1 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA GÂY DÍNH MÀNG PHỔI BẰNG POVIDINE TRONG ĐIỀU TRỊ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI, TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI Ở BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI VĨNH LONG NĂM 2016 - 2018 Huỳnh
Trang 11
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA GÂY DÍNH MÀNG PHỔI BẰNG POVIDINE TRONG ĐIỀU TRỊ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI, TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI Ở BỆNH
VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI VĨNH LONG
NĂM 2016 - 2018
Huỳnh Thị Mỹ Tiên*, Nguyễn Văn Thủy, Mai Thảo Nguyên
*Email: htmtien@ctump.edu.vn
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tràn khí màng phổi tái phát, tràn dịch màng phổi ác tính đòi hỏi có
những can thiệp hiệu quả giúp bệnh nhân giảm khó thở, giúp giãn nở phổi trở lại Gây dính màng phổi là một trong những phương pháp tốt kiểm soát tràn khí màng phổi và tràn dịch màng phổi Gây dính màng phổi bằng povidine là một biện pháp dễ thực hiện, giá thành rẻ đã được nhiều báo cáo ghi nhận Trong quá trình thu nhận và điều trị bệnh nhân tràn khí màng phổi tái phát, tràn dịch màng phổi ác tính tại bệnh viện, chúng tôi
áp dụng phương pháp này trong 2 năm vừa qua Mục tiêu nghiên cứu: (1) Thống kê
mô tả các ca bệnh được thực hiện thủ thuật gây dính màng phổi bằng Povidine tại BVLBP từ 2016-2018; (2) Xác định tỷ lệ ca bệnh điều trị thành công bằng thủ thuật gây
dính màng phổi bằng Povidine tại BVLBP từ 2016-2018 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu trên bệnh nhân tràn khí màng phổi tái phát, tràn dịch màng phổi lượng nhiều Kết quả: nghiên cứu áp dụng thực hiện thủ thuật trên
37 trường hợp bệnh nhân Trong nghiên cứu của chúng tôi, hiệu quả gây dính trên tổng
3 dạng bệnh nhân : tràn khí màng phổi, tràn khí + tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng phổi là 65, 57% Tỷ lệ thành công của thủ thuật gây dính màng phổi trên bệnh nhân
tràn dịch màng phổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 77,27% Kết luận: Hiệu quả can thiệp làm
giảm tràn khí và tràn dịch màng phổi trên bệnh nhân có bệnh lý ác tính khá cao 73,68%
Từ khóa: povidine, gây dính màng phổi, tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi
ABSTRACT
EVALUATION OF THE TREATMENT EFFECTIVENESS OF POVIDINE
PLEURODESIS IN TREATING PNEUMOTHORAX AND PLEURAL EFFUSION IN THE VINH LONG TUBERCULOSIS AND LUNG DISEASES HOSPITAL FROM 2016
TO 2018
Huynh Thi My Tien, Nguyen Van Thuy, Mai Thao Nguyen
Can Tho University of Medicine and Pharmacy
Background: Recurrent pneumothorax and malignant pleural effusion require
effective interventions to help patients reduce dyspnea and expand the lungs again Pleurodesis is one of the good methods to control pneumothorax and pleural effusion, especially Povidine pleurodesis is an easily performed and reasonably priced method that has been reported by many statements We applied this method in the process of receiving and treating patients with recurrent pneumothorax, malignant pleural
Trang 22
effusion at our hospital during the past 2 years Objectives: (1) Descriptive statistics of
cases of Povidine pleurodesis procedure performed in Vinh Long Tuberculosis and Lung Disease Hospital from 2016 to 2018; (2) Determine the rate of successful cases treated by povidine pleurodesis procedure in Vinh Long Tuberculosis and Lung Disease
Hospital from 2016 to 2018 Materials and Methods: A prospective, observational study in patients with pneumothorax and pleural effusion Results: on 37 patients
applying this procedure show the effect of adhesive is 65.57% on 3 types of patients: pneumothorax, pneumothorax and pleural effusion, pleural effusion The success rate of the pleural adhesion procedure in patients with pleural effusion accounts for the highest
rate of 77.27% Conclusion: The effectiveness of interventions reducing pneumothorax
and pleural effusion in acute patients get a quite high of 73.68%.
Keywords: povidine, pleurodesis, pneumothorax, pleural effusion
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỉ lệ TKMP tự phát nguyên phát khoảng 7,4/100.000/năm/ nam giới và khoảng 1,2/100.000/năm/nữ giới Tỉ lệ TKMP tự phát thứ phát khoảng 6,3/100.000/năm/ nam giới và khoảng 2,0/100.000/năm/nữ giới Ở Việt nam, tỉ lệ TKMP chưa được biết chính xác, tuy nhiên tại Bệnh viện lao Lao và bệnh phổi Cần thơ trong 5 năm 2010- 2015 trong số 10.500 bệnh nhân vào điều trị, có 610 TKMP Việc điều trị TKMP bao gồm 2 mục tiêu là giãn nở phổi về trang thái ban đầu và phòng tái phát
Tràn dịch màng phổi ác tính (MPE) phát sinh trong giai đoạn tiến triển của khối u ác tính và thường báo trước một tiên lượng xấu Hầu hết bệnh nhân MPE có triệu chứng Phổ biến nhất là triệu chứng khó thở khi gắng sức Chọc tháo dịch màng phổi nhiều lần gây cạn kiệt protein, dịch, điện giải, làm xấu dần tổng trạng của bệnh nhân, làm tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng như tràn mủ màng phổi, tràn khí màng phổi Làm dính màng phổi dường như là điều trị chọn lựa tốt nhất hiện nay để ngăn ngừa tái phát tràn dịch màng phổi ác tính Phương pháp làm dính màng phổi bằng hoá chất có tỷ lệ biến chứng và tử vong đều thấp, giải thích lý do được ưa chuộng của thủ thuật này so với bóc vỏ màng phổi, cào xước màng phổi trong điều trị tràn dịch màng phổi ác tính Đa số bác sĩ chuyên khoa hô hấp chấp nhận làm dính màng phổi bằng hoá chất là phương thức đủ để điều trị triệu chứng tại khoang màng phổi
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để đánh giá hiệu quả lâm sàng dài hạn của điều trị làm dính màng phổi bằng iodopovidone ở bệnh nhân tràn dịch màng phổi lượng nhiều do ác tính hay lao màng phổi
có tràn dịch màng phổi tái phát nhiều lần, tràn khí màng phổi tái phát với mục tiêu :
1 Thống kê mô tả các ca bệnh được thực hiện thủ thuật gây dính màng phổi bằng Povidine tại BVLBP từ 2016-2018
2 Xác định tỷ lệ ca bệnh điều trị thành công bằng thủ thuật gây dính màng phổi bằng Povidine tại BVLBP từ 2016-2018
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu : tất cả bệnh nhân tràn khí màng phổi tái phát, tràn dịch màng phổi lượng nhiều, tái lập nhanh thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ chỉ định thủ thuật
- Thiết kế nghiên cứu: mô tả, tiến cứu
-Phương pháp tiến hành: Tất cả bệnh nhân tràn khí màng phổi tái phát, tràn dịch màng phổi lượng nhiều, tái lập nhanh đã được đặt ống dẫn lưu màng phổi
Trang 33
- Công thháp tiến hành: Tất cả bện Povidin 10% 20ml, Medicain 2% 1,8ml 5 n tràn khí
màng phổi tái ph
Bước 1: truyền paracetamol 1000mg 01 chai, tốc độ XL g/p
Bước 2: sau khi đã truyền được ½ chai paracetamol thì tiến hành bơm dung dịch gây dính đã pha vào khoang màng phổi qua ống dẫn lưu màng phổi Hút dung dịch gây dính đã pha vào bơm 50ml, Kẹp ống dẫn lưu ở phía người bệnh.Tháo đầu nối dẫn lưu.Lắp bơm có dung dịch gây dính vào đầu dẫn lưu Mở kẹp dẫn lưu.Bơm dung dịch gây dính qua dẫn lưu vào khoang màng phổi.Nối lại hệ thống dẫn lưu kín.Kẹp dẫn lưu (trường hợp tràn khí nhiều hoặc người bệnh tràn khí có suy hô hấp không kẹp ống dẫn lưu)
Bước 3: sau khi đã bơm hết dung dịch gây dính vào khoang màng phổi thì kẹp ống dẫn lưu màng phổi trong 2 giờ
Bước 4: xoay trở bệnh nhân các tư thế sấp, ngửa, nghiêng trái, nghiêng phải để chất gây dính tràng đều hết lá thành và lá tạng màng phổi
Bước 5: sau 2 giờ thì xả ống dẫn lưu màng phổi, tiến hành hút áp lực âm liên tục
Bước 6: khám và đánh giá qua lâm sàng và cân lâm sàng để điều chỉnh mức hút áp lực âm,
và quyết định có gây dính lần 2 không
Bước 7: chụp X quang kiểm tra để quyết định thời điểm rút ống dẫn lưu
- Thu thập số liệu: theo từng ca bệnh theo mẫu thông tin nghiên cứu thiết kế sẵn, số liệu nhập
và thống kê trên phần mềm excell và Stata 8.0
III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Tần số bệnh nhân nam nhiều hơn bệnh nhân nữ, chiếm tỷ lệ gần gấp đôi nữ
2 Phân loại đối tượng
Tổng số ca thực hiện thủ thuật thì có 29,73% là tràn khí màng phổi, 10,81% vừa tràn dịch và tràn khí màng phổi, 59,46% tràn dịch màng phổi
3 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo tình trạng bệnh
COPD
lao đang điều trị
Tràn khí màng phổi 2
18,18%
6 54,55%
2 18,18%
1 9,09%
0
Tràn khí màng phổi +
Tràn dịch màng phổi
3 75%
25%
0
Trang 44
Tràn dịch màng phổi 1
4,25%
13,64%
17 77,27%
1 4,55%
15,22%
6 16,22%
5 8,11%
19 51,55%
1 2,7%
Đối với các bệnh nhân tràn khí màng phổi thì 72,73 % là do di chứng của lao Trong đó số ca lao cũ mắc COPD có tỷ lệ cao
Đối với các ca tràn dịch màng phổi lượng nhiều thì chiếm tỷ lệ lớn là do nguyên nhân K phổi 77,27% Còn trường hợp tràn dịch màng phổi lượng nhiều trên bệnh nhân đang điều trị lao màng phổi chiếm tỷ lệ thấp 13,64%
Trừ với các ca tràn dịch màng phổi lượng nhiều thì chiếm tỷ lệ lớn là do nguyên nhân K phổi 77,27% Còn trường hợp tràn dịch màng phổi lượng nhiều trên bệnh nhân đang điều trị lao mành
nhân có tiền căn lao phổi cũ 75% Chỉ có 1 ca là do K phổi đã hóa trị chiếm tỷ lệ 25%
4 Số lần gây dính của các trường hợp nghiên cứu
Phân loại * Số lần gây dính
36,36%
6 54,55%
1 9,09%
11
100%
81,82%
4 18,18%
70,27%
10 27,03%
1 2,7%
37
Trường hợp chỉ gây dính 1 lần chiếm tỷ lệ 70,27%, gây dính 2 lần chiếm tỷ lệ 27,03% Các bệnh nhân tràn khí màng phổi thường phải gây dính nhiều lần, có trường hợp phải gây dính 3 lần chiếm tỷ lệ 2,7% các trường hợp Đa số các bệnh nhân tràn dịch màng phổi chỉ cần gây dính 1 lần
5 Số ngày điều trị nội trú của bệnh nhân nghiên cứu
Số ngày điều trị
Tổng số ngày
Trung
Số ngày điều trị trung bình của 1 trường hợp tràn khí màng phổi là 25 ngày, tràn khí + tràn dịch
là 21,5 ngày, tràn dịch màng phổi là 16,6 ngày
6 Kết quả điều trị chung
Trang 55
bệnh nặng xin về nên không đánh giá được kết quả chiếm 13,51%
7 Kết quả điều trị theo thể bệnh
bại
45,45%
4 36.36%
18,18%
11 29,73% TKMP+
TDMP
3 75%
25%
4 10,81%
77,27%
2 9,09%
1 4,55%
2 9,09%
22 59,46%
67,57%
6 16,22%
1 2,7%
5 13,51%
37 100%
Đối với tràn dịch màng phổi tỷ lệ gây dính màng phổi thành công chiếm tỷ lệ cao 77,27% Tỷ
lệ không thành công 13,63% Còn lại 9,1% không đánh giá được do bệnh nặng xin về
Các trường hợp vừa có tràn khí vừa có tràn dịch tỷ lệ thành công chiếm 75% Đối với các bệnh nhân tràn khí màng phổi có tỷ lệ thành công là 45,45%
Tỷ lệ không thành công là 77,27% cao hơn nhiều so với bệnh nhân tràn dịch màng phổi Còn 18,18% không đánh giá được do bệnh nặng xin về
Đối với bệnh nhân vừa tràn khí vừa tràn dịch màng phổi thì tỷ lệ gây dính thành công cao 75%
Tỷ lệ không thành công cũng khá cao 25% Trong trường hợp này do lượng mẫu ít nên tỷ lệ thành công và thất bại khá cao
8 Kết quả điều trị theo tiền sử
83,33%
16,67%
50%
2 33,33%
16,67%
40%
3 60%
100%
73,68%
1 5,26%
1 5,26%
3 15,79%
65,57%
6 16,22%
1 2,7%
5 13,51%
Tỷ lệ thành công trên bệnh nhân u phổi và lao cũ cao lần lượt là 100% và 83,33% Tỷ lệ thành
công trên bệnh nhân có tiền sử lao cũ + COPD và lao đang điều trị thấp lần lượt là 50% và 40%
IV KẾT LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, hiệu quả gây dính trên tổng 3 dạng bệnh nhân : tràn khí màng
Trang 66
phổi, tràn khí + tràn dịch màng phổi, trán dịch màng phổi là 65, 57% Tỷ lệ thành công của thủ thuật gây dính màng phổi trên bệnh nhân tràn dịch màng phổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 77,27% Hiệu quả can thiệp làm giảm tràn khí và tràn dịch màng phổi trên bệnh nhân có bệnh lý ác tính khá cao 73,68%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Gây dính màng phổi bằng povidone-iodine, một biện pháp hiệu quả trong điều trị tràn dịch màng phổi ác tính - Lược dịch từ J Thorac Dis 2013;5(2):141-144
2 Trần Quốc Kiệt và Phan Thành Dũng (2016), “Nhận xét kết quả gây dính màng phổi qua ống dẫn lưu trong điều trị tràn khí màng phổi tái phát tại khoa lao bệnh viện An giang”, Kỉ yếu Hội nghị khoa học bệnh viện An giang năm 2016
3 Lâm Quốc Dũng (2010), “Nghiên cứu kết quả gây dính màng phổi bằng bleomycin qua ống dẫn lưu nhỏ trong điều trị tràn dịch màng phổi do ung thư”,
Y học thành phố Hồ Chí Minh tập 14, năm 2010
Ngày nhận bài: 21/10/2019-Ngày duyệt bài: 15/11/2019