2023, 00:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w