1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề nghị luận văn học tác phẩm truyệndoc

207 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tuyên Ngôn Độc Lập - Hồ Chí Minh
Tác giả Hồ Chí Minh
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Chính trị - Lịch sử
Thể loại Bản tuyên ngôn
Năm xuất bản 1945
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ BÀI - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk Mở bài chung - Đoạn trích sau đây trong “Người lái đò Sông Đà” thể hiện rõ cách nhìn mang tính phát hiện của nhà văn Nguyễn Tuân về dòng sông

Trang 1

MỤC LỤC

STT Tên bài học Số đoạn văn Trang

3 Ai đã đặt tên cho dòng sông?……….………… (6 đoạn) 38

7 Chiếc thuyền ngoài xa……… ……(5 đoạn) 143

8 Hồn Trương Ba, da hàng thịt………(5 đoạn) 169

14 Bổ sung lí luận khi làm văn……… 198

Tổng số trang khổ A4: 207 trang

Trang 2

người Cu-ba về chủ tịch Hồ Chí Minh Người không chỉ là một lãnh tụ tài ba, người anhhùng đã giải phóng dân tộc, đất nước Việt Nam thoát khỏi xiềng xích của nô lệ mà Ngườicòn là một nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc với nhiều tác phẩm đặc sắc trên nhiều thếloại khác nhau Đặc biệt, bản “Tuyên ngôn độc lập” ra đời vào năm 1945 là một trong sốnhững tác phẩm xuất sắc nhất, tiêu biểu cho phong cách văn chính luận của Người Tácphẩm có giọng văn hùng hồn thống thiết, có lập luận chặt chẽ sắc bén, có sức thuyết phụccao đối với người đọc và người nghe Bản “Tuyên ngôn Độc lập” là kết quả của bao

nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu người đã hi sinh, bao nhiêu người bị tù đày “là kết quả của bao nhiêu hi vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam”

(Trần Dân Tiên)

II PHÂN TÍCH ĐOẠN VĂN

Đề số 1:

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do

và quyền mưu cầu hạnh phúc“.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng

ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

(Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh,

Ngữ văn 12, tập 1, NXBGD VN, 2018, tr39-40)

Phân tích phần mở đầu bản "Tuyên ngôn Độc lập" để làm nổi bật giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật lập luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trang 3

I MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk mở bài chung

- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích mở đầu của Bản tuyên ngôn: “Hỡi đồng bào…

chối cãi được” đã làm nổi bật giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật lập luận của chủtích Hồ Chí Minh

II THÂN BÀI

1 Khái quát

Sau gần 100 năm bị áp bức nô lệ, nhân dân ta đứng lên đấu tranh và được độc lập

tự do Mùa thu năm 1945, cả nước ta tưng bừng, hân hoan chiến thắng Cách mạng thángTám thành công đã rũ bỏ khỏi vai người dân Việt Nam những xiềng xích nô lệ và áp bức,đưa dân tộc ta qua ngưỡng cửa tối tăm bước tới vùng sáng độc lập tự do Sáng ngày 2/9,một buổi sáng trời trong với nắng vàng ấm áp, trước hàng triệu nhân dân trên quảngtrường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, chính thức khaisinh một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam tự do, độc lập và dân chủ Bản tuyênngôn được Người viết ra bằng tất cả tâm hồn và trí tuệ, bằng những xúc cảm mãnh liệt.Người đã truyền đến hàng triệu trái tim người Việt Nam yêu nước những rung động sâu

xa và thấm thía, đồng thời tuyên bố một cách vững chắc và hào hùng với thế giới về sựtồn tại độc lập có chủ quyền của nước ta

Toàn văn bản tuyên ngôn không dài, chỉ gói trọn trong khoảng chưa đầy một ngànchữ nhưng vô cùng chặt chẽ và súc tích Bản tuyên ngôn có bố cục 3 phần, cụ thể gồm:

cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và lời tuyên bố độc lập Sức thuyết phục của “Tuyên ngônđộc lập” được tạo nên chủ yếu từ hai yếu tố là lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằngchứng xác thực và sức lay động lòng người Điều đó được thể hiện ngay từ đoạn mở đầu

2 Giá trị nội dung của phần mở đầu bản tuyên ngôn:

2.1 Mở đầu bản Tuyên ngôn bằng trích dẫn Tuyên ngôn của Pháp và Mĩ

Phần mở đầu nêu nguyên lí chung làm cơ sở tư tưởng cho bản tuyên ngôn Trong

đó, Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai bản Tuyên ngôn: Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm

1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791 Cả hai bản tuyênngôn đều thể hiện tư tưởng rất tiến bộ, được nhân loại biết đến và thừa nhận Trong đó,

Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 nêu rõ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền

bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Tuyên ngôn

Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về

quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

2.2 Tác dụng của việc trích dẫn

Việc trích dẫn hai văn bản này có tác dụng rất lớn Đầu tiên, nó thể hiện sự tôntrọng những giá trị, tư tưởng tiến bộ của nhân loại, đó là khẳng định các quyền lợi cơ bản,chính đáng của con người: Quyền sống, quyền bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc

Mặt khác, “Tuyên ngôn độc lập” ra đời giữa lúc tình thế đất nước vẫn đang trongthời kì nguy ngập Chính quyền mới ra đời, đất nước vẫn đang nằm giữa bốn bề hùm sói,

Trang 4

hai đầu đất nước đều có kẻ thù ngoại bang đe dọa Ở biên giới phía Bắc là 20 vạn quânTưởng đang ngấp nghé ở cửa biên giới, chuẩn bị kéo vào miền Bắc nước ta Phía sau độiquân này là sự nhòm ngó muốn can thiệp vào Đông Dương của đế quốc Mỹ Ở phía Nam,thực dân Anh được giao nhiệm vụ của phe đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, đằngsau quân Anh là quân Pháp đang lăm le muốn quay trở lại xâm lược đất nước ta Nhà cầmquyền Pháp lúc này tuyên bố: Đông Dương là thuộc địa của Pháp bị quân Nhật chiếm,đương nhiên Đông Dương phải thuộc quyền bảo hộ của người Pháp. Sử dụng trích dẫntrong hai bản tuyên ngôn có giá trị, được thế giới công nhận làm cơ sở pháp lý cũng làcách Hồ Chí Minh nhắc nhở dã tâm và hành động xâm lược của bọn đế quốc, thực dân;phê phán, thực dân Pháp và đế quốc Mĩ- những kẻ xâm lược đã chà đạp lên chân lí, chàđạp lên lương tâm và lý tưởng của cha ông chúng Chính phủ và chính phủ Mĩ phụng sựcho tinh thần của “Tuyên ngôn nhân quyền” đầy lẽ phải kia hóa ra lại đang thi hànhnhững hành động trái ngược hẳn Dùng lí lẽ của chính Pháp và Mĩ để nhắc nhở, ngănchặn, bác bỏ mọi luận điệu và hành động phi nghĩa của chúng, chiêu thức này trong dângian được gọi là “gậy ông đập lưng ông” Với chiêu thức này, Hồ Chí Minh thực sự đãnắm được và phát huy sức mạnh của văn học “Văn chương phải là thế trận đuổi nghìn

quân giặc.” (Trần Thái Tông)

Hồ Chí Minh dẫn hai câu danh ngôn, một câu trong bản Tuyên ngôn độc lập vàmột câu trong Tuyên ngôn nhân quyền và Dân quyền còn là để khẳng định cách mạngViệt Nam cùng một lúc làm được hai nhiệm vụ: Nhiệm vụ thứ nhất là đánh đuổi thựcdân, phát xít xâm lược giành độc lập tự chủ và nhiệm vụ thứ hai là lật đổ chế độ phongkiến giành quyền sống cho con người Cũng như ở đoạn sau của bản Tuyên ngôn, Người

viết “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực

dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.”

Đồng thời bằng cách này, Bác đã đặt tuyên ngôn của Việt Nam sánh vai với tuyênngôn Pháp và Mỹ, thể hiện lòng tự tôn dân tộc Đặt ba bản tuyên ngôn ngàng hàng nhau,

ba cuộc cách mạng ngang bằng nhau, Người muốn khẳng định mục đích cao cả của cáchmạng Việt Nam, của cách mạng Mĩ và Pháp đều là vì hạnh phúc của con người Chúng tachiến đấu vì hạnh phúc của con người Niềm tự hào dân tộc ấy cùng một cảm hứng với

“Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, bởi ở thời phong kiến Nguyễn Trãi cũng đặt vị thếdân tộc ta ngang hàng với phong kiến phương Bắc hùng mạnh:

“Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

Nhưng đóng góp lớn nhất của chủ tịch Hồ Chí Minh ở đây là Người đã vận dụngsáng tạo hai đoạn trích dẫn của hai bản tuyên ngôn Từ quyền của con người được nhắcđến trong hai câu danh ngôn ấy, Người nâng lên quyền của cả dân tộc Tầm nhìn sâu rộng

của Bác đã tạo nên một lời khẳng định đanh thép: "Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất

cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do" Như vậy, bằng lập luận chặt chẽ, sáng tạo Người

khẳng định các dân tộc trên thế giới đều có quyền độc lập, tự do Đây chính là cơ sở cho

Trang 5

hệ thống lập luận trong toàn tác phẩm Phép suy rộng ra ấy không chỉ có ý nghĩa khẳngđịnh quyền độc lập tự do, quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam mà còn có ý nghĩa khơidậy, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới

Khép lại phần mở đầu là câu văn chắc nịch, đanh thép Người khẳng định mọiquyền lí lẽ chính đáng của con người, dân tộc là những “lẽ phải không ai chối cãi được”.Đây chính là bức tường pháp lí sừng sững, là tiền đề triển khai toàn bộ nội dung bản

“Tuyên ngôn Độc lập” ở phần tiếp theo Câu văn này cũng thể hiện tính luận chiến quyếtliệt của ngòi bút Hồ Chí Minh

3 Nghệ thuật lập luận:

Cách mở đầu bản Tuyên ngôn cho thấy lập luận của Hồ Chí Minh vừa ngắn gọn,súc tích, vừa khéo léo vừa kiên quyết, lập luận sắc sảo, linh hoạt, sáng tạo và đầy sứcthuyết phục Đầy khéo léo bởi Hồ Chí Minh tỏ ra trân trọng những tư tưởng tiến bộ,những danh ngôn bất hủ của người Mĩ, người Pháp nhưng rất kiên quyết vì một mặt HồChí Minh khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam dựa trên những chân lí

mà người Mĩ và người Pháp đã đưa ra, đồng thời cảnh báo nếu thực dân Pháp tiến quânxâm lược Việt Nam một lần nữa thì chính họ đã phản bội lại tổ tiên của mình, làm nhơbẩn lá cờ nhân đạo, thiêng liêng mà những cuộc cách mạng vĩ đại của cha ông họ đã dànhđược Đặc biệt, lập luận sắc sảo, linh hoạt, sáng tạo nhất là: lời suy rộng ra của Ngườimang tư tưởng lớn của nhà cách mạng Người đã phát triển quyền lợi của con người lên(thành) quyền tự quyết, quyền bình đẳng của các dân tộc trên thế giới Phép suy rộng ra

ấy là sự sáng tạo đầy bản lĩnh, trí tuệ, thể hiện tư duy lí luận sắc bén của Chủ tịch Hồ ChíMinh Đây là một đóng góp riêng của Hồ Chí Minh và cũng là của dân tộc ta vào mộttrong những trào lưu tư tưởng cao đẹp vừa mang tầm vóc quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhânđạo của nhân loại trong thế kỉ XX

4 Đánh giá

Với nội dung là nêu nguyên lí chung, phần mở đầu của tác phẩm còn thể hiện rõ tài năngcủa tác giả trên địa hạt văn chương Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn đã tạo nên một dẫnchứng xác thực góp phần củng cố lí lẽ, luận điểm đanh thép của tác phẩm.Tất cả đã tạonên một lập luận chặt chẽ và giàu sức thuyết phục, vừa khôn khéo vừa kiên quyết để tạonên nền tảng pháp lí vững vàng để tác giả tố cáo tội ác của bọn thực dân Phần mở đầu

"Tuyên ngôn Độc lập", không chỉ thể hiện nội dung tư tưởng cao đẹp mà ta còn thấy vănphong đặc sắc của Hồ Chí Minh: ngắn gọn, súc tích, thấm thìa, rung động lòng người,

"Tuyên ngôn Độc lập" thực sự là một tuyệt đỉnh nghệ thuật văn chương và lịch sử

Đoạn số 2:

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Trang 6

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự

do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Phân tích lời tuyên bố độc lập trong đoạn trích trên Từ đó nhận xét về phong cách văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

I MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk mở bài chung

- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích “Sự thật là…độc lập ấy” nằm ở phần cuối của

bản tuyên ngôn và góp phần thể hiện rõ phong cách văn chính luận của Hồ Chí Minh

II THÂN BÀI

1 Khái quát

Sau gần 100 năm bị áp bức nô lệ, nhân dân ta đứng lên đấu tranh và được độc lập

tự do Mùa thu năm 1945, cả nước ta tưng bừng, hân hoan chiến thắng Cách mạng thángTám thành công đã rũ bỏ khỏi vai người dân Việt Nam những xiềng xích nô lệ và áp bức,đưa dân tộc ta qua ngưỡng cửa tối tăm bước tới vùng sáng độc lập tự do Sáng ngày 2/9,một buổi sáng trời trong với nắng vàng ấm áp, trước hàng triệu nhân dân trên quảngtrường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, chính thức khaisinh một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam tự do, độc lập và dân chủ Bản tuyênngôn được Người viết ra bằng tất cả tâm hồn và trí tuệ, bằng những xúc cảm mãnh liệt.Người đã truyền đến hàng triệu trái tim người Việt Nam yêu nước những rung động sâu

xa và thấm thía, đồng thời tuyên bố một cách vững chắc và hào hùng với thế giới về sựtồn tại độc lập có chủ quyền của nước ta

Trang 7

Toàn văn bản tuyên ngôn không dài, chỉ gói trọn trong khoảng chưa đầy một ngànchữ nhưng vô cùng chặt chẽ và súc tích Bản tuyên ngôn có bố cục 3 phần, cụ thể gồm:

cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và lời tuyên bố độc lập Sức thuyết phục của “Tuyên ngônđộc lập” được tạo nên chủ yếu từ hai yếu tố là lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằngchứng xác thực và sức lay động lòng người

2 Lời tuyên bố độc lập trong đoạn trích

2.1 Nêu rõ quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta:

“Tuyên ngôn độc lập” ra đời giữa lúc tình thế đất nước vẫn đang trong thời kì nguyngập Tuy đã giành được độc lập nhưng chính quyền thì mới ra đời, đất nước vẫn đangnằm giữa bốn bề hùm sói, hai đầu đất nước đều có kẻ thù ngoại bang đe dọa Đặc biệt, đểhợp thức hóa việc quay trở lại xâm lược nước ta, nhà cầm quyền Pháp lúc này tuyên bố:Đông Dương là thuộc địa của Pháp bị quân Nhật chiếm Nay phát xít Nhật thua trận,đương nhiên Pháp có quyền quay trở lại bảo hộ Đông Dương

Trong đoạn văn này Hồ Chí Minh đã nêu rõ quá trình đấu tranh giành độc lập củanhân dân ta, vạch trần và bác bỏ hoàn toàn luận điệu xảo trá của Pháp Người nêu rõ sựthật là từ năm 1940 nước ta là thuộc địa của Nhật chứ không còn là thuộc đọa của Pháp.Khi Nhật thua chạy thì nhân dân ta đã nổi dậy cướp chính quyền từ tay Nhật Nhân dân ta

cùng lúc phá tan ba tầng xiềng xích khiến Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị để

lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Định ngữ “Sự thật là” được nhắc đi nhắc lạicàng có ý nghĩa khẳng định một cách chắc chắn thực tiễn lịch sử đó

Chính phủ nước Việt Nam mới đã ra đời, thực sự là chính quyền của nhân dânViệt Nam và dân tộc Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp nên Người tuyên bốthoát li hoàn toàn mối quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết các hiệp ước Pháp đã kí hếtvới Việt Nam, xóa hết mọi đặc quyền đặc lợi của Pháp trên đất nước Việt Nam Tiếp đó,

Người còn khẳng định đanh thép “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết

chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”.

Đây chính là những bằng chứng thực tiễn xác thực, thể hiện một cuộc tranh luận ngầm với những lời lẽ giả dối, sai sự thật của thực dân Pháp, khẳng định không có thế

lực nào có quyền xâm phạm nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam kể cả thực dânPháp “Cách lập luận của Hồ Chí Minh về phía ta như một trái táo còn về phía kẻ thù

nó giống như một trái lựu đạn nhét vào cổ họng chúng Nuốt không vô mà khạc cũng không ra” (Chế Lan Viên)

2.2 Khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân ta là chính nghĩa

Trước khi tuyên bố độc lập, Hồ Chí Minh đã khẳng định sâu sắc cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc của ta là chính nghĩa Bởi vì dân tộc ta là một dân tộc gan góc, cótruyền thống kiên cường bất khuất bảo vệ đất nước Bằng chứng là nhân dân ta gan gócchống ách nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, gan góc đứng về phía Đồng minh chốngphát xít suốt mấy năm để rồi lấy lại đất nước từ tay Nhật Trước đó, trong bản Tuyênngôn Người cũng nêu rõ dân tộc ta là dân tộc luôn nêu cao tinh thần nhân đạo: Khi Phápthua chạy còn giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái, Cao Bằng Nhưng khi chúng thua

Trang 8

chạy ta lại giữa thái độ khoan hồng, nhân đạo giúp người Pháp chạy qua biên thùy, bảo

vệ tính mạng và tài sản cho họ Tinh thần nhân đạo ấy có lẽ được kế thừa từ truyền thốngdân tộc, từng được thể hiện trong “Bình Ngô đại cáo”:

“Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh.

Mã Kì, Phương Chính cấp cho năm trăm chiếc thuyền ra đến bể mà hồn bay phách lạc;

Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cỗ ngựa về đến nước vẫn tim đập, chân run”.

Lập trường chính nghĩa của dân tộc ta còn được thể hiện rõ khi nó rất phù hợp vớicác điều khoản quy định về nguyên tắc dân tộc bình đẳng tại hội nghị Tê-hê-răng và Cựu

Kim Sơn “Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân

tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam” Ở đây, Hồ Chí Minh đã rất khôn khéo khi viện

dẫn các nguyên tắc dân tộc bình đẳng Bởi vì, nó không chỉ để khẳng định quyền độc lập

tự chủ của dân tộc ta mà còn có ý nghĩa kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độclập tự do của dân tộc Việt Nam

2.3 Tuyên bố độc lập

Sau khi đã khẳng định một cách sâu sắc quyền độc lập dân tộc, Hồ Chủ tịch đã sửdụng những lời lẽ hùng hồn, đanh thép, trịnh trọng, kết cấu trùng lặp, liên tục nhấn mạnh

và xoáy sâu vào hai vấn đề chính là “độc lập” và “tự do” để tuyên bố nền độc lập của dân

tộc: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự

do độc lập” Trong lời tuyên bố ấy, Người khẳng định dân tộc Việt Nam về lí lẽ có quyền

được hưởng tự do độc lập và trong thực tiễn đã giành được tự do, độc lập, cũng hoàn toànxứng đáng trở thành một nước tự do, độc lập

Lời tuyên bố độc lập của Hồ Chí Minh xuất phát từ trái tim của một con người cólòng yêu nước, yêu dân, yêu chuộng hòa bình sâu sắc; là những khát khao cháy bỏngkhông chỉ của riêng mình Bác mà còn chính là thay lời muốn nói của toàn thể dân tộcViệt Nam, muốn tuyên bố với cả thế giới rằng nước Việt Nam là một quốc gia độc lập, cóchủ quyền lãnh thổ

2.4 Ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc

Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh không chỉ để tuyên bố nền độc lập, tự do củadân tộc mà còn có ý nghĩa cảnh cáo âm mưu xâm lược của bọn thực dân, đế quốc Người

viết “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và

của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!” Toàn dân Việt Nam nhận thức rõ âm mưu

của kẻ thù xâm lược nên nhắc nhở chúng rằng: Nếu chúng còn dã tâm xâm lược, nhândân Việt Nam quyết hy sinh tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo vệnền độc lập thiêng liêng, cao quý ấy

3 Đánh giá

3.1 Đánh giá về nội dung và nghệ thuật của đoạn văn

Đoạn trích cũng như bản “Tuyên ngôn độc lập” mang giá trị văn chương to lớn bởicho thấy tài năng bậc thầy trong ngòi bút chính luận của Hồ Chí Minh Đó là một áng văn

Trang 9

chính luận mẫu mực nhất, thuyết phục và có sức hấp dẫn nhất với lập luận, chặt chẽ, lí lẽsắc bén, đanh thép, luận cứ được hun đúc từ thực tế khách quan; Kết cấu, bố cục khá chặtchẽ với mỗi phần một ý nghĩa và liên hệ chặt chẽ với nhau; Ngôn ngữ ngắn gọn, chínhxác, súc tích; lời văn vừa sống động, gây xúc động lòng người tác động mạnh vào nhậnthức và tình cảm và có sức lay động sâu xa; Các biện pháp tu từ như điệp từ, điệp ngữ…được sử dụng được sử dụng linh hoạt hiệu quả làm cho lý lẽ thêm sinh động rõ ràng Bản

“Tuyên ngôn độc lập” trở thành một áng văn nghị luận mẫu mực không chỉ bởi lập luậnchặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực mà còn lay động hàng triệu trái tim ngườiViệt Nam yêu nước bởi tình cảm thiết tha của tác giả Những tình cảm thiết tha đó đượcbiểu lộ thông qua những giọng điệu khác nhau, khi nồng nàn tha thiết, khi xót xa thươngcảm, khi hừng hực căm thù, khi hào sảng khích lệ

“Tuyên ngôn độc lập” là áng văn chương yêu nước của thời đại, kết tinh khát

vọng cháy bỏng của cả dân tộc về độc lập, tự do Bản tuyên ngôn đã tố cáo rõ tội ác thựcdân, khẳng định quyền tự do độc lập và sự thật nước Việt Nam đã thành nước tự do, độclập Hơn nữa, đoạn trích cũng như tác phẩm còn nêu cao truyền thống tốt đẹp của dân tộc

ta là truyền thống yêu nước, kiên cường chống giặc ngoại xâm; thể hiện tâm huyết và hội

tụ vẻ đẹp của lãnh tụ Hồ Chí Minh

3.2 Nhận xét về phong cách văn chính luận Hồ Chí Minh

- Ngắn gọn, giản dị, súc tích; cách dùng từ, đặt câu hết sức linh hoạt: Cả một nội

dung lớn diễn ra trong thời gian gắn một thế kỉ, nhưng tác giả đã cô đọng lại trong vài batrang giấy Từ ngữ mà Người sử dụng đọc lên là hiểu ngay Đối với những câu dài, cócấu trúc phức tạp, Người vẫn tìm cách diễn đạt thật ngắn gọn Có câu rất ngắn nhưnggiàu ý tứ

- Văn phong trong sáng: Trong sáng ở việc dùng từ đặt câu, tuân thủ các nguyên

tắc và chuẩn mực của tiếng Việt Trong sáng về tư tưởng tình cảm, ở thái độ rõ ràng, yêughét phân minh trên lập trường chính nghĩa

- Tính chiến đấu và trí tuệ: Đanh thép, sắc sảo là biểu hiện tính chiến đấu không

khoan nhượng, thái độ dứt khoát thể hiện một bản lĩnh vững vàng, phi thường, sắc sảo ởtrí tuệ, lối lập luận chặt chẽ, sắc bén

- Ngòi bút chính luận vừa chặt chẽ, thuyết phục vừa trữ tình, có sức lay động lòng người: Bản tuyên ngôn được viết với cách lập luận chặt chẽ Người đưa ra những lí lẽ

đanh thép, những bằng chứng hùng hồn không ai chối cãi được Ngòi bút chính luận vừahùng hồn vừa trữ tình; Văn chính luận mà vẫn thấm đượm tình cảm, giàu hình ảnh, giọngđiệu đa dạng

III KẾT LUẬN CHUNG

“Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh đã đánh dấu mốc son trong lịch sử dântộc, mãi mãi là áng thiên cổ hùng văn ngang tầm với “Bình Ngô đại cáo” của NguyễnTrãi, là niềm tự hào của những người Việt Nam yêu nước Với phong cách nghệ thuậtđộc đáo và riêng biệt, Hồ Chí Minh đã để lại tên tuổi của mình và làm rạng rỡ nền vănhọc Việt Nam Tấm lòng yêu nước, thương dân, tâm huyết và khát vọng cháy bỏng của

Trang 10

Hồ Chí Minh về độc lập tự do của dân tộc thực sự đã trở thành một ngọn lửa thần tạo nêntài năng văn chương của Người, đúng như nhận định của Raxun Gazatôp: Giống như

ngọn lửa thần bốc lên từ trong cành khô, tài năng bắt nguồn từ những tình cảm mạnh

mẽ nhất của con người.”

Trang 11

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

-Nguyễn

Tuân-A MỞ BÀI CHUNG

- MB1: Pautopxki từng nói “Niềm vui của nhà văn chân chính là niềm vui của người dẫn đường đến xứ sở cái đẹp” Hơn ai hết, Nguyễn Tuân chính là nhà văn như

thế Ông là người theo chủ nghĩa duy mĩ với quan niệm cuộc đời là một cuộc hành trình

đi tìm cái đẹp và “Suốt đời tôn thờ và phụng sự cái đẹp” Mỗi tác phẩm của ông là mộtbài ca về cái đẹp của con người, của cuộc sống với tình cảm, sự gắn bó sâu nặng với quêhương, đất nước Nguyễn Tuân được người đọc đặc biệt chú ý về phong cách nghệ thuậtrất riêng và rất độc đáo mà phong cách ấy được gắn với chữ “ngông” và sự tài hoa, uyênbác Nếu như trước cách mạng, văn học của Nguyễn Tuân chạm đến lòng người bởi vẻđẹp tài hoa của những con người "một thời vang bóng" như Huấn Cao thì sau cách mạng,ông khiến người đọc rung cảm bởi sự tinh tế và tài năng trong việc vẽ nên những nét đẹpgân guốc nhưng gần gũi, bình dị của thiên nhiên và đời sống con người “Người lái đòsông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho sáng tác của Nguyễn Tuân sau cách mạng

- MB2: Từ Vang bóng một thời (1940) đến Sông Đà (1960), con đường sáng tạo

văn chương cùa Nguyễn Tuân đã trải qua 20 năm tròn Tùy bút Sông Đà làm cho chân

dung văn học của Nguyễn Tuân thêm tươi sáng, rạng rỡ Với 15 tùy bút và một bài thơphác thảo, Sông Đà đã khẳng định vị trí vẻ vang của Nguyễn Tuân trong lịch sử văn họcViệt Nam hiện đại, tô đậm một phong cách nghệ thuật uyên bác, độc đáo và tài hoa để tathêm yêu mến tự hào

      Người lái đò Sông Đà rút trong tập tùy bút Sông Đà thể hiện cá tính sáng tạo của

Nguyễn Tuân trên một tầm cao phát triển mới Là nhà văn của những tính cách phithường, Nguyễn Tuân phát hiện, miêu tả con người Tây Bắc mang bao phẩm chất tuyệtđẹp mà ông gọi đó là “chất vàng mười” của tâm hồn Là một con người yêu thiên nhiêntha thiết, ông nói về cảnh sắc sông Đà với những phát hiện hết sức tinh tế và độc đáo vềnúi và sông, về cây cỏ trên một vùng đất nước bao la, hùng vĩ và thơ mộng

B PHÂN TÍCH MỘT SỐ ĐOẠN VĂN TRONG TÁC PHẨM

Đoạn số 1:

Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy lúc chỉ đúng ngọ mới có mặt trời Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hỗ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vửa  tắt phụt đèn điện.

Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ suýt bất cứ

Trang 12

người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng

dễ lật ngửa bụng thuyền ra.

 Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu Nước ở đây thở và kêu như cửa sống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phòng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như rót dầu sôi vào Những bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tụt xuống Có những thuyền

đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và

đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy hút Sông Đà-từ đây cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhautới một cột nước cao đến vài sải Thế rồi thu ảnh Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre-plonggée lên một cái mặt giếng

mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thuỷ tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoát tít đáy, truyền cảm lại cho người xem phim kí

sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn.

(Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân)

Cảm nhận của anh/ chị vẻ đẹp hình tượng sông Đà ở đoạn trích trên đây Từ

đó, nhận xét về cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông Đà và cái Tôi của nhà văn Nguyễn Tuân.

I MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk Mở bài chung

- Đoạn trích sau đây trong “Người lái đò Sông Đà” thể hiện rõ cách nhìn mang tính

phát hiện của nhà văn Nguyễn Tuân về dòng sông Đà: “Hùng vĩ… đánh phèn”.

II THÂN BÀI

1 Khái quát

- Hoàn cảnh ra đời: Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà

(1960), gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trongthời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết quả của chuyến đi thực tế củanhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm

1958 Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân vàđồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhàvăn nguồn cảm hứng sáng tạo

Trang 13

- Nội dung: Nguyễn Tuân là một nhà văn yêu nước, giàu lòng tự hào dân tộc Tình

yêu nước ấy cũng được biểu hiện trước hết ở tình yêu thiên nhiên tha thiết Khám phá vềsông Đà – dòng chảy dữ dội của núi rừng Tây Bắc là một thành công đặc sắc của ôngtrong tùy bút “Người lái đò sông Đà” Chỉ có Nguyễn Tuân mới không nhọc công dò đếnngọn nguồn lạch sông, truy tìm đến tận nơi gốc tích khai sinh ra sông Đà, để biết chỗ phátnguyên của nó thuộc huyện Cảnh Đông và thoạt kì thủy, dòng sông mang những cái tênTrung Hoa khá thơ mộng: Li Tiên, Bả Biên Giang Cũng chưa có nhà văn nào trướcNguyễn Tuân có thể kể tên vanh vách 50/73 con thác lớn nhỏ nằm lô nhô suốt một dảisông từ Lai Châu về đến chợ Bờ

- Lời đề từ “Chúng thủy giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu”: Nhà văn Nguyễn

Tuân đã đặc biệt muốn nhấn mạnh cá tính độc đáo của của dòng sông Sông Đà khác hẳncác dòng sông khác bởi nếu tất cả các dòng sông khác đều chảy về hướng đông thì riêngSông Đà chạy về hướng bắc Có lẽ vì con sông đặc biệt như vậy nên nó trở thành đốitượng rất phù hợp với cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân, nó được tác giả tìm đến để thể

hiện cá tính nghệ thuật của mình Ở lời đề từ “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” tác giả lại thể hiện xúc cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của dòng sông và con người gắn bó

với dòng sông, bộc lộ rõ cảm hứng chủ đạo của tác phẩm là ngợi ca thiên nhiên và conngười Tây Bắc

- Nguyễn Tuân là nhà văn theo chủ nghĩa xê dịch và ưa cảm giác mạnh Giống như

các nhà văn theo chủ nghĩa xê dịch, Nguyễn Tuân thích đi nhiều để thay đổi cảm giáccho các giác quan Ông không thích những gì bình thường và tầm thường nên đối tượng

mà ông miêu tả đã đẹp thì phải đẹp đến mức tuyệt mĩ, dữ dội phải đến mức khủng khiếp

và tài năng phải đến mức siêu phàm Con sông Đà của Tây Bắc rất phù hợp với mĩ cảmcủa nhà văn nên bằng quan sát tỉ mỉ, sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú và tài năngnghệ thuật xuất sắc nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng con sông Đà thành một hìnhtượng nghệ thuật hấp dẫn, biến nó từ vật vô tri vô giác thành một sinh thể có sức sống, cótâm trạng và tính cách Có lẽ cũng vì thế tác giả gọi nó là “con” và viết hoa tên của nóthành Sông Đà Con Sông Đà hiện lên trong tác phẩm với hai nét tính cách nổi bật làhung bạo và trữ tình Hai nét tính cách tưởng chừng như đối lập nhưng lại cùng tồn tạitrong một hình tượng nghệ thuật Sông Đà rất hung dữ, hiểm ác gây tai họa cho conngười nhưng cũng là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, vừa hùng vĩ vừathơ mộng tạo nên chất men say cho con người trong cuộc sống Đoạn trích nêu trên nằmtrong phần miêu tả tính cách hung bạo của Đà giang

2 Hình tượng con Sông Đà qua đoạn trích

Nhận xét đầu tiên của nhà văn về dòng sông Đà ở đây là “Hùng vĩ của sông Đà

không phải chỉ có những thác đá” Câu văn đã khẳng định sông Đà là dòng sông hùng vĩ

và hẳn là vẻ hùng vĩ ấy được thể hiện rõ nhất ở những thác đá trên sông Nhưng hùng vĩcủa sông Đà không chỉ có thế mà còn thể hiện rõ qua cảnh đá bờ sông dựng vách thành,những ghềnh sông, hút nước được miêu tả trong đoạn trích

Trang 14

2.1 Cảnh đá bờ sông dựng vách thành

Sông Đà ở quãng này chảy qua vùng rừng núi Tây Bắc và hình ảnh “vách thành”

đã phần nào thể hiện sự vững chãi thâm nghiêm và sức mạnh bí ẩn đầy đe dọa của nhữngvách núi bên bờ sông Đà Tác giả đã dùng những chi tiết tưởng như bâng quơ, ngẫu nhiênnhưng lại có giá trị gợi tả gián tiếp độ hẹp của dòng sông, độ cao của vách đá Chẳng hạn,

mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời Những vách đá dựng đứng khiến ánh

sáng mặt trời ở đây chỉ có vào lúc giữa trưa, tức là khi mặt trời chiếu sáng theo phương

thẳng đứng mới có thể lọt xuống dòng sông Hoặc cách so sánh vách đá thành chẹt lòng

sông Đà như một cái yết hầu – động từ “chẹt” cùng với việc đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách hoặc Có quãng con nai con hỗ đã có lần vọt từ bờ này sang

bờ kia đã đem đến ấn tượng mãnh liệt cho người đọc về độ hẹp của lòng sông với lưu tốc

nước chảy mạnh khi bị vách đá chèn ép tới nghẹt thở Nguyễn Tuân là nhà văn của nhữngcảm giác mạnh và ông thường miêu tả thế giới sự vật thông qua cảm giác Bằng cảm giác

của xúc giác nhà văn miêu tả ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng

thấy lạnh Ấn tượng của thị giác được thể hiện khi lấy hè phố để miêu tả mặt sông, lấy

nhà cao gợi tả vách đá, truyền cho người đọc những hình dung về cái tăm tối lạnh lẽo độtngột khi con thuyền đi từ ngoài vào khúc sông có đá hun hút dựng vách thành qua hình

ảnh so sánh về một khung cửa sổ nào trên cái tầng thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.

2.2 Mặt ghềnh Hát Loóng

Dòng sông Đà lắm thác nhiều ghềnh vốn đã từng được nhắc đến trong ca dao:

Đường lên Mường Lễ bao xa Trăm bảy cái thác, trăm ba cái ghềnhNhà văn Nguyễn Tuân trong tác phẩm có thể kể vanh vách hơn bảy mươi cái tháctrên sông Đà Đáng chú ý, ở quãng Hát Loóng có những ghềnh sông mà cảnh tượng của

nó rất dữ dội Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô

sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm… Thông qua sự miêu tả của

Nguyễn Tuân, những ghềnh sông ấy không chỉ dữ dội mà còn đầy nguy hiểm Cách nhàvăn sử dụng toàn câu ngắn, nhịp nhanh xô nhau, dồn dập, chồng chất lên nhau kết hợpvới các thanh sắc, những từ ngữ trùng điệp nối tiếp thế chỗ nhau trong các cụm từ ngữ đãtái hiện sinh động quần thể những sức mạnh thiên nhiên dữ dội nhất của nước, sóng, gió,

và đá sông Đà Từ láy “gùn ghè” và hình ảnh so sánh mang đậm sắc thái nhân hóa về

việc sóng gió trên mặt ghềnh Hát Loóng lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò

sông Đà nào tóm được qua đấy đã thể hiện sinh động sự hung hãn lì lợm và cuồng bạo

của dòng sông Qua từ “nợ xuýt”, nhà văn đóng góp thêm vào Từ điển tiếng Việt một từ

mới mẻ, độc đáo vì nợ không có vẫn đòi, không đòi bằng tiền, bằng tình mà đòi bằngmạng sống của con người Những người lái qua đó sơ xuất tay lái thì sẽ bị lật ngửa bụngthuyền ra

2.3 Hút nước trên sông Đà

Trên Sông Đà còn có những hút nước rất nguy hiểm Những cái hút nước xoáy títđáy ấy được tác giả miêu tả qua một loạt những so sánh sống động, đặc sắc Nó giống

như những cái giếng bê tông được người ta thả xuống sông để chuẩn bị xây móng cầu,

Trang 15

với âm thanh thở và kêu như cửa cống cái bị sặc, trong âm thanh như nước bị rót dầu sôi.

Các từ láy tượng hình “lừ lừ”, từ láy tượng thanh tăng nghĩa “ặc ặc” cùng biện pháp nhân

hóa khi miêu tả nước thở và kêu, bị sặc… Tất cả góp phần làm hiện ra cả hình ảnh và âm

thanh của hút nước như một quái vật đang giận dữ

Sự nguy hiểm của những hút nước sông Đà được nhà văn miêu tả qua kiến thức vềgiao thông, giúp người đọc dễ dàng hình dung ra cảm giác hãi hùng nếu phải đi thuyền

men gần hút nước đáng sợ ấy Thuyền bè đi ngang qua đó phải đi nhanh, y như là ô tô

sang số ấn ga cho nhanh để thoát khỏi quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Nguy

hiểm hơn nữa là thuyền bè đi nghênh ngang là sẽ bị nó “lôi tuột xuống” đáy hút nước.Khi bị hút vào đó, lập tức thuyền trồng cây chuối, bị dìm sống đi ngầm dưới lòng sông,mươi phút sau lại thấy xuất hiện nhưng đã tan xác ở khuỷnh sông dưới

Dường như miêu tả bằng hình ảnh, âm thanh chưa đủ, Nguyễn Tuân còn dùngnhững kiến thức về điện ảnh, những liên tưởng phong phú và đặc biệt là cảm giác mạnh

để miêu tả những nước trên Sông Đà Nhà văn liên tưởng đến việc có một anh quay phimtáo bạo vì muốn truyền cảm giác lạ cho người xem nên đã ngồi vào chiếc thuyền thúngtròn vành rồi cả thuyền, cả mình, cả máy quay xuống xoáy hút Sông Đà để thu ảnh Đâyhẳn là một giả tưởng li kì dẫn dụ người đọc vào trò chơi cảm giác, kéo họ xuống tận đáyhút nước xoáy tít, sâu hoắm cùng một anh bạn quay phim táo tợn Hút nước được miêu tảbằng thủ pháp điện ảnh, hất ngược từ dưới lên một cách sống động, truyền cảm từ hình

khối của một thành giếng xây toàn bằng nước cho đến màu sắc của dòng sông “nước xanh ve”, và thậm chí cho đến cả cảm giác sợ hãi rất chân thực của con người khi Cái

thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, khi phải đứng trong lòng một khối pha lê xanh như sắp vỡ tan, bất cứ lúc nào cũng như sắp đổ ụp vào người Những thước

phim ấy truyền cảm lại cho người xem những cảm giác rất mạnh như đang lấy gân ngồigiữ chặt chiếc ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng vừa bị vứt vào một chiếc cốc pha lênước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn

3 Đánh giá

3.1 Về nghệ thuật

Bằng thể tùy bút phóng túng, vốn kiến thức phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnhvực, tác giả đã khám phá vẻ đẹp của dòng sông ở góc độ địa lí nhưng đậm chất vănchương, kết hợp với nhiều ngành nghệ thuật khác như giao thông, âm nhạc, hội hoạ, điệnảnh, đầy ấn tượng; Sự quan sát tỉ mỉ, sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú, ngôn ngữ tàihoa, điêu luyện giàu chất thơ, chất nhạc, chất tạo hình; Cách sử dụng nghệ thuật khắc họahình tượng tự nhiên, những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ vàrất thú vị; Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao; Câu văn

đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì chậm rãi, trữ tình tác giả đã biến con sông đà từ vô tri vô giác thành con sông có những nét cá tính riêngbiệt mà không con sông nào có

3.2 Nhận xét những phát hiện về dòng sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân

Tả sự hung bạo của sông Đà, tác giả không chỉ dừng lại ở hình ảnh một dòng sông

ở miền đất Tây Bắc hoang sơ hùng vĩ mà nhằm làm nổi bật sông Đà như một biểu tượng

Trang 16

về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ, hoang sơ của thiên nhiên, đất nước Qua cái nhìncủa Nguyễn Tuân, Sông Đà không còn là con sông vô tri, vô giác mà là con sông có linhhồn, có cá tính như con người: hung bạo, dữ dằn, hùng vĩ Sông Đà hiện lên như mộtcông trình kiến trúc tuyệt vời mà tạo hóa dành riêng cho mảnh đất Tây Bắc Nó còn nhưmột sinh thể có hồn, gần gũi, gắn bó với đất và người nơi đây.

Qua hình tượng Sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến tha thiết đối vớithiên nhiên đất nước Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song củatạo hóa Cảm nhận và miêu tả Sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác vàlịch lãm Hình tượng Sông Đà là trong tác phẩm có vai trò là phông nền cho sự xuất hiện

và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới

3.3 Cái Tôi của nhà văn Nguyễn Tuân được thể hiện qua đoạn trích:

- “Cái tôi” tài hoa, tinh tế thể hiện ở những rung động, say mê của nhà văn trước vẻđẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước

- “Cái tôi” uyên bác thể hiện ở cách nhìn và sự khám phá hiện thực có chiều sâu; ở

sự vận dụng kiến thức sách vở và các tri thức của đời sống một cách đa dạng, phong phú;

ở sự giàu có về chữ nghĩa Các thuật ngữ chuyên môn của các ngành quân sự, điện ảnh,thể thao,… được huy động một cách hết sức linh hoạt nhằm diễn tả một cách chính xác

và ấn tượng những cảm giác về đối tượng

- “Cái tôi” tài hoa, tinh tế và uyên bác chính là một cách thể hiện tình yêu quêhương đất nước, lòng yêu cái đẹp của người nghệ sĩ chân chính Đồng thời cũng cho thấyquan niệm của Nguyễn Tuân: viết văn là để khẳng định sự đọc đáo của chính người cầmbút

-Đoạn số 2:

Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên Tiếng thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng Tới cái thác rồi Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân giời đá Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm

mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này Mặt sông rung tít lên như tuyếc-bin thủy điện nơi đáy hầm đập Mặt sông trắng xóa càng làm bật rõ lên những hòn những tảng mới trông tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm tùy theo sở thích tự động của đá to đá

bé Nhưng hình như sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp

lá cà có đá dàn trận địa sẵn Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ

hở, nhưng chính là hai đứa giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa, vào tận

Trang 17

tuyến giữa rồi nước sóng luồng mới đánh khuýp quật vu hồi lại Nếu lọt vào đây rồi mà cái thuyền du kích ấy vẫn chọc thủng được tuyến hai, thì nhiệm vụ của những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi ở tuyến ba là phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên, phải tiêu diệt thuyền trưởng cùng tất cả thủy thủ ngay ở chân thác Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt Một hòn ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến Một hòn khác lùi lại một chút

và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào

(Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân)

Cảm nhận của anh/ chị vẻ đẹp hình tượng sông Đà ở đoạn trích trên đây Từ

đó, nhận xét phong cách tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân.

I MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk Mở bài chung

- Đoạn trích sau đây trong “Người lái đò Sông Đà” thể hiện rõ phong cách tài hoa

uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân: “Còn xa lắm… tiến gần vào”.

II THÂN BÀI

1 Khái quát

- Hoàn cảnh ra đời: Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà

(1960), gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trongthời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết quả của chuyến đi thực tế củanhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm

1958 Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân vàđồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhàvăn nguồn cảm hứng sáng tạo

- Nội dung: Nguyễn Tuân là một nhà văn yêu nước, giàu lòng tự hào dân tộc Tình

yêu nước ấy cũng được biểu hiện trước hết ở tình yêu thiên nhiên tha thiết Khám phá vềsông Đà – dòng chảy dữ dội của núi rừng Tây Bắc là một thành công đặc sắc của ôngtrong tùy bút “Người lái đò sông Đà” Chỉ có Nguyễn Tuân mới không nhọc công dò đếnngọn nguồn lạch sông, truy tìm đến tận nơi gốc tích khai sinh ra sông Đà, để biết chỗ phátnguyên của nó thuộc huyện Cảnh Đông và thoạt kì thủy, dòng sông mang những cái tênTrung Hoa khá thơ mộng: Li Tiên, Bả Biên Giang Cũng chưa có nhà văn nào trướcNguyễn Tuân có thể kể tên vanh vách 50/73 con thác lớn nhỏ nằm lô nhô suốt một dảisông từ Lai Châu về đến chợ Bờ

- Lời đề từ “Chúng thủy giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu”: Nhà văn Nguyễn

Tuân đã đặc biệt muốn nhấn mạnh cá tính độc đáo của của dòng sông Sông Đà khác hẳncác dòng sông khác bởi nếu tất cả các dòng sông khác đều chảy về hướng đông thì riêngSông Đà chạy về hướng bắc Có lẽ vì con sông đặc biệt như vậy nên nó trở thành đốitượng rất phù hợp với cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân, nó được tác giả tìm đến để thể

hiện cá tính nghệ thuật của mình Ở lời đề từ “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”

Trang 18

tác giả lại thể hiện xúc cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của dòng sông và con người gắn bó

với dòng sông, bộc lộ rõ cảm hứng chủ đạo của tác phẩm là ngợi ca thiên nhiên và conngười Tây Bắc

- Nguyễn Tuân là nhà văn theo chủ nghĩa xê dịch và ưa cảm giác mạnh Giống như

các nhà văn theo chủ nghĩa xê dịch, Nguyễn Tuân thích đi nhiều để thay đổi cảm giáccho các giác quan Ông không thích những gì bình thường và tầm thường nên đối tượng

mà ông miêu tả đã đẹp thì phải đẹp đến mức tuyệt mĩ, dữ dội phải đến mức khủng khiếp

và tài năng phải đến mức siêu phàm Con sông Đà của Tây Bắc rất phù hợp với mĩ cảmcủa nhà văn nên bằng quan sát tỉ mỉ, sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú và tài năngnghệ thuật xuất sắc nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng con sông Đà thành một hìnhtượng nghệ thuật hấp dẫn, biến nó từ vật vô tri vô giác thành một sinh thể có sức sống, cótâm trạng và tính cách Có lẽ cũng vì thế tác giả gọi nó là “con” và viết hoa tên của nóthành Sông Đà Con Sông Đà hiện lên trong tác phẩm với hai nét tính cách nổi bật làhung bạo và trữ tình Hai nét tính cách tưởng chừng như đối lập nhưng lại cùng tồn tạitrong một hình tượng nghệ thuật Sông Đà rất hung dữ, hiểm ác gây tai họa cho conngười nhưng cũng là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, vừa hùng vĩ vừathơ mộng tạo nên chất men say cho con người trong cuộc sống Đoạn trích nêu trên nằmtrong phần miêu tả tính cách hung bạo của Đà giang

2 Hình tượng sông Đà trong đoạn trích

2.1 Khái quát

Từ trước đến nay, khi viết về các dòng sông các nhà văn nhà thơ thường ca ngợi vẻđẹp trữ tình, hiền hòa, thơ mộng Cũng có một số nhà văn, nhà thơ miêu tả cảnh dữ dội,hiểm trở, trùng trùng lớp lớp của những khúc đại giang, của những cảnh thác ghềnh dữdội như “Bạch đằng giang phú” của Trương Hán Siêu, “Bạch đằng Hải khẩu” củaNguyễn Trãi Nhưng có lẽ chỉ đến “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân thì sựhiểm trở, hung bạo và dữ dội của con sông mới trở nên sống động và thật khủng khiếp.Trong đoạn văn này, bậc kì tài về mặt ngôn ngữ Nguyễn Tuân khi miêu tả những thác đátrên sông Đà đã làm nổi bật lên hình ảnh con sông Đà không chỉ gập ghềnh, lởm chởm

mà còn đầy nguy hiểm, sống dậy gào thét làm náo động cả lên, khiến cho người đọc phải

“rùng mình, sởn gáy” (Nguyễn Đăng Mạnh)

2.2 Tiếng nước thác trên Sông Đà:

Sông Đà hung bạo không chỉ ở những cảnh đá bờ dựng vách thành, những ghềnhsông, hút nước đầy nguy hiểm mà hùng vĩ và dữ dội nhất trên sông Đà là những thác đá.Những thác đá trên sông Đà được nhà văn miêu tả chi tiết qua âm thanh, cảnh tượng và

sự nguy hiểm đến kinh hoàng của nó Trước tiên nhà văn cảm nhận nó qua âm thanh Chủthể miêu tả đang trong quá trình di chuyển đến gần cái thác đá, và âm thanh tiếng nướcthác được miêu tả phù hợp về khoảng cách và cường độ Ban đầu, có lẽ là nghe từ xa thì

tiếng nước thác Như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích,

giọng gằn mà chế nhạo Rồi khi lại gần, tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng Nguyễn Tuân đã rất ngông khi dùng

Trang 19

lửa để miêu tả nước Nước và lửa vốn xung khắc với nhau, hủy diệt lẫn nhau nhưng ở đâynhà văn đã dùng hình ảnh và âm thanh của lửa để miêu tả nước khiến hiện ra trước mắtngười đọc là cả một rừng vầu, tre nứa đang bị đốt cháy, phát ra tiếng nổ Nhưng âm thanh

đó còn chưa là gì khi trong khu rừng đang cháy ấy còn có hàng ngàn con trâu mộng tokhỏe đang bị lửa hun nóng và đốt cháy Lửa đã bén vào da của đàn trâu khiến chúng rốnglên đầy đau đớn và lồng lộn muốn phá tan rừng lửa để tìm cách thoát thân Miêu tả từ xađến gần nên lúc đầu là tiếng “réo” còn về sau trở thành tiếng “rống” Đây là cách dùng từrất chính xác và bất ngờ, khiến sông Đà từ một đối tượng vô tri vô giác trở thành mộtsinh thể có tính cách và tâm lí, như một con người Các sắc thái khác nhau của âm thanhtiếng “réo” của nước thác: vừa mới “oán trách” và “van xin” như một kẻ bại trận, biếtmình yếu thế hơn đối thủ; ngay lập tức chuyển sang “khiêu khích” và “chế nhạo” rồi

“rống” lên như một kẻ trên cơ, ra sức giễu cợt, đe dọa đối phương Bản hợp âm khủngkhiếp và đòn tâm lí chiến trở mặt như trở bàn tay ấy cho thấy sự nham hiểm, xảo quyệtcủa sông Đà khi sắp xung trận Những người lái đò yếu bóng vía và non kinh nghiệm sẽcảm thấy mất tinh thần, hồn xiêu phách lạc

Quả thật, sức mạnh hoang dã của tự nhiên qua tài đối sánh, nhân hóa và trí tưởngtượng phong phú, độc lạ của Nguyễn Tuân đã cho người đọc một cảm giác mạnh đến tận

độ Như vậy, chỉ riêng với âm thanh của thác đá sông Đà, Nguyễn Tuân đã gây ấn tượngtrong người đọc về sự dữ dội đến khủng khiếp của những thác đá Sông Đà

2.3 Những thạch trận đá trên sông Đà

Tiếp theo là những ấn tượng từ sự quan sát trực quan của tác giả khi đã “Tới cáithác rồi” Cảnh tượng những thác đá trên Sông Đà cũng thật dữ dội Ngoặt tới khúc sông

ấy là cảnh sóng bọt đã trắng cả một chân trời đá Sóng nước vấp phải đá tung bọt trắng

xóa Sông Đà ở đây bao nhiêu là đá với đủ những đá to đá bé, đá hòn đá tảng… mà thằng

đá nào trông cũng ngỗ ngược, xấc xược, hỗn hào, du côn và mặt cũng nhăn nhúm, méo

mó hơn mặt nước ở quãng ấy Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, mỗi hòn đá khôngchỉ mang những nét chung ấy mà còn có một gương mặt riêng Để khắc họa từng gươngmặt riêng của những hòn đá trên thác đá Sông Đà, Nguyễn Tuân đã phải lao động cật lực,khổ công quan sát và tung ra trường từ vựng hết sức giàu có, phong phú Phép liên tưởng

và nhân hóa, kết hợp với những động từ, tính từ: chỉ hành động (nhổm cả dậy, vồ lấy,chặn ngang, dụ, đánh khuýp quật vu hồi, đánh tan, tiêu diệt), chỉ tính cách (ngỗ ngược),hình sắc (nhăn nhúm, méo mó, to, bé), tư thế (đứng, ngồi, nằm) khiến người đọc cảmnhận Sông Đà mang gương mặt của dân anh chị, những kẻ côn đồ chuyên đi đòi nợ thuêbặm trợn và sẵn máu giang hồ

Sự nham hiểm quỷ quyệt của Sông Đà đối với những người lái đò được thể hiện rõnhất ở những thế trận mà đá dàn bày Đội quân đá ấy ngàn năm vẫn mai phục hết tronglòng sông Đá sông Đà dường như không đứng, nằm, ngồi một cách tùy tiện mà Sông Đà

đã giao việc cho mỗi hòn Mỗi hòn một dáng (đứng, nằm, ngồi), mỗi hòn một nhiệm vụ(đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông: hàng tiền vệ là hai hòn canhmột cửa đá trông như là sơ hở giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa; tuyến

Trang 20

giữa sóng nước đánh khuýp quật vu hồi lại, tuyến ba là những boong-ke chìm và pháo đài

đá nổi có nhiệm vụ phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên)

Đá trên sông Đà đã giao việc cho nhau như vậy để dàn bày thành ba thạch trận đáđầy biến hóa Mỗi thạch trận đều có rất nhiều cửa tử và chỉ có duy nhất một cửa sinh.Cửa sinh lúc ở bên tả, lúc ở bên hữu, lúc ở chính giữa Thạch trận thứ nhất: Sông Đà bày

ra năm cửa trận, có bốn cửa tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông

Thạch trận thứ hai: “Tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại

bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá đánh khuýp quật vu hồi chiếc thuyền” Đến thạch trận thứ ba: Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác Tại đây những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi ở đầu chân thác phải đánh

tan cái thuyền, tiêu diệt cả thủy thủ và thuyền trưởng trên chiếc thuyền ấy

Có thể nói, bằng vốn kiến thức phong phú, sự tài hoa, uyên bác Nguyễn Tuân đã sửdụng kiến thức ở nhiều lĩnh vực như giao thông, điện ảnh, quân sự, võ thuật (“mai phục”,

“chặn ngang”, “canh”, “đánh tan”, “tiêu diệt”, sóng: “đánh khuýp quật vu hồi”, “đánhgiáp lá cà”, “đòn tỉa”, “đòn âm”) làm hiện lên hình tượng con Sông Đà dữ dội, hungbạo đến khủng khiếp Con Sông Đà như một loài thủy quái, hung hăng, bạo ngược, làmột thứ thiên nhiên Tây Bắc với “diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một” Con sông

mà “hằng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phảnứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà” Chẳng thế mà sông Đà được gắn vớicâu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh:

Núi cao sông hãy còn dàiNăm năm báo oán đời đời đánh ghen

3 Đánh giá

3.1 Nghệ thuật

Nguyễn Tuân đã dùng hết bút lực để thi tài với tạo hoá Ông dùng những câu góccạnh, giàu tính tạo hình, những câu nhiều động từ mạnh nối tiếp nhau, dồn dập; sử dụnglối nói ví von, ẩn dụ, tượng trưng, liên tưởng đầy bất ngờ, chính xác, thú vị; vận dụnghiểu biết của nhiều ngành khác nhau: địalý,l ịch sử, hội họa, văn chương và những trithức về tự nhiên để khắc họa vẻ đẹp của sông Đà Cùng với nghệ thuật nhân hóa, liêntưởng phong phú, ngòi bút miêu tả độc đáo, con sông Đà từ một đối tượng vô tri vô giác,khi bước vào trang văn Nguyễn Tuân đã trở thành một sinh thể có tính cách và tâm lí rấtghê gớm, đáng sợ

3.2 Nội dung

Đoạn trích là khúc ca ca ngợi vẻ đẹp hung bạo, đầy cá tính của sông Đà, biểutượng cho vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc Đó chính là sức mạnh củathiên nhiên mà con người cần chinh phục và cũng là niềm tự hào của tác giả về Tổ quốchùng vĩ, giàu đẹp Qua đó ta có thể hình dung những vất vả gian lao mà những người lái

đò phải vượt qua, từ đó ta càng khâm phục hơn ý chí kiên cường và tài trí của họ trongviệc chinh phục con sông, bắt nó phải quy phục và cống hiến cho cuộc sống của conngười

Trang 21

3.3 Nhận xét về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân

- Hình ảnh sông Đà hung dữ ở một mức độ ghê gớm, hơn tất cả mọi con sông đãđược tái hiện trong văn học, là bởi vì cảm quan sáng tác của Nguyễn Tuân chỉ hứng thúvới những vẻ đẹp vượt lên mức bình thường, gây ấn tượng mãnh liệt

- Biểu hiện phong cách tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân: Ông

không chấp nhận sự sáo mòn Ông luôn tìm kiếm những cách thức thể hiện, những đốitượng mới mẻ Nhà văn luôn tiếp cận sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mĩ, có ấn tượngvới những sự vật gây cảm giác mạnh (Sông Đà là một sinh thể như vậy) Ông có xuhướng muốn tô đậm cái cá tính, phi thường của dòng sông Đà để gây cảm giác mãnh liệt,

dữ dội Tác giả bộc lộ sự tinh vi trong mĩ cảm với trường liên tưởng phong phú, ngôn ngữvừa phong phú vừa tinh tế Một cái tôi uyên bác khi huy động mọi kiến thức thuộc nhiềulĩnh vực khác nhau để khắc họa hình tượng sông Đà Nét độc đáo kết hợp với sự tài hoa

và uyên bác trong ngòi bút Nguyễn Tuân khiến cho hình tượng sông Đà trở nên đặc sắc

và đáng nhớ

- Phong cách nghệ thuật đã thể hiện rõ Nguyễn Tuân là nhà văn có ý thức tự

khẳng định cá tính độc đáo của mình Chứng tỏ ông là người có một lòng yêu quê hươngđất nước tha thiết, một cuộc đời lao động nghệ thuật khổ hạnh, một trí thức tâm huyết vớinghề Người đọc yêu hơn, trân trọng hơn phẩm chất, cốt cách của con người đáng quýnày

Đoạn số 3:

…Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất

chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò […] Mặt sông trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng Nhưng ông đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy cái luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để

mở đường tiến Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng

Trang 22

đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy Còn một trùng vây thứ ba nữa Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được Thế là hết thác…

(Trích Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, tập một)

Phân tích nhân vật ông lái đò trong đoạn trích trên đây Từ đó, nhận xét cái nhìn mang tính phát hiện về con người của nhà văn Nguyễn Tuân.

(Có thể hỏi theo cách khác: khám phá về người lao động mới hoặc tìm thấy chấtvàng mười đã qua thử lửa trong tâm hồn Tây Bắc)

I MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk Mở bài chung

- Đoạn trích sau đây trong “Người lái đò Sông Đà” đã làm nổi bật vẻ đẹp của nhânvật ông lái đò, thể hiện cái nhìn mang tính phát hiện về con người của nhà văn Nguyễn

Tuân: “…Sóng thác đã đánh đến miếng đòn… Thế là hết thác””.

II THÂN BÀI

1 Khái quát (Có thể lược ngắn gọn hơn)

- Hoàn cảnh ra đời: Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà

(1960), gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trongthời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết quả của chuyến đi thực tế củanhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm

1958 Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân vàđồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhàvăn nguồn cảm hứng sáng tạo

- Lời đề từ: Hai câu đề từ của tác phẩm đã không chỉ thể hiện nguồn cảm hứng mà

còn nêu lên được những ý nghĩa chủ đề của tác phẩm Ngay từ câu để từ đầu tiên trongtác phẩm nhà văn Nguyễn Tuân đã viết: “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” Có ýkiến cho rằng lời đề từ này là để ca ngợi vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông Đà.Nhưng không chỉ vậy, nó còn gợi liên tưởng về hình ảnh con người lao động trên dòngsông Tiếng hát ở đây là lời ngợi ca con người trong lao động, chinh phục tự nhiên để xâydựng cuộc sống Lời đề từ “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” còn gợi hình ảnh đẹp

về con người trong lao động, sản xuất mà ở đây nhà văn Nguyễn Tuân muốn nhắc đếnhình ảnh ông lái đò trong tác phẩm Câu đề từ thứ hai nhấn mạnh vẻ đẹp đầy cá tính, dữdội của dòng sông Đà để từ đó ta có thể hình dung những vất vả gian lao mà những ngườilái đò phải vượt qua, càng khâm phục hơn ý chí kiên cường và tài trí của họ trong việcchinh phục con sông, bắt nó phải quy phục và cống hiến cho cuộc sống của con người

- Giới thiệu về nhân vật trong tác phẩm: Nhân vật ông lái đò không có tên tuổi, lai

lịch cụ thể mà chỉ được gọi bằng nghề nghiệp Nhà văn đã làm mờ tên tuổi của nhân vật

Trang 23

để khái quát vẻ đẹp của con người Tây Bắc, vẻ đẹp của những người lao động bình dị màphi thường Nhà văn Nguyễn Tuân giới thiệu “Ông lái đò Lai Châu bạn tôi” khoảng 70tuổi Ông đã làm nghề lái đò trên Sông Đà được hơn mười năm, đã xuôi ngược trên dòngsông Đà hàng trăm chuyến để trở thành da trâu, xương hổ, cánh kiến về xuôi và ông cũng

đã không lái đò được khoảng 10 năm Ở tuổi 70, ngoại hình của ông lái đò được nhà vănmiêu tả: cái đầu bạc quắc thước, đôi tay dài lêu nghêu trông rất trẻ trung, đôi chânkhuỳnh khuỳnh như kẹp lấy một cuống lái trong tưởng tượng Nhãn giới vòi vọi như lúcnào cũng chờ đợi một cái bến tưởng tượng trong sương mù, giọng nói ào ào như nướcmặt gềnh… Có thể nói ngoại hình của ông lái đò là ngoại hình của một người lao độngtrên sông nước Trên ngực còn ông nổi một số “củ nâu” thương tích mà Nguyễn Tuân rấtngưỡng mộ gọi là “thứ huân chương lao động siêu hạng”

Giống như hầu hết các nhân vật của Nguyễn Tuân như Huấn Cao với nét chữ rồng bayphượng múa, nói lên cái hoài bão tung hoành của cả cuộc đời con người, giống như một

cụ ấm thức dậy từ tờ mờ sáng đã pha trà để nhận ra trong chén trà “có mùi thơ và mộttriết lý”… Hình tượng ông lái đò Tây Bắc cũng là một người nghệ sĩ trong công việc,nghề nghiệp của mình Ông là tay lái ra hoa, là một người nghệ sĩ trong nghệ thuật vượtthác qua ghềnh, Để làm nổi bật tài hoa, trí dũng của ông lái đò, nhà văn Nguyễn Tuân đãsáng tạo ra tình huống nghệ thuật ông lái đò vượt thác Sông Đà là một một cuộc thủychiến có một không hai trong lịch sử văn học, giữa một bên là thủy quái sông Đà với sứcmạnh ghê gớm, tâm địa xảo trá và một bên là ông lái đò tuy dẻo dai, cường tráng nhưngđơn độc trong cuộc chiến gay go, quyết liệt

2 Vẻ đẹp của ông đò trong đoạn trích

2.1 Tái hiện hình ảnh ông lái đò trong cuộc giao tranh với dòng Sông Đà

Đoạn văn đã tái hiện cuộc giao chiến của ông lái đò với dòng sông Đà một cáchsinh động, đầy gay cấn Sông Đà trong đoạn trích hiện nguyên hình là một kẻ thù số mộtcủa con người, như một bầy thủy quái rất nham hiểm, chúng bày sẵn những thạch trận đáđầy biến hóa với mục đích ăn chết cái thuyền, tiêu diệt thủy thủ và thuyền trưởng ở ngaychân thác

- Thạch trận thứ nhất: Ở thạch trận thứ nhất, Sông Đà hiện lên là một đối thủ kiên

cường, lắm mưu nhiều kế: nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh

nằm lập lờ phía tả ngạn sông Cảnh hỗn chiến ác liệt bởi Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất rồi lại đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm Thác

nước reo hò làm thanh viện Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác, chúng tạo ra cảnh tượng đầy đe dọa Mặt sông trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể

đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng Một bên giao chiến nữa là ông lái

đò Trước sự tấn công đầy dữ dội của dòng sông, ông lái đò đã bị thương, mặt méo bệch

đi nhưng ông cố nén vết thương, hai tay giữ chặt mái chèo, chân kẹp chặt lấy cuống lái.Bằng thể chất dẻo dai, cường tráng, sức chịu đựng phi thường và bằng sự bình tĩnh, tự tin

trên chiếc thuyền sáu bơi chèo vẫn vang lên tiếng chỉ huy ngắn gọn, dứt khoát của người cầm lái ông lái đò đã vượt qua thạch trận thứ nhất một cách bình tĩnh, chủ động.

Trang 24

- Thạch trận thứ hai: Không được nghỉ tay nghỉ mắt, ông lái đò bước vào ngay

thế trận thứ hai Thế trận này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa

sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn, vẫn chỉ có một cửa sinh còn lại đều là luồng

chết Thác nước Sông Đà được so sánh với sức mạnh của hổ báo và chúng tấn công

những người lái đò một cách quyết liệt với dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên

sông đá Nhưng bằng nghệ thuật lái đò điêu luyện, ông lái đò chủ động thế tấn công, ông

cưỡi lên sóng thác sông Đà như là cưỡi hổ, “Nắm chặt lấy bờm sóng”, “ghì cuống lái”,

“lái biết một đường chéo để phóng nhanh vào cửa sinh” Hàng loạt động từ được nhà vănhuy động như một đội quân ngôn ngữ hùng hậu để miêu tả khí thế xung trận của ông đò:Nắm, ghì, phỏng, lái, tránh, ráo, đè, chặt… Dù ông đò đã bẻ gãy những đợt tấn công củachúng, nhưng bọn đá sông Đà vẫn chưa chấp nhận chịu thua nên bốn năm thủy quân cửa

ải xô ra để hòng lôi thuyền vào tập đoàn cửa tử nhưng ông đò sớm đã nhận ra dã tâm củachúng, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo, lúc thì ông chặt đôi ra để mở đường tiến, khiếnthằng đá tướng đứng chiến ở cửa đá này mặt xanh lè, tiu nghỉu vì thất trận

- Thạch trận thứ ba: Thạch trận thứ ba ít cửa hơn Nhưng bên phải bên trái, bên

tả bên hữu đều là cửa chết Những thế trận mà sông Đà dàn bày quả thực đầy biến hóa,vừa khiêu khích, dụ dỗ vừa đầy mưu cao kế hiểm Ở trùng vi thạch trận này, tác giả miêu

tả không nhiều song vẫn làm nổi bật lên được sự nham hiểm của đá thác Sông Đà và tàinghệ của ông lái đò Một loạt các động từ lại được nhà văn sử dụng để miêu tả cách đánhcủa ông đò: Phóng, chọc thủng, xuyên qua, xuyên nhanh, lái lượn được phối hợp phépđiệp "cánh mở, cánh khép", "cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng", âm thanh "vútvút" tạo nên sự thần tốc trong cách đánh Quả đúng như Phan Huy Đông đã từng nhậnđịnh, "Đọc Người lái đò Sông Đà, ta có ấn tượng rõ rệt về sự tự do của một tài năng, mộtđấng hóa công thực sự trong nghệ thuật ngôn từ" Cách đánh nhanh thắng nhanh đã giúpngười lái đò vượt qua các trùng vi một cách phi thường Đến đây, người lái đò đã khiếnnhà văn, khiến người đọc và có lẽ là cả đội quân đá trên sông Đà phải hoàn toàn tâm phụckhẩu phục Ông đã bộc lộ hết tài năng của mình, thể hiện một trình độ chèo lái điêuluyện, dạn dày, siêu phàm như đua tài cùng tạo hóa Tài nghệ đến mức điêu luyện của

ông đã khiến việc lái đò như biến thành một môn nghệ thuật: Thuyền vút qua cổng đá

cánh mở cánh khép Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được Thế là hết thác…

=> Có thể nói quy luật trên Sông Đà là một quy luật khắc nghiệt chỉ cần thiếu bìnhtĩnh, một chút nghỉ tay, nghỉ mắt, lỡ tay là phải trả giá bằng cả mạng sống Tuy nhiên,trong cuộc chiến không cân sức giữa một bên là thiên nhiên dữ dội với một bên là ông lãođơn độc chỉ có mái chèo là vũ khí duy nhất, chiến thắng đã thuộc về con người

2.2 Đánh giá về đẹp của ông lái đò

"Nếu Xuân Diệu xem tình yêu là tôn giáo thì Nguyễn Tuân xem cái đẹp như là tôngiáo của mình" (Gs Trần Đình Sử) Thật vậy, Nguyễn Tuân là một người nghệ sĩ tài hoa,suốt đời đi tìm cái đẹp, là người nghệ sĩ ý thức đầy đủ về thiên chức sáng tạo Trong hànhtrình sáng tạo nghệ thuật, ông luôn tìm mọi cách để kiếm tìm và phát hiện cái đẹp, cái

Trang 25

thật, cái mới lạ, độc đáo “xưa nay chưa từng có”. Rõ ràng qua cách miêu tả đến tột cùng

sự dữ dội của con sông và cuộc giao chiến giữa những người lái đò với dòng sông hungbạo, Nguyễn Tuân nhằm đến một mục đích lớn là ca ngợi vẻ đẹp của ông lái đò, ca ngợi

sự dũng cảm, tài trí và chiến thắng vĩ đại của ông

- Tài hoa: Nguyễn Tuân quan niệm “mỗi trang đời là một trang nghệ thuật”, con

người trong tác phẩm của ông dù làm bất cứ công việc gì, ở tầng lớp nào đều là bậc nghệ

sĩ trong công việc, nghề nghiệp của mình. Qua sự miêu tả của Nguyễn Tuân, công việclái đò đã trở thành một nghệ thuật và trình độ lái đò của ông lái đò đã đạt đến sự siêuphàm Tài hoa của ông lái đò được thể hiện rõ:

+ Ông lái đò rất am hiểu về dòng sông Đà Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần

sông thần đá Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, ông

cũng nhớ mặt của từng thằng đá với những âm mưu của chúng Ông đò vẫn nhớ mặt bọn

này nên rất ung dung chủ động Hình ảnh ông lái đò vì thế được đánh giá “trên thác hiên

ngang người lái đò sông Đà có tự do, vì người lái đò ấy đã nắm được cái quy luật tất yếucủa dòng nước Sông Đà”

+ Ông lái đò đã trở thành một nghệ sĩ điêu luyện trong nghệ thuật vượt thác quaghềnh, một tay lái ra hoa Việc đưa con thuyền tìm đúng luồng nước, vượt qua bao cạmbẫy của thạch trận sông Đà quả thực là một nghệ thuật cao cường từ một tay lái điêuluyện

Nhà văn đã sử dụng ngôn từ có tính nghệ thuật cao để miêu tả tài năng của ông lái đò như

“Ông lái đò ghì cương lái”, lái miết một đường chéo”, “đè sấn lên”, “chặt đôi ra để mởđường tiến”, “thuyền như một mũi tên xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự độnglái lượn được”

+ Hình tượng ông lái đò in đậm dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân bởi ông chính làkiểu người tài hoa, nghệ sĩ, biết nâng nghề nghiệp của mình lên thành một môn nghệthuật Và điều đáng chú ý ở đây là những con người tài hoa, nghệ sĩ được miêu tả khôngphải là những con người vĩ đại, phi thường mà là những con người bình dị, thậm chí vôdanh

- Trí dũng: Để làm nổi bật vẻ đẹp trí dũng của ông lái đò, nhà văn đã sáng tạo một

đoạn văn tràn đầy không khí trận mạc, đã tưởng tượng ra cuộc chiến đấu ác liệt giữangười lái đò với “bầy thủy quái” Sông Đà Sông Đà dữ dội, hiểm độc với trùng trùng, lớplớp dàn trận bủa vây, có sự hợp sức của nhiều thế lực: sóng, nước, đá…còn ông đò là mộtviên tướng dũng cảm tả xung hữu đột, tỉnh táo nhanh nhẹn, quyết đoán chỉ huy và điềukhiển con thuyền qua nhiều vòng, nhiều cửa và cuối cùng ông lái đò đã chiến thắng Nhàvăn Nguyễn Tuân cũng tung ra những kiến thức về quân sự, võ thuật, thể hiện một vốnkiến thức rất phong phú uyên bác để làm nổi bật vẻ đẹp như một anh hùng trên sông nướccủa ông lái đò

3 Đánh giá về đoạn trích

3.1 Về nghệ thuật:

Với tình huống đầy thử thách giúp nhân vật bộc lộ phẩm chất, lối dựng cảnh đặcsắc, giàu giá trị tạo hình, cách kể chuyện kịch tích, các phép liên tưởng tưởng tượng độc

Trang 26

đáo, đầy bất ngờ và thú vị, các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, điệp ngữ, sử dụng trithức ở nhiều lĩnh vực như điện ảnh, võ thuật, thể thao; nghệ thuật xây dựng nhân vật chútrọng tô đậm nét tài hoa nghệ sĩ; ngôn ngữ sống động, biến hóa phong phú, những câuvăn co duỗi nhịp nhàng, giàu hình ảnh và sắc thái, mà nói như nhà thơ Phạm Tiến Duật lànhững câu nói "tỉa tót mà vẫn mạch lạc góp phần miêu tả cuộc chiến hào hùng và khẳngđịnh vẻ đẹp tài hoa, trí dũng của nhân vật

3.2 Cách nhìn mang tính phát hiện về con người của nhà văn Nguyễn Tuân.

- Qua nhân vật ông lái đò, Nguyễn Tuân có cách nhìn mang tính phát hiện vềngười lao động mới: Ông đò chính là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của người lao độngmiền Tây Bắc âm thầm, giản dị, bình thường, nhỏ bé nhưng đã làm nên những kì tích lớnlao trong công cuộc chiến đấu với thiên nhiên hung dữ Hình tượng ông lái đò nơi thácsông Đà hoang vu, khuất nẻo là bản anh hùng ca ca ngợi con người, là bức tượng đàisừng sững về con người trong công việc lao động chính phục tự nhiên để giành lấy miếngcơm manh áo Thông qua hình tượng ông lái đò, nhà văn Nguyễn Tuân thể hiện sự trântrọng, cảm phục, ca ngợi con người Tây Bắc với chất vàng mười đã qua thử lửa trong tâmhồn, đồng thời thể hiện rõ sự tin tưởng của nhà văn với công cuộc xây dựng đất nước

- Qua nhân vật ông đò cho thấy sự thay đổi trong cách tiếp cận con người củaNguyễn Tuân sau cách mạng: Trước cách mạng, con người Nguyễn Tuân hướng tới cangợi là những “con người đặc tuyển, những tính cách phi thường” Sau cách mạng, nhânvật tài hoa của Nguyễn Tuân có thể tìm thấy ngay trong công cuộc chiến đấu, lao độnghàng ngày của nhân dân

- Nhà văn bộc lộ quan niệm về con người, tài hoa nghệ sĩ và anh hùng

+ Với Nguyễn Tuân con người dù làm bất cứ nghề nghiệp, công việc nào nếu đạtđến trình độ thành thạo và điêu luyện thì đều rất đáng quý đáng trọng vì khi đó ở họ bộc

lộ sự tài hoa nghệ sĩ

+ Những người tài hoa nghệ sĩ không chỉ có ở những lĩnh vực có tính nghệ thuật

mà còn có ở trong những lĩnh vực tưởng không liên quan đến nghệ thuật Người nghệ sỹkhông chỉ là người sáng tạo ra cái đẹp mà còn là người biến công việc lao động của mìnhtrở thành một nghệ thuật…Như ông lái đò trong tác phẩm đã trở thành người nghệ sĩtrong nghệ thuật vượt thác qua ghềnh và biến công việc lái đò thành một nghệ thuật

+ Những người anh hùng không chỉ có ở nơi chiến trường mà còn có ngày ở trongcuộc sống hằng ngày trong cuộc vật lộn với tự nhiên để giành lấy cuộc sống

3.3 Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân

- Đoạn văn góp phần thể hiện phong cách Nguyễn Tuân tài hoa, uyên bác với thểtuỳ bút vừa giàu tính hiện thực, vừa tràn ngập cái tôi phóng túng đầy cảm hứng, say mê…

- Biểu hiện phong cách tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân: Ông không chấp

nhận sự sáo mòn Ông luôn tìm kiếm những cách thức thể hiện, những đối tượng mới mẻ.Nhà văn luôn tiếp cận con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ Tác giả bộc lộ sự tinh tếtrong mĩ cảm với trường liên tưởng phong phú, ngôn ngữ vừa phong phú vừa điêu luyện.Một cái tôi uyên bác khi huy động mọi kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để khắc

Trang 27

họa hình tượng “Người lái đò sông Đà” tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật NguyễnTuân sau cách mạng.

-Đoạn số 4

“Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ.

   Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.

(Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr.191-192)

Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng con sông Đà trong đoạn trích trên đây Từ đó nhận xét về chất thơ trong đoạn trích.

I MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk Mở bài chung

- Đoạn trích sau đây ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Đà thể hiện chất

thơ trong sáng tác của Nguyễn Tuân “Con sông Đà tuôn dài…ngay đấy”.

II THÂN BÀI

1 Khái quát

- Hoàn cảnh ra đời: Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà

(1960), gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trongthời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết quả của chuyến đi thực tế củanhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm

1958 Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân vàđồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhàvăn nguồn cảm hứng sáng tạo

Trang 28

- Lời đề từ: “Chúng thủy giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu”: Nhà văn Nguyễn

Tuân đã đặc biệt muốn nhấn mạnh cá tính độc đáo của của dòng sông Sông Đà khác hẳncác dòng sông khác bởi nếu tất cả các dòng sông khác đều chảy về hướng đông thì riêngSông Đà chạy về hướng bắc Có lẽ vì con sông đặc biệt như vậy nên nó trở thành đốitượng rất phù hợp với cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân, nó được tác giả tìm đến để thể

hiện cá tính nghệ thuật của mình Ở lời đề từ “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” tác giả lại thể hiện xúc cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp trữ tình của dòng sông và con người

gắn bó với dòng sông ấy, bộc lộ rõ cảm hứng chủ đạo của tác phẩm là ngợi ca thiên nhiên

và con người Tây Bắc

- Nguyễn Tuân là nhà văn theo chủ nghĩa xê dịch và ưa cảm giác mạnh Giống như

các nhà văn theo chủ nghĩa xê dịch, Nguyễn Tuân thích đi nhiều để thay đổi cảm giáccho các giác quan Ông không thích những gì bình thường và tầm thường nên đối tượng

mà ông miêu tả đã đẹp thì phải đẹp đến mức tuyệt mĩ, dữ dội phải đến mức khủng khiếp

và tài năng phải đến mức siêu phàm Con sông Đà của Tây Bắc rất phù hợp với mĩ cảmcủa nhà văn nên bằng quan sát tỉ mỉ, sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú và tài năngnghệ thuật xuất sắc nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng con sông Đà thành một hìnhtượng nghệ thuật hấp dẫn, biến nó từ vật vô tri vô giác thành một sinh thể có sức sống, cótâm trạng và tính cách Có lẽ cũng vì thế tác giả gọi nó là “con” và viết hoa tên của nóthành Sông Đà Con Sông Đà hiện lên trong tác phẩm với hai nét tính cách nổi bật làhung bạo và trữ tình Hai nét tính cách tưởng chừng như đối lập nhưng lại cùng tồn tạitrong một hình tượng nghệ thuật Sông Đà rất hung dữ, hiểm ác gây tai họa cho conngười nhưng cũng là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, vừa hùng vĩ vừathơ mộng tạo nên chất men say cho con người trong cuộc sống Đoạn trích nêu trên nằmtrong phần miêu tả tính cách trữ tình, thơ mộng của Đà giang

2 Hình tượng con Sông Đà qua đoạn trích: Sông Đà có vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng

- Điểm nhìn nghệ thuật: Văn chương luôn đòi hỏi người nghệ sĩ phải tìm tòi những

điều mới lạ Bởi chính sự mới lạ là một trong điều cần có dẫn đến sự thành công trong

sáng tác của người nghệ sĩ Vẫn quan sát con sông Đà ở chiều không gian, nhưng trong

tùy bút “Người lái đò Sông Đà”, Nguyễn Tuân đã tạo ra sự mới lạ khi ông quan sát vàmiêu tả Sông Đà với một điểm nhìn khác biệt là nhìn từ trên cao nhìn xuống Nếu trước

đó nhà văn viết rằng mình ngồi trên máy bay mà quan sát sông Đà Tôi có bay tạt ngang

qua sông Đà mấy lần, và cũng là thêm cho mình một góc độ nhìn một cách nhìn về con sông Tây Bắc thì trong đoạn văn này tác giả vẫn thể hiện điểm nhìn ấy: Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà.

- Con sông Đà mang vẻ đẹp của một mĩ nhân: Từ điểm nhìn đặc biệt đó, tác giả đã

cho người đọc thấy Sông Đà thật mềm mại, thướt tha chảy dọc trên mảnh đất Tây Bắc

rộng lớn Tác giả còn nhìn thật sâu vào dòng Sông Đà để thấy “con Sông Đà tuôn dài,

tuôn dài như một áng tóc trữ tình Hai từ “tuôn dài” được lặp lại hai lần cho ta thấy được

dòng chảy của Sông Đà dường như nó vô cùng, vô tận như không có điểm dừng cùng vớinhịp câu toàn là thanh bằng đã phần nào diễn tả sự chảy trôi của con sông sao nó chậm

Trang 29

rãi êm đềm đến như thế! Nó thật khác so với sự cuồn cuộn của “nước xô đá, đá xô sóng,sóng xô gió” của mặt ghềnh Hát Loóng phần thượng nguồn Không chỉ thế ta còn bắt gặpđược sự tài hoa, cái chất “ngông” của Nguyễn Tuân trong cách bỏ dấu câu khiến chodòng sông nó cứ chảy trôi, chảy trôi êm ả giữa miền đất rộng lớn Tây Bắc Nhà văn còn

so sánh Sông Đà như “một áng tóc trữ tình” làm cho dòng Sông Đà giống như một làntóc mây thướt tha, bồng bềnh và mang vẻ đẹp của người thiếu nữ kiều diễm Từ “áng”vừa có sự quen thuộc bởi ta thường bắt gặp từ “áng” ở áng văn, áng thơ vừa có sự mới lạ

vì ở đây nó được Nguyễn Tuân gắn với tóc thành “áng tóc trữ tình” Cả cụm từ ấy đã bộc

lộ vẻ đẹp đầy chất thơ, sự trẻ trung và mềm mại đầy nữ tính của con sông Tây Bắc

- Sông Đà ẩn hiện giữa thiên nhiên Tây Bắc đầy thơ mộng: Sông Đà như mái tóc

của người thiếu nữ kiều diễm mà đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung

nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân Vẻ đẹp

của dòng sông được tác giả điểm tô như mái tóc được cài lên những những bông hoa đầysắc màu như màu trắng tinh khôi của hoa ban, màu đỏ thắm của hoa gạo trong tiết tháng

Ba Ngoài ra, dòng sông còn mang vẻ đẹp ấm áp, mơ màng khi nó ẩn hiện giữa mù khói

Mèo đốt nương xuân Vẻ đẹp của dòng sông hài hòa với núi rừng Tây Bắc, được núi rừng

điểm tô thêm cho nhan sắc thêm mĩ miều Có thể nói những câu văn đầu tiên trong đoạnvăn này của Nguyễn Tuân xứng đáng được xếp vào những câu văn đẹp được coi là “tờhoa”, “trang hoa” trong văn học Việt Nam

- Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà được thể hiện qua màu sắc nước: Nhà văn còn có sự

quan sát theo chiều thời gian để thấy rõ sự biến đổi khôn lường của màu nước Sông Đà

theo mùa Khi miêu tả sắc nước Sông Đà Nguyễn Tuân đã bộc lộ sự mê hoặc trước khimiêu tả sắc nước Sông Đà trong hai mùa: xuân và thu: “Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùaxuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống nước SôngĐà” Về mùa xuân sông Đà hiện lên với màu “xanh ngọc bích” – đó là một màu xanh vừatrong vừa sáng, đầy hấp dẫn Ta như bắt gặp màu xanh này trong bài thơ “Đây thôn VĩDạ” của nhà thơ Hàn Mạc Tử khi miêu tả khu vườn thôn Vĩ: “Vườn ai mướt quá xanhnhư ngọc” Điểm độc đáo ở đây của cả hai tác giả đều lựa chọn sắc xanh ngọc bích đểtăng thêm vẻ đẹp của đối tượng miêu tả Nhưng có lẽ việc sử dụng màu xanh ngọc bích

để miêu tả sắc Sông Đà của Nguyễn Tuân vào mùa xuân như đang là tăng thêm sự quýgiá của Sông Đà như “chất vàng” mà Nguyễn Tuân luôn tìm kiếm Không chỉ thếNguyễn Tuân còn khẳng định sự khác biệt về màu sắc của Sông Đà không “xanh nhưmàu xanh canh hến của sông Gâm sông Lô” Đến đây ta nghĩ đến lời nhận xét của TS.Trịnh Thu Tuyết: “Việc so sánh màu ngọc bích của Sông Đà với màu xanh canh hến củasông Gâm, sông Lô không phải chỉ là biểu hiện quen thuộc của một nhà văn thị tài, thíchkhoe tài, khoe uyên bác mà còn là một sự thiên vị của một niềm yêu” Có lẽ NguyễnTuân yêu Sông Đà quá nhiều nên bất cứ con sông nào với ông cũng không đẹp như sông

Đà

Mùa xuân qua đi mùa thu lại đến sắc nước Sông Đà có sự biển đổi đầy rõ nétkhông chỉ còn là sắc xanh ngọc bích đầy hấp dẫn đấy nữa mà thay vào đó là màu “lừ lừchín đỏ” Phải chăng là màu đỏ của “Những dòng sông đỏ nặng phù sa” mà Nguyễn Đình

Trang 30

Thi miêu tả? Và như để giải thích rõ hơn về màu đỏ của nước sông Đà nên sau đó tác giả

đã miêu tả và so sánh sắc đỏ ấy với hai đối tượng khác nhau là khiến người đọc dễ hình

dung hơn là “lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bỗi gì mỗi độ thu về” hay “như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa” Nhà văn đã sử dụng thành công biện

pháp tu từ so sánh màu sắc của con sông với sắc thái, tâm trạng của con người lúc “bấtmãn”, “bực bội” khi mỗi đợt thu về đã làm cho con sông Đà hiện lên không còn vô tri, vôgiác nữa mà khiến nó trở nên có hồn và có cảm xúc Ngoài ra ta còn thấy được cái tài củaNguyễn Tuân khi đặt hai màu của hai mùa khác nhau trong năm, xanh và đỏ ở cạnh nhaucũng vô cùng tinh tế Hai màu đó tuy đối chọi nhau giờ lại hài hòa, êm dịu một cách lạthường… Như vậy bên cạnh vẻ đẹp duyên dáng thì Sông Đà còn có vẻ đẹp đầy biến ảolinh hoạt, hấp dẫn không lặp lại mình Nếu như vào mùa xuân sắc nước gợi lên sự êm dịutrong trẻo thì sang mùa thu sắc nước chuyển mình đỏng đảnh ẩn chứa nhiều sức mạnhtiềm tàng của nó

Với cái nhìn của tình yêu và tinh thần dân tộc nên trong đoạn văn, Nguyễn Tuân cònthể hiện sự am hiểu tường tận về dòng sông hơn nữa Ông khẳng định chưa bao giờ, sông

Đà có màu đen như “thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ra đổ mực Tây vào rồi gọi bằng

một cái tên láo lếu, rồi cứ thế mà phết vào bản đồ lai chữ”

- Cách nhìn nhận của tác giả về dòng sông Đà: Nguyễn Tuân đã nhìn dòng sông

Đà không đơn thuần với quan hệ giữa nhà văn và đối tượng miêu tả mà còn là quan hệgiữa những người bạn tri âm tri kỉ Bởi vậy, tác giả không chỉ dừng lại trên bề mặt để ghilại chất thơ của dòng sông mà còn đi sâu vào tâm hồn để nhận thấy chất trữ tình trongtính cách, trong quan hệ của dòng sông với con người Tác giả dùng từ “cố nhân” rất gầngũi, thiêng liêng để gọi sông Đà Trong văn hóa của người Việt Nam thì “cố nhân” dùng

để chỉ những tình bạn thân thiết, gắn bó, những tình bạn đã được tạo nên từ sự đồng điệutri âm, đã được thử thách bởi những thăng trầm của thời gian Hơn nữa, từ “cố nhân” còngợi lên cảm xúc bâng khuâng, da diết của một nỗi nhớ đậm sâu về người cũ, xa cách lâungày Và như vậy, khác hẳn với con thủy quái hung dữ luôn tìm cách đe dọa, tiêu diệt conngười ở thượng nguồn, về đến hạ nguồn sông Đà bỗng trở nên dịu dàng và đằm thắm, trởthành đối tượng chia sẻ mọi buồn vui với con người Bởi vậy khi phải xa cách dòng sông,Nguyễn Tuân nhớ dòng sông như nhớ một người bạn thân thiết

Vì tác giả dành cho dòng sông nỗi nhớ da diết, mãnh liệt nên khi được gặp lại con

sông yêu thương, nhà văn có cảm giác “đằm đằm, ấm ấm” và niềm vui vỡ òa và tràn ra

trên bề mặt câu chữ Niềm vui được tác giả diễn tả bằng những hình ảnh so sánh độc đáo

liên tiếp đặt cạnh nhau:“Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa

dầm, vui như nổi lại chiêm bao đứt quãng” Có thể nói đây là hai hình ảnh so sánh rất lạ.

Cách so sánh giúp tác giả diễn tả chính xác niềm vui căng tràn, mãnh liệt của mình

Trong đó, Vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm gợi ra niềm vui vì sự mong đợi đã được thỏa mãn vì sự thay đổi theo chiều hướng lạc quan, tươi sáng Vui như nối lại chiêm

bao đứt quãng lại gợi ra được niềm vui hiếm hoi nhưng vô cùng mãnh liệt, vì mãnh liệt

nên nó có thể nối lại được những giấc mơ đã đứt

Trang 31

Khi gặp lại Sông Đà, với một cái nhìn rất gần nhà văn nhận ra vẻ đẹp mang đầy

chất thơ của nó Vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng của nước Sông Đà gợi nhớ đến một trò

chơi của con trẻ “trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt

mình rồi bỏ chạy” Vẻ đẹp của nắng sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới Đường thi “tôi nhìn

cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương

Châu”” (Xuôi thuyền về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói) Vẻ đẹp của bờ bãi

sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới thần tiên, kì ảo trong khu vườn cổ tích: Bờ Sông Đà, bãi

Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà Ở đây, Nguyễn Tuân sử dụng những

câu văn ngắn, giữa các vế có sự trùng điệp về cấu trúc tạo nên nhịp điệu nhanh, dồn dập,cụm từ “sông Đà” được điệp lại liên tiếp thể hiện tình cảm ấm nóng như đang cố gắng

mở rộng tất cả biên độ của mình để ghi lại tất cả những gì là đẹp đẽ, thơ mộng dị nhất củasông Đà

3 Đánh giá về đoạn văn

3.1 Đánh giá về nội dung và nghệ thuật

Bằng những cảm nhận tinh tế tài hoa của mình, Nguyễn Tuân đã phác thảo hìnhsắc của nước Sông Đà bằng những đường nét uyển chuyển, bằng những màu sắc biến ảolung linh Nếu ví sông Đà là một sản phẩm nghệ thuật thì đây là một tác phẩm hội họatuyệt mỹ Và để làm rõ vẻ vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà, Nguyễn Tuân đã miêu tả từnhiều thời điểm: mùa xuân, mùa thu, từ nhiều góc độ: khi thì ngồi trên trực thăng để baoquát toàn cảnh, khi thì xuôi thuyền dọc theo sông Đà thậm chí có khi còn dừng hẳn lại đểchiêm ngưỡng và miêu tả một cách cặn kẽ, kĩ càng Việc làm đó của Nguyễn Tuân vừacho thấy con sông Đà mang trong mình một vẻ đẹp đa chiều, phải soi ngắm từ nhiềuphương diện, góc độ mới có thể thấy hết cái thơ mộng trữ tình của nó, vừa cho thấy tinhthần lao động nghiêm túc ở Nguyễn Tuân

Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo vì vậy nó đòi hỏi người viết sự sáng tạophong cách mới lạ, thu hút người đọc Thì đối với Nguyễn Tuân ở đây cũng vậy Ông đã

sử dụng kiến thức hội hoạ, thơ ca để miêu tả; Vận dụng nhiều những biện pháp nghệthuật như so sánh, nhân hóa, những ví von, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ vàrất thú vị; Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao; Câu văn

đa dạng, nhiều tầng, giọng điệu mượt mà, sâu lắng; Lời văn bay bổng, phóng túng – viếtkhông theo nguyên tắc các dấu chấm, dấu phẩy, bỏ đi để tạo nên sự dịu dàng uyểnchuyển liền mạch của dòng chảy Sông Đà Cùng với việc sử dụng nhiều thanh bằng tạomột con sông êm ả giống như một thiếu nữ Tây Bắc rất mực nữ tính mà vẫn hùng vĩ lớnlao

3.2 Nhận xét chất thơ thể hiện trong đoạn trích

- Chất thơ là sự pha trộn những đặc điểm của thơ ca vào tác phẩm văn học thuộcthể loại khác Chất thơ trong văn xuôi nói chung được tạo nên khi nhà văn chú ý khaithác và biểu hiện một cách tinh tế cái mạch cảm xúc, tâm trạng, tình cảm của nhân vậthoặc của chính mình trước thế giới bằng những chi tiết, hình ảnh đầy gợi cảm và một lốivăn trong sáng, truyền cảm, phù hợp với nhịp điệu riêng của cảm xúc, tâm hồn

- Biểu hiện của chất thơ trong đoạn trích:

Trang 32

+ Cảm nhận của tác giả về vẻ đẹp trữ tình của dòng sông: Sông Đà như một người

gái đẹp của núi rừng Tây Bắc với mái tóc dài, thật dài, mượt mà, tha thướt, gài buông lơinhững bông hoa ban trắng ngần hay những bông gạo đỏ rực, thấp thoáng ẩn hiện giữa núirừng mùa xuân mù sương khói…Vẻ trữ tình của dòng sông mang vẻ đẹp của Đường thikhi nó gợi nhớ câu thơ của Lí Bạch

+ Ở xúc cảm tinh tế của tác giả trước dòng sông thơ mộng, trữ tình: cảm giác đằm

đằm ấm ấm và niềm vui như gặp lại cố nhân sau chuỗi ngày chia biệt Đặc biệt, thán từchỉ cảm xúc “Chao ôi” được nhà văn sử dụng để bày tỏ tình cảm với con sông thươngnhớ

+ Ở phương diện nghệ thuật: điểm nhìn nghệ thuật khác biệt, những biện so

sánh, liên tưởng thú vị độc đáo của Nguyễn Tuân: Sông Đà như một người con gái đẹp,như một cố nhân, nước Sông Đà đổi màu liên tục qua mỗi mùa trong năm, cách sử dụngngôn từ giàu xúc cảm…Để tôn thêm tính trữ tình của dòng sông, nhà văn sử dụng nhiềuhình ảnh trong sáng gợi cảm và đầy chất thơ Nhịp điệu câu văn khi thì chậm rãi, lúc thìhối hả, mau lẹ do cách ngắt câu và diễn đạt theo lối điệp (bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồnchuồn bươm bướm trên sông Đà) để diễn tả niềm sung sướng đang trào dâng trong lòngtác giả Vốn văn hóa, vốn từ vựng giàu có, trí tưởng tượng bay bổng của nhà văn thả sứctung hoành, tạo nên những đoạn văn mượt mà như những lời thơ Từ ngữ chọn lọc, độcđáo, sử dụng kiến thức hội hoạ, thơ ca để miêu tả… Tất cả đã giúp Nguyễn Tuân tái hiệnđược sức sống mãnh liệt của mỹ nhân sông Đà thơ mộng và trữ tình

3.3 Nhận xét về cái tôi trữ tình của Nguyễn Tuân

- Trong đoạn trích, người đọc cảm nhận được cái tôi uyên bác, tài hoa nghệ sĩ củamột người suốt đời rong ruổi đi tìm cái đẹp Nguyễn Tuân luôn nhìn nhận mọi sự vật,sựviệc dưới phương diện thẩm mỹ, luôn đi tìm cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật, tô đậmnhững cái phi thường để tạo cảm giác mãnh liệt gây ấn tượng

- Một cái tôi am tường và đầy suy tư trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước là cáitôi yêu nước mà sau cách mạng đã tìm thấy sự hòa nhập với cuộc sống mới, con ngườimới

Đoạn số 5:

Thuyền tôi trôi trên Sông Đà Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa Mà tịnh không một bóng người Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?” Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến Thuyền tôi trôi trên “Dải Sông Đà bọt nước lênh bênh – Bao

Trang 33

nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà) Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi,

và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên.

(Trích Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân, sách Ngữ văn 12, Tập 1,

NXB Giáo dục 2014, tr.191-192)

Phân tích vẻ đẹp của hình tượng con Sông Đà trong đoạn trích trên đây Từ

đó, nêu ngắn gọn phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua tuỳ bút “Người lái

đò Sông Đà”.

I MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk Mở bài chung

- Đoạn trích sau đây nằm ở đoạn cuối của tác phẩm, ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng, trữtình của sông Đà và góp phần thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân

“Thuyền tôi trôi…dòng trên”.

II THÂN BÀI

1 Khái quát

- Hoàn cảnh ra đời: Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tùy bút Sông Đà

(1960), gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo Tác phẩm được viết trongthời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết quả của chuyến đi thực tế củanhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm

1958 Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân vàđồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhàvăn nguồn cảm hứng sáng tạo

- Lời đề từ: “Chúng thủy giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu”: Nhà văn Nguyễn

Tuân đã đặc biệt muốn nhấn mạnh cá tính độc đáo của của dòng sông Sông Đà khác hẳncác dòng sông khác bởi nếu tất cả các dòng sông khác đều chảy về hướng đông thì riêngSông Đà chạy về hướng bắc Có lẽ vì con sông đặc biệt như vậy nên nó trở thành đốitượng rất phù hợp với cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân, nó được tác giả tìm đến để thể

hiện cá tính nghệ thuật của mình Ở lời đề từ “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” tác giả lại thể hiện xúc cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp trữ tình của dòng sông và con người

gắn bó với dòng sông ấy, bộc lộ rõ cảm hứng chủ đạo của tác phẩm là ngợi ca thiên nhiên

và con người Tây Bắc

- Con sông Đà của Tây Bắc rất phù hợp với mĩ cảm của nhà văn nên bằng quan sát tỉ

mỉ, sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú và tài năng nghệ thuật xuất sắc nhà vănNguyễn Tuân đã xây dựng con sông Đà thành một hình tượng nghệ thuật hấp dẫn, biến

nó từ vật vô tri vô giác thành một sinh thể có sức sống, có tâm trạng và tính cách ConSông Đà hiện lên trong tác phẩm với hai nét tính cách nổi bật là hung bạo và trữ tình Hainét tính cách tưởng chừng như đối lập nhưng lại cùng tồn tại trong một hình tượng nghệthuật Sông Đà rất hung dữ, hiểm ác gây tai họa cho con người nhưng cũng là một công

Trang 34

trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng tạo nên chất men saycho con người trong cuộc sống Nếu ở thượng lưu, con sông Đà được nhà văn khắc họavới vẻ đẹp hung bạo, quanh năm làm mình làm mẩy với người dân Tây Bắc, thì ở đoạnchảy về hạ lưu, sông Đà lại trở nên hiền hòa, thơ mộng, trữ tình.

2 Hình tượng con Sông Đà qua đoạn trích: Sông Đà có vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng

2.1 Điểm nhìn nghệ thuật

Đoạn văn được bắt đầu bằng câu văn “Thuyền tôi trôi trên sông Đà” Câu văn ngắn

chỉ gồm 6 âm tiết, mà lại đều là thanh bằng, gợi sự nhẹ nhàng êm ái đã tạo nên khônggian nghệ thuật như ru khách sông Đà vào giấc mộng phiêu du, dẫn họ đến một khônggian nên thơ, cổ tích Mặt khác, nó cũng cho thấy Nguyễn Tuân là người ưa những điềumới lạ và muốn khám phá một cách tường tận vẻ đẹp của dòng sông Đà Nhà văn muốnquan sát và miêu tả dòng sông Đà từ nhiểu điểm nhìn khác nhau nên nếu ở đoạn văntrước đó, ông cảm nhận vẻ trữ tình thơ mộng của dòng sông từ điểm nhìn trên cao là từtàu bay nhìn xuống, hay cái nhìn gần hơn là khi đi từ rừng ra bắt gặp sông Đà thì ở đoạnvăn này, điểm nhìn còn gần hơn nữa là ngồi trên con thuyền trôi chầm chậm trên sông đểquan sát và miêu tả về dòng sông mà ông thương nhớ như cố nhân

2.2 Vẻ đẹp tĩnh lặng và hoang dại

Ngay từ đầu đoạn trích, Nguyễn Tuân đã gieo vào tâm trí người đọc về vẻ đẹp ấntượng của sông Đà ở dọc đôi bờ sông Không dữ dội như quãng ở thượng nguồn, cảnh vậtthiên nhiên sông Đà ở đây thật tĩnh lặng và hoang sơ Sự tĩnh lặng của không gian cảnh

vật sông Đà được nhà văn miêu tả “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời Lý, đời

Trần, đời Lê quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi” Ngồi trên khoang đò ở

quãng ấy, nhà văn có cảm giác mình đang đi ngược về quá khứ xa xưa trở về thời Lí, thờiTrần, thời Lê Nhắc đến các triều đại ấy là tác giả muốn gợi lại lịch sử dựng nước, giữnước và thể hiện lòng tự tôn dân tộc, cũng là một cách để nhà văn tô đậm vẻ đẹp nguyên

sơ của dòng sông Cảnh vật tĩnh lặng đến mức nhà văn chợt ao ước có một âm thanh củacuộc sống con người, khao khát được cảm nhận những thành tựu của con người trong

công cuộc chinh phục thiên nhiên, xây dựng cuộc sống mới trên Tây Bắc:“Chao ôi thấy

thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu’'.

Cảnh vật bờ bãi sông Đà không chỉ tĩnh lặng mà còn hoang sơ đến lạ kỳ Sự tĩnh

lặng, hoang sơ của dòng sông hiện lên rõ nét hơn qua các nét phác họa “tịnh không một

bóng người”, “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”, “bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Có thể nói, qua phép so sánh đầy sức gợi và các nét tả của

Nguyễn Tuân, dòng sông Đà ở hạ lưu vẫn giữ nguyên vẻ đẹp nguyên sơ như thể hàngngàn năm, vạn năm hay hàng tỷ năm nay nó vẫn nguyên sơ như thế Với cách liên tưởng

và ví von ấy, tác giả dường như muốn cho ta thấy sông Đà còn có vẻ đẹp của một consông bền bỉ chạy qua tháng năm lịch sử, mang dấu tích văn hóa ngàn xưa của dân tộc.Đặc biệt, hai câu văn “bờ sông hoang dại bờ sông hồn nhiên ” khiến ta tưởng đây làhai vế của một câu song quan trong bài phú lưu thủy Nghệ thuật điệp cấu trúc đã kết

Trang 35

dính hai câu thành một bè thơ gợi cảm, bồng bềnh, vấn vương cảm xúc hoài cổ mà ta đãbắt gặp ở người nghệ sĩ một thời vang bóng này Nguyễn Tuân đã tìm về vẻ đẹp xưatrong cái ngày hôm nay để từ đó bộc lộ tình yêu quê hương xứ sở.

2.2 Thế giới thiên nhiên sinh động, kì ảo và thi vị

Không bằng lòng với cái đẹp nhợt nhạt, Nguyễn Tuân đã vận dụng tối đa bút lực

để phác họa bức tranh cảnh vật sông Đà, hệt như một người họa sĩ tài hoa Thế giới thiênnhiên Sông Đà qua sự miêu tả của ông thật sinh động, kỳ ảo, lý thú nhưng cũng tràn đầysức sống Những hình ảnh về "một nương ngô mới nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa", "cỏgianh đồi núi đang ra những nõn búp"… cho thấy cảnh vật được miêu tả qua vẻ đẹp của

sự non tơ, tươi mới và tràn đầy sức sống, kéo dòng sông từ thuở hồng hoang trở về gầnvới thực tại Giữa không gian thơ mộng, tĩnh lặng đó là hình ảnh một đàn hươu "cúi đầungốn búp cỏ tranh đẫm sương đêm" Tác giả đã cảm nhận hết vẻ tinh khôi, thần thái tràntrề sức sống của cảnh vật và bắt trọn từng khoảnh khắc và mọi chuyển động: "Con hươuthơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũiđò", rồi "hươu vểnh tai" Cuộc đối thoại giữa ông khách sông khách sông Đà và con vật

“lành” đích thực là một bài thơ trữ tình, nó chập chờn chơi vơi Hươu hỏi người hayngười tự hỏi một giả định vừa thực vừa ảo Hình ảnh đầy chất thơ này gợi cho chúng tanhớ đến chú nai vàng trong những câu thơ nổi tiếng của tác giả Lưu Trọng Lư:

"Con nai vàng ngơ ngácĐạp trên lá vàng khô"

Thiên nhiên sông Đà với sự sống nguyên sơ còn được miêu tả qua hình ảnh đàn cádầm xanh trong sự ví von, so sánh tinh tế và độc đáo: "Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặtsông bụng trắng như bạc rơi thoi", “Tiếng cá đập nước sông khiến đàn hươu vụt biến”.Câu văn “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi” là mộtcâu văn đẹp, có âm thanh, có màu sắc, có cái nghe thấy, có vật nhìn thấy, có điều cảmthấy Hình ảnh so sánh “đàn cá bụng trắng như bạc rơi thoi” đầy chất thơ vừa gợi tả sắctrắng (như bạc), vừa chỉ rõ dáng hình thon dài (như thoi) của đàn cá dầm xanh Biện phápnghệ thuật so sánh cùng với nghệ thuật lấy động tả tĩnh gợi lên không gian tĩnh mịch đến

độ người ta có thể nghe thấy cả tiếng cá quẫy đuôi làm đàn hươu phải giật mình và ôngkhách sông Đà cũng chợt tỉnh mộng để quay về thực tại

2.3 Vẻ đẹp trữ tình, giàu chất thơ

Nghệ thuật trùng điệp với cụm từ và cấu trúc “Thuyền tôi trôi…” được lặp lại lầnnữa để nhấn mạnh vẻ đẹp tĩnh lặng mà thơ mộng của sông Đà Từ trên còn thuyền trôichầm chậm trên sông, nhà văn phát hiện ra sông Đà mang vẻ đẹp tình tứ lãng mạn, đậm

đà bản sắc văn hóa như nó được miêu tả trong câu thơ rất mực tài hoa của thi sĩ Tản Đà

“Dải sông Đà bọt nước lênh đênh – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tìnhnhân chưa quen biết” Ở đây ta lại bắt gặp một nét phong cách quen thuộc của nhà văn họNguyễn là ông luôn nhìn sự vật dưới phương diện văn hóa, lịch sử, thẩm mĩ

Trang 36

        Căng về xuôi, sông Đă căng rộng thím ra, dòng sông mính mông hơn, ím nhẹ hơn.Nhìn dòng sông nước chảy “lững lờ”, nhă văn cảm thấy nó “như nhớ thương những hòn

đâ thâc xa xôi để lại trín thượng nguồn Tđy Bắc” Dòng sông vẫn “lững lờ” ím trôi “nhưđang lắng nghe những giọng nói ím ím của người xuôi, vă con sông đang trôi những con

đò mình nở chạy buồm vải nó khâc hẳn những con đò đuôi ĩn thắt mình dđy cổ điển tríndòng trín”, “Con đò mình nở chạy buồm vải”, “Con đò đuôi ĩn thắt mình dđy cổ điển”, lănhận xĩt, lă câch tả, lă câch dùng từ rất độc đâo của Nguyễn Tuđn Mỗi cđu, mỗi chữ đềuphả linh hồn văo dòng sông, văo con đò, văo cảnh vật Những so sânh ẩn dụ, những nhđnhóa trong đoạn văn năy cho thấy một tình yíu sông núi thiết tha, một câi nhìn đằm thắmnồng hậu, một câi lắng nghe trìu mến yíu thương Nguyễn Tuđn như đang mở rộng lòngmình, tđm hồn mình với dòng sông để cùng với nó mă “lắng nghe", mă nhớ thương,những đm vang, những nhịn sống ấm ấp của cuộc đời Ta cảm thấy có một dòng sôngđang ím trôi, đang lững lờ trong tđm hồn mình, bât ngât mính mông Văn Nguyễn Tuđnkhông chỉ đem đến cho ta bao nhê thú mă còn để lại nhiều dư vị, dư ba lă vậy

3 Đânh giâ 

3.1 Nội dung vă nghệ thuật

 Chất tăi hoa, tăi tử, câi bề thế độc đâo, sắc sảo vă uyín bâc của phong câch nghệthuật Nguyễn Tuđn để lại dấu ấn trín “trang hoa”, "tờ hoa” năy Vốn văn hóa, vốn từvựng giău có, trí tưởng tượng bay bổng của nhă văn thả sức tung hoănh, tạo nín nhữngđoạn văn mượt mă như những lời thơ Nhịp điệu chậm rêi, như têi ra để diễn tả câi vắnglặng rất nín thơ của con sông Ngòi bút nhiều khâm phâ, sâng tạo vă kiến tạo trong tạohình dựng cảnh, trong dùng chữ, đặt cđu; những so sânh, ẩn dụ vă liín tưởng rất gợikhiến đoạn văn trở thănh một đoạn hay vă đẹp về quí hương, đất nước

Đoạn văn trín đđy chỉ lă một đoạn ngắn trong băi tùy bút Người lâi đă Sông Đă,chỉ nói về một nĩt đẹp - vẻ đẹp thơ mộng - của Đă Giang Tuy vậy, ta vẫn cảm thấy đượccâi hay, câi đẹp trong văn Nguyễn Tuđn Đọc đoạn văn, người đọc như cảm thấy mình trởthănh “ông khâch sông Đă” đang cùng con thuyền nhẹ trôi trín Đă Giang cùng với bâcNguyễn say mí ngắm cảnh đẹp của hương núi, hoa ngăn vă lắng nghe tiếng câ dầm xanhquẫy trín câi lững lờ cùa dòng sông “dải sông Đă bọt nước lính bính ”

3.2 Nhận xĩt về phong câch nghệ thuật của Nguyễn Tuđn trong đoạn văn

Đoạn văn đê thể hiện rõ nĩt những nĩt chính trong phong câch nghệ thuật Nguyễn

Tuđn Nguyễn Tuđn lă nhă văn theo chủ nghĩa xí dịch vă ưa cảm giâc mạnh Giống như

câc nhă văn theo chủ nghĩa xí dịch, Nguyễn Tuđn thích đi nhiều để thay đổi cảm giâc chocâc giâc quan Ông không thích những gì bình thường vă tầm thường nín đối tượng mẵng miíu tả đê đẹp thì phải đẹp đến mức tuyệt mĩ, dữ dội phải đến mức khủng khiếp vătăi năng phải đến mức siíu phăm Ông lă người tăi hoa, luôn nhìn nhận, đânh giâ cảnh vật

vă con người ở phương diện câi đẹp vă góc độ mĩ thuật Sông Đă hiện lín với vẻ đẹp kì

vĩ vă lă một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hoâ Khi miíu tả sông Đă, nhă văn đêvận dụng những tri thức ở nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lí, thi ca… để viết về con Sông

Trang 37

Đà trữ tình, thơ mộng Hơn nữa, đoạn văn cũng thể hiện văn phong Nguyễn Tuân phóngtúng, ngôn ngữ điêu luyện và phong phú, hình ảnh giàu liên tưởng bất ngờ, độc đáo.

“Người lái đò Sông Đà” thể hiện sở trường ở thể loại tuỳ bút của ngòi bút Nguyễn Tuân.Đọc “Người lái đò Sông Đà” người đọc càng thêm quý trọng tài năng và tấm lòng củacon người suốt đời đi tìm cái đẹp, làm giàu có đời sống tinh thần của tất cả độc giả chúngta

Đoạn văn trích cho ta thấy được vẻ đẹp thơ mộng tiềm tàng sức sống của sông Đà,xúc cảm rất chân thành của người ngắm cảnh và một lần nữa, buộc ta phải khâm phục,ngưỡng mộ ngòi bút tài hoa tài tử của Nguyễn Tuân, những chữ nghĩa, ví von có hồn cómắt được nâng niu, cẩn thận góp nhặt qua “hàng trăm tuần trà, hàng ngàn lần dạo phố HàNội, đi Đông đi Tây chắt lọc lại, giữ lại cho chúng ta”

C KẾT LUẬN CHUNG

Nhà phê bình người Nga Bêlinxki viết: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó”.

Và quả thực tùy bút “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân là một tác phẩm như thế!Trong suốt quá trình dài của thời gian, “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân vẫnluôn vẹn nguyên và sống mãi trong lòng người đọc về một tác phẩm cũng như một nhàvăn đa tài đã làm tôn lên vẻ đẹp của thiên nhiên của xứ xở Tây Bắc nói riêng và thiênnhiên đất nước nói chung

Nguyễn Tuân là nhà văn có một cuộc đời lao động nghệ thuật khổ hạnh, một trí

thức tâm huyết với nghề Người đọc yêu hơn, trân trọng hơn phẩm chất, cốt cách của conngười đáng quý này

Trang 38

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

-Hoàng Phủ Ngọc

Tường-I MỞ BÀI CHUNG

R Gamzatop đã từng nói rằng: “Nếu như người nghệ sĩ không tham gia vào việc hình thành thế giới này thì thế giới không trở nên tươi đẹp như thế này.” Quả thực,dưới ngòi bút tài hoa của người nghệ sĩ, vạn vật và cuộc đời trở nên tươi đẹp hơn rấtnhiều Đến với những trang văn đậm chất trữ tình của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong bút

kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, ta sẽ bắt gặp một dòng sông Hương xinh đẹp, diệu kìhơn bao giờ hết Hoàng Phủ Ngọc Tường quê gốc ở Quảng Trị, nhưng ông sinh ra ở Huế

và cho đến tận cuối đời ông vẫn gắn bó với đất Huế Có lẽ cũng chính vì thế mà nhà văn

có một tình yêu và sự nghiên cứu rất sâu sắc về văn hóa, lịch sử, địa lý của xứ Huế, là cơ

sở vững chắc để có những trang viết đặc sắc về Huế Ông có sở trường ở thể loại bút ký

và bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện rõ lối tư duy phóng túng, liên tưởngmãnh liệt phong phú, ngôn ngữ trong sáng đẹp đẽ tài hoa kết hợp nhuần nhuyễn giữa cáichất trữ tình và trí tuệ, giữa nghị luận sắc bén và niềm suy tư đa chiều “Ai đã đặt tên chodòng sông” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông Bài kí được viếtvào ngày 4-1-1981, tại Huế, được in trong tập sách cùng tên Tác phẩm gồm có ba phần,đoạn trích chúng ta được học nằm ở phần mở đầu, chủ yếu nói về vẻ đẹp của dòngHương giang giữa Huế mộng mơ

II PHÂN TÍCH ĐOẠN VĂN

Đoạn số 1:

Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc

nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một

cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan

dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lý giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy

đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở mọi cửa rừng và ném chìa khoá trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng.

Trang 39

Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về cách nhìn mang tính khám phá phát hiện về dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

I MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk mở bài chung

- Đoạn trích đã làm nổi bật vẻ đẹp của sông Hương, từ đó, bộc lộ rõ nét tài hoa trongphong cách bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường

II THÂN BÀI

1 Khái quát

Các dòng sông là cái nôi của những vùng, các nền văn hóa đa sắc màu nên viết về nócác nhà thơ, nhà văn thường viết bằng cả sự am tường, bằng một tình yêu tha thiết, sâulắng Từ lâu, con sông Hương của xứ Huế cũng đã rất nhiều lần đi vào các tác phẩm vănhóa, thơ ca Dòng sông ấy đã từng được nhà thơ Hàn Mặc Tử miêu tả :

“Gió theo lối gió mây đường mâyDòng bắp buồn thiu hoa bắp layThuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay“

Hay một nhà thơ nào đó cũng ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, xứ Huế:

“Thiếu nữ thẫn thờ vê áo mỏng Nghiêng nghiêng vành nón đứng chờ aiVen dòng sông phẳng con đò mộng

Lả lướt đi về trong nắng mai”

Bởi vậy, viết về dòng sông Hương là một thử thách May thay nhà văn Hoàng PhủNgọc Tường đã vượt qua thử thách ấy để tặng cho đời bút kí “Ai đã đặt tên cho dòngsông” Trong tác phẩm này nhà văn đã cảm nhận về đẹp của sông Hương từ nhiều góc độ,phương diện Nhà văn đã tìm hiểu thủy trình, khám phá vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiênsông Hương và nhìn dòng sông trong sự gắn bó với nền văn hóa của xứ Huế, trong lịch

sử dựng nước và giữ nước, cảm nhận về nó một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất với một tâmhồn nghệ sĩ đầy rung cảm

Trong bài kí, vẻ đẹp của sông Hương trước hết được tác giả cảm nhận từ góc nhìn địa

lí qua thủy trình, cảnh sắc thiên nhiên của dòng Hương giang từ vùng thượng lưu quavùng đồng bằng rồi về thành phố Huế Ở mỗi khúc đoạn dòng sông lại hiện lên với một

vẻ đẹp riêng đầy cuốn hút.Trong đó, đoạn văn này miêu tả vẻ đẹp của sông Hương ởkhúc thượng nguồn

2 Vẻ đẹp của dòng sông Hương trong đoạn trích

2.1 Là một dòng sông đẹp trên thế giới và thuộc về một thành phố duy nhất

Với một cái nhìn có phần ưu ái và thiên vị, mở đầu đoạn trích tác giả khẳng định

sông Hương là một trong những dòng sông đẹp trên thế giới: “Trong những dòng sông

đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất.” Lời nhận xét tràn đầy tình yêu say đắm ấy không chỉ thể hiện tình

Trang 40

cảm gắn bó sâu nặng mà còn thể hiện niềm tự hào, kiêu hãnh của Hoàng Phủ NgọcTường đối với dòng sông thuộc về quê hương xứ sở mình sinh ra và lớn lên Có lẽ cũng

vì thế mà trong bài kí ông đã nhiều lần so sánh và đặt ngang hàng sông Hương với nhữngdòng sông nổi tiếng như sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Xen của Pari, sông Nê-va ởLê-nin-grat Bằng sự am hiểu về địa lí nhà văn còn đưa ra nêu rõ trong những dòng sôngđẹp ấy chỉ riêng Hương giang là thuộc về một thành phố duy nhất

2.2 Sông Hương là bản trường ca của rừng già

Với tình yêu tha thiết với Hương giang, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ngược dòngtìm về nguồn cội của dòng sông để rồi phát hiện ra vẻ đẹp độc đáo, hoang dã, man dạinhưng cũng rất trữ tình của nó Khởi nguồn của dòng chảy là từ Trường Sơn hùng vĩ vàđặt dòng sông Hương trong mối quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn, Hoàng Phủ NgọcTường đã có phát hiện vô cùng mới mẻ, đặc sắc: dòng sông Hương tựa như “một bảntrường ca của rừng già” Ở đây, rừng già là hình ảnh của những cánh rừng đại ngànhoang sơ, bí ẩn, mênh mông Hình ảnh này đem đến sắc thái hoang dại cho dòng sông nơithượng nguồn Trường ca là bản hợp âm có độ dài và giai điệu phong phú nên có thể hiểudòng sông khi trôi chảy trong lòng dãy Trường Sơn đã nhận vào nó tất cả những sắc tháiphong phú đa dạng Khi so sánh sông Hương với bản trường ca của rừng già, người đọc

có thể liên tưởng Sông Hương ở đại ngàn mang nhiều vẻ đẹp khác nhau nhưng vẻ đẹp nổi

bật của nó là sự mãnh liệt, man dại và huyền bí khi nó “rầm rộ giữa những bóng cây đại

ngàn”, “mãnh liệt qua những ghềnh thác” và “cuộn xoáy như cơn lốc vào đáy vực bí ẩn”.Nghệ thuật so sánh được đặt trong một câu văn dài, được chia làm nhiều vế, có sử dụngthủ pháp điệp cấu trúc vừa để gợi dậy cái dư vang của trường ca, vừa tạo nên âm hưởnghùng tráng, mạnh mẽ của con sông giữa rừng già

2.3.Vẻ đẹp dịu dàng, say đắm

Nhưng sông Hương ở rừng già có khi lại mang vẻ đẹp rất thơ mộng và trữ tìnhkhiến người ta không khỏi say mê, cảm thán Trong lòng Trường Sơn, Hương giang trởnên “dịu dàng, say đắm” khi chảy giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyênrừng” Sắc đỏ “chói lọi” của loài đỗ quyên càng làm nổi bật lên vẻ đẹp của một dòngsông giữa lòng Trường Sơn hoang dã và bí ẩn Dường như chỉ có duy nhất màu đỏ, mộtmàu sắc đầy hoang dại ấy mới làm toát lên được vẻ đẹp đầy ám ảnh, mê đắm nhưng lạirất đỗi bình dị của sông Hương giữa đại ngàn Đặc biệt, thủ pháp đối lập (giữa sự mãnhliệt, man dại, huyền bí và sự dịu dàng, say đắm) được sử dụng một cách điêu luyện vừathể hiện được vẻ đẹp phong phú sắc thái, vừa thể hiện được sức mạnh hoang sơ của sôngHương khi nằm giữa rừng già, núi non, khơi gợi lên vẻ bí ẩn, đầy say mê của dòng sông

xứ Huế Vẻ đẹp ấy của dòng sông Hương đã được Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện qualối hành văn mang đậm dấu ấn cá nhân: hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa

2.4 Như một cô gái Di- gan phóng khoáng và man dại 

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã sử dụng rất nhiều từ ngữ gợi hình và gợi cảm như bảntrường ca của rừng già, rầm rộ, mãnh liệt, dịu dàng, say đắm, cuộn xoáy như cơn lốc, đáyvực bí ẩn… để tô đậm vẻ đẹp đầy gợi cảm của dòng sông Nhưng đáng chú ý nhất là biệnpháp so sánh nhân hóa ví dòng sông như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại,

Ngày đăng: 18/03/2023, 20:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w