1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, đánh giá kết quả điều trị mụn trứng cá thông thường bằng phương pháp ipl kết hợp ánh sáng xanh và bôi fob 10 lotion tại bệnh viện trường đại học y dược c

112 31 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, đánh giá kết quả điều trị mụn trứng cá thông thường bằng phương pháp ipl kết hợp ánh sáng xanh và bôi fob 10 lotion tại bệnh viện trường đại học y dược c
Tác giả Đào Duy Thanh
Người hướng dẫn PGS. TS Trần Đỗ Hùng, BSCKII. Khưu Bạch Xuyến
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Da Liễu
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (11)
    • 1.1. Đặc điểm nang lông, tuyến bã (11)
    • 1.2. Mụn trứng cá (12)
    • 1.3. Công nghệ IPL (26)
    • 1.4. Liệu pháp ánh sáng trong trị liệu mụn trứng cá (27)
    • 1.5. FOB-10 Lotion (28)
    • 1.6. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (30)
  • Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (33)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (34)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (45)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (47)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (47)
    • 3.2. Đặc điểm lâm sàng mụn trứng cá (50)
    • 3.3. Kết quả điều trị mụn trứng cá bằng phương pháp IPL kết hợp ánh sáng (56)
  • Chương 4 BÀN LUẬN (62)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (62)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng của mụn trứng cá ................................................ 58 4.3. Kết quả điều trị mụn trứng cá bằng phương pháp IPL kết hợp ánh sáng (66)

Nội dung

ĐÀO DUY THANH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ MỤN TRỨNG CÁ THÔNG THƯỜNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP IPL KẾT HỢP ÁNH SÁNG XANH VÀ BÔI FOB 10-LOTION TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI H

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Những bệnh nhân đến khám và được chẩn đoán mụn trứng cá thông thường tại Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ từ tháng 04/2019 đến tháng 07/2020

Những bệnh nhân được chẩn đoán mụn trứng cá thông thường mức độ nhẹ và trung bình theo thang điểm GAGS tại bệnh viện trường Đại Học Y Dược Cần Thơ

* Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh: chủ yếu dựa vào lâm sàng [12]:

- Triệu chứng cơ năng: bệnh nhân có thể có ngứa, châm chích hoặc không có biểu hiện triệu chứng

- Tổn thương cơ bản đa dạng là nhân, sẩn, mụn mủ, cục, nang

- Vị trí: vùng tiết bã như mặt, ngực, lưng

- Không phân biệt giới tính, tuổi tác

- Bệnh nhân không mắc bệnh lý ác tính hay nội khoa nặng

- Bệnh nhân không có các rối loạn về máu

- Bệnh nhân không nhiễm trùng da tại thời điểm đến khám và điều trị

- Bệnh nhân đã và đang không áp dụng phương pháp điều trị nào khác trong vòng 6 tháng qua

- Bệnh nhân chấp nhận tham gia nghiên cứu

- Bệnh nhân có da nhạy cảm ánh sáng

- Bệnh nhân đang dùng thuốc có tác dụng phụ làm da nhạy cảm ánh sáng

- Bệnh nhân có tâm lý sợ sệt

- Bệnh nhân không tuân thủ thời gian theo dõi sau điều trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu

Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho ước lượng một tỷ lệ n=Z 2 (1-𝛼/2) x 𝑝(1−𝑝)

Trong đó: n: cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu cần phải có

Z: hệ số tin cậy ở mức xác suất 95% (α=0,05) tương ướng với Z=1,96 p: là tỷ lệ thành công trong điều trị mụn trứng cá bằng IPL Theo nghiên cứu của Mohamed Essam E và cộng sự (2014) [56] về điều trị mụn trứng cá bằng IPL, tỷ lệ thành công là 67,1% Chọn p = 0,671 d: là sai số chấp nhận được Chúng tôi chọn d=0,07

Thay vào công thức trên, tính được n3,08 Vậy cỡ mẫu tối thiểu là 174 Chúng tôi chọn nghiên cứu 192 bệnh nhân

Chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện toàn bộ các bệnh nhân thỏa điều kiện chọn bệnh trong khoảng thời gian nghiên cứu cho đến khi đủ mẫu

2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

* Đặc điểm chung về dân số học

- Tuổi: được tính theo năm dương lịch của người bệnh lấy năm nghiên cứu trừ đi năm sinh, được chia thành các nhóm tuổi:

+ Giới: được chia thành hai nhóm: Nam và nữ

+ Dân tộc: được chia thành 2 nhóm:Kinh và dân tộc khác

- Nghề nghiệp: được chia thành 7 nhóm bao gồm:

- Nơi cư trú (địa dư): được phân chia thành hai khu vực theo địa chỉ: + Thành thị: khi địa chỉ bệnh nhân có tên đường, tên phường, tên quận hoặc tên thành phố

+ Nông thôn: khi địa chỉ bệnh nhân có tên xã, huyện, tỉnh

- Trình độ học vấn: chia thành 5 cấp bậc theo hệ thống giáo dục Việt Nam: + Mù chữ (không biết đọc, không biết viết)

+ Cấp 1 (trình độ học vấn từ 1/12 đến 5/12)

+ Cấp 2 (trình độ học vấn từ 6/12 đến 9/12)

+ Cấp 3 (trình độ học vấn từ 10/12 đến 12/12)

+ Cao đẳng, đại học và sau đại học

* Đặc điểm chung về lâm sàng:

- BMI (Body Mass Index): là chỉ số khối cơ thể để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu, theo phân loại của WHO-World Health Organization (dành cho người châu Á), được chia thành 3 nhóm:

2.2.4.2 Đặc điểm lâm sàng của mụn trứng cá thông thường

- Tuổi khởi phát bệnh được tính từ khi bệnh nhân phát hiện thương tổn, được tính bằng cách lấy năm bệnh nhân thấy xuất hiện sang thương mụn lần đầu tiên trừ đi năm sinh dương lịch, được chia thành hai nhóm giá trị:

- Thời gian mắc bệnh: được tính dựa vào thời gian đối tượng xuất hiện sang thương mụn đầu tiên tới ngày khảo sát

- Triệu chứng cơ năng: được chia thành ba nhóm giá trị:

+ Thông thường: là mụn trứng cá trên bệnh nhân nhỏ hơn 25 tuổi

+ Kéo dài: là mụn trứng cá ở bệnh nhân ≥25 tuổi và có tuổi khởi phát bệnh 0,05

3.3.4 Mức độ hài lòng của người bệnh

Bảng 3.23: Mức độ hài lòng của người bệnh Mức độ hài lòng Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân từ hài lòng trở lên là 83,34%, trong đó rất hài lòng là 25,00%, hài lòng là 58,34% Có 16,66% không hài lòng.

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Mụn trứng cá liên quan đến rối loạn của cơ quan tiết chất bã nhờn, gặp chủ yếu ở thanh thiếu niên[34] Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ tuổi bị trứng cá nhiều nhất là từ 18-25 tuổi chiếm 51,56%; lứa tuổi < 18 chiếm 22,92% và từ 25-39 tuổi chiếm 25,52% (Bảng 3.1) Bệnh nhân của chúng tôi có tuổi trung bình là 21,87 ± 5,64 tuổi Xét riêng độ tuổi 15 - 24 thì tỷ lệ mắc mụn trứng cá lên đến 74,48% Nghiên cứu của Nguyễn Diệu Thuần và cộng sự

(2018) [24] trên 30 bệnh nhân được chẩn đoán mắc sẹo lõm trứng cá có tuổi mắc bệnh trung bình là 25,7 ± 10,4

Bảng 4.1: Độ tuổi giữa các nghiên cứu

Tác giả Năm Tỷ lệ độ tuổi 15-24 Đào Thị Minh Châu[7] 2011 66,7%

Kết quả này của chúng tôi phù hợp với báo cáo của các tác giả trong nước như Đào Thị Minh Châu (2011) [7] tuổi từ 15 - 24 chiếm 66,7%; Trần Văn

Thảo (2014) [22] tuổi từ 15 - 24 chiếm 66,4%; Nguyễn Ngọc Oanh (2016)[18]độ tuổi 15 -24 chiếm 61,9% Shen và cộng sự (2012) [68]nghiên cứu 1.399 bệnh nhân trứng cá thì 15 - 24 tuổi chiếm 72% Tỷ lệ 58,0% bệnh nhân độ tuổi 15-24 trong nghiên cứu của Karan và cộng sự (2019)[42]là 58,0% Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các nghiên cứu trong và ngoài nước về độ tuổi bị mụn trứng cá nhiều nhất là 15 - 24 Điều này có thể giải thích là do cơ thể con người đang trong giai đoạn phát triển mạnh, tăng tiết nội tiết trong đó quan trọng là androgen - hormon này tác động lên tuyến bã làm tuyến bã tăng kích thước và tăng hoạt động, tiết ra nhiều chất bã, thuận lợi cho thương tổn trứng cá hình thành và phát triển Lứa tuổi 15 - 24 đa số là học sinh, sinh viên và nhân viên văn phòng, đây đều là các đối tượng có nhiều mối quan hệ xã hội, nhu cầu chăm sóc vẻ bề ngoài vì thế được chú ý hơn cả nên có thể đến khám nhiều hơn so với các độ tuổi khác

Biểu đồ 3.1, cho thấy tỷ lệ nữ trong nghiên cứu của chúng tôi là 64,58%, tỷ lệ nữ/nam trong nghiên cứu của chúng tôi là1,82 lần Tỷ lệ nữ nhiều hơn nam trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với một số tác giả trong nước Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Oanh (2016) [18]cho thấy trong tổng số 215 bệnh nhân bị mụn trứng cá thì có 78,1% bệnh nhân là nữ và 21,9% là nam với tỷ lệ nữ/ nam là 3,6 lần Trần Văn Thảo (2014) [22]có tỷ lệ nữ/nam là 4 lần

Bảng 4.2: Giới giữa các nghiên cứu

Tác giả Năm Tỷ lệ nữ/nam (lần)

Tuy nhiên, khi so với một số nghiên cứu của tác giả nước ngoài, kết quả của chúng tôi có sự khác biệt Nghiên cứu của Jartarkar và cộng sự (2017) [41] có tỷ lệ nữ/nam là 1,78 lần Karan và cộng sự (2019)[42]có tỷ lệ nữ/nam là 0,50 lần, Li và cộng sự (2020) [50]có tỷ lệ nữ/nam là 0,47 lần, đều thấp hơn so với của chúng tôi Lý giải cho sự chênh lệch tỷ lệ này chúng tôi cho rằng có thể do đặc điểm dân số giữa các nghiên cứu khác nhau là khác nhau, ngoài ra do cách chọn ngẫu nhiên đối tượng nghiên cứu nên tỷ lệ về giới cũng có sự khác biệt

4.1.2 Nghề nghiệp và học vấn

Khảo sát yếu tố nghề nghiệp là rất quan trọng, giúp cho công tác dự phòng và điều trị mụn trứng cá hiệu quả Bảng 3.2 cho thấy bệnh mụn trứng cá gặp ở hầu hết các đối tượng nghề nghiệp nhưng học sinh - sinh viên chiếm tỷ trọng cao nhất 60,42%, các nghề còn lại chiếm tỷ lệ 39,58% (Công chức: 15,63%; Buôn bán: 8,85%; Công nhân và nội trợ: 6,77%; Nông dân: 1,56%) Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước như Trần Văn Thảo (2014) có tỷ lệ học sinh - sinh viên 56,7% và nhân viên văn phòng 32,7%[22], Nguyễn Ngọc Oanh (2016) cũng có học sinh - sinh viên chiếm tỷ lệ cao nhất 50,2% và cán bộ

- công chức 37,7%[18], Nguyễn Thị Ngọc (2013) cũng có tỷ lệ học sinh - sinh viên chiếm cao nhất với 43,6%, cán bộ chiếm 30,6% và các nghề khác là 25,8%[16]

Bảng 4.3: Phân bố nghề nghiệp giữa các nghiên cứu

Tác giả Năm Tỷ trọng học sinh, sinh viên

Nguyễn Diệu Thuần và cộng sự (2018) [24] cũng ghi nhận sinh viên chiếm phần lớn trong đối tượng nghiên cứu (43,3%) Chúng tôi nhận thấy rằng, học sinh - sinh viên thuộc độ tuổi thanh niên từ 18- 25 tuổi là lứa tuổi mắc trứng cá cao nhất với tỷ lệ 51,56% Các bạn trẻ ở lứa tuổi này thường chú ý về vẻ đẹp hình thể hơn, các mối quan hệ giao tiếp xã hội cũng nhiều hơn do đó khi bị mụn trứng cá các bạn trẻ này có tâm lý chủ động đi khám và điều trị ngay, không để lâu ngày làm ảnh hưởng xấu đến diện mạo bên ngoài Trong khi đó, các đối tượng như công chức, buôn bán, công nhân, nội trợ, và nông dân chỉ đi khám khi bệnh nặng

Trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân ở khu vực thành thị chiếm

68,75% và ở nông thôn chiếm 31,25% (Biểu đồ 3.4) Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Diệu Thuần (2018) có tỷ lệ bệnh nhân thành thị 96,7%[24] Nguyễn Ngọc Oanh (2016) có tỷ lệ bệnh nhân sống ở khu vực thành thị là 77,7%, nông thôn 23,3% [18] nhưng lại tương đồng với kết quả của Trần Văn Thảo (2014) có tỷ lệ thành thị 66,3%, nông thôn 33,7%[22] và Nguyễn Thị Ngọc (2013) số bệnh nhân sống ở thành phố là 59,7%, còn nông thôn là 40,3%[16]

Bảng 4.4: Phân bố nơi cư trú của bệnh nhân giữa các nghiên cứu

Tác giả Năm Tỷ lệ thành thị

Tỷ lệ bệnh nhân thành thị khá cao trong nghiên cứu của chúng tôi có thể lý giải là do chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học y dược Cần Thơ thuộc trung tâm của thành phố lớn trực thuộc Trung ương nên có nhiều người đến làm việc và học tập Người dân ở thành thị thường tiếp cận với các dịch vụ y tế tốt hơn, nhu cầu chăm sóc sức khỏe cũng cao hơn, đồng thời khi làm việc và học tập tại thành phố lớn thì các mối quan hệ xã hội giao tiếp của họ cũng nhiều hơn nên họ luôn chú ý, quan tâm chăm sóc diện mạo bên ngoài nhiều hơn so với người dân ở nông thôn Ngược lại, những bệnh nhân sống ở khu vực nông thôn thì điều kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tương đối thấp, sự nhận thức về vấn đề chăm sóc sức khỏe cũng hạn chế.Đồng thời, điều kiện kinh tế hạn chế cũng là một nguyên nhân khiến cho những đối tượng này thường rất ít khi chủ động đi khám chữa bệnh Thông thường, họ chỉ khám chữa bệnh tại tuyến cơ sở và chỉ khi bệnh ở mức độ nặng thì mới lên tuyến cao hơn.

Đặc điểm lâm sàng của mụn trứng cá 58 4.3 Kết quả điều trị mụn trứng cá bằng phương pháp IPL kết hợp ánh sáng

4.2.1 Đặc điểm lâm sàng mụn trứng cá

Biểu đồ 3.5 cho thấy thời gian mắc mụn trứng cá trong nghiên cứu của chúng tôi từ 36 tháng đến 60 tháng (3-5 năm) có tỷ lệ cao nhất (34,38%), tiếp theo là thời gian từ 1 đến dưới 36 tháng (27,08%) và dưới 12 tháng (26,56%)

Bảng 4.5: So sánh thời gian mắc bệnh của bệnh nhân giữa các nghiên cứu

Tác giả Năm Thời gian mắc bệnh

Mai Bá Hoàng Anh [1] 2011 > 24 tháng: 51,7%

Nghiên cứu của Mai Bá Hoàng Anh (2011), Nguyễn Thị Ngọc (2013) và Nguyễn Ngọc Oanh (2016) bệnh nhân có thời gian mắc bệnh trên 24 tháng chiếm tỷ trọng lần lượt là 51,7%, 43,6% và 47,9% [1], [16], [18] Riêng Trần

Văn Thảo (2014) có tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh trên 12 tháng là 44,2% chiếm tỷ trọng cao nhất [22] Mặc dù cách chia thời gian mắc mụn trứng cá trong mỗi nghiên cứu khác nhau nhưng hầu hết bệnh nhân trong các nghiên cứu đều có thời gian mắc bệnh trên 24 tháng chiếm đa số, kết quả này khá tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi (tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh từ 12 - 60 tháng chiếm

Nhìn chung, thời gian mắc bệnh của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi cũng như các nghiên cứu khác cho thấy, hầu hết bệnh nhân đều có thời gian mắc bệnh từ 12 tháng trở lên Điều này được lý giải là do thông thường khi mới mắc bệnh thì bệnh nhân ít hiểu biết nên sẽ chủ quan cho rằng bệnh chỉ ở mức độ nhẹ, sẽ tự hết khi qua tuổi dậy thì nên không cần chữa trị Đến khi bệnh chuyển biến nghiêm trọng hơn thì bệnh nhân mới tìm đến các cơ sở y tế tại địa phương Mỗi lần điều trị chờ đến khi có kết quả tiến triển thì cũng mất một thời gian nhất định Trong trường hợp kết quả điều trị không có tiến triển tốt hơn thì bệnh nhân mới chuyển lên tuyến trên do đó đã mất khá nhiều thời gian và bệnh diễn biến cũng nặng hơn.Mặt khác, không phải bệnh nhân nào cũng có điều kiện kinh tế tốt, trong khi điều trị da liễu lại khá tốn kém tiền bạc và thời gian Chỉ khi nào bệnh nặng gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống thì bệnh nhân mới thật sự quan tâm tìm đến bác sĩ chuyên khoa để chữa trị

Trong nghiên cứu của chúng tôi (Bảng 3.4) triệu chứng cơ năng nhiều nhất thường gặp ở bệnh nhân là ngứa ở vị trí có mụn trứng cá (53,65%), tiếp theo là châm chích da (34,90%) và khó chịu (18,23%)

Những triệu chứng cơ năng trong nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt so với nghiên cứu của các tác giả khác Cụ thể triệu chứng ngứa trong nghiên cứu của Mai Bá Hoàng Anh chỉ có 32,9% và đau, nhức 17,8%, không có triệu chứng châm chích da và khó chịu [1] Tương tự đó, kết quả nghiên cứu của

Nguyễn Ngọc Oanh cũng là đau 42,3%, ngứa 29,8%, nhức 13,5% [18] Nguyễn Thị Ngọc cũng có kết quả ngứa 30,7% và đau nhức 14,5% [16]

Bảng 4.6: So sánh triệu chứng cơ năng của bệnh nhân giữa các nghiên cứu

Tác giả Năm Triệu chứng cơ năng

Mai Bá Hoàng Anh [1] 2011 Ngứa 32,9% và đau, nhức 17,8% Nguyễn Ngọc Oanh [18] 2016 Đau 42,3%, ngứa 29,8%, nhức 13,5% Nguyễn Thị Ngọc [16] 2013 Ngứa 30,7% và đau nhức 14,5%

Chúng tôi 2020 Ngứa 53,65%, châm chích da 34,90% và khó chịu 18,23% Đa số bệnh nhân của chúng tôi có triệu chứng ngứa, châm chích da và khó chịu vì mẫu nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu ở mức độ nhẹ và trung bình (161/192 bệnh nhân), trường hợp bệnh nặng và rất nặng có số lượng rất ít (31/192 bệnh nhân) nên hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng đau và nhức cao như nghiên cứu của các tác giả khác

Bảng 3.5 cho thấy, trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ 76,56% bệnh nhân mắc mụn trứng cá có da dầu, da khô chiếm tỷ lệ thấp nhất (5,21%) Tỷ lệ bệnh nhân có da nhờn trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với của Đinh Thị Lê Thành (2016)[21]: 78/118 bệnh nhân (66,10%) có da nhờn

Kết quả này phù hợp với cơ chế bệnh sinh của bệnh trứng cá Bệnh nhân có tăng tiết chất bã nhiều thì nguy cơ cao hơn bệnh nhân da thường và da hỗn hợp Da nhờn (da dầu), là loại da sáng bóng, đặc biệt là ở vùng chữ T (từ trán xuống mũi đến cằm) Tình trạng da nhờn có mối liên quan chặt chẽ với bệnh trứng cá[21] Da nhờn có thể do di truyền và gặp ở mọi lứa tuổi, do đó cần phải có cách chăm sóc da đúng cách để hạn chế lượng dầu nhờn tiết quá mức và làm bít tắc lỗ chân lông, dễ phát sinh mụn trứng cá

4.2.1.4 Dạng lâm sàng mụn trứng cá

Dạng lâm sàng mụn trứng cá tại Bảng 3.6 trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là mụn trứng cá sẩn, mụn mủ chiếm tỷ lệ lớn nhất (69,79%), mụn trứng cá nhân (47,92%); mụn trứng cá nốt nang (13,02%) Đồng thời các loại sang thương mụn trứng cá thường gặp của các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi (Bảng 3.7) là sẩn, mụn mủ (65,63%), mụn đầu đen (63,54%), mụn đầu trắng (43,23%)

Bảng 4.7: So sánh dạng lâm sàng mụn trứng cá giữa các nghiên cứu

Tác giả Năm Dạng sang thương mụn trứng cá

Sẩn 99,1% và nhân trứng cá (nhân đầu trắng 87,9%, nhân đầu đen 83,7%) Mụn mủ 75,8%

Nguyễn Thị Ngọc [16] 2013 Sẩn và nhân trứng cá 100%

Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với các nghiên cứu trước về các dạng lâm sàng mụn trứng cá chủ yếu như sẩn, nhân trứng cá và mụn mủ Tuy nhiên, tỷ lệ biểu hiện bệnh của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Oanh (2016) với sẩn 99,1% và nhân trứng cá (nhân đầu trắng 87,9%, nhân đầu đen 83,7%), mụn mủ 75,8%[18] Đồng thời, cũng thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc có sẩn và nhân trứng cá 100%, mụn mủ 37,1%[16] Trong quá trình tiến triển của bệnh, các tổn thương khác sẽ được tạo ra như cục, nang, mụn mủ, nếu không điều trị đúng và kịp thời bệnh nặng hơn có thể gây các thương tổn thứ phát như dát đỏ, giãn mạch hay để lại di chứng sẹo lõm, sẹo lồi

4.2.1.5 Vị trí phân bố của sang thương mụn trứng cá

Bảng 3.8 cho thấy,192/192 (100%) bệnh nhân đều có mụn trứng cá ở mặt, 54/192 (28,13%) bệnh nhân có thêm mụn trứng cá ở ngực; và chỉ có 2,08% kết hợp ở nhiều vị trí (ngực + lưng)

Bảng 4.8: Phân bố vị trí sang thương mụn trứng cá giữa các nghiên cứu

Tác giả Năm Vị trí sang thương mụn trứng cá

Nguyễn Ngọc Oanh [18] 2016 Mặt 99,1%, ngực 20,5%, lưng 32,6% và 2,3% ở các vị trí khác

Nguyễn Thị Ngọc [16] 2013 Mặt100%, ngực 29%, lưng 37,1% và

Suh và cộng sự [69] 2011 Khuôn mặt 100%, cổ 20%, lưng 19% và 18% ở ngực

Zhou và cộng sự[77] 2016 Trán74,8% và má83,2%

Chúng tôi 2020 100% ở mặt, 28,13%ở ngực, 2,08% kết hợp ở nhiều vị Kết quả nghiên cứu trên bệnh nhân của chúng tôi có sự tương đồng với các tác giả trong và ngoài nước Nghiên cứu trong nước của Nguyễn Thị Ngọc

(2013) có vị trí phân bố của sang thương mụn trứng cá chủ yếu ở mặt 100%, ngực 29%, lưng 37,1% và 16,1% các vị trí khác[16] Còn đối với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Oanh (2016) thì sang thương chủ yếu ở mặt 99,1%, ngực 20,5%, lưng 32,6% và 2,3% ở các vị trí[18]

Trong nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như Suh và cộng sự (2011) thì tất cả những bệnh nhân tham gia đều bị mụn trứng cá trên khuôn mặt, 20% bị mụn ở cổ, 19% ở lưng và 18% ở ngực[69] Zhou và cộng sự (2016) thì tổn thương đối với mụn trứng cá chủ yếu ở trán và má với tỷ lệ lần lượt là 74,8% và 83,2%[77]

4.2.1.6 Di chứng hiện có của bệnh nhân trước khi điều trị

Di chứng thường gặp của bệnh nhân trước khi điều trị tại Bảng 3.9 là tăng sắc tố sau viêm (82,81%), tiếp theo là di chứng sẹo lõm (35,94%), sẹo lồi và nhiều loại di chứng chiếm tỷ lệ không đáng kể lần lượt là 4,69% và 3,13% Kết quả này khá tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc (2013) có tỷ lệ dát thâm 33,9%, sẹo lõm 22,6%, giãn mạch 8,1% và sẹo lồi 3,2%[16] Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số bệnh nhân bị tăng sắc tố sau viêm chiếm tỷ lệ rất cao,đây là kết quả của việc da bị thương tổn và viêm do mụn, da càng bị viêm thì di chứng này càng nghiêm trọng, cả về kích thước lẫn màu sắc Nếu càng bị mụn nhọt bị đè và nặn mụn thì sẽ làm chứng tăng sắc tố da sau viêm có cơ hội phát triển hơn Bên cạnh đó, sẹo lõm cũng là một di chứng thường gặp, trong nghiên cứu của Nguyễn Diệu Thuần (2018) thì 100% bệnh nhân có tổn thương sẹo lõm ở vị trí má phải và trái, 50% sẹo xuất hiện ở thái dương, 43,3% ở cằm và một số ít có sẹo lõm ở trán[24]

4.2.1.7 Thói quen chăm sóc da

Ngày đăng: 19/03/2023, 00:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w