1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng ở ba tháng cuối thai kỳ tại bệnh viện phụ sản thành phố cần thơ

93 8 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng ở ba tháng cuối thai kỳ tại bệnh viện phụ sản thành phố cần thơ
Tác giả Lưu Hùng Dũng
Người hướng dẫn BSCKII. Nguyễn Hữu Dự
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Sản phụ khoa
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Sự thay đổi hệ tiết niệu trong khi có thai (13)
    • 1.2. Dịch tễ học nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ có thai (14)
    • 1.3. Tác nhân gây nhiễm trùng tiểu và sự nhạy cảm của vi khuẩn với kháng (15)
    • 1.4. Các yếu tố thuận lợi gây nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ có thai (20)
    • 1.5. Lâm sàng và cận lâm sàng ở sản phụ nhiễm trùng tiểu trong ba tháng cuối thai kỳ (21)
    • 1.6. Chẩn đoán nhiễm trùng tiểu (23)
    • 1.7. Điều trị nhiễm trùng tiết niệu trong thai kỳ (25)
    • 1.7. Phác đồ điều trị nhiễm trùng tiểu trong thai kỳ (30)
    • 1.8. Hậu quả của nhiễm trùng tiểu (31)
    • 1.9. Nghiên cứu trong và ngoài nước (32)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (35)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (35)
    • 2.3. Y đức trong nghiên cứu (47)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (49)
    • 3.2. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (49)
    • 3.3. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng ở thai phụ bị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng (56)
    • 3.4. Kết quả điều trị (59)
    • 3.5. Đánh giá các yếu tố liên quan (61)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (68)
    • 4.1. Tỉ lệ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng (68)
    • 4.2. Đặc điểm chung của thai phụ bị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng (68)
    • 4.3. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng thai phụ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng (70)
    • 4.4. Kết quả điều trị (76)
    • 4.5. Đánh giá các yếu tố liên quan (76)
    • 4.6. Tác nhân gây bệnh (79)
    • 4.7. Phác đồ điều trị .................................................................................... 71 KIẾN NGHỊ (81)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (86)

Nội dung

Nhiễm trùng tiểu có thể biểu hiện có triệu chứng lâm sàng và không có triệu chứng lâm sàng nhưng khi không phát hiện và điều trị kịp thời có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến chứng trê

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tƣợng nghiên cứu

Tất cả thai phụ tuổi thai 28-40 tuần vào khám thai tại Bệnh viện Phụ Sản thành phố Cần Thơ từ 04/2019-6/2020, đƣợc chẩn đoán nhiễm trùng tiểu có triệu chứng

Tất cả thai phụ tuổi thai từ 28 đến 40 tuần khám thai tại Bệnh viện Phụ Sản thành phố Cần Thơ đều được mời tham gia nghiên cứu nếu gặp các triệu chứng rối loạn cảm giác đi tiểu như đau, khó tiểu hoặc tiểu lắt nhắt Ngoài ra, các thai phụ này cũng cần có triệu chứng đau hông lưng hoặc trên xương mu để đủ điều kiện tham gia Nghiên cứu nhằm mục tiêu hiểu rõ hơn về các triệu chứng này trong thai kỳ và cung cấp các hướng dẫn chăm sóc phù hợp Tham gia nghiên cứu giúp nâng cao chất lượng khám và điều trị thai kỳ tại địa phương.

Tất cả thai phụ mang thai từ 28 đến 40 tuần nên đến khám tại Bệnh viện Phụ Sản thành phố Cần Thơ ngay khi xuất hiện các triệu chứng rối loạn tiểu như tiểu đau, tiểu khó, tiểu lắt nhắt, kèm theo cảm giác đau hông, lưng hoặc trên xương mu Việc khám thai định kỳ giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, đảm bảo an toàn cho mẹ và bé trong giai đoạn cuối thai kỳ Hãy chủ động liên hệ với cơ sở y tế để được tư vấn và điều trị kịp thời, giảm thiểu các nguy cơ biến chứng.

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Thai phụ có các bệnh lý nhiễm trùng khác ngoài nhiễm trùng tiểu

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Bệnh viện Phụ Sản Cần Thơ từ 04/2019-6/2020.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Tính theo công thức ƣớc lƣợng một tỉ lệ trong quần thể nghiên cứu

- Z: Trị số từ phân phối chuẩn (Z = 1,96)

- α: xác suất sai lầm loại I (α = 0,05)

- Tỷ lệ nhiễm trùng tiểu ở thai phụ mang thai 3 tháng cuối thai kỳ của Nguyễn Tiến Minh tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2016 là 4,27% [6] Tính ra cỡ mẫu nb

Chọn mẫu thuận tiện, chọn các thai phụ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu vào nghiên cứu trong thời gian 04/2019 đến 6/2020

2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu

Là biến định lƣợng, đƣợc xác định bằng năm nghiên cứu trừ năm sinh của thai phụ, đơn vị là năm (tuổi) Sau đó chia ra các nhóm:

Là biến định tính, đƣợc xác định khi thai phụ làm công việc đó liên tục >

12 tháng Chia ra các nhóm: nội trợ, buôn bán, công nhân viên, nghề khác…

Là biến định tính, đƣợc xác định khi thai phụ sống tại nơi đó liên tục ≥

12 tháng Sau đó chia thành 2 nhóm: thành thị, nông thôn

Là biến định tính dựa vào phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân Chia thành nhóm: kinh, hoa, khơ- me, khác…

Biến định tính dựa trên phỏng vấn trực tiếp thai phụ và phân chia thành các nhóm trình độ học vấn gồm mù chữ, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học và sau đại học Sau khi thu thập dữ liệu, các đối tượng được phân loại thành các nhóm: mù chữ, tiểu học, THCS, THPT và trên THPT để tiến hành phân tích chi tiết.

Biến định tính được xác định dựa trên việc ghi nhận qua sổ hộ nghèo hoặc giấy bảo hiểm y tế của hộ nghèo còn hiệu lực Dữ liệu sau khi thu thập sẽ phân thành hai nhóm chính là hộ nghèo và hộ không nghèo để tiến hành phân tích chính xác và có hệ thống.

Tiền căn sản khoa (PARA) được đánh giá dựa trên các yếu tố quan trọng như số lần sinh đủ tháng, số lần sinh thiếu tháng, số lần sẩy thai, số lần nạo hút thai và thai lưu Ngoài ra, healthcare professionals còn xem xét số con hiện tại còn sống để đưa ra đánh giá toàn diện về tiền sử sản khoa của phụ nữ, giúp lập kế hoạch chăm sóc phù hợp và dự phòng các biến cố liên quan trong thai kỳ tương lai.

Tiền sử mang thai có nhiễm trùng tiểu không, sau khi thu thập chia thành

2.2.4.2 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trên thai phụ nhiễm trùng tiểu

Là biến định lƣợng, tính bằng tuần dựa vào kinh cuối hoặc siêu âm 3 tháng đầu thai kỳ Chia làm các nhóm

Là biến định lƣợng, đƣợc tính bằng cách hỏi thai phụ số lần thai phụ đã mang thai là bao nhiêu Sau đó chia thành các nhóm:

Là biến định lƣợng, đƣợc tính bằng cách hỏi thai phụ tổng số lần khám thai từ lúc phát hiện có thai đến thời gian hiện tại là bao nhiêu lần Sau đó chia làm các nhóm:

- Đặc điểm chăm sóc thai nghén:

Là biến định đính, dựa vào phỏng vấn trực tiếp thai phụ về:

+ Nguồn nước sinh hoạt: nguồn nước sinh hoạt hằng ngày của thai phụ là nước đã được qua xử lý hay chưa, chia thành hay nhóm:

Nhóm 1: đã xử lý (nước máy đã có chất sát khuẩn flour, nước đã qua hệ thống lọc)

Nhóm 2: chưa xử lý (nước giếng, nước song, hồ )

+ Giao hợp khi mang thai: trong quá trình mang thai, thai phụ có giao hợp hay không, chia thành hai nhóm:

Là biến định đính, dựa vào phỏng vấn trực tiếp thai phụ có các triệu chứng: tiểu buốt, đau hạ vị, đau hông lƣng, tiểu lắt nhắt…hay không

Biến định đính được chẩn đoán dựa trên việc thăm khám trực tiếp thai phụ, đặc biệt chú trọng các triệu chứng như đỏ tấy vùng niệu đạo ngoài, viêm âm hộ, viêm âm đạo, tiểu ra máu hoặc tiểu mủ để xác định mức độ và nguyên nhân của tình trạng này.

2.2.4.2.2 Đặc điểm cận lâm sàng

- Tổng phân tích nước tiểu:

Biến định tính dựa trên kết quả xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu của thai phụ, trong đó ghi nhận sự hiện diện của các yếu tố như hồng cầu, bạch cầu, nitrite, protein, glucose và pH Mỗi yếu tố được phân loại thành hai nhóm, giúp đánh giá chính xác tình trạng sức khỏe của mẹ bầu Đây là phương pháp quan trọng để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường trong nước tiểu của thai phụ, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời Việc phân tích định tính nước tiểu là bước quan trọng trong khám thai định kỳ nhằm đảm bảo sức khỏe của mẹ và thai nhi.

Là biến định tính, dựa vào kết quả xét nghiệm cấy nước tiểu của thai phụ sau đó ghi nhận lại:

+ Kết quả cấy nước tiểu có mọc vi khuẩn hay không, chia thành hai nhóm có và không

+ Vi khuẩn mọc là vi khuẩn gì

+ Số lƣợng của vi khuẩn trên kết quả cấy, chia thành ba nhóm:

Là biến định tính, dựa vào kết quả xét nghiệm làm kháng sinh đồ đối với vi khuẩn xem nhạy với kháng sinh nào

Là biến định tính dựa vào kết quả siêu âm của thai phụ ghi nhận lại kết quả bề dày của thành bang quang

2.2.4.3 Đánh giá kết quả điều trị nhiễm trùng tiểu trên thai kỳ

2.2.4.3.1 Chẩn đoán viêm bàng quang cấp dựa vào lâm sàng hoặc cận lâm sàng [1]:

- Lâm sàng (khi có một trong các triệu chứng sau):

+ Tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu đau, tiểu mủ, tiểu máu và không kèm triệu chứng toàn thân

+ Có hội chứng bàng quang rõ với tiểu buốt, tiểu dắt, có thể tiểu máu, tiểu mủ cuối bãi

+ Đau vùng trên khớp mu khi bàng quang căng

+ Nóng rát khi đi tiểu hoặc tiểu dắt

- Cận lâm sàng (khi có một trong các đặc điểm sau):

Bạch cầu niệu dương tính từ ++ đến +++ (≥ 10^4 bạch cầu/ml) thường chỉ định viêm đường tiết niệu Tuy nhiên, khi trên kính hiển vi soi nước tiểu cho thấy nhiều bạch cầu đa nhân thoái hóa trong mẫu nước tiểu tươi, bác sĩ có thể chẩn đoán dựa trên hình ảnh vi thể mà không cần phải dựa vào ngưỡng số lượng ≥ 10^4 bạch cầu/ml.

+ Vi khuẩn niệu ≥ 10 5 /ml nước tiểu cấy

+ Không có protein niệu trừ khi có tiểu máu, tiểu mủ đại thể

+ Siêu âm: thành bàng quang dày hơn bình thường

2.2.4.3.2 Chẩn đoán viêm niệu đạo cấp không do lậu dựa vào lâm sàng hoặc cận lâm sàng [2]:

- Lâm sàng (khi có một trong các triệu chứng sau):

+ Chảy mủ, dịch niệu đạo

+ Tiểu buốt hoặc nóng rát khi đi tiểu

- Cận lâm sàng (khi có một trong các đặc điểm sau):

+ Soi dịch niệu đạo: Nhiều bạch cầu hoặc có vi khuẩn, nấm

+ Cấy dịch niệu đạo hoặc nước tiểu đầu bãi: có vi khuẩn, nấm

2.2.4.3.3 Đánh giá kết quả điều trị:

- Số ngày giảm triệu chứng: 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 7 ngày

- Lựa chọn kháng sinh điều trị trong thai kỳ [1]

+ Cephalexin: viên 500 mg, uống 1-2 viên/lần, 2 lần/ngày cách nhau 12 giờ trong 7 ngày

+ Hoặc Amoxycillin + Clavulanate: viên 625 mg, uống 1 viên/lần, 2 lần/ngày cách nhau 12h trong 7 ngày

+ Nếu cấy có vi khuẩn niệu (+), lựa chọn theo kháng sinh đồ

- Tốt: khi lâm sàng cải thiện triệu chứng, bạch cầu niệu (-), nitrit nước tiểu (-), khuẩn niệu (-)

- Chưa tốt: khi còn triệu chứng lâm sàng hoặc mẩu thử nước tiểu còn bạch cầu, nitrit hoặc khuẩn niệu

2.2.4.4 Các yếu tố liên quan đến nhiễm trùng tiểu trên thai phụ

- Liên quan giữa nhiễm trùng tiểu trên thai kỳ với tuổi của thai phụ

- Liên quan giữa nhiễm trùng tiểu trên thai kỳ với nơi cƣ trú của thai phụ

- Liên quan giữa nhiễm trùng tiểu trên thai kỳ với tiền sử sản khoa: số lần mang thai và tiền sử mang thai lần trước có nhiễm trùng tiểu

- Liên quan giữa nhiễm trùng tiểu trên thai kỳ với số lần khám thai

- Liên quan giữa nhiễm trùng tiểu trên thai kỳ với yếu tố môi trường (nước sinh hoạt)

- Liên quan giữa nhiễm trùng tiểu trên thai kỳ với vệ sinh thai nghén (quan hệ tình dục khi mang thai)

- Liên quan giữa nhiễm trùng tiểu trên thai kỳ với tuổi thai hiện tại

2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu

 Bàn khám sản phụ khoa

- Dụng cụ, hóa chất, thiết bị xét nghiệm

2.2.5.2 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu

Tác giả đã được sự chấp thuận của Ban Giám đốc bệnh viện để phối hợp cùng bác sĩ khoa khám thực hiện công tác khám thai, siêu âm và tư vấn xét nghiệm nước tiểu cho thai phụ Trong quá trình này, dữ liệu của các thai phụ đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu sẽ được thu thập và ghi lại đầy đủ vào phiếu thu thập số liệu, đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của nghiên cứu.

Chọn toàn bộ thai phụ thuộc vào các tiêu chuẩn phù hợp, đặc biệt là tuổi thai trong 3 tháng cuối của thai kỳ, để đảm bảo chất lượng dữ liệu nghiên cứu Các thai phụ sẽ được khám thai tại Khoa Khám của Bệnh viện Phụ Sản Thành Phố Cần Thơ trong quá trình thu thập dữ liệu cho đến khi đủ cỡ mẫu tối thiểu để đảm bảo tính hợp lệ và đáng tin cậy của nghiên cứu.

Lập bộ câu hỏi phù hợp với các mục tiêu đã đề ra để đảm bảo thu thập dữ liệu chính xác và đầy đủ Cần thống nhất cách ghi nhận các dữ kiện trong quá trình khảo sát nhằm duy trì tính nhất quán và dễ dàng so sánh kết quả Ngoài ra, kiểm tra mức độ chính xác của các thông tin đã thu thập để nâng cao độ tin cậy của dữ liệu, đảm bảo các kết quả phản ánh đúng thực tế nghiên cứu.

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các thai phụ được chẩn đoán nhiễm trùng đường tiểu và thu thập thông tin qua hồ sơ bệnh án để xác định đặc điểm cá nhân, tiền sử thai phụ khoa và các bệnh lý nền đã được loại trừ theo tiêu chuẩn nghiên cứu.

Tuổi thai được tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối đến ngày sinh, đặc biệt đối với những thai phụ có chu kỳ kinh nguyệt đều đặn là 28 ngày Việc ghi nhớ chính xác ngày bắt đầu kỳ kinh cuối sẽ giúp xác định tuổi thai một cách chính xác hơn Điều quan trọng là nắm rõ quy trình tính tuổi thai để theo dõi sự phát triển của thai nhi hiệu quả và lên kế hoạch khám thai phù hợp.

Dựa vào 33 chu kỳ kinh cuối hoặc tuổi thai theo siêu âm sàng lọc trong ba tháng đầu đối với những thai phụ không nhớ chính xác chu kỳ kinh cuối hoặc có kinh nguyệt không đều Khám lâm sàng giúp thu thập các dấu hiệu của nhiễm trùng tiết niệu như đỏ tấy lỗ niệu đạo, viêm âm đạo và âm hộ, tiểu máu, tiểu mủ, đồng thời theo dõi các biến chứng hậu sản của mẹ và thai nhi trong quá trình nằm viện.

Sau khi thai phụ được chẩn đoán nhiễm trùng tiểu và điều trị tại BVPS Thành Phố Cần Thơ, bác sĩ tiến hành theo dõi triệu chứng và đánh giá hiệu quả điều trị sau một tuần Việc xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu giúp đánh giá chính xác đáp ứng điều trị và tình trạng sức khỏe của thai phụ Quá trình theo dõi này là bước quan trọng để đảm bảo an toàn cho mẹ và thai nhi trong quá trình điều trị nhiễm trùng tiểu.

Chọn những thai phụ thỏa điều kiện vào nhóm nghiên cứu Thu thập số liệu vào phiếu thu thập theo các bước sau:

 Tiền sử bản thân của thai phụ:

+ Các bệnh lý phụ khoa, các bệnh nội ngoại khoa, mang gen đột biến liên quan đến các dị tật bẩm sinh

+ Tiền sử sản khoa: Số lần sẩy thai, thai chết lưu, thai trứng, thai bị dị tật bẩm sinh

+ Tiền sử nhiễm trùng tiểu ngoài và trong thai nghén

- Khám lâm sàng: Bao gồm khám toàn thân và khám thai

Y đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu này không vi phạm đạo đức y học vì các đối tượng tham gia được giải thích rõ về mục tiêu nghiên cứu và tham gia dựa trên tinh thần tự nguyện của bệnh nhân Các bệnh nhân hoàn toàn có quyền từ chối tham gia bất kỳ giai đoạn nào của nghiên cứu mà không ảnh hưởng đến chế độ tư vấn, thăm khám và điều trị của họ Điều này đảm bảo tính minh bạch, tôn trọng quyền của bệnh nhân và tuân thủ các quy định đạo đức nghiên cứu y học.

Các thủ thuật lấy bệnh phẩm không xâm hại đến bệnh nhân

Các thông tin cá nhân hoàn toàn bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu

Sau khi hoàn thành phỏng vấn bằng bảng câu hỏi, tất cả các trường hợp đều nhận được tư vấn về kiến thức và hành vi phòng ngừa bệnh đúng cách, giúp nâng cao ý thức tự bảo vệ sức khỏe Những trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh sẽ được kê đơn thuốc theo đúng phác đồ điều trị chuyên nghiệp, đảm bảo hiệu quả và an toàn cho người bệnh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố theo nhóm tuổi của thai phụ

Độ tuổi trung bình của thai phụ bị nhiễm trùng tiểu là từ 25 đến 35 tuổi Trong đó, tỷ lệ nhiễm trùng tiểu cao nhất nằm ở nhóm tuổi 25-30 (34,41%), tiếp theo là nhóm dưới 25 tuổi (21,51%), nhóm 30-35 tuổi chiếm 29,03%, còn nhóm trên 35 tuổi có tỷ lệ thấp nhất là 15,05%.

Tuổi thấp nhất là 17 tuổi, tuổi cao nhất là 41 tuổi

Biểu đồ 3.1 Phân bố theo nơi cƣ ngụ của thai phụ

Thai phụ bị nhiễm trùng tiểu ở nông thôn chiếm 53,76%

Thai phụ bị nhiễm trùng tiểu ở thành thị chiếm 46,24%

Bảng 3.2 Phân bố theo nghề nghiệp của thai phụ

Phân bố nơi cư ngụ của thai phụ

Các thai phụ làm nghề công nhân viên chức chiếm tỷ lệ thấp nhất, chỉ khoảng 10,75%, trong khi nghề buôn bán chiếm khoảng 20,43% Phần lớn các thai phụ thuộc nông dân và các nghề khác, chiếm tỷ lệ lên đến 68,81%.

Bảng 3.3 Phân bố theo trình độ học vấn của thai phụ

Trình độ học vấn Tần số

Trong tổng số dân, tỷ lệ người có trình độ học vấn trung học cơ sở cao nhất đạt 72,04%, tiếp theo là trung học phổ thông với 22,58%, trong khi đó, trình độ dưới trung học cơ sở chiếm 5,38% Đặc biệt, không có trường hợp mù chữ nào được ghi nhận trong khảo sát này.

Bảng 3.4 Phân bố theo kinh tế của thai phụ

Nghèo – cận nghèo 2 2,15 Đủ ăn – khá giả 91 97,85

Nhận xét: Đa số các thai phụ thuộc nhóm kinh tế từ đủ ăn - khá giả trở lên (97,85%), nghèo – cận nghèo (2,15%)

Bảng 3.5 Phân bố theo chỉ số sinh trắc học của mẹ

- Về cân nặng, đa số thai phụ có cân nặng trong khoảng từ 55 - 65kg (chiếm 49,46%)

- Về chiều cao, đa số chiều cao của thai phụ từ >5cm trở lên (chiếm 70,97%)

- Về BMI, cao nhất ở nhóm thai phụ có BMI trung bình (chiếm 53,76%) và nhóm thừa cân đứng thứ 2 (chiếm 43,01%), béo phì (chiếm 2,15%)

3.2.8 Đặc điểm thai kỳ và tiền căn sản khoa

Bảng 3.6 Tuổi thai và số lần mang thai

- Tuổi thai chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 32-37 tuần (43,01%), kế đến là 28 -

- Số lần có thai từ 1 đến 2 lần chiếm tỷ lệ cao nhất (81,72%), thấp nhất là

Bảng 3.7 Tiền sử sinh non và sẩy thai

Tiền sử sinh non Có 8 8,60 không 85 91,40

Tiền sử sẩy thai Có 17 18,28 không 76 81,72

- Nhóm thai phụ có tiền sử sinh non chiếm 8,60%, không có tiền sử sinh non (91,40%)

- Nhóm thai phụ có tiền sử có sẩy thai chiếm 18,28%, không có tiền sử sẩy thai (81,72%)

Bảng 3.8 Số lần khám thai và nơi khám thai

- Số lần khám thai: đa số các thai phụ khám thai từ 4-6 lần trong thai kỳ (48,39%), nhỏ hơn 4 lần (18,28%), lớn hơn 6 lần (3333%)

- Nơi khám thai: khám thai nhiều nhất là ở bệnh viện (81,72%), phòng khám tư và trạm y tế chiếm tỉ lệ tương đương lần lượt là: 9,68% và 8,6%

Bảng 3.9 Tiền sử nhiễm trùng tiểu Tiền sử nhiễm trùng tiểu Tần số

Các thai phụ có tiền sử nhiễm trùng tiểu chiếm tỉ lệ là 37,63%, không có tiền sử nhiễm trùng tiểu chiếm 62,37%

Bảng 3.10 Tiền sử vệ sinh thai nghén

Nước sinh hoạt Đã xử lý 86 92,47

Sinh hoạt tình dục khi mang thai

- Nước sinh hoạt đã được xử lý chiếm tỷ lệ cao 92,47%, nước chưa xử lý chiếm 7,53%

- Có sinh hoạt tình dục khi mang thai chiếm tỉ lệ 94,62%, không sinh hoạt tình dục khi mang thai chiếm 5,38%

Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng ở thai phụ bị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng

Bảng 3.11 Triệu chứng cơ năng nhiễm trùng tiểu

Tỉ lệ (%) Đau hạ vị 57 61,29

Tiểu nhiều lần 9 9,68 Đau hông lƣng 1 1,08

Nhận xét : Đa số các thai phụ điều có triệu chứng cơ năng là đau hạ vị (61,29%), tiểu gắt buốt (38,71%), tiểu nhiều lần (9,68%), đau hông lƣng ít gặp hơn (1,08%)

Bảng 3.12 Triệu chứng tại chỗ

Tỉ lệ (%) Đỏ tấy lỗ niệu đạo 13 13,98

Hầu hết các thai phụ đều gặp phải các triệu chứng tại chỗ, trong đó viêm âm đạo chiếm tỷ lệ cao nhất (86,02%) Tiếp theo là tình trạng đỏ tấy lỗ niệu đạo, chiếm 13,98% Ngoài ra, có một trường hợp bị tiểu máu (1,08%) và không ghi nhận trường hợp nào có triệu chứng tiểu mủ.

3.3.2 Triệu chứng cận lâm sàng

Bảng 3.13 Sinh hóa nước tiểu

Trong sinh hóa nước tiểu, đa số các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu đều có tăng bạch cầu trong nước tiểu (96,97%), cho thấy dấu hiệu viêm nhiễm rõ rệt Ngoài ra, có sự thay đổi môi trường pH nước tiểu (83,87%), cùng với sự xuất hiện của nitrit (16,13%) và protein niệu (17,20%), phản ánh tình trạng nhiễm trùng hoặc viêm nhiễm Một số trường hợp còn ghi nhận có hồng cầu (4,3%) và glucose (3,23%), cho thấy các biến đổi sinh hóa đặc trưng của nhiễm trùng đường tiết niệu.

Bảng 3.14 Kết quả cấy nước tiểu

Kết quả cấy nước tiểu

- Tỉ lệ cấy nước tiểu cho kết quả dương tính của các thai phụ 3 tháng cuối thai kỳ là 17,2%

- Trong số 16 thai phụ cấy nước tiểu có kết quả có kết quả dương tính thì: E.coli chiếm tỉ lệ cao nhất (81,25%), Staphylococcus (chiếm 12,5%) và Streptococcus (chiếm 6,25%)

- Số lƣợng vi khuẩn ≥ 10 5 VK/ml (81,25%), từ 10 3 – 10 5 VK/ml (18,75%), và không có trường hợp nào < 10 3 VK/ml

Trong số 16 trường hợp cấy nước tiểu dương tính, có 10 trường hợp (62,5%) nhạy với kháng sinh Cefepime, cho thấy hiệu quả điều trị cao đối với loại thuốc này Ngoài ra, có 6 trường hợp (37,5%) nhạy cả với Cefepime và Nitrofurantoin, đảm bảo lựa chọn linh hoạt trong việc điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu Những kết quả này cung cấp thông tin quan trọng về khả năng kháng thuốc và lựa chọn kháng sinh phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị các bệnh nhiễm trùng đường tiểu.

Kết quả điều trị

Bảng 3.16 Kháng sinh điều trị

Kháng sinh đƣợc sử dụng nhiều nhất là Cefepim (49,46%), kế đến là Nitrofurantoin (30,11%), thấp nhất là Amoxcixilin + Acid clavulanic (20,43%)

Bảng 3.17 Số ngày giảm triệu chứng

Số ngày giảm triệu chứng nhƣ sau: sau 2 ngày chiếm 16,13%, sau 3 ngày chiếm 30,11%, sau 4 ngày chiếm 24,73%, sau 5 ngày chiếm 10.75%, sau 7 ngày chiếm 18,28%

Hơn 80% giảm triệu chứng sau 5 ngày điều trị

Bảng 3.18 Biến chứng nhiễm trùng tiểu lên thai

Không ghi nhận có trường hợp nào có biến chứng nhiễm trùng tiểu lên thai

Đánh giá các yếu tố liên quan

Bảng 3.19 Liên quan số lần khám thai và nhiễm trùng tiểu

Kết quả cấy nước tiểu

- Nhóm khám thai dưới 4 lần: có 4 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (23,53%) và 13 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (76,47%)

- Nhóm khám thai từ 4 – 6 lần: có 12 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (26,67%) và 33 trường hợp thuộc cấy nước tiểu âm tính (73,33%)

Nhóm khám thai từ 6 lần trở lên không ghi nhận trường hợp nào có cấy nước tiểu dương tính, trong khi có 31 trường hợp (100%) cấy nước tiểu âm tính, cho thấy tần suất xét nghiệm cao không gây ra nhiều trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu ở nhóm này.

Bảng 3.20 Liên quan nguồn nước sinh hoạt và nhiễm trùng tiểu

Kết quả cấy nước tiểu Tổng

- Nhóm thai phụ sinh hoạt với nguồn nước đã xử lý: có 14 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (16,28%) và 72 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (83,72%)

Nhóm thai phụ sinh hoạt với nguồn nước chưa được xử lý gặp phải các vấn đề liên quan đến nhiễm khuẩn đường tiết niệu Trong đó, có 2 trường hợp พบ cấy nước tiểu dương tính, chiếm tỷ lệ 28,57%, cho thấy sự xuất hiện của vi khuẩn gây nhiễm trùng Ngoài ra, còn có 5 trường hợp cấy nước tiểu âm tính, chiếm 71,43%, phản ánh tình trạng không nhiễm trùng rõ ràng Việc sử dụng nguồn nước chưa qua xử lý có thể góp phần tăng nguy cơ nhiễm khuẩn ở thai phụ, ảnh hưởng đến sức khỏe mẹ và thai nhi Do đó, cần nâng cao ý thức về vệ sinh nguồn nước để giảm thiểu các nguy cơ nhiễm khuẩn, đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng.

Bảng 3.21 Liên quan giữa sinh hoạt tình dục khi mang thai và nhiễm trùng tiểu Kết quả cấy nước tiểu Tổng

Có sinh hoạt tình dục

Không sinh hoạt tình dục

- Nhóm có sinh hoạt tình dục khi mang thai: có 15 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (17,05%) và 73 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (82,95%)

- Nhóm không có sinh hoạt tình dục khi mnag thai: có 1 trường hợp cấy nước nước tiểu dương tính (20,00%) và 4 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (80,00%)

Bảng 3.22 Liên quan tiền sử nhiễm trùng tiểu và lần mang thai này Tiền sử nhiễm trùng tiểu

Kết quả cấy nước tiểu Tổng

- Nhóm có tiền sử nhiễm trùng tiểu: có 6 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (17,14%) và 29 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (82,86%)

- Nhóm không có tiền sử nhiễm trùng tiểu: có 10 trường hợp cấy nước tiểu dương tính (17,24%) và có 48 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (82,76%)

Bảng 3.23 Liên quan số lần sanh với nhiễm trùng tiểu

Số lần sanh Kết quả cấy nước tiểu Tổng

- Nhóm sanh < 1 lần: có 1 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (8,33%) và 11 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (91,67%)

- Nhóm sanh từ 1 – < 3 lần: có 14 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (18,42%) và 62 trường hợp thuộc cấy nước tiểu âm tính (81,58%)

- Nhóm sanh >= 3 lần: có 1 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (20%) và có 4 trường hợp thuộc cấy nước tiểu âm tính (80%)

Bảng 3.24 Liên quan nơi khám thai với nhiễm trùng tiểu

Nơi khám thai Kết quả cấy nước tiểu Tổng

- Nhóm khám thai ở phòng khám tư: không có trường hợp nào thuộc cấy nước tiểu dương tính (0%) và 9 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (100%)

- Nhóm khám thai ở trạm y tế: có 3 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (37,5%) và 5 trường hợp thuộc cấy nước tiểu âm tính (62,5%)

- Nhóm khám thai ở bệnh viện: có 13 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (17,11%) và có 63 trường hợp thuộc cấy nước tiểu âm tính (82,89%)

Bảng 3.25 Liên quan tiền sử sẩy thai với nhiễm trùng tiểu

Tiền sử sẩy thai Kết quả cấy nước tiểu Tổng

- Nhóm có tiền sử sẩy thai: có 4 trường hợp nào thuộc cấy nước tiểu dương tính (23,53%) và 13 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (76,47%)

- Nhóm không có tiền sử sẩy thai: có 12 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (15,79%) và 64 trường hợp thuộc cấy nước tiểu âm tính (84,21%)

Bảng 3.26 Liên quan tiền sử sinh non với nhiễm trùng tiểu

Kết quả cấy nước tiểu Tổng

- Nhóm có tiền sử sinh non: có 2 trường hợp nào thuộc cấy nước tiểu dương tính (25,00%) và 6 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (75,00%)

- Nhóm không có tiền sử sinh non: có 14 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (16,47%) và 77 trường hợp thuộc cấy nước tiểu âm tính (82,80%)

Bảng 3.27 Liên quan tuổi thai với nhiễm trùng tiểu

Kết quả cấy nước tiểu Tổng

- Nhóm có tuổi thai < 32 tuần: có 8 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (23,53%) và 26 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (76,47%)

- Nhóm có tuổi thai từ 32 - < 36 tuần: có 3 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (10,34%) và 26 trường hợp thuộc cấy nước tiểu âm tính (89,66%)

- Nhóm có tuổi thai >= 36 tuần: có 5 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (16,67%) và có 25 trường hợp thuộc cấy nước tiểu âm tính (83,33%)

BÀN LUẬN

Tỉ lệ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ là 4,71%, cao hơn so với kết quả của tác giả Phạm Ngọc Điệp tại Bệnh viện Từ Dũ (1,17%) Sự khác biệt này có thể xuất phát từ đặc điểm đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nông dân có điều kiện kinh tế thấp.

Nhƣng theo tác giả Cunnigham tỉ lệ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng của chúng tôi là tương đương (4%)

Và kết quả của chúng tôi cũng tương đương với kết quả của tác giả

Nguyễn Tiến Minh nghiên cứu có 206 thai phụ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng tại BV Nguyễn Tri Phương với tỷ lệ 4,27%[6].

Đặc điểm chung của thai phụ bị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng

Tuổi trung bình của thai phụ bị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng là 25 –

30 tuổi Tuổi thấp nhất là 17 tuổi, cao nhất là 41 tuổi

Thai phụ ở độ tuổi 25 - 30 bị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng nhiều nhất (34,41%) Lứa tuổi trên 35 bị bệnh thấp nhất (15,05%) và độ tuổi dưới 25 cũng ít bị bệnh (21,51%)

Souza RB và cộng sự ghi nhận trên 134 thai phụ từ 15-40 tuổi (trung bình 26,7 tuổi)

Nguyễn Tiến Minh nghiên cứu trên 206 thai phụ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng tại BV Nguyễn Tri Phương, tuổi thai phụ trung bình 27±4,9 tuổi[6]

Sự khác biệt trên có thể do độ tuổi mang thai nhiều nhất là 25 - 30 tuổi còn tuổi mang thai ít nhất là dưới 20 và trên 35 tuổi

Theo nghiên cứu của nhiều tác giả, tuổi sinh đẻ không liên quan tới sự xuất hiện của nhiễm trùng tiểu có triệu chứng

Các thai phụ bị nhiễm trùng tiểu ở nông thôn cao hơn các thai phụ bị nhiễm trùng tiểu ở thành thị

Các thai phụ ở nông thôn: 53,76%, thành thị: 46,24%

Tỷ lệ này phù hợp với điều kiện tại Bệnh Viện Phụ Sản Thành phố Cần Thơ, nơi đón tiếp đông đảo các thai phụ là nông dân đến từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long để khám và điều trị.

Nhóm thai phụ nhiễm trùng tiểu cao nhất là ở nhóm có nghề nghiệp thuộc nghề khác: chủ yếu nội trợ (35,48%), thấp nhất là công viên chức (10,75%), nông dân cũng chiếm tỉ lệ tương đương với các thai phụ có nghề nghiệp khác (33,33%)

Sự khác biệt này có thể xuất phát từ nhận thức và ý thức vệ sinh cá nhân của thai phụ còn hạn chế Ngoài ra, nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Phụ Sản Thành phố Cần Thơ, nơi đa số các thai phụ là nông dân và cư dân nông thôn, điều này cũng ảnh hưởng đến kết quả của chúng tôi.

Trình độ học vấn có tỷ lệ cao nhất là trung học cơ sở (72,04%), dưới THCS (5,38%), trung học phổ thông (22,58%)

Mặc dù trình độ dân trí của người dân Việt Nam đang ngày càng phát triển và đã xóa bỏ được nạn mù chữ, nhưng đa số dân cư Đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn có trình độ dân trí khá thấp Tỷ lệ này phù hợp với đặc điểm tình hình dân trí của vùng đồng bằng, góp phần phản ánh rõ nét sự phát triển chậm hơn của khu vực so với các vùng khác trong cả nước.

Nhóm thai phụ có điều kiện kinh tế đủ ăn – khá giả có tỉ lệ cao nhất (97,85%)

Các thai phụ có kinh tế càng cao càng có điều kiện và quan tâm đến việc khám thai, nên tỷ lệ phát hiện bệnh ở nhóm nay cao hơn

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, điều kiện kinh tế không ảnh hưởng đến sự xuất hiện của nhiễm trùng tiểu có triệu chứng Sự chênh lệch trong tỷ lệ mắc bệnh theo mức độ kinh tế là không có ý nghĩa thống kê, cho thấy các yếu tố xã hội kinh tế không phải là yếu tố quyết định chính gây bệnh.

Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng thai phụ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng

Theo nghiên cứu của chúng tôi, nhiễm trùng tiểu có triêu chứng gặp ở tất cả các nhóm tuổi thai từ 28 - 40 tuần

Tuổi thai chiếm tỉ lệ cao nhất là 32-37 tuần (43,01%), kế đến là 28 - 32 tuần (36,56%), thấp nhất >7 tuần (20,43%)

Nguyễn Tiến Minh nghiên cứu trên 206 thai phụ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng tại BV Nguyễn Tri Phương 34,7% sản phụ tuổi thai ≥36 tuần[6]

Tỷ lệ mắc nhiễm trùng tiểu không khác biệt rõ ràng giữa các nhóm tuổi thai, cho thấy không có ý nghĩa thống kê đáng kể Nhiễm trùng tiểu có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn thai kỳ nào, bất kể tuổi thai Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và phòng ngừa nhiễm trùng tiểu trong suốt quá trình mang thai để đảm bảo sức khỏe mẹ và bé.

Chúng tôi đề nghị thực hiện cấy nước tiểu cho các thai phụ để chẩn đoán nhiễm trùng tiểu nhằm phát hiện sớm và điều trị kịp thời các trường hợp mắc bệnh Phương pháp này giúp tránh các biến chứng nguy hiểm cho mẹ và thai nhi trong thời kỳ thai nghén, quá trình chuyển dạ và sau đẻ.

Nhóm có số lần mang thai từ 1-=3 lần (5,38%)

Số lần sinh con trung bình của các thai phụ bị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng là 1-3 lần, không có thai phụ nào sinh con lần thứ 4

Tỷ lệ bị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng cao nhất ở nhóm sinh con lần đầu (81,72%) và thấp nhất ở nhóm sinh con thứ 3 trở lên (5,38%)

Nguyễn Tiến Minh nghiên cứu trên 206 thai phụ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng tại BV Nguyễn Tri Phương, 63,3% có thai lần đầu bị nhiễm trùng tiểu[6]

Các bà mẹ sinh con lần đầu thường chú trọng hơn đến việc khám thai định kỳ, đi khám nhiều hơn nhằm theo dõi sức khỏe thai nhi và bản thân Chính vì vậy, họ có khả năng được phát hiện bệnh sớm hơn so với những người đã sinh nhiều lần Việc quan tâm đến khám thai kỹ lưỡng giúp tăng khả năng phát hiện các vấn đề sức khỏe sớm, đảm bảo thai kỳ an toàn hơn.

Tuy nhiên, theo các tác giả, số lần đẻ (con so, con rạ ) không liên quan tới sự xuất hiện của nhiễm trùng tiểu có triệu chứng

4.3.1.3 Tiền sử sinh non và sẩy thai

Nhóm các thai phụ có tiền sử sinh non (8,6%), không có tiền sử sinh non (91,4%)

Nhóm thai phụ có tiền sử sẩy thai (18,28%), không có tiền sử sẩy thai (81,72%)

Dựa trên nghiên cứu của chúng tôi, chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử sinh non và tiền sử sẩy thai với nguy cơ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng Các kết quả này cho thấy rằng các yếu tố tiền sử này không có ảnh hưởng rõ ràng đến khả năng mắc nhiễm trùng tiểu, góp phần làm rõ mối liên hệ giữa yếu tố tiền sử và bệnh lý này trong cộng đồng.

Các nghiên cứu trước đây của các tác giả chưa ghi nhận mối liên hệ rõ ràng giữa tiền sử sinh non, sẩy thai của thai phụ và các yếu tố liên quan đến nhiễm trùng tiết niệu có triệu chứng Điều này cho thấy cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ tác động của các yếu tố tiền sử này đối với nguy cơ mắc nhiễm trùng tiết niệu trong thai kỳ Việc hiểu rõ mối liên hệ giúp cải thiện chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ mang thai và phòng ngừa các biến chứng liên quan.

4.3.1.4 Số lần khám thai và nơi khám thai

- Số lần khám thai: cao nhất là 4-6 lần (48,39%), thấp nhất là = 36 tuần: cấy nước tiểu dương tính (16,67%) và cấy nước tiểu âm tính (83,33%)

Tất cả các thai phụ đều cần được chẩn đoán nhiễm trùng tiết niệu bằng phương pháp cấy nước tiêu vào lần khám thai đầu tiên để đảm bảo chăm sóc toàn diện cho sức khỏe của mẹ và thai nhi Theo các chuyên gia như Wadland WC và Plante DA, việc chẩn đoán nhiễm trùng tiểu ngay từ lần khám thai đầu tiên trở thành một tiêu chuẩn quan trọng trong quản lý thai nghén, giúp phát hiện và điều trị kịp thời các vấn đề liên quan đến nhiễm trùng tiết niệu trong quá trình thai kỳ.

4.5.2 Liên quan giữa sinh hoạt tình dục khi mang thai và nhiễm trùng tiểu

- Nhóm có sinh hoạt tình dục khi mang thai: có 15 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (17,05%) và 73 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (82,95%)

- Nhóm không có sinh hoạt tình dục khi mang thai: có 1 trường hợp cấy nước nước tiểu dương tính (20,00%) và 4 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (80,00%)

Các tác giả cho rằng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sinh hoạt tình dục khi mang thai và nhiễm trùng tiểu có triệu chứng Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi chưa xác nhận rõ mối liên hệ này, có thể do kích thước mẫu nghiên cứu còn hạn chế Cần thực hiện các nghiên cứu với quy mô lớn hơn để làm rõ hơn về mối liên hệ này.

4.5.3 Liên quan tiền sử nhiễm trùng tiểu và lần mang thai này

- Nhóm có tiền sử nhiễm trùng tiểu: có 6 trường hợp thuộc cấy nước tiểu dương tính (17,14%) và 29 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (82,86%)

- Nhóm không có tiền sử nhiễm trùng tiểu: có 10 trường hợp cấy nước tiểu dương tính (17,24%) và có 48 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (82,76%)

Theo đa số tác giả có sự liên quan giữa đã từng có tiền sử nhiễm trùng tiểu với nhiễm trùng tiểu có triệu chứng Tuy nhiên, ở nghiên cứu của chúng tôi chƣa thể hiện rõ có thể do mẫu nghiên cứu của chúng tôi còn ít cần có cỡ mẫu nghiên cứu lớn hơn để làm rõ vấn đề này

4.5.4 Liên quan số lần sanh với nhiễm trùng tiểu

Số lần sinh con trung bình của các thai phụ bị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng là 1,5 không có thai phụ nào sinh con lần thứ 4

Tỷ lệ bị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng cao nhất ở nhóm sinh con lần đầu (81,72%), tiếp theo là nhóm sinh con thứ hai (12,90%), trong khi thấp nhất là nhóm sinh con thứ ba (5,38%) Nghiên cứu của Đặng Thị Ngọc Dung và Vũ Thị Dương Liễu tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội cho thấy, số lần sinh trung bình của các phụ nữ trong nhóm nghiên cứu là 1,44±0,53, trong đó có một thai phụ sinh con thứ ba.

Nguyễn Tiến Minh nghiên cứu trên 206 thai phụ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng tại BV Nguyễn Tri Phương, 63,3% có thai lần đầu bị nhiễm trùng tiểu[6]

Các bà mẹ sinh con lần đầu hoặc lần hai thường quan tâm nhiều hơn đến việc khám thai, đi khám nhiều hơn, do đó có khả năng được phát hiện bệnh nhiễm trùng tiểu sớm hơn Tuy nhiên, theo các tác giả, số lần sinh nở (sinh con solo hoặc sinh con dạ) không có mối liên hệ rõ rệt với sự xuất hiện của các triệu chứng nhiễm trùng tiểu.

4.5.5 Liên quan tiền sử sẩy thai với nhiễm trùng tiểu

- Nhóm có tiền sử sẩy thai: có 4 trường hợp nào thuộc cấy nước tiểu dương tính (23,53%) và 13 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (76,47%)

Trong nhóm không có tiền sử sẩy thai, có 12 trường hợp (15,79%) xét nghiệm nước tiểu dương tính, trong khi đó 64 trường hợp (84,21%) xét nghiệm nước tiểu âm tính Các nghiên cứu của đa số tác giả cho thấy rằng, tiền sử sẩy thai không có mối liên hệ rõ ràng với nhiễm trùng đường tiết niệu.

4.5.6 Liên quan tiền sử sinh non với nhiễm trùng tiểu

- Nhóm có tiền sử sinh non: có 2 trường hợp nào thuộc cấy nước tiểu dương tính (25,00%) và 6 trường hợp cấy nước tiểu âm tính (75,00%)

Trong nhóm không có tiền sử sinh non, có 14 trường hợp (16,47%) có kết quả cấy nước tiểu dương tính, trong khi 77 trường hợp (82,80%) có kết quả cấy nước tiểu âm tính Nhiều nghiên cứu cho thấy, tiền sử sinh non không liên quan đáng kể đến nguy cơ nhiễm trùng tiểu.

Tác nhân gây bệnh

Chúng tôi đã phân lập thành công ba loại vi khuẩn gây nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ mang thai, trong đó Escherichia coli (E coli) chiếm tỷ lệ cao nhất với 81,25% Staphylococcus là tác nhân thứ hai, chiếm 12,5%, còn Streptococcus chiếm 6,25% Phân tích này giúp hiểu rõ hơn về các nguyên nhân chính gây nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ mang thai, từ đó thúc đẩy các chiến lược phòng ngừa và điều trị hiệu quả hơn.

Theo nghiên cứu của M A Sheikh và cộng sự về nhiễm trùng tiểu ở 250 thai phụ, thấy Staphylococcus là nguyên nhân chính gây bệnh còn E Coli là nguyên nhân thứ 2 [49]

Mohammad M và cộng sự nghiên cứu thấy: E coli là vi khuẩn chủ yếu gây nhiễm trùng tiểu triệu chứng ở phụ nữ có thai (chiếm 40%), sau đó là

Klebsiella và Streptococcus nhóm B (chiếm 15%) [54]

Theo M Beaufis, E coli chiếm 80% các vi khuẩn gây nhiễm trùng tiểu triệu chứng ở phụ nữ có thai [52]

Theo nghiên cứu của Jamie WE và cộng sự, nguyên nhân chính gây nhiễm trùng tiểu triệu chứng hoặc viêm bàng quang ở phụ nữ có thai là E coli (chiếm 75%) [44]

Mtimavalye LA và cộng sự nghiên cứu nhiễm trùng tiểu có triệu chứng ở

1007 thai phụ thấy E coli là nguyên nhân chính gây bệnh, (chiếm tỷ lệ

Nghiên cứu của Gebre - Selassie về nhiễm trùng tiểu có triệu chứng ở 326 phụ nữ mang thai cho thấy E coli là nguyên nhân hàng đầu, chiếm tỉ lệ 46% Staphylococci đứng thứ hai với 33%, tiếp theo là Citrobacter với 8% Các kết quả này giúp nhận biết các tác nhân chính gây nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ mang thai để có phương pháp chẩn đoán và điều trị hiệu quả.

Staphylococcus aureus, Enterobacter và Proteus (4%) [30]

Theo nghiên cứu của Blomberg B trên 5.153 thai phụ, vi khuẩn Gram âm là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm trùng đường tiểu có triệu chứng, chiếm tới 71 trong số 107 trường hợp Trong đó, Escherichia coli (E coli) là tác nhân chính, chiếm gần 25% tổng số ca bệnh, theo sau là Enterococcus Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phòng ngừa và chẩn đoán sớm các nhiễm trùng đường tiểu ở phụ nữ mang thai để giảm thiểu biến chứng.

M A Sheikh và cộng sự thấy Streptococcus nhóm B là nguyên nhân gây nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ có thai với tỷ lệ khoảng 5% [49]

Theo Cunnigham với tác nhân E coli chiếm 75- 80%, Klebsiella 10%[37]

Tác giả Jesus tác nhân E coli (79%)[33]

Các tác giả cho biết, vi khuẩn Gram âm, đặc biệt là E coli, gây nhiễm trùng tiểu có triệu chứng ở phụ nữ mang thai nhiều hơn so với vi khuẩn Gram dương Nghiên cứu của Đặng Thị Ngọc Dung và Vũ Thị Dương Liễu tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội từ năm 2010 đến 2015 cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng tiểu chiếm 16,3% trong số 251 thai phụ có bạch cầu niệu (+++), trong đó vi khuẩn E coli chiếm nhiều nhất với tỷ lệ 44,68% Các vi khuẩn khác như Klebsiella và Staphylococcus-saprophyticus cũng được ghi nhận, với tỉ lệ lần lượt là 12,77% Phân tích cho thấy, tỷ lệ vi khuẩn Gram âm gây nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ mang thai đạt tới 76,6%, chủ yếu là E coli.

Nguyễn Tiến Minh nghiên cứu trên 206 thai phụ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng tại BV Nguyễn Tri Phương, E.coli gặp 38,1%, S aureus

33,3%[6], còn lại là trực khuẩn Gr(-) chiếm < 10%[6]

Kết quả của chúng tôi có thể khác biệt so với các tác giả khác do sự khác biệt về quy mô mẫu nghiên cứu, chủng tộc hoặc đặc điểm khí hậu của từng khu vực Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến kết quả và làm nổi bật tính đa dạng trong các nghiên cứu Việc xem xét các yếu tố môi trường và dân tộc giúp nâng cao tính chính xác và độ tin cậy của các phát hiện trong nghiên cứu.

Phác đồ điều trị 71 KIẾN NGHỊ

- Nhóm sử dụng Amoxcixillin + acid aclavulanic: có 19% cấy nước tiểu âm tính

- Nhóm sử dụng Cefepime: có 26,09% thuộc cấy nước tiểu dương tính và 73,91% thuộc cấy nước tiểu âm tính

Trong nhóm sử dụng Nitrofurantoin, có 14,29% trường hợp có kết quả cấy nước tiểu dương tính, trong khi đó 85,71% là cấy nước tiểu âm tính Hiện nay, tại Việt Nam, có nhiều loại kháng sinh được sử dụng để điều trị nhiễm trùng đường tiểu ở phụ nữ mang thai, bao gồm Ampicillin, Amoxicillin, Trimetoprim-Sulfamethoxazole, Cephalexin và Nitrofurantoin.

Các nghiên cứu gần đây trên toàn thế giới cho thấy tỷ lệ kháng thuốc của vi khuẩn đối với Ampicillin và kháng thế hệ 1 của Cephalosporin đã lên tới 40%, trong khi kháng Nitrofurantoin còn khá thấp Hiện nay, Nitrofurantoin là thuốc hàng đầu trong điều trị Nhiễm trùng đường tiết niệu (NTT) vì có phổ kháng khuẩn rộng, hiệu quả chống cả vi khuẩn gram âm và gram dương Theo các nghiên cứu, hoạt động của Nitrofurantoin dựa trên cơ chế ức chế enzym hoạt động của vi khuẩn, ngăn chặn quá trình tổng hợp DNA và RNA, đồng thời ức chế chuyển hóa đường và enzyme tổng hợp protein Khi sử dụng cùng bữa ăn, hoạt tính sinh học của Nitrofurantoin tăng lên khoảng 40% Nhờ khả năng hấp thu và bài tiết nhanh qua thận, thuốc mang lại hiệu quả điều trị cao trong các trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu.

Nitrofurantoin là thuốc kháng khuẩn đường tiết niệu có hiệu quả cao trong việc điều trị nhiễm trùng Theo Guya, khi dùng Nitrofurantoin, ít tác dụng phụ như buồn nôn (8%), đau đầu (6%) và đầy hơi (1,5%) Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc sử dụng Nitrofurantoin cho thai phụ không gây nguy cơ nào cho thai nhi.

Từ 35 năm nay, Nitrofurantoin đuợc dùng để điều trị nhiễm trùng tiểu, đặc biệt nhiễm trùng tiểu cấp, nhiễm trùng tiểu tái phát và nhiễm trùng tiểu không triệu chứng ở phụ nữ có thai

Nitrofuratoin là kháng sinh lý tưởng và an toàn trong thai kỳ Do tỉ lệ kháng thuốc rất thấp nên đây là kháng sinh đƣợc dùng nhiều nhất điều trị nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ có thai Tuy nhiên nitrofurantoin có tác dụng kém với chủng Proteus và có nhiều tác dụng phụ lên hệ tiêu hóa

Nitrofurantoin hiện nay là lựa chọn hàng đầu để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ mang thai, nhờ vào tính an toàn cao và khả năng ít phát triển kháng thuốc Sử dụng Nitrofurantoin trong thai kỳ không gây nguy cơ quái thai hoặc bất kỳ tác dụng phụ nghiêm trọng nào đối với thai nhi, đảm bảo sự an toàn cho mẹ và bé.

Chúng tôi ưu tiên sử dụng Nitrofurantoin để điều trị nhiễm trùng tiểu không triệu chứng ở phụ nữ mang thai, ngoại trừ những trường hợp kháng thuốc Lựa chọn này dựa trên hiệu quả và độ an toàn của thuốc trong thai kỳ Việc sử dụng Nitrofurantoin giúp giảm thiểu rủi ro biến chứng cho mẹ và bé, đồng thời đảm bảo quá trình điều trị hiệu quả Tuy nhiên, cần xem xét tình trạng kháng thuốc để đảm bảo hiệu quả điều trị tối ưu.

Nghiên cứu của M A Sheikh và cộng sự về nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ mang thai cho thấy vi khuẩn gây bệnh nhạy cảm nhất với nhóm quinolon (83%), tiếp theo là nhóm Aminoglycoside (76-79%) và Ampicillin (43%), giúp đưa ra hướng điều trị phù hợp và hiệu quả cho phụ nữ mang thai mắc bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu.

Theo John E Delzell và cộng sự, Nitrofurantoin và Cephalexin dùng đường uống là lựa chọn tốt nhất để điều trị nhiễm trùng tiểu không triệu chứng và viêm bàng quang cấp ở phụ nữ có thai [45]

Qua khảo sát 93 trường hợp thai phụ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng ghi nhận:

1 Tỷ lệ nhiễm nhiễm trùng tiểu:

- Tỉ lệ nhiễm trùng tiểu ở thai phụ 3 tháng cuối thai kì là 4,71%

2 Đặc điểm chung của thai phụ:

- Tuổi trung bình của thai phụ trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi là 27 ± 4 tuổi, thấp nhất là 17 tuổi, cáo nhất là 41 tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, những thai phụ lớn tuổi (từ 35 tuổi trở lên), sống ở khu vực ngoại thành, có trình độ học vấn thấp (dưới THCS) và mức sống trung bình đều không ghi nhận có mối liên quan đến tình trạng nhiễm trùng tiểu trong 3 tháng cuối thai kỳ.

Các thai phụ ít đi khám thai và thường xuyên sử dụng nước giếng trong sinh hoạt, cùng với việc có quan hệ tình dục khi mang thai, đều làm tăng đáng kể nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu Các yếu tố này có ý nghĩa thống kê rõ ràng (p=0,04; p=0,02; p=0,01), đòi hỏi các bà mẹ cần chú trọng chăm sóc sức khỏe và đi khám định kỳ để phòng tránh các biến chứng nguy hiểm.

- Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau hạ vị chiếm 61,29%

- Triệu chứng lâm sàng tại chỗ viêm âm đạo là chủ yếu chiếm 86,02%

4 Đặc điểm cận lâm sàng:

- Độ pH nước tiểu nhóm 6,5 – 7 chiếm 83,87%

- Tỉ lệ bạch cầu tồn tại trong nước tiểu chiếm 96,77%

- Kết quả cấy nước tiểu: vi khuẩn E.coli chiếm 81,25%

- Có 49,46% thai phụ đƣợc điều trị bằng kháng sinh Cefepime

5 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm trùng tiểu:

Vấn đề giao hợp khi mang thai, chúng tôi ghi nhận làm tăng tỉ lệ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng

Xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu được xem là một phương tiện tầm soát có hiệu quả, đơn giản, dễ sử dụng

Các yếu tố nguy cơ cao gây nhiễm trùng tiểu gồm tuổi sản phụ ≥ 35, tình trạng kinh tế thấp, tuổi thai ≥ 36 tuần, và tiền sử viêm âm đạo trước đó Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố này và nhiễm trùng tiểu có triệu chứng.

Các yếu tố nhƣ có tiền sử sinh non, tiền sử sẩy thai, số lần sanh chƣa thấy có sự liên quan đến nhiễm trùng tiểu có triệu chứng

- Hơn 80% giảm triệu chứng sau 5 ngày điều trị

- Không ghi nhận có biến chứng nhiễm trùng tiểu lên thai phụ và sơ sinh

Nhiễm trùng tiểu trong 3 tháng cuối thai kỳ có tỷ lệ khoảng 4,7%, là vấn đề thường gặp nhưng dễ dàng được phát hiện qua xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu Việc sử dụng rộng rãi xét nghiệm này như một phương pháp sàng lọc giúp phát hiện sớm và điều trị kịp thời các rối loạn tiết niệu ở thai phụ Điều này góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ mang thai và đảm bảo sức khỏe ban đầu cho trẻ sơ sinh.

Qua đó, từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đề xuất kiến nghị sau:

1 Khuyến cáo sử dụng rộng rãi xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu trong 3 tháng cuối thai kỳ

2 Cấy nước tiểu của phụ nữ có thai khi tuổi thai ở những ba tháng cuối thai kỳ để chẩn đoán nhiễm trùng tiểu có triệu chứng

3 Có thêm các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiễm trùng tiểu có triệu chứng đối với những trường hợp dọa đẻ non, ối vỡ non, ối vỡ sớm.

Ngày đăng: 19/03/2023, 00:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2015), ―Viêm bàng quang cấp‖, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh về thận – tiết niệu, tr.70-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh về thận – tiết niệu
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
2. Bộ Y tế (2015), ―Viêm niệu đạo cấp không do lậu‖, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh về thận – tiết niệu, tr.73-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh về thận – tiết niệu
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
3. Đặng Thị Ngọc Dung, Vũ Thị Dương Liễu (2011), ―Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn tiết niệu ở phụ nữ có thai tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội‖, Y học Việt Nam tháng 5 – Số 1/2011, tr.22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học Việt Nam tháng 5 – Số 1/2011
Tác giả: Đặng Thị Ngọc Dung, Vũ Thị Dương Liễu
Năm: 2011
4. Đặng Thị Ngọc Dung, Vũ Thị Dương Liễu (2011), ―Nồng độ 25(OH)D 3 và Peptide kháng khuẩn nội sinh LL-37 trong huyết thanh phụ nữ có thai bị nhiễm khuẩn tiết niệu‖, Tạp chí nghiên cứu y học Phụ trương 74(3), tr.65-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu y học Phụ trương 74(3)
Tác giả: Đặng Thị Ngọc Dung, Vũ Thị Dương Liễu
Năm: 2011
5. Phạm Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Duy Tài (2009), ―Khảo sát yếu tố liên quan về nhiễm trùng tiểu có triệu chứng trong 3 tháng cuối thai kỳ tại bệnh viện Từ Dũ‖, Y học TP.Hồ Chí Minh, tập 13, số 1-2009: 143-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học TP.Hồ Chí Minh, tập 13, số 1-2009
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Duy Tài
Năm: 2009
6. Nguyễn Tiến Minh, Nguyễn Duy Tài (2016), ―Xác định tỷ lệ nhiễm trùng tiểu có triệu chứng và tác nhân gây bệnh ở 3 tháng cuối thai kỳ tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương‖, Y học TP.Hồ Chí Minh, tập 13, số 1-2016:149-153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học TP.Hồ Chí Minh, tập 13, số 1-2016
Tác giả: Nguyễn Tiến Minh, Nguyễn Duy Tài
Năm: 2016
7. Nguyễn Hoàng Đức (2011), ―Nhiễm trùng tiểu ở phụ nữ có thai‖, Y học thực hành, Thời sự y học 03/2011-số 58, tr.6-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học thực hành, Thời sự y học 03/2011
Tác giả: Nguyễn Hoàng Đức
Năm: 2011
8. Ngô Gia Hy (2010). Nhiễm trùng niệu. Bách khoa thƣ bệnh học tập 3. Nhà xuất bản từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm trùng niệu
Tác giả: Ngô Gia Hy
Nhà XB: Nhà xuất bản từ điển bách khoa
Năm: 2010
9. Ailes E.C. et al (2014), ―Antibiotics Dispensed to Privately Insured Pregnant Women with Urinary Tract Infections — United States, 2014‖, Morbidity and Mortality Weekly Report, January 12, 2018, Vol. 67, No. 1, pp.18-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Morbidity and Mortality Weekly Report, January 12
Tác giả: Ailes E.C. et al
Năm: 2014
10. Ailes E.C et al (2016), ―Association between Antibiotic Use among Pregnant Women with Urinary Tract Infections in the First Trimester and Birth Defects, National Birth Defects Prevention Study 1997 to 2011‖, Birth Defects Res A Clin Mol Teratol. 2016 November; 106(11): 940–949.doi:10.1002/bdra.23570 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Birth Defects Res A Clin Mol Teratol. 2016 November
Tác giả: Ailes E.C et al
Năm: 2016
11. Ako-Nai K.A et al (2014), ―Preponderance of bacterial isolates in urine of HIV-positive malaria-infected pregnant women with urinary tract infection‖, J Infect Dev Ctries 2014; 8(12):1591-1600. doi:10.3855/jidc.4854 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Infect Dev Ctries 2014
Tác giả: Ako-Nai K.A et al
Năm: 2014
12. Alemu A. et al (2012), ―Bacterial profile and drug susceptibility pattern of urinary tract infection in pregnant women at University of Gondar Teaching Hospital,Northwest Ethiopia‖, BMC Research Notes2012,5:197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMC Research Notes2012
Tác giả: Alemu A. et al
Năm: 2012
13. Amiri M. et al (2015), ―Prevalence of Urinary Tract Infection Among Pregnant Women and its Complications in Their Newborns During the Birth in the Hospitals of Dezful City, Iran, 2012 – 2013‖, Iran Red Crescent Med J.2015 August; 17(8): e26946 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iran Red Crescent Med J. "2015 August
Tác giả: Amiri M. et al
Năm: 2015
14. Chaula T. et (2017), ―Urinary Tract Infections among HIV-Positive Pregnant Women in Mwanza City, Tanzania, Are High and Predicted by Low CD4+Count‖, Hindawi Publishing Corporation, International Journal of Microbiology, Volume 2017, Article ID 4042686, 7 pages, http://dx.doi.org/10.1155/2017/4042686 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hindawi Publishing Corporation, International Journal of Microbiology
Tác giả: Chaula T. et
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w