Khoa Quản trị Luật Lớp Quản trị Luật 44B Nhóm 02 THẢO LUẬN THỨ NĂM CÁC ĐỐI TƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP KHÁC Bộ môn LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ Thành viên 1 Nguyễn Thị Thanh Trà 1953401020239 2 Nguyễn Thị Đ[.]
Trang 1Khoa Quản trị - Luật Lớp Quản trị - Luật 44B_Nhóm 02
THẢO LUẬN THỨ NĂM CÁC ĐỐI TƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP KHÁC
Bộ môn: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Thành viên:
1 Nguyễn Thị Thanh Trà 1953401020239
2 Nguyễn Thị Đoan Trang 1953401020251
3 Trương Thị Thùy Trang 1953401020257
4 Nguyễn Minh Triều 1953401020260
5 Thống Thanh Tuấn 1953401020274
6 Châu Phương Uyên 1953401020279
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 10 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
A.1 Lý thuyết: 1
1 Điều kiện bảo hộ của thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có điểm gì khác biệt so với điều kiện bảo hộ sáng chế và kiểu dáng công nghiệp? Giải thích 1
2 Hiện nay tại Việt Nam có bao nhiêu chỉ dẫn địa lý được bảo hộ? Tìm hai ví dụ về chỉ dẫn địa lý của Việt Nam bị xâm phạm và cho biết hành vi xâm phạm theo bạn là hành
vi nào? (Dựa trên quy định pháp luật hiện hành) 1
3 Khái niệm “tên gọi xuất xứ hàng hóa” là gì? Thuật ngữ này và “chỉ dẫn địa lý” có giống nhau không? Vì sao? 3 A.2 Bài tập: 5
1 Đọc, nghiên cứu Bản án số 65/2009/KDTM-PT ngày 13/4/2009 của Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội và trả lời các câu hỏi sau: 5
a) Tên thương mại trong tên gọi của nguyên đơn và bị đơn là gì? Tên thương mại giữa hai chủ thể này giống, tương tự hay khác nhau? Vì sao? 5 b) Lĩnh vực kinh doanh của nguyên đơn và bị đơn là gì? 5 c) Theo bạn, nguyên đơn và bị đơn có cùng khu vực kinh doanh không? Dựa vào tiêu chí nào để xác định? Giải thích tại sao 6 d) Với những phân tích trên, bị đơn có hành vi xâm phạm tên thương mại của nguyên đơn không? Nêu cơ sở pháp lý và phân tích 7
2 Nghiên cứu tình huống sau: 8 a) Nêu căn cứ xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh Những thông tin trong e-mail
mà bà P đã gửi có được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh theo Luật Sở hữu trí tuệ không? 9 b) Hành vi của bà P trong tình huống trên có xâm phạm bí mật kinh doanh của công
ty không? 9
B Phần Câu hỏi sinh viên tự làm (có nộp bài) và KHÔNG thảo luận trên lớp: 9 1/ Tên miền là gì? Tên miền có là một đối tượng quyền sở hữu trí tuệ không? 10
Trang 32/ Hiện nay, việc khai thác, sử dụng tên miền được điều chỉnh bởi những văn bản nào? 11 3/ Trong hai vụ việc trên, Tòa án đã dựa trên cơ sở pháp lý nào để thu hồi các tên miền
đã được đăng ký? 11 4/ Pháp luật các quốc gia khác quy định như thế nào về trường hợp tên miền trùng hay tương tự với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ 12
Trang 4BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM
CÁC ĐỐI TƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP KHÁC
A Nội dung thảo luận tại lớp:
A.1 Lý thuyết:
1 Điều kiện bảo hộ của thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có điểm gì khác biệt so với điều kiện bảo hộ sáng chế và kiểu dáng công nghiệp? Giải thích.
Điểm khác biệt đó là điều kiện bảo hộ của thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có tính mới thương mại mà không phải là tính mới tuyệt đối tính từ ngày nộp đơn hoặc ngày
ưu tiên như điều kiện bảo hộ sáng chế và kiểu dáng công nghiệp Theo Điều 71 Luật Sở hữu trí tuệ, tính mới thương mại của thiết kế bố tri được hiểu là thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đó chưa được khai thác thương mại dưới các hình thức sản xuất, mua bán, chuyển nhượng vì mục đích lợi nhuận tại bất kỳ nơi nào trên thế giới trước ngày nộp đơn đăng ký Ngoài ra, Điều 71 Luật Sở hữu trí tuệ đưa ra một ngoại lệ: thiết kế bố trí mặc dù
đã được đưa vào khai thác thương mại trên thực tế nhưng không bị coi là mất tính mới thương mại nếu đáp ứng hai điều kiện Thứ nhất việc khai thác thương mại thiết kế bố trí được tiến hành bởi cá nhân, tổ chức đầu tư sáng tạo ra thiết kế bố trí mạch tích hợp bản dẫn theo quy định tại Điều 86 hoặc bởi người được cá nhân, tổ chức đó cho phép khai thác thương mại lần đầu tiên trên thế giới Thứ hai, thời điểm lần đầu tiên khai thác thương mại thiết kế bố trí tại bất kì đậu trên thế giới đến thời điểm nộp đơn đăng kí bảo
hộ không được quá 2 năm
2 Hiện nay tại Việt Nam có bao nhiêu chỉ dẫn địa lý được bảo hộ? Tìm hai ví dụ về chỉ dẫn địa lý của Việt Nam bị xâm phạm và cho biết hành vi xâm phạm theo bạn là hành vi nào? (Dựa trên quy định pháp luật hiện hành)
Tính theo cập nhật đến 06/2022 thì hiện nay tại Việt Nam đã bảo hộ 116 chỉ dẫn địa
lý trong đó có 110 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam và 06 chỉ dẫn địa lý của nước ngoài
Ví dụ về chỉ dẫn địa lý của Việt Nam bị xâm phạm:
Ví dụ 1:
Trang 5- Vụ việc chỉ dẫn địa lý “Tân Triều” cho sản phẩm bưởi năm 2012, bưởi Tân Triều được cấp chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý Tuy nhiên, tình trạng nhiều người mang bưởi đường lá cam trồng ở vùng khác về cù lao Tân Triều để bán, dưới danh nghĩa bưởi Tân Triều, thậm chí mạo danh “bưởi Tân Triều” để dễ dàng đưa đi các địa phương khác tiêu thụ như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội,… Hành vi này đã xâm phạm đến chỉ dẫn địa
lý được bảo hộ, cụ thể theo điểm c khoản 3 Điều 129 Luật SHTT hiện hành: “Sử dụng
bất kỳ dấu hiệu nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó.”
Nhận xét: Theo điểm c khoản 3 Điều 129 Luật SHTT hiện hành:
"Điều 129 Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn
địa lý
Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ:
- Sử dụng bất kỳ dấu hiệu nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó […]”
Do đó, có thể thấy hành vi trên là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ do không được phép đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý hay bị coi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn đại lý
vì có dấu hiệu trùng với chỉ dẫn đã được bảo hộ sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng
Ví dụ 2:
- Vụ việc về chỉ dẫn địa lý “Buôn Ma Thuột” cho sản phẩm cà phê nhân bị một công ty ở Trung Quốc xâm phạm Năm 2010, Cơ quan nhãn hiệu Trung Quốc (CTMO) cấp bảo hộ dấu hiệu Buôn Ma Thuột dưới dạng 02 nhãn hiệu độc quyền cho một doanh nghiệp của tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) Trong khi đó, chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột cho cà phê nhân được bảo hộ tại Việt Nam theo Quyết định số 806/QĐ-SHTT do Cục Sở hữu trí tuệ cấp số đăng bạ 0004 ngày 14/10/2005 là tài sản quốc gia do UBND Tỉnh Đak Lak được
ủy quyền đứng tên Việc này khiến cho khách hàng nước ngoài đối với cà phê Việt Nam dần dần có thể bị suy giảm nghiêm trọng do khách hàng không thể phân biệt được đâu là
cà phê Buôn Ma Thuột thật xuất xứ từ Buôn Ma Thuột và đâu là cà phê Buôn Ma Thuột
có xuất xứ từ Trung Quốc Hành vi này của công ty Trung Quốc đã xâm phạm đến chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, cụ thể theo điểm b khoản 3 Điều 129 Luật SHTT hiện hành: “Sử
Trang 6dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm tương tự với sản phẩm mang chỉ dẫn địa
lý nhằm mục đích lợi dụng danh tiếng, uy tín của chỉ dẫn địa lý.”
3 Khái niệm “tên gọi xuất xứ hàng hóa” là gì? Thuật ngữ này và “chỉ dẫn địa lý” có giống nhau không? Vì sao?
- Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ, hay quốc gia cụ thể.(Khoản 22 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ)
Nếu chỉ dẫn địa lý chỉ là tên gọi (địa danh) và uy tín, danh tiếng của sản phẩm đạt đến mức đặc thù gắn liền với vùng địa lý đó thì chỉ dẫn như vậy được gọi là "Tên gọi xuất xứ hàng hoá"
- Phân biệt chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa để thấy được điểm khác nhau:
Trang 7Tiêu chí Chỉ dẫn địa lý Tên gọi xuất xứ hàng
hóa
Khái niệm
Từ ngữ, biểu tượng, hình ảnh, … chỉ rõ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hóa này chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên
Là tên địa lý của nước, địa phương nhằm để chỉ xuất
xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó và các mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt bao gồm các yếu tố tự nhiên, con người hoặc cả 2 yếu
tố đó
Mục đích Xuất xứ địa lý của hàng
hóa
Xuất xứ địa lý của hàng hóa
Hình thức thể hiện
Các dấu hiệu, gồm: từ ngữ, hình ảnh, ký hiệu
Từ ngữ
Mối quan hệ giữa hàng
hóa và xuất xứ địa lý
Có mối quan hệ chủ yếu, nghĩa là: một hoặc một số hoặc toàn bộ quá trình sản xuất hàng hóa được thực hiện ở một vùng địa lý đó
Có mối quan hệ dựa trên, nghĩa là: toàn bộ quá trình sản xuất phải được thực hiện tại vùng địa lý đăng
ký bảo hộ
Như vậy là, Thuật ngữ này và “chỉ dẫn địa lý” có giống là không giống nhau Vì một tên gọi xuất xứ hàng hóa là một chỉ dẫn địa lý Nhưng một chỉ dẫn địa lý không chắc chắn là một tên gọi xuất xứ hàng hóa
Trang 8A.2 Bài tập:
1 Đọc, nghiên cứu Bản án số 65/2009/KDTM-PT ngày 13/4/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và trả lời các câu hỏi sau:
a) Tên thương mại trong tên gọi của nguyên đơn và bị đơn là gì? Tên thương mại giữa hai chủ thể này giống, tương tự hay khác nhau? Vì sao?
Tên thương mại trong tên gọi của nguyên đơn và bị đơn là Công ty Cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam Tên thương mại giữa hai chủ thể này là giống nhau, đều có tên là Kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam Vì các từ ngữ trong tên của hai chủ thế này đều giống và mang ý nghĩa như nhau
b) Lĩnh vực kinh doanh của nguyên đơn và bị đơn là gì?
Hai chủ thể có cùng lĩnh vực kinh doanh không, vì sao? Lưu ý: với câu hỏi này sinh viên phải trả lời ở hai góc độ: theo Tòa án (bản án xác định thế nào) và theo bảng Danh mục phân loại ngành, nghề kinh doanh của chủ thể kinh doanh hiện hành (sinh viên tự tìm và đối chiếu để xác định)
Theo Tòa án
Lĩnh vực kinh doanh của nguyên đơn là: Sản xuất kinh doanh trong nước và xuất khẩu các sản phẩm chế biến từ gạo, bột mì và các loại nông sản khác Kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất
Sau bổ sung kinh doanh bất động sản, công trình dân dụng, công nghiệp, lĩnh vực kinh doanh của bị đơn là chế biến, đóng hộp thịt, chế biến bảo quản thủy sản, chế biến và đóng hộp rau quả, dầu, mỡ động vật, chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa, chế biến tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột, sản xuất bánh kẹo, sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản, chưng cất, pha chế rượu, sản xuất bia, nước không, nước đóng chai, đồ uống có cồn
Hai chủ thế này có cùng lĩnh vực kinh doanh là sản xuất các sản phẩm từ tinh bột theo xác định của Tòa án
Theo bảng Danh mục phân loại ngành nghề kinh doanh, căn cứ tại Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06 tháng 7 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định về Bảng chuyển đổi hệ thống ngành nghề kinh tế VN.
Trang 99 Lĩnh vực của nguyên đơn gồm:
- 1062: Sản xuất tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột
- 46326: Bán buôn các sản phẩm chế biến từ tinh bột
- 4631: Buôn bán gạo
- 465: Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy
Lĩnh vực của bị đơn gồm:
- 10102: Chế biến và bảo quản thịt
- 1020: Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản
- 1309: Chế biến và bảo quản rau quả
- 10500: chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa
- 1062: Sản xuất tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột
- 46326: Bán buôn các sản phẩm chế biến từ tinh bột
- 1073: Sản xuất bánh kẹo
- 10800: Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản
- 11030: Sản xuất bia…
Từ các lĩnh vực được xác định theo bảng Danh mục phân loại ngành nghề kinh doanh thì 2 chủ thể có cùng lĩnh vực kinh doanh là 1062 và 46326
c) Theo bạn, nguyên đơn và bị đơn có cùng khu vực kinh doanh không? Dựa vào tiêu chí nào để xác định? Giải thích tại sao
Phía nguyên đơn đã đưa ra các lập luận và Tòa án cũng chấp nhận các lập luận đó Các lập luận như sau:
Thứ nhất, Nguyên đơn đã tạo dựng được uy tín trên thị trường trong cả nước, sản phẩm đảm bảo chất lượng và được người tiêu dùng tín nhiệm sản phẩm được người tiêu dùng bình chọn sản phẩm là “hàng VN chất lượng cao” trong 11 năm
Thứ hai, Nguyên đơn còn tiến hành các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm quảng
bá sản phẩm đến người tiêu dùng như thực hiện các chương trình khuyến mại, quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng trên toàn quốc
Trang 10Thứ ba, Tại Hà Nội, sản phẩm của nguyên đơn được phân phối qua đại lý là Công
Ty NNHH Công nghệ thực phẩm Hoàng Nam – Số 30 Phó Đức Chính, Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội từ ngày 01/01/2006
Theo quan điểm nhóm em, xét lập luận thứ 3 thì có thể cho thấy rằng bên Nguyên đơn đã có khách hàng (tức là sản phẩm đã đến tay người tiêu dùng cuối cùng) tại Hà Nội thông qua đại lý của họ là Công ty Hoàng Nam Và cũng theo lời khai của nguyên đơn và xác nhận của bị đơn tại phiên tòa: “Các sản phẩm của bị đơn chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường phía Nam, đặc biệt là tại Tp.HCM nơi nguyên đơn có trụ sở”, đều này cũng cho thấy rằng phía bị đơn cũng có khách hàng tại TP.HCM Với hai chi tiết này giúp ta thấy
rõ ràng hơn là cả 2 công ty đều có khách hàng tại Hà Nội và tại Tp.HCM đều này chứng
tỏ 2 chủ thể kinh doanh này là cùng khu vực kinh doanh theo quy định tại khoản 21 Điều
4 LSHTT SĐBS2022 “Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng”
d) Với những phân tích trên, bị đơn có hành vi xâm phạm tên thương mại của nguyên đơn không? Nêu cơ sở pháp lý và phân tích
Theo điểm b khoản 3 Điều 6 Luật SHTT, quyền SHCN đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tương ứng với khu vực và lĩnh vực kinh doanh mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký Tuy nhiên bản thân việc sử dụng một dấu hiệu trên thực tế chưa đủ để xác lập một tên thương mại được bảo hộ mà cần thỏa điều kiện Điều 76, 77, 78 Luật SHTT về khả năng phân biệt với chủ thể kinh MINER doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh
Theo khoản 2 Điều 129 Luật SHTT: “Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.” Như vậy, để xác định bị đơn có hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại của nguyên đơn không cần xem xét hai điều kiện: 1)
“chỉ dẫn thương mại" của bị đơn có trùng hoặc tương tự với tên thương mại của nguyên đơn không; 2) sản phẩm, dịch vụ mà bị đơn kinh doanh có cùng loại hoặc tương tự với sản phẩm, dịch vụ mà nguyên đơn kinh doanh đến mức gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh không
Trang 11Đối với điều kiện đầu tiên, cần xác định “chỉ dẫn thương mại” của bị đơn có trùng hoặc tương tự với tên thương mại của nguyên đơn không Theo khoản 2 Điều 130 Luật SHTT, “Chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hóa, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa.” Có thể thấy tên thương mại của nguyên đơn là “Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam được cấp GCNĐKKD do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/01/2004 Tiền thân của nguyên đơn là công ty kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam được thành lập do Bộ công nghiệp nhẹ cấp ngày 29/4/1993 Trong khi đó, bị đơn là Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam được Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp GCNĐKKD ngày 29/5/2007 Theo đó, bị đơn được thành lập sau nguyên đơn và sử dụng tên thương mại trùng hoàn toàn với tên của nguyên đơn Bị đơn sử dụng chỉ dẫn thương mại liên quan đến tên thương mại được bảo hộ của nguyên đơn thông qua việc sử dụng tên thương mại của bị đơn
Đối với điều kiện thứ hai, lĩnh vực kinh doanh của nguyên đơn có sản xuất kinh doanh trong nước và xuất khẩu các sản phẩm chế biến từ gạo, bột mi Trong khi đó GCNĐKKD bị đơn được Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội cấp với nhiều ngành nghề kinh doanh chế biến lương thực, thực phẩm trong đó có sản xuất các sản phẩm tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột Vì vậy có căn cứ xác định nguyên đơn và bị đơn là các chủ thể kinh doanh trong cùng một lĩnh vực
Như vậy, những phân tích ở trên có đủ căn cứ cho rằng bị đơn có hành vi xâm phạm tên thương mại của nguyên đơn
2 Nghiên cứu tình huống sau:
Bà P là nhân viên làm việc tại công ty M Trước đây, bà P đã gửi e-mail cho bà L (chị của bà P) với nội dung “…Chị ơi, đây là danh mục hàng áo khoác và quần của công
ty M… kèm theo danh mục” Công ty cho rằng bà P có hành vi vi phạm nội quy lao động, cụ thể là tiết lộ bí mật kinh doanh của công ty theo phần 4 Điều 4.1 Nội quy công
ty Điều 4.1 Nội quy công ty có quy định: “trong quá trình làm việc cho công ty M, nhân viên có thể có được tài liệu hoặc biết được thông tin về công ty Những thông tin hay tài liệu này nếu tiết lộ cho những cá nhân không có liên quan có thể gây hại về vật chất cũng như ảnh hưởng không tốt cho công ty Hành động tiết lộ đó dù cố tình hay sơ suất đều có