ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm tai giữa dính là một loại tổn thương dính màng nhĩ vào thành trong của hòm nhĩ làm mất khoảng trống của hòm nhĩ.. Viêm tai giữa dính trải qua nhiều giai đoạn theo sau sự
Trang 1VƯƠNG TRƯƠNG CHÍ SINH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TAI GIỮA DÍNH
TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG CẦN THƠ
NĂM 2019-2020
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
CẦN THƠ - 2020
Trang 2VƯƠNG TRƯƠNG CHÍ SINH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TAI GIỮA DÍNH
TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG CẦN THƠ
Trang 3và Bộ môn Tai Mũi Họng của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã giúp đỡ tôi hoàn thiện kiến thức chuyên môn, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành đề tài Tôi xin cảm ơn quý Bác sĩ tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công tác lấy mẫu và theo dõi bệnh, cảm ơn bác sĩ chuyên khoa
II Hồ Lê Hoài Nhân đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn tôi từ kiến thức đến kỹ năng thực hành
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Dương Hữu Nghị, người
đã định hướng, chỉ dạy về chuyên môn và hình thức đề tài, cũng như luôn quan tâm và nhắc nhở những thiếu sót để tôi hoàn thiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cảm ơn
Vương Trương Chí Sinh
Trang 4công bố trước đây bằng bất cứ hình thức nào Nếu sai sự thật tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Cần Thơ, ngày tháng năm 2020
Người cam đoan
Vương Trương Chí Sinh
Trang 6MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục hình
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Sơ lược về giải phẫu và sinh lý tai giữa 3
1.2 Lâm sàng và cận lâm sàng viêm tai giữa dính 8
1.3 Các phương pháp điều trị viêm tai giữa dính 19
1.4 Các nghiên cứu trước đây về viêm tai dính 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 35
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 37
3.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 39
3.3 Đánh giá kết quả phẫu thuật 48
Chương 4: BÀN LUẬN 57
4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 57
4.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 58
4.3 Đánh giá kết quả phẫu thuật 67
Trang 7KẾT LUẬN 77KIẾN NGHỊ 79TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi 38
Bảng 3.2: Phân bố bệnh nhân theo lý do vào viện 39
Bảng 3.3: Thời gian mắc bệnh 40
Bảng 3.4: Vị trí dính 42
Bảng 3.5: Phân độ viêm tai dính 42
Bảng 3.6: Hủy xương trong viêm tai dính (n = 46) 42
Bảng 3.7: Nhĩ lượng đồ 43
Bảng 3.8: Liên quan giữa nhĩ lượng đồ với loại viêm tai dính 43
Bảng 3.9: Liên quan phân loại nghe kém với phân loại viêm tai dính 44
Bảng 3.10: Liên quan nghe kém với phân loại viêm tai dính 45
Bảng 3.11: Liên quan phân độ nghe kém với phân độ viêm tai dính 46
Bảng 3.12: Trung bình PTA và ABG trước mổ 46
Bảng 3.13: Trung bình PTA trước mổ theo loại viêm tai dính 47
Bảng 3.14: Trung bình PTA trước mổ giữa độ III và IV viêm tai dính 47
Bảng 3.15: Trung bình ABG trước mổ theo loại viêm tai dính 47
Bảng 3.16: Trung bình ABG trước mổ giữa độ III và IV viêm tai dính 48
Bảng 3.17: Vật liệu gia cố màng nhĩ 49
Bảng 3.18: Tổn thương xương con theo phân loại viêm tai dính 50
Bảng 3.19: Tổn thương xương con theo phân độ viêm tai dính 50
Bảng 3.20: Tai biến, biến chứng trong và sau phẫu thuật 51
Bảng 3.21: Màng nhĩ sau phẫu thuật 3 tháng 51
Bảng 3.22: Ống thông khí sau phẫu thuật 3 tháng 52
Bảng 3.23: Hòm nhĩ sau phẫu thuật 3 tháng 52
Bảng 3.24: Tái dính sau phẫu thuật 3 tháng 52
Bảng 3.25: Trung bình PTA, ABG trước và sau phẫu thuật 53
Trang 9Bảng 3.26: Đánh giá hiệu quả phẫu thuật theo ABG (n=46) 54 Bảng 3.27: Trung bình ABG sau mổ theo xương con tổn thương 55 Bảng 3.28: Đánh giá kết quả chung (n=46) 55
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo giới tính 37
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp 38
Biểu đồ 3.3: Phân bố bệnh nhân theo địa dư 39
Biểu đồ 3.4: Tiền sử bệnh 40
Biểu đồ 3.5: Triệu chứng cơ năng 41
Biểu đồ 3.6: Phân loại viêm tai dính 41
Biểu đồ 3.7: Phân loại nghe kém 44
Biểu đồ 3.8: Phân độ nghe kém 45
Biểu đồ 3.9: Phương pháp phẫu thuật 48
Biểu đồ 3.10: Xương con bị tổn thương 49
Biểu đồ 3.11: Tương quan giữa phục hồi khoảng Rinne với xương con tổn thương 53
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Màng nhĩ bình thường qua nội soi 4
Hình 1.2: Các thành của hòm nhĩ 6
Hình 1.3: Viêm tai giữa dính độ I theo Sade 13
Hình 1.4: Viêm tai giữa dính độ II theo Sade 13
Hình 1.5: Viêm tai giữa dính độ III theo Sade 14
Hình 1.6: Viêm tai giữa dính độ IV theo Sade 14
Hình 1.7: Viêm tai giữa dính khu trú (túi co lõm) màng chùng 15
Hình 1.8: Nhĩ lượng đồ theo Jeger 16
Hình 1.9: Nhĩ lượng đồ viêm tai dính độ I 17
Hình 1.10: Nhĩ lượng đồ viêm tai dính độ II 17
Hình 1.11: Nhĩ lượng đồ viêm tai dính độ III 18
Hình 1.12: Nhĩ lượng đồ viêm tai dính độ IV 18
Hình 2.1: Máy nội soi Tai mũi họng 29
Hình 2.2: Ống nội soi 29
Hình 2.3: Bộ dụng cụ vi phẫu tai 30
Hình 2.4: Trụ dẫn thay thế xương đe 30
Hình 2.5: Trụ dẫn thay thế đe đạp 31
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tai giữa dính là một loại tổn thương dính màng nhĩ vào thành trong của hòm nhĩ làm mất khoảng trống của hòm nhĩ Từ năm 1880 Troltsh và Politjer đã nêu ra bệnh này, sau đó nó bị lãng quên và được mô tả như di chứng của một viêm tai giữa mạn tính [11], [27] Thực ra đây là một viêm tai riêng biệt mà quá trình viêm là thứ yếu và thường dẫn đến hình thành cholesteatoma [9], [10] Viêm tai giữa dính trải qua nhiều giai đoạn theo sau
sự rối loạn chức năng của vòi nhĩ: từ hình thành túi co kéo ở màng nhĩ, đến xẹp màng nhĩ vào thành trong của hòm nhĩ đến dính thực thụ [11], [47] Việc hình thành túi co kéo thường xảy ra ở màng chùng và góc phần tư sau trên của màng căng do những tính chất đặc trưng của vị trí này Khi màng nhĩ dính chặt vào hòm nhĩ, thì khoảng không hòm nhĩ sẽ không còn nữa, ống tai kéo dài đến tận thành mê đạo, rãnh vòng khung nhĩ lộ rõ chỉ ra ranh giới giữa ống tai và hòm nhĩ Lúc này niêm mạc hòm nhĩ bị thay thế bởi một màng hai lớp
là lớp biểu bì bên ngoài và lớp tổ chức liên kết bên trong [11]
Viêm tai dính được chia làm 4 giai đoạn trong đó giai đoạn IV (giai đoạn cuối) là thể hiện đầy đủ nhất các đặc điểm của bệnh viêm tai dính: tắc vòi nhĩ, tiêu lớp sợi của màng nhĩ, dính màng nhĩ vào thành trong hòm nhĩ và hủy hoại chuỗi xương con [10]
Có khoảng 30% các viêm tai giữa dính tiến triển thành cholesteatoma Những trường hợp này chuỗi xương con luôn bị tổn thương nhiều hay ít, vòi nhĩ kém thông khí và rối loạn chức năng hoạt động [9]
Viêm tai dính khu trú (túi co lõm) có thể ở màng chùng hay màng căng Viêm tai dính toàn bộ hay túi co lõm thực chất có chung một nguồn gốc là do
áp lực âm trong hòm tai Túi co lõm lại chính là tiền thân của cholesteatoma dạng túi Mà nguyên nhân hình thành túi co lõm là do tắc vòi nhĩ kéo dài gây
Trang 13ra bởi các bệnh lý: VA, amidan, viêm xoang và khối u vòm Tình trạng tắc vòi kéo dài dẫn đến viêm tai ứ dịch và kết thúc bằng túi co lõm màng nhĩ và cholesteatom túi [9]
Viêm tai giữa dính điều trị khó khăn, thường gây ra những ảnh hưởng nặng nề đến chức năng của tai giữa Việc chẩn đoán sớm, chính xác, lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp theo từng giai đoạn để đạt kết quả tốt nhất, ngăn ngừa các biến chứng và hạn chế tối đa tỉ lệ tái phát cho bệnh nhân đang
là những trăn trở của người thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng
Hiện nay tại Cần Thơ chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ về các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật nội soi điều trị viêm tai
giữa dính Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm
lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị bệnh viêm tai giữa dính tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 2019– 2020”
Với các mục tiêu sau:
- Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân viêm tai giữa dính được phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 2019–2020
- Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị bệnh viêm tai giữa dính tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 2019–2020
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Sơ lược về giải phẫu và sinh lý tai giữa
1.1.1 Màng nhĩ
Trong tất cả các thành của hòm nhĩ thì màng nhĩ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tai giữa [12]
Màng nhĩ mỏng 0,1 mm, hình bầu dục, cấu tạo gồm 3 lớp:
- Lớp ngoài: mỏng, liên tục với da của ống tai ngoài
- Lớp giữa: gồm sợi tia và sợi vòng dính trên vào xương búa và lan rộng
ra phía ngoài đến tận vòng sụn Lớp giữa không hiện diện ở phần chùng
- Lớp trong: bao lấy mặt trong của màng nhĩ phủ lên cán búa
Màng nhĩ gồm 2 phần: màng chùng và màng căng [17]:
- Màng chùng: hay còn gọi là màng Schrapnell, nằm trên các dây chằng nhĩ búa, có hình tam giác với đỉnh tương đương với mỏm ngoài xương búa, bám vào khuyết Rivinus ở phía trên, tương đương với bờ dưới của tường thượng nhĩ Màng này kém đàn hồi và dễ bị co kéo vì không có lớp sợi xơ như màng căng
- Màng căng: nằm ở phía dưới hai dây chằng nhĩ búa, căng giữa rãnh nhĩ
và cán xương búa Đó là phần rộng, dai nhất và đàn hồi nhất của màng nhĩ Hình ảnh bình thường của màng nhĩ: màng nhĩ có màu xám nhạt và có 4 yếu tố đặc trưng là:
- Mỏm ngoài của xương búa: là mốc quan trọng, dễ nhìn thấy khi soi tai dưới dạng một mỏm hình nón màu trắng có kích thước khoảng 1 mm
- Dây chằng nhĩ búa trước và sau
- Bóng cán xương búa
- Tam giác sáng ở góc phần tư trước dưới
Trang 15Hình 1.1: Màng nhĩ bình thường qua nội soi (Nguồn: Comprehensive and Clinical Anatomy of the Middle Ear, 2013
[46]) 1.1.2 Hòm nhĩ
Hòm nhĩ là một hốc xương nằm trong xương đá, phía trước thông với thành bên họng – mũi bởi vòi nhĩ, phía sau thông với hệ thống thông bào xương chũm bởi một cống nhỏ gọi là sào đạo Hòm nhĩ nhìn nghiêng như một thấu kính phân kỳ lõm 2 mặt chạy chếch xuống dưới, ra ngoài và ra trước Hòm nhĩ là một phần quan trọng của tai giữa, trong hòm nhĩ có chứa hệ thống xương con Màng nhĩ và hệ thống xương con có chức năng tiếp nhận và biến đổi âm từ sóng âm chuyển thành chuyển động cơ học để truyền vào tai trong Hòm nhĩ có 6 thành [20]:
- Thành trần: là một mảnh xương mỏng ngăn cách giữa hòm nhĩ với hố não giữa do xương trai và xương đá tạo thành, nên ở đó có một khớp gọi là khớp đá – trai
- Thành dưới: tạo bởi một xương mỏng, mặt dưới của nó là tĩnh mạch cảnh trong
Trang 16- Thành ngoài: 3/5 của thành ngoài tạo bởi màng nhĩ, phần còn lại tạo bởi phần xương Ở phía trên có tường thượng nhĩ tạo nên thành ngoài của thượng nhĩ, cao 5-6 mm và mỏng dần từ trên xuống dưới, là đường vào của phẫu thuật mở thượng nhĩ
- Thành trong: ngăn cách với tai trong, là thành ngoài của mê đạo xương, gồm có các thành phần:
+ Ụ nhô: do phần nền của ốc tai tạo thành, nằm chính giữa thành trong hòm nhĩ
+ Cửa sổ tròn: nằm sau dưới ụ nhô, được đậy bởi màng nhĩ phụ
+ Cửa sổ bầu dục: nằm trên ụ nhô, có đế xương bàn đạp lắp vào
+ Lồi ống thần kinh mặt: chứa đoạn II của dây thần kinh mặt, nằm ở phía trên cửa sổ bầu dục
+ Lồi ống bán khuyên ngoài: nằm ở phía trên lồi ống thần kinh mặt, tạo bởi ống bán khuyên ngoài
- Thành trước: cách động mạch cảnh trong bởi một xương mỏng, có lỗ nhĩ của vòi nhĩ, lưu thông giữa hòm nhĩ và vòm mũi họng
+ Mỏm tháp: có cân cơ bàn đạp thoát ra
+ Lỗ nhĩ của ống thừng nhĩ: nằm phía ngoài mỏm tháp, có dây thừng nhĩ
đi qua để vào hòm nhĩ
Trang 17Hình 1.2: Các thành của hòm nhĩ (Nguồn: Basic Otorhinolaryngology A Step-By-Step Learning Guide,
2006 [44]) 1.1.3 Chuỗi xương con
Lần lượt từ ngoài vào gồm xương búa, xương đe, xương bàn đạp [17] Cán búa nằm trong lớp sợi của màng nhĩ Mấu ngắn xương đe nằm trong phần sau dưới của ngách thượng nhĩ, mấu dài song song với cán búa quay vào trong nối với đầu xương bàn đạp Đế xương bàn đạp nối với cửa sổ bầu dục Ngoài ra còn có các cơ của xương búa và xương bàn đạp
1.1.4 Vòi nhĩ
1.1.4.1 Giải phẫu
Vòi nhĩ (Eustachi) nối liền hòm nhĩ với họng mũi Đây là một cái ống dài độ 35 mm và gồm có hai đoạn: đoạn sau bằng xương (1/3 chiều dài) và đoạn trước bằng sụn (2/3 chiều dài) Hai đầu của vòi nhĩ thì rộng nhưng chỗ nối của hai đoạn thì hẹp và được gọi là eo vòi (2 mm x 1 mm) Hướng đi của vòi nhĩ là nghiêng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước và từ trong ra ngoài Vòi nhĩ tận cùng ở thành bên họng mũi bằng một cái loa hình dấu mũ gọi là loa vòi Loa này có hai mép: mép trước gọi là mép vòi khẩu cái, mép sau gọi
là hố Rôxinmule (Rosenmiiler) Bình thường vòi nhĩ đóng kín do hai thành sụn khép lại Nhưng khi cơ bao màn hầu co lại thì lòng của vòi mở ra Vòi nhĩ giúp cho việc thông khí từ họng mũi vào tai và ngược lại, do đó làm cân bằng
Trang 18áp lực giữa hai phía của màng nhĩ Khi áp lực tăng ở hòm tai giữa thì thường được bù trừ theo con đường thụ động của vòi tai đi tới họng mũi Khi áp lực giảm thì lại cần có sự thông khí chủ động từ họng mũi theo vòi nhĩ vào khoang tai giữa Niêm mạc vòi nhĩ là niêm mạc của biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển, chứa đựng nhiều nang lymphô Những nang này tập họp lại ở chung quanh loa vòi thành khối gọi là amydan vòi [57]
1.1.4.2 Sinh lý vòi nhĩ
Vòi nhĩ có 3 chức năng cơ bản:
- Thông khí cân bằng áp lực tai giữa và áp suất khí quyển: khi vòi nhĩ hoạt động bình thường, sự giãn nở không liên tục một cách chủ động đã cân bằng áp lực tai giữa và áp suất khí quyển
- Bảo vệ chống lại áp lực âm và dịch tiết từ mũi họng lên tai giữa: chức năng bảo vệ của vòi nhĩ được thể hiện bằng cách ngăn chặn sự xâm nhập của dòng dịch không mong muốn và chất độc hại vào tai giữa thông qua: giải phẫu chức năng vòi nhĩ và hệ thống miễn dịch nhầy lông
- Dẫn lưu các chất tiết trong tai giữa vào mũi họng: chức năng dẫn lưu chất tiết từ tai giữa được thực hiện thông qua hệ thống nhầy lông, hoạt động đóng mở của vòi nhĩ và các yếu tố bề mặt [35], [52]
Hình 1.3 : Giải phẫu tai giữa [46]
Trang 191.2 Lâm sàng và cận lâm sàng viêm tai giữa dính
1.2.1 Định nghĩa
Viêm tai dính là một loại tổn thương dính màng nhĩ vào trong hòm nhĩ làm mất khoảng trống của hòm nhĩ Hòm nhĩ không còn nữa, ống tai kéo dài đến tận thành mê đạo, rãnh vòng khung nhĩ lộ rõ chỉ ra ranh giới giữa ống tai
và hòm nhĩ Lúc này niêm mạc hòm nhĩ bị thay thế bởi một màng 2 lớp là lớp biểu bì bên ngoài và lớp tổ chức liên kết bên trong [11] Nếu tổ chức liên kết mỏng thì màng liên kết sẽ dính vào tất cả những chỗ lồi lõm của hòm nhĩ như: cán búa, xương đe, chỏm xương bàn đạp Nếu tổ chức liên kết dày nó sẽ che lấp những chỗ gồ ghề, lớp biểu bì trong hòm nhĩ bị thiểu sản, hòm nhĩ trở nên nông, xương chũm đặc ngà, xoang tĩnh mạch bên lấn ra trước, sào bào và thượng nhĩ kém thông khí do niêm mạc lên xuất hiện u hạt cholesterin, đôi khi lớp Malpighien phát triển lên cao vượt qua dây chằng màng nhĩ búa tạo nên một túi biểu bì xâm lấn vào thượng nhĩ [11], [36] Có khoảng 30% trường hợp viêm tai dính kết thúc bằng hình thành cholesteatoma Những trường hợp như vậy thì chuỗi xương con luôn bị tổn thương nhiều hoặc ít, vòi nhĩ kém thông khí và rối loạn chức năng hoạt động [9]
1.2.2 Bệnh nguyên
Quá trình dính của màng nhĩ vào thành trong hòm nhĩ do nhiều yếu tố gây nên Có 3 yếu tố chính như sau [11], [49]:
1.2.2.1 Yếu tố cơ địa
Tuy còn mang tính giả định song nhiều tác giả đã xem nó có một vai trò nào đó trong bệnh nguyên của viêm tai dính Các yếu tố có thể là: bệnh tăng
độ quánh của dịch nhầy, yếu tố dị ứng, viêm nhiễm đường hô hấp… Yếu tố bẩm sinh cũng được nhắc đến với lập luận rằng: nếu thành xương và lớp niêm mạc của hòm nhĩ được hình thành từ lớp trung mô có chất lượng kém thì về sau sẽ là nơi luôn diễn ra quá trình thiểu sản và rối loạn các phản ứng miễn
Trang 20dịch Hòm nhĩ và xương chũm kém phát triển dễ nảy sinh các đáp ứng kéo dài với các kích thích vào niêm mạc của hòm nhĩ và màng nhĩ Mặc khác, xương chũm bình thường đóng vai trò là khoang khí đệm cho hòm nhĩ, khi nó kém phát triển mà vòi nhĩ bị rối loạn chức năng thì màng nhĩ dễ chịu sự ảnh hưởng của sự giảm áp lực trong hòm nhĩ, tạo điều kiện cho sự co kéo và dính xảy ra
1.2.2.2 Yếu tố viêm nhiễm
Viêm xuất hiện trong một tai giữa có mô liên kết kém phát triển Màng nhĩ trở nên yếu không chỉ trên quan điểm giải phẫu mà còn về các phản ứng bảo vệ Khung sợi xơ của màng nhĩ bị suy yếu như vậy sẽ dễ bị phá hủy bởi quá trình viêm nhiễm, làm cho màng nhĩ trở nên yếu và dễ bị co kéo nếu như
có sự giảm áp lực trong hòm nhĩ do rối loạn chức năng vòi nhĩ kéo dài
1.2.2.3 Yếu tố thông khí của hòm nhĩ
Sự đẩy lệch màng nhĩ về phía ụ nhô là hậu quả của sự tạo ra áp lực âm trong hòm nhĩ do tắc vòi nhĩ kéo dài
1.2.2.4 Cơ chế hình thành túi co kéo
Màng nhĩ tạo với xương thành sau ống tai một góc rộng hơn các góc khác ở phía trên, trước và dưới Điều này làm cho phần sau của màng nhĩ trở nên yếu trước sự tác động của khí quyển trong ống tai ngoài Áp lực này trở nên mạnh hơn khi sự cân bằng áp lực giữa hòm nhĩ và khí quyển không còn duy trì nữa do sự rối loạn chức năng của vòi nhĩ Đồng thời, sự giảm áp lực trong hòm nhĩ cũng gây hiệu ứng rối loạn lưu lượng khí giữa tầng trên và tầng dưới hòm nhĩ qua eo nhĩ – thượng nhĩ Hậu quả là phần màng chùng và góc phần tư sau trên của màng căng là chịu nhiều tác động hơn cả Khi lớp xơ sợi của màng nhĩ bị mỏng đi màng căng cũng trở nên yếu như màng chùng và bị
co kéo về phía thành sau của hòm nhĩ [27], [48], [63]
Trang 211.2.3 Giải phẫu bệnh của viêm tai dính
Trên bình diện giải phẫu bệnh lý nếu chỉ nói viêm tai dính là sự dính đơn thuần màng nhĩ vào ụ nhô thì chưa đủ mà cần nói đến sự có mặt của một lớp
tổ chức liên kết dầy hoặc mỏng và luôn bị viêm nhiều hay ít Tổn thương này giúp phân biệt viêm tai dính với viêm tai thanh dịch, xơ nhĩ [35]
1.2.3.1 Màng nhĩ
- Đại thể [11], [28], [58]:
+ Giai đoạn xẹp màng nhĩ khu trú (hình thành túi co kéo): màng nhĩ xuất hiện túi co kéo, thường ở màng chùng và ở góc phần tư sau trên của màng căng Túi co kéo dính sát xương búa, xương đe
+ Giai đoạn xẹp màng nhĩ toàn bộ: màng nhĩ xẹp, khoang khí trong hòm nhĩ bị thu hẹp nhưng chưa mất, màng nhĩ chưa dính vào thành trong hòm nhĩ + Giai đoạn dính: màng nhĩ bị mất khung sợi xơ ở lớp giữa, lớp biểu bì malpighi dính vào các xương con và các chỗ lồi lõm ở thành trong hòm nhĩ Màng nhĩ màu vàng xám, hơi đục, có khi nhìn thấy cả khớp đe đạp, ụ nhô Có thể nhìn thấy màng nhĩ hơi trắng, lớp biểu bì bị trượt đi làm lộ lớp tổ chức hạt màu đỏ sẫm làm lầm tưởng là lỗ thủng màng nhĩ
Trang 22+ Sự phân hủy khung sợi xơ của màng nhĩ, cùng với sự dính của màng nhĩ vào thành trong của hòm nhĩ là đặc trưng của bệnh lý này Màng nhĩ bị mất rung động và hậu quả là:
Về sinh lý: rối loạn quá trình làm sạch của lớp biểu bì từ đó tạo ra tiền
đề cho sự xuất hiện của một loại tổn thương khác là cholesteatoma
Về chức năng: giảm sức nghe
+ Viêm tai dính làm kéo dài một quá trình viêm tiến triển ở điểm tiếp xúc và tạo ra nguy cơ tiến triển của tất cả các lớp “da lạc chỗ” trong hòm nhĩ
1.2.3.2 Hòm nhĩ
Khoang khí của hòm nhĩ bị thu hẹp dần rồi biến mất, đưa đến khái niệm
“xẹp nhĩ” của Farrior Trung nhĩ còn tương đối rộng Khung nhĩ nằm trên một bình diện gần như tiếp tuyến với ụ nhô Ngách hạ nhĩ gần như không còn tồn tại làm cho ống tai ngoài như bị kéo sát vào thành trong hòm nhĩ Khung nhĩ
dù bị teo vẫn giúp phân biệt ranh giới tai ngoài và tai giữa Hiện tượng tai giữa nhỏ gặp nhiều trong viêm tai dính dường như là một điều kiện thuận lợi của viêm tai dính [50]
1.2.3.3 Thượng nhĩ
Thượng nhĩ không tham gia trực tiếp vào quá trình dính Đôi lúc thượng nhĩ không còn thông với trung nhĩ nữa vì các tổ chức liên kết bị viêm và màng nhĩ bị xẹp đậy lên eo nhĩ – thượng nhĩ Sự tạo ra áp lực âm tại thượng nhĩ do hậu quả của hiện tượng này, kết hợp với hoạt động viêm diễn ra tại chỗ
là nguyên nhân tạo ra túi co kéo ở màng chùng [50]
1.2.3.4 Xương con
- Xương búa nằm ngang làm cho rốn nhĩ tiếp xúc với ụ nhô và bị dính vào Các xương con bị bất động và bị kẹt giữa lớp tổ chức liên kết và biểu bì phủ xung quanh Tổn thương này thấy rõ nhất ở khớp đe – đạp Cành xuống xương đe bị tổn thương đầu tiên Sau đó, cấu trúc của xương bàn đạp bị phân
Trang 23hủy Chỉ có 23% trường hợp viêm tai dính là xương con không bị gián đoạn [7], [24], [31]
1.2.3.5 Vòi nhĩ
Vòi nhĩ thường bị tắc một phần hoặc toàn bộ và luôn kém thông thoáng
1.2.4 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
1.2.4.1 Triệu chứng lâm sàng
- Triệu chứng cơ năng [3], [18], [26]:
+ Nghe kém: xuất hiện một hoặc hai tai, nhiều tháng hoặc nhiều năm + Các triệu chứng khác (các triệu chứng này khi có khi không): cảm giác đầy tai, có tiếng vang trong tai, ù tai, chảy dịch tai, đau tai, chóng mặt
- Triệu chứng thực thể: màng nhĩ thay đổi về màu sắc và độ rung động + Màng nhĩ bị lõm vào, bị co kéo về phía trong hòm nhĩ, có thể nhìn thấy túi co kéo
+ Cán xương búa như bị ngắn lại, bị kéo ra sau, lên trên Có thể thấy màng chùng ôm sát cán búa
+ Có thể nhìn thấy lớp biểu bì của màng nhĩ bị loét một điểm trông như
lỗ thủng màng nhĩ
+ Màng nhĩ bị mỏng hoặc mất độ rung động
Theo phân loại của Sade năm 1976 có 4 giai đoạn của viêm tai dính [45]:
Hình 1.4: Phân loại viêm tai dính theo Sade (1976) (Nguồn: Color atlas of otoscopy, 1999 [51])
Trang 24Độ I: toàn bộ màng căng co lõm về phía hòm nhĩ, chưa chạm vào thành phần nào trong hòm nhĩ Màng nhĩ còn di động tốt
Độ II: màng căng co lõm nhiều hơn về hòm nhĩ, bắt đầu chạm cổ xương búa hoặc ngành xuống xương đe Nhìn thấy màng căng mỏng do thiểu sản lớp sợi Màng nhĩ còn di động tốt hoặc hạn chế khi làm nghiệm pháp Valsava
Độ III: màng căng lõm dính vào cổ xương búa, chạm ụ nhô, dính vào cành xuống xương đe Độ di động của màng nhĩ kém
Độ IV: màng nhĩ dính chặt vào ụ nhô, ngách nhĩ và ngách hạ nhĩ, tường thượng nhĩ và xương con Màng nhĩ mất di động hoàn toàn
Hình 1.3: Viêm tai giữa dính độ I theo Sade (1976) (Nguồn: Color atlas of otoscopy, 1999 [51])
Hình 1.4: Viêm tai giữa dính độ II theo Sade (1976) (Nguồn: Color atlas of otoscopy, 1999 [51])
- Có túi co kéo thượng nhĩ
- Xương búa kéo nhẹ vào trong
- Thấy ở tai giữa có tiết dịch màu hơi vàng
- Túi co kéo thượng nhĩ
- Màng nhĩ dính với xương đe
- Xương búa kéo vào phía trong
Trang 25Hình 1.5: Viêm tai giữa dính độ III theo Sade (1976)
(Nguồn: Color atlas of otoscopy, 1999 [51])
Hình 1.6: Viêm tai giữa dính độ IV theo Sade (1976)
(Nguồn: Color atlas of otoscopy, 1999 [51])
Viêm tai giữa dính khu trú (túi co lõm) theo sade 1976 (cả màng căng và màng chùng) [45]:
Độ I: co lõm nhẹ, chưa chạm vào các cấu trúc tai giữa như cổ xương búa hay cành xuống xương đe
Độ II: túi co lõm chạm vào cổ xương búa hay cành xuống xương đe, đáy túi kiểm soát được và tự làm sạch
Độ III: lõm màng nhĩ sâu hơn, không tự làm sạch được, bắt đầu ăn mòn tường thượng nhĩ hoặc phần sau trên khung nhĩ, có thể hủy xương con
Màng nhĩ mỏng và teo được dính vào ụ nhô
- Túi co lõm thượng nhĩ
- Màng nhĩ mỏng và teo
Trang 26Độ IV: co lõm sâu, không kiểm soát được đáy túi, gây tiêu hủy tường thượng nhĩ, hoặc phần sau trên khung nhĩ kèm xương con, không tự làm sạch, tích tụ biểu bì (tiền cholesteatoma)
Hình 1.7: Viêm tai giữa dính khu trú (túi co lõm) màng chùng
(Nguồn: Color atlas of otoscopy, 1999 [51]) 1.2.4.2 Triệu chứng cận lâm sàng
- Thính lực đồ đơn âm: tùy từng giai đoạn của viêm tai dính có sự khác nhau về thính lực đồ [14], [16], [21]
+ Giai đoạn I: hầu như bình thường
+ Giai đoạn II: nghe kém dẫn truyền nhẹ
+ Giai đoạn III: nghe kém dẫn truyền trên 40 dB , chứng tỏ hệ thống xương con tổn thương hoặc cố định hoặc bị ăn mòn
+ Giai đoạn IV: nghe kém hỗn hợp thiên về dẫn truyền
Trang 27+ Giai đoạn III: nhĩ đồ chuyển về bên âm, thấp dưới 0,5 so với các dạng nhĩ đồ trên Nhĩ đồ thể hiện sự cố định chuỗi xương con và giảm vận động màng nhĩ
+ Giai đoạn IV: nhĩ dồ có dạng phẳng gần như song song với trục hoành, thể hiện sự mất rung động hoàn toàn của màng nhĩ Trên lâm sàng ứng với hiện tượng dính toàn bộ màng nhĩ vào trong hòm nhĩ
Phân loại nhĩ lượng đồ theo Jeger có 5 type [44]:
+ A: chức năng tai giữa bình thường
+ As: có dịch trong tai giữa hoặc cố định chuỗi xương con
+ Ad: trật khớp chuỗi xương con, phẫu thuật cắt bỏ xương bàn đạp, bệnh
lý tại màng nhĩ như xẹp mỏng hay mảng xơ nhĩ
+ B: gặp trong các trường hợp viêm tai giữa tiết dịch đầy hòm nhĩ, màng nhĩ thủng, hoặc đầu dò sai vị trí
+ C: gặp trong tắc vòi nhĩ, áp lực âm tai giữa
Hình 1.8: Nhĩ lượng đồ theo Jeger [44]
Trang 28Phân loại nhĩ lượng đồ theo Nguyễn Tấn Phong [16]
Ở giai đoạn I: đỉnh nhĩ đồ chuyển phía áp lực âm, đỉnh nhọn (dạng tắc vòi không hoàn toàn): nhĩ đồ nhất cấp Giai đoạn này bệnh nhân chỉ có một triệu chứng duy nhất là ù tai
Hình 1.9: Nhĩ lượng đồ viêm tai dính độ I [16]
Giai đoạn II : đỉnh nhĩ đồ lệch âm và có dạng đỉnh tù (nhĩ đồ nhị cấp) hoặc “cánh trái” thể hiện sự tắc vòi không hoàn toàn, lõm và dính màng nhĩ vào xương con hoặc thành trong hòm tai tạo thành túi co lõm
Hình 1.10: Nhĩ lượng đồ viêm tai dính độ II [16]
Giai đoạn III: nhĩ đồ chuyển về bên âm và có dạng hình đồi, đỉnh nhĩ đồ
hạ thấp (nhĩ đồ tam cấp) Bệnh nhân lúc này mới phát hiện thấy nghe kém
Trang 29Hình 1.11: Nhĩ lượng đồ viêm tai dính độ III [16]
Giai đoạn IV: nhĩ đồ có dạng phẳng gần như song song với trục hoành (nhĩ đồ tứ cấp) thể hiện mất hoàn toàn sự rung động của màng nhĩ tương ứng với kết quả nội soi dính toàn bộ màng nhĩ vào thành trong hòm tai
Hình 1.12: Nhĩ lượng đồ viêm tai dính độ IV [16]
Trong viêm tai dính, mỗi một giai đoạn có những triệu chứng thính lực
và nhĩ lượng tương ứng, việc theo dõi thính lực và nhĩ đồ không những giúp chẩn đoán mức độ tổn thương về mặt chức năng của tai giữa, đồng thời theo dõi được diễn biến, tiên lượng và đề ra phương pháp điều trị thích hợp cho từng giai đoạn
- X quang Schiiller nhằm phát hiện tổn thương ở xương chũm và xác định xương chũm kém thông bào
Trang 30- Chụp cắt lớp vi tính nhằm phát hiện tổn thương ở xương con ở giai đoạn cuối có cholesteatoma [62]
1.3 Điều trị viêm tai giữa dính
Điều trị viêm tai dính chủ yếu là điều trị ngoại khoa Cần tiến hành các bước sau [13], [53]
- Đặt ống thông khí hòm nhĩ: đặt qua màng nhĩ theo Armstrong và Palva, đặt qua xương ống tai bằng ống chữ T của Goode, đặt qua sào bào, đặt qua thượng nhĩ [32], [38], [4]
- Rạch và bóc tách da ống tai và màng nhĩ ra khỏi thành trong hòm nhĩ
- Kiểm tra xương con bị gián đoạn và thay thế bằng trụ gốm sinh học
- Đệm mảnh sụn và màng sụn vào hòm nhĩ
Sau mổ điều trị viêm tai dính, lớp niêm mạc bị tổn thương và thành xương bị bóc trần sẽ gây dính lại sau mổ Mảnh sụn và màng sụn chống dính trở lại, duy trì khoang khí của hòm nhĩ, tạo điều kiện cho sự tái tạo lớp niêm mạc trong hòm nhĩ
Gốm sinh học dùng để làm chất liệu tạo hình xương vì tính tương hợp sinh học tốt và đặc biệt là chống được hiện tượng xơ hóa sau phẫu thuật gây suy giảm sức nghe trở lại [25]
1.4 Các nghiên cứu trước đây về viêm tai dính
1.4.1 Trên thế giới
Năm 2004 Yu L.S đã báo cáo một nghiên cứu trên 69 trường hợp từ năm 1995 – 2000, với phẫu thuật tạo hình tai giữa bằng phương pháp tách dính, chèn sụn vào hòm nhĩ để điều trị viêm tai giữa dính, với ABG trước mổ
là 43,7 ± 3,9 dB Kết quả ABG sau phẫu thuật một tháng với 69 trường hợp là 23,7 ± 8,6 dB, sau một năm với 41 trường hợp là 27,9 ± 10,7 dB, trong nhóm theo dõi thời gian dài có 18 trường hợp ABG thấp hơn 20 dB, 24 trường hợp
Trang 31(58%) màng nhĩ gần như bình thường Kết luận sụn là vật liệu tốt nhất để tái tạo màng nhĩ [61]
Năm 2016 Ciodaro F đã sử dụng một ống chữ T đặt dưới khung nhĩ sợi
để điều trị viêm tai dính ở 22 trường hợp Tất cả các bệnh nhân đều được đặt ống chữ T và một tấm sụn trong khoang màng nhĩ Kết quả: chỉ một trường hợp rớt ống có thủng màng nhĩ Kết quả thính giác hài lòng ở 18/22 bệnh nhân (81,8%) [29]
Năm 2016, Larem đã báo cáo nghiên cứu trên 57 bệnh nhân mắc viêm tai dính (60 tai), được phẫu thuật tạo hình tai giữa sử dụng màng sụn và đặt ống thông khí, theo dõi 3 năm Chảy tai được kiểm soát ở 94% tai Lành màng nhĩ 59/60 tai ABG trung bình trước phẫu thuật là 30,4 ± 4,0 dB, ABG trung bình sau phẫu thuật là 8,6 ± 6,9 dB, ABG ≤ 20 dB 46 tai (83,6%) [39] Năm 2019, Li đã báo cáo đề tài nghiên cứu trên 35 bệnh nhân (35 tai) được phẫu thuật tạo hình tai giữa, đặt ống thông khí màng nhĩ, theo dõi trong
12 – 44 tháng Sau mổ PTA trung bình là 31,7 ± 12,3 dB, có 28/35 trường hợp (80%) < 40 dB, có 2 trường hợp (6%) không có thay đổi 33/35trường hợp (94%) khô tai trong vòng 3 tháng và chỉ có 2/35 trường hợp (6%) trong hơn 6 tháng [41]
Năm 2019 Vijayendra V nghiên cứu phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa điều trị túi co kéo màng nhĩ bằng cách cắt túi co kéo, gia cố bằng sụn bình tai trên 41 tai có túi co kéo độ II, III, IV Nhận thấy rằng túi co kéo ổn định và khoảng rinne phục hồi sau 3 năm trung bình 14,57 ± 3,88 dB [59]
Năm 2019 Su J nghiên cứu hồi cứu trên những bệnh nhân đã phẫu thuật nội soi tạo hình thượng nhĩ đường xuyên ống tai điều trị túi co kéo, đưa ra kết luận phẫu thuật nội soi cho hình ảnh rõ nét, phẫu trường rộng, thao tác đơn giản, ít sang chấn, thời gian mổ ngắn, hiệu quả chính xác, có thể làm giảm sót bệnh tích, giảm tái phát [54]
Trang 32Năm 2020 tác giả Wu N đã báo cáo kết quả phẫu thuật nội soi tạo hình tường thượng nhĩ bằng sụn bình tai kết hợp với phẫu thuật tiệt căn tối thiểu đường xuyên ống tai, để điều trị 57 trường hợp cholesteatoma túi thượng nhĩ Kết quả sau một năm nghiên cứu tái phát cholesteatoma là 2 trường hợp, túi
co kéo thượng nhĩ là 3 trường hợp [60]
1.4.2 Tại Việt Nam
Theo một nghiên cứu của Nguyễn Tấn Phong năm 2000 đăng trên Tạp chí thông tin Y Dược, sau khi viêm V.A mạn tính gây tắc vòi nhĩ có thể đưa đến viêm tai dính, co lõm màng nhĩ, hình thành túi co kéo Từ túi co kéo này
có thể phát triển thành cholesteatoma Túi co kéo thường gặp ở màng chùng do: kém thông khí của thượng nhĩ, các thông bào chũm kém phát triển và không có lớp sợi xơ ở màng chùng [9]
Vào năm 2003, tác giả Hoàng Vũ Giang thực hiện đề tài nghiên cứu
“Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng và đánh giá chức năng tai giữa của xẹp nhĩ tại viện Tai Mũi Họng Trung Ương” kết luận tỷ lệ mắc bệnh ở giới nữ 41,7% ít hơn nam 58,3%, tuổi trung bình 30,1 tuổi, sống ở nông thôn là 65%, thành thị
là 35%, triệu chứng ù tai chiếm tỷ lệ cao nhất 86,7%, nghe kém đứng thứ hai 81,7%, xẹp nhĩ toàn bộ chiếm 56,7%, xẹp nhĩ khu trú 43,3%, tỷ lệ tổn thương xương con ở độ IV của xẹp nhĩ khu trú là 88,9%, cao hơn xẹp nhĩ toàn bộ 46,7% Thính lực và nhĩ lượng đồ: độ III thính lực đồ có dạng điếc dẫn truyền với ngưỡng nghe trung bình đường khí ở tần số giao tiếp là 37,3- 40,8 dB, nhĩ lượng đồ chuyển về bên âm và có đỉnh thấp hơn 0,5, độ IV: thính lực đồ xẹp nhĩ toàn bộ có dạng nghe kém dẫn truyền (86,7%), nhĩ đồ phẳng song song trục hoành, PTA trung bình 49,2 dB, thính lực đồ xẹp nhĩ khu trú có dạng nghe kém hỗn hợp thiên về dẫn truyền (88,9%), PTA trung bình 54,6 dB [3] Năm 2012 Khiếu Hữu Thanh thực hiện đề tài “Nghiên cứu chức năng tai giữa trong các giai đoạn của xẹp nhĩ qua thính lực và nhĩ lượng” đã kết luận
Trang 33tỷ lệ nữ nhiều hơn nam tương ứng 58,3% và 41,7%, tuổi trung bình 34,8 tuổi, triệu chứng cơ năng: nghe kém 91,7%, ù tai 83,4%, đau tai 15%, xẹp nhĩ toàn
bộ 72,7%, khu trú 27,3%, nhĩ lượng đồ nhiều nhất là type B 45,5%, type C 39,4%, type A 9,1%, type As 6,1% [21]
Sau đó, tác giả Nguyễn Thị Diệp Anh đã báo cáo đề tài nghiên cứu
“Đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình tường thượng nhĩ trong viêm tai dính khu trú thượng nhĩ” vào năm 2013 kết luận: triệu chứng phổ biến nhất là nghe kém 88,09% và ù tai 83,3%, nghe kém dẫn truyền 71,4%, hỗn hợp 28,6%, nhĩ
đồ cánh trái, lệch âm chiếm 54,7%, nhĩ đồ phẳng 23,8% [1]
Cũng trong năm 2013, tác giả Lê Công Định và Đào Trung Dũng đã đăng trên Tạp chí nghiên cứu Y học bài “Kết quả điều trị xẹp nhĩ tại khoa Tai Mũi Họng – Bệnh viện Bạch Mai” theo dõi trong 5,8 tháng ghi nhận kết quả điều trị xẹp nhĩ không tái phát là 92,4%, tuổi trung bình là 34,6 tuổi, dính toàn
bộ là 62,1% và dính khu trú là 37,9%, phân độ có 33,3% độ II, 51,5% độ III, 15% độ IV,tổn thương xương con gặp 42,4%,5 trường hợp thất bại đều trên bệnh nhân viêm tai dính toàn bộ [2]
Năm 2017 tác giả Phạm Thanh Thế thực hiện đề tài “Nghiên cứu chỉnh hình tai giữa trên hốc mổ khoét chũm tiệt căn” ghi nhận kết quả tổn thương xương đe là thường gặp nhất 57,1%, và khả năng phục hồi tốt nhất Trụ dẫn gốm sinh học có tính tương hợp tốt, chống xơ hóa sau phẫu thuật Màng sụn
và sụn bình tai là vật liệu lý tưởng khi chúng ta sử dụng đường vào trước tai hoặc nội soi, đặc biệt màng sụn có độ dày và độ cứng cũng như khả năng tồn tại lâu sau phẫu thuật là một chất liệu lý tưởng để khắc phục tình trạng co lõm màng nhĩ trở lại [25]
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng
Những bệnh nhân viêm tai giữa dính đến khám và được phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ từ 02/2019 đến 06/2020
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Các bệnh nhân được chọn vào mẫu nghiên cứu phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:
- Chẩn đoán viêm tai dính khu trú hay toàn bộ giai đoạn III, IV
- Có hình ảnh nội soi
- Đo thính lực, nhĩ lượng
- Bệnh nhân đã được điều trị những nguyên nhân gây tắc vòi nhĩ
- Phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa: với phương pháp bóc tách màng nhĩ dính, gia cố màng nhĩ bằng màng sụn, đặt ống thông khí màng nhĩ, có hoặc không chỉnh hình xương con
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Thủng màng nhĩ
Bệnh nhân không đến tái khám theo lịch hẹn và chăm sóc sau phẫu thuật Bệnh nhân mắc các bệnh lý nội, ngoại khoa không thể gây mê phẫu thuật
Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ
Thời gian nghiên cứu: từ 02/2019 đến 06/2020
Trang 352.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu
Như vậy cỡ mẫu tối thiểu hợp lý sẽ là n = 43 (mẫu tai)
Trong thời gian nghiên cứu chúng tôi thu được 46 mẫu
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện, chọn tất cả những bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu từ tháng 02/2019 đến tháng 06/2020
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tương nghiên cứu [2], [3]
Trang 36Nghề nghiệp:
+ Nông dân
+ Công nhân
+ Nội trợ
+ Học sinh – sinh viên
+ Các đối tượng khác (như hưu trí, )
2.2.4.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng [18], [26], [37] Đặc điểm lâm sàng
+ Bệnh mũi xoang, viêm VA, u vòm
+ Trào ngược họng thanh quản
Triệu chứng cơ năng:
+ Cảm giác đầy tai
+ Có tiếng vang trong tai
Triệu chứng thực thể:
Màng nhĩ:
Trang 37Bình thường: < 20 dB
Nghe kém nhẹ: 20 – 40 dB
Nghe kém vừa: 40 – 60 dB
Trang 38Nghe kém nặng: 60 – 90 dB
Nghe kém sâu: 90 – 110 dB
Nghe kém hoàn toàn: >110 dB
+ Đường khí: bình thường, nghe kém nhẹ, nghe kém vừa, nghe kém nặng, nghe kém sâu, nghe kém hoàn toàn
+ Đường xương: bình thường, nghe kém nhẹ, nghe kém vừa, nghe kém nặng, nghe kém sâu, nghe kém hoàn toàn
Tính trung bình chỉ số ABG (Air Bone Gap): khoảng cách giữa đường khí và đường xương ở 4 tần số 500Hz, 1000Hz, 2000Hz, 4000Hz
Nhĩ lượng đồ:
- Hình thái nhĩ lượng: nhất cấp, nhị cấp, tam cấp, tứ cấp
Chụp cắt lớp vi tính xương thái dương: hủy xương con, tường thượng nhĩ, cholesteatoma
2.2.4.3 Đánh giá kết quả phẫu thuật
Quá trình phẫu thuật
- Phương pháp phẫu thuật: tách dính + đặt ống thông khí, tách dính + đặt ống thông khí + chỉnh hình xương con
- Vật liệu gia cố màng nhĩ: màng sụn đơn thuần, màng sụn + sụn
- Xương con tổn thương được quan sát trong lúc phẫu thuật
- Đánh giá các biến chứng trong và sau phẫu thuật
Trang 39- Hòm nhĩ: khô, ứ dịch
- Tái dính màng nhĩ sau phẫu thuật, vị trí dính
Phục hồi về chức năng nghe
- Các chỉ số cần đánh giá :
+ Chỉ số PTA trung bình sau mổ
+ Chỉ số ABG trung bình sau mổ
+ Khoảng Rinne: là hiệu số của chỉ số ABG trước và sau mổ
- So sánh các chỉ số PTA, ABG trước và sau mổ
- So sánh tương quan ABG, khoảng Rinne sau mổ với xương con tổn thương, với phân loại và phân độ viêm tai dính
- Thành công chung sau phẫu thuật dựa theo các tiêu chí:
+ Lâm sàng: sức nghe tăng, không ù tai, màng nhĩ không thủng, không dính lại, hòm nhĩ khô
+ Thính lực: chỉ số ABG đạt mức ≤ 20 dB
2.2.5 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu
2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Bệnh án nghiên cứu (phụ lục 1): được soạn sẵn theo mẫu, áp dụng thống nhất cho tất cả các bệnh nhân trong thời gian nghiên cứu
Dụng cụ khám chuyên khoa tai: loa tai soi, đèn soi tai
Bộ nội soi gồm: nguồn sáng, dây dẫn sáng, camera, màn hình, máy tính, ống nội soi 0 độ: 4 và 2.7 mm
Trang 40Hình 2.1: Máy nội soi Tai mũi họng (Nguồn : BV Tai Mũi Họng Cần Thơ)
Hình 2.2: Ống nội soi (Nguồn : BV Tai Mũi Họng Cần Thơ)