1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình rối loạn cương dương và đánh giá kết quả can thiệp truyền thông về khám và điều trị rối loạn cương dương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại thành phố tây ninh nă

101 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình rối loạn cương và đánh giá kết quả can thiệp truyền thông về khám và điều trị rối loạn cương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại thành phố tây ninh năm 2019 - 2020
Tác giả Nguyễn Lê Điền
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Lâm, PGS.TS. Lê Thành Tài
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Quản Lý Y Tế
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Sơ lược về rối loạn cương (14)
    • 1.2. Rối loạn cương và đái tháo đường type 2 (24)
    • 1.3. Kiến thức, thái độ, thực hành về khám và điều trị rối loạn cương (0)
    • 1.4. Tình hình rối loạn cương trên thế giới và trong nước (27)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (33)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (33)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (44)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (45)
    • 3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu (45)
    • 3.2. Tỷ lệ, mức độ rối loạn cương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 . 38 3.3. Kiến thức, thái độ, thực hành đúng của bệnh nhân về khám, điều trị rối loạn cương và một số yếu tố liên quan............................................... 42 3.4. Kết quả can thiệp truyền thông về khám và điều trị rối loạn cương 50 (49)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (63)
    • 4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu (63)
    • 4.2. Tỷ lệ, mức độ rối loạn cương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 (67)
    • 4.3. Tỷ lệ bệnh nhân rối loạn cương có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về khám và điều trị rối loạn cương (74)
    • 4.4. Một số yếu tố liên quan với kiến thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân về khám và điều trị rối loạn cương (77)
    • 4.5. Kết quả can thiệp truyền thông về khám và điều trị rối loạn cương . 68 KẾT LUẬN (79)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (87)
  • PHỤ LỤC (95)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NGUYỄN LÊ ĐIỀN NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH RỐI LOẠN CƯƠNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG VỀ KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

NGUYỄN LÊ ĐIỀN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH RỐI LOẠN CƯƠNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG

VỀ KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN CƯƠNG

Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2

TẠI THÀNH PHỐ TÂY NINH NĂM 2019 - 2020

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II

CẦN THƠ - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

NGUYỄN LÊ ĐIỀN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH RỐI LOẠN CƯƠNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG

VỀ KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN CƯƠNG

Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2

TẠI THÀNH PHỐ TÂY NINH NĂM 2019 - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Cần Thơ, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

NGUYỄN LÊ ĐIỀN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn và chương trình học, tôi xin chân thành

và trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Phòng Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Lâm và PGS.TS Lê Thành Tài đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề cương và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh, Trung tâm y tế Thành phố Tây Ninh, Bệnh viện Đa khoa tư nhân Lê Ngọc Tùng và người dân Tây Ninh đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân yêu, đồng nghiệp và các bạn học viên đã dành nhiều sự giúp đỡ chân tình, chia sẻ khó khăn với tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Cần Thơ, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

NGUYỄN LÊ ĐIỀN

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cám ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

Danh mục các hình vẽ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Sơ lược về rối loạn cương 3

1.2 Rối loạn cương và đái tháo đường type 2 13

1.3 Kiến thức, thái độ, thực hành về khám và điều trị rối loạn cương 16

1.4 Tình hình rối loạn cương trên thế giới và trong nước 16

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu 34

3.2 Tỷ lệ, mức độ rối loạn cương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 38 3.3 Kiến thức, thái độ, thực hành đúng của bệnh nhân về khám, điều trị rối loạn cương và một số yếu tố liên quan 42 3.4 Kết quả can thiệp truyền thông về khám và điều trị rối loạn cương 50

Trang 6

Chương 4 BÀN LUẬN 52 4.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu 52 4.2 Tỷ lệ, mức độ rối loạn cương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 56 4.3 Tỷ lệ bệnh nhân rối loạn cương có kiến thức, thái độ, thực hành đúng

về khám và điều trị rối loạn cương 63 4.4 Một số yếu tố liên quan với kiến thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân về khám và điều trị rối loạn cương 66 4.5 Kết quả can thiệp truyền thông về khám và điều trị rối loạn cương 68

KẾT LUẬN 73 KIẾN NGHỊ 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

AGEs Advanced Glycosylation End–products

cAMP Cyclic Adenosine Monophosphate cGMP Cyclic Guanosine Monophosphate FPG Fasting plasma glucose

GBSS Global Better Sex Survey

IIEF International Index Erectile Function

OGTT Oral glucose tolerance test

PDE–5 Phosphodiesterase type 5

VIP Vasoactive intestinal polypeptide

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Bảng IIEF–5 9

Bảng 3.1 Phân bố nhóm tuổi của BN nghiên cứu 34

Bảng 3.2 Phân bố BN nghiên cứu theo tình trạng hôn nhân 35

Bảng 3.3 Phân bố BN nghiên cứu theo trình độ học vấn 36

Bảng 3.4 Phân bố BN nghiên cứu theo nghề nghiệp 37

Bảng 3.5 Phân bố BN nghiên cứu theo thời gian phát hiện bệnh ĐTĐ 37

Bảng 3.6 Đặc điểm kết quả xét nghiệm HbA1c 38

Bảng 3.7 Đặc điểm về BMI 38

Bảng 3.8 Tỷ lệ BN trong nghiên cứu mắc RLC 38

Bảng 3.9 Phân bố thời gian mắc RLC 39

Bảng 3.10 Tỷ lệ RLC theo độ tuổi 39

Bảng 3.11 Tuổi trung bình của BN RLC và không RLC 39

Bảng 3.12 Tỷ lệ RLC theo BMI 40

Bảng 3.13 Tỷ lệ RLC theo thời gian phát hiện bệnh ĐTĐ 40

Bảng 3.14 Tỷ lệ RLC theo kết quả xét nghiệm HbA1c 40

Bảng 3.15 Tỷ lệ các mức độ RLC 41

Bảng 3.16 Phân bố mức độ RLC theo độ tuổi 41

Bảng 3.17 Phân bố mức độ RLC theo BMI 41

Bảng 3.18 Phân bố mức độ RLC theo kết quả xét nghiệm HbA1c 42

Bảng 3.19 Phân bố mức độ RLC theo thời gian phát hiện bệnh ĐTĐ 42

Bảng 3.20 Tỷ lệ BN có kiến thức chung đúng về RLC 42

Bảng 3.21 Tỷ lệ BN có kiến thức đúng về RLC (n = 335) 43

Bảng 3.22 Tỷ lệ BN có thái độ chung đúng về RLC 43

Bảng 3.23 Tỷ lệ BN có thực hành đúng về RLC 44

Bảng 3.24 Các khía cạnh thực hành đúng (n = 335) 44

Bảng 3.25 Liên quan giữa tuổi và kiến thức 44

Trang 9

Bảng 3.26 Liên quan giữa trình độ học vấn và kiến thức 45

Bảng 3.27 Liên quan giữa nghề nghiệp và kiến thức 45

Bảng 3.28 Liên quan giữa tôn giáo và kiến thức 45

Bảng 3.29 Kết quả phân tích hồi qui logistic đa biến yếu tố liên quan đến kiến thức 46

Bảng 3.30 Liên quan giữa tuổi và thái độ 46

Bảng 3.31 Liên quan giữa trình độ học vấn và thái độ 47

Bảng 3.32 Liên quan giữa nghề nghiệp và thái độ 47

Bảng 3.33 Liên quan giữa tôn giáo và thái độ 47

Bảng 3.34 Kết quả phân tích hồi qui logistic đa biến yếu tố liên quan đến thái độ 48

Bảng 3.35 Liên quan giữa tuổi và thực hành 48

Bảng 3.36 Liên quan giữa trình độ học vấn và thực hành 49

Bảng 3.37 Liên quan giữa nghề nghiệp và thực hành 49

Bảng 3.38 Liên quan giữa tôn giáo và thực hành 49

Bảng 3.39 Thay đổi kiến thức của BN về khám, điều trị RLC trước và sau can thiệp 50

Bảng 3.40 Thay đổi thái độ của BN về khám, điều trị RLC trước và sau can thiệp 50

Bảng 3.41 Thay đổi thực hành của BN về khám, điều trị RLC trước và sau can thiệp 51

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố nhóm tuổi của BN nghiên cứu (n = 580) 34 Biểu đồ 3.2 Phân bố BN nghiên cứu theo số năm kết hôn (n = 580) 35 Biểu đồ 3.3 Phân bố BN nghiên cứu theo dân tộc (n = 580) 36

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Cơ chế cương dương vật tại xoang mạch máu 5 Hình 1.2 Cơ chế cương tại tế bào qua chu trình NO – cGMP 6

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn cương là một bệnh lý thường gặp, mặc dù đây là đề tài mà phần lớn nam giới đều muốn giữ kín, nhưng qua nghiên cứu GBSS (Global Better Sex Survey) với sự tham gia của 27 quốc gia cho thấy rối loạn cương ảnh hưởng đến 48% nam giới trong độ tuổi từ 25 đến 74 tuổi [44] Nghiên cứu Massachusetts trên nam giới lớn tuổi được tiến hành trên 1290 đàn ông tuổi từ 40 – 70 ở Hoa Kỳ, ghi nhận 52% có rối loạn cương ở một mức độ nào

đó [31] Tại Việt Nam tần suất rối loạn cương khoảng 15,7% [1]

Đái tháo đường là rối loạn nội tiết thường kết hợp với rối loạn cương

do đái tháo đường thường gây ra những biến chứng mạch máu, thần kinh và tâm lý Theo nhiều nghiên cứu, rối loạn cương chiếm tỉ lệ khoảng 35% – 75% bệnh nhân nam giới đái tháo đường và gia tăng theo tuổi, khoảng 12% bệnh nhân đến khám đầu tiên vì rối loạn cương được phát hiện có đái tháo đường Nam giới bị đái tháo đường có nguy cơ bị rối loạn cương gấp đôi, gấp ba lần người không bị đái tháo đường [16], [29], [49]

Tình dục không chỉ là một nhu cầu tự nhiên và tất yếu của con người, giúp thỏa mãn sự thèm muốn bản năng, giải tỏa những bức xúc, làm cân bằng đời sống thể chất cũng như tinh thần, mà quan trọng hơn, còn để duy trì nòi giống Tình dục là cách thể hiện cảm xúc chín muồi của tình yêu, xúc cảm cao nhất trong sự tương tác giữa hai người yêu nhau Qua sự tương tác này, hai người sẽ hiểu nhau hơn và gắn bó với nhau hơn Có thể coi tình dục như

“ngọn lửa” giữ cho tình yêu luôn nồng cháy và hạnh phúc lứa đôi thêm ngọt ngào Rối loạn cương ảnh hưởng đến sức khỏe tình dục, khả năng sinh sản, tâm lý và tác động rất lớn đến chất lượng cuộc sống [21] Số người bị đái tháo đường cũng như số người bị rối loạn cương ngày càng gia tăng cùng với tuổi thọ của người dân trên thế giới ngày càng tăng [4], [18], [39] Mặc dù, có

Trang 13

nhiều loại thuốc và phương pháp điều trị rối loạn cương cũng ra đời [24], [34], [51] Tuy nhiên, đây là một bệnh lý mà phần lớn nam giới đều muốn giữ kín, tâm lý giấu bệnh, tự tìm hiểu, tự điều trị cùng với sự phát triển của thông tin, mạng internet có nhiều quảng cáo không được kiểm soát Thực phẩm chức năng ngụy tạo thuốc điều trị rối loạn cương [19] Từ đó, làm cho người bệnh có kiến thức, thái độ, thực hành về chẩn đoán và điều trị rối loạn cương

sẽ không đúng

Tại Việt Nam, các cơ sở điều trị chuyên ngành nam khoa trong đó có rối loạn cương chưa nhiều, bệnh nhân không biết khám bệnh và điều trị tại đâu, các thầy thuốc đa khoa thường bỏ qua loại bệnh này Thực tế cho thấy không nhiều người tìm đến bác sĩ để điều trị rối loạn cương và tỷ lệ người rối loạn cương được điều trị thật sự còn thấp nên việc khảo sát dịch tễ học chưa được thực hiện và việc áp dụng các phương pháp chẩn đoán và điều trị cũng chưa được triển khai một cách quy củ [1], [8], [22]

Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình rối loạn cương và đánh giá kết quả can thiệp truyền thông về khám và điều trị rối loạn cương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Thành phố Tây Ninh năm 2019 – 2020” với ba mục tiêu cụ thể sau:

1 Xác định tỷ lệ và mức độ rối loạn cương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Thành phố Tây Ninh năm 2019 – 2020

2 Xác định tỷ lệ người bệnh đái tháo đường type 2 bị rối loạn cương có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về khám, điều trị rối loạn cương và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Thành phố Tây Ninh năm 2019 – 2020

3 Đánh giá kết quả can thiệp truyền thông về khám, điều trị rối loạn cương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có rối loạn cương điều trị ngoại trú tại Thành phố Tây Ninh năm 2019 – 2020

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược về rối loạn cương

1.1.1 Định nghĩa rối loạn cương

Rối loạn cương (RLC) (thay thế cho từ bất lực, liệt dương) là tình trạng một người đàn ông không thể đạt tới hay duy trì được sự cương dương vật (DV) đủ cứng để giao hợp (GH) thỏa mãn Định nghĩa này giúp phân biệt RLC với các thể rối loạn tình dục khác là rối loạn ham muốn tình dục, rối loạn cực khoái và rối loạn cảm giác tình dục [1], [29], [41]

1.1.2 Sinh lý sự cương dương vật

DV được tạo thành bởi ba ống (một thể xốp ở mặt bụng và hai thể hang

ở mặt lưng), mỗi ống được bao quanh bằng bao trắng Máu nuôi đến từ các động mạch thể hang, là những nhánh của động mạch DV Nhánh của động mạch thể hang, các động mạch xoắn, đổ trực tiếp vào trong các xoang hang Máu ở đó được dẫn vào các tĩnh mạch sau hang, rồi chúng kết hợp lại, tạo thành những tĩnh mạch lớn chui xuyên qua bao trắng trước khi đổ vào tĩnh mạch lưng sâu hay tĩnh mạch thể hang, rồi tĩnh mạch đùi Mạch máu DV và

cơ trơn bè được phân bố cả hai hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm, xuất phát từ các sợi thần kinh vùng ngực và thắt lưng – cùng Các cơ vân bên ngoài bao trắng được phân bố thần kinh từ các sợi thân thể thắt lưng – cùng

Hệ thống giao cảm, phó giao cảm và thân thể phối hợp hoạt động với nhau Gián đoạn bất cứ đường thần kinh nào, đặc biệt là thần kinh phó giao cảm, đều có thể ảnh hưởng tới sự cương bình thường [14], [38], [42]

Cương dương vật là một quá trình phức tạp gồm một chuỗi các sự kiện vận mạch, sinh hóa dưới tác động của các yếu tố tâm lý, tình trạng nội tiết, hệ thần kinh trung ương và ngoại vi bao gồm [14], [42], [60]:

Trang 15

Trong trạng thái xìu, các cơ trơn của động mạch DV và thể hang nằm trong tình trạng trương lực (co thắt) Khi có các kích thích tình dục, các xung động thần kinh làm phóng thích các chất dẫn truyền thần kinh từ các tận cùng thần kinh hang và các yếu tố giãn cơ từ các tế bào nội mạc DV, đưa đến giãn

cơ trơn động mạch và tiểu động mạch nuôi dưỡng mô cương, làm tăng dòng máu đến DV gấp nhiều lần Cùng lúc, sự giãn cơ trơn bè làm tăng suất đàn hồi của các xoang, tạo điều kiện cho hệ thống các xoang được giãn nở và đổ đầy nhanh chóng Áp suất động mạch ép lên các thành xoang, do đó ép lên bao trắng làm bao dài ra và đồng thời ép lên các tĩnh mạch dẫn lưu máu Cơ chế đóng tĩnh mạch này hạn chế dòng máu ra khỏi các xoang hang Các hiện tượng trên làm máu bị giữ lại trong các thể hang và làm tăng áp suất trong các thể hang lên khoảng 100 mmHg GH sẽ kích hoạt các phản xạ hành hang, làm các cơ ngồi – hang co ép mạnh lên đáy các thể hang căng máu và do đó DV trở nên cứng hơn, với áp suất trong thể hang có thể đạt tới vài trăm milimét

Hg Khi đó, dòng máu ra – vào DV sẽ tạm ngừng

Sau khi xuất tinh hay ngưng kích thích tình dục, các cơ trơn bao quanh động mạch và xoang hang co thắt lại, dòng máu đến giảm và dẫn lưu máu tĩnh mạch của các xoang hang được mở ra, đưa DV về trạng thái xìu

Sự cương DV được kiểm soát bởi trung tâm thần kinh trung ương tự động, thần kinh phó giao cảm (S2 – S4), giao cảm (T12 – L2) và thần kinh thân thể Tại vùng chậu, các sợi thần kinh giao cảm và phó giao cảm hợp lại tạo thành thần kinh hang, chúng đi vào trong thể hang, thể xốp và qui đầu để điều khiển dòng máu trong quá trình cương và xìu Kích thích giao cảm làm

co cơ trơn xoang hang và gây xìu Kích thích phó giao cảm có thể gây cương nhờ sự ức chế giao cảm cũng như sự phóng thích oxide nitric (NO) từ nội mạc NO là một chất dẫn truyền thần kinh chính của sự co giãn cơ trơn DV, được phóng thích từ sự dẫn truyền thần kinh không tiết adrenalin, không tiết acetylcholine và nội mạc NO kích hoạt men guanylate cyclase để làm tăng

Trang 16

cGMP (Cyclic Guanosine Monophosphate) nội bào, rồi một loạt các phản ứng sinh hóa diễn ra đưa tới sự thay đổi tính thấm của các kênh trao đổi ion kali và canxi, để sau cùng nồng độ ion canxi nội bào giảm, gây ra sự giãn cơ trơn và làm tăng dòng máu đến Các men PDE điều hòa chu trình này bằng cách bất hoạt cGMP, biến đổi cGMP thành GMP, đưa đến sự gia tăng nồng độ ion canxi nội bào và làm co cơ PDE–5 là type quan trọng nhất của PDE trong thể hang Các chất ức chế men PDE–5 trên lâm sàng (sildenafil, vardenafil, tadalafil …) đều có tác động làm tăng sự co giãn cơ trơn bằng cách cho phép tích tụ cGMP một khi NO được phóng thích, khi có kích thích tình dục

Hình 1.1 Cơ chế cương dương vật tại xoang mạch máu

(Nguồn: Wagner G., Update on male erectile dysfunction, 1998 [60])

Sự giãn cơ trơn thể hang dẫn đến cương DV không chỉ qua trung gian chất NO và cGMP, mà còn có thể thông qua cAMP (Cyclic Adenosine Monophosphate) để làm giảm Ca2+ tự do nội bào dưới tác động của các chất

Trang 17

dẫn truyền thần kinh khác như vasoactive intestinal polypeptide (VIP), prostagladins v.v…

Thần kinh thẹn, là thành phần của thần kinh thân thể, chịu trách nhiệm

về cảm giác của DV và sự co cơ hay giãn cơ của các cơ ngồi hang, hành hang

Có ba cơ chế khởi phát các biến đổi huyết động ở DV: cương sinh lý xảy ra theo đường dẫn truyền kích thích (chẳng hạn âm thanh, mùi, nhìn thấy hay sờ) đi theo trung tâm cương tủy sống; cương phản xạ, gây ra do kích thích trực tiếp gây lên cơ quan sinh dục và dạ cương, xảy ra trong giai đoạn mắt di động nhanh của giấc ngủ

Hình 1.2 Cơ chế cương tại tế bào qua chu trình NO – cGMP

(Nguồn: Lue T F., Erectile Dysfunction, [41])

Trang 18

1.1.3 Nguyên nhân của rối loạn cương

Trước đây, trong thập niên 50, đa số trường hợp RLC được nghĩ là do nguyên nhân tâm lý Hiện nay, RLC được biết là do nguyên nhân thực thể Dạng phối hợp giữa hai yếu tố thực thể và tâm lý là hay gặp nhất [14] Song song đó cũng có nhiều nghiên cứu về các yếu tố liên quan RLC như: ngưng thở khi ngủ (Obstructive Sleep Apnea – OSA), thuốc giảm đau gây nghiện có liên quan đến nguy cơ RLC [35], [36], [65] Nghiên cứu mối liên quan giữa trầm cảm, bệnh tim mạch và RLC [12], [40], [46], [61], [64]

Chức năng cương bình thường đòi hỏi sự phối hợp của các yếu tố tâm

lý, sinh lý, tình trạng nội tiết, thần kinh, mạch máu và thể hang Sự biến đổi của bất cứ thành phần nào trong các yếu tố trên đều có thể gây ra RLC Nguyên nhân RLC được xếp theo 8 nhóm cụ thể như sau [14], [29], [34]:

- Tuổi cao: tuổi càng cao thì tỷ lệ RLC càng nhiều

- Rối loạn tâm lý: trầm cảm, căng thẳng, stress tâm lý, lo lắng

- Rối loạn thần kinh: như tai biến mạch máu não, bệnh não, chấn thương tủy sống, bệnh cột sống, tổn thương thần kinh thẹn, bệnh thần kinh ngoại biên

- Rối loạn nội tiết: như suy tuyến sinh dục, cường prolactin máu, cường hoặc suy giáp, hội chứng Cushing, bệnh Addison

- Rối loạn mạch máu: như xơ vữa mạch máu, bệnh cơ tim thiếu máu, bệnh mạch máu ngoại biên, suy tĩnh mạch, bệnh lý thể hang

- Do thuốc: như thuốc hạ áp, thuốc chống trầm cảm, nội tiết tố như estrogen và các thuốc kháng androgen, digoxin, cimetidin

- Thói quen: như sử dụng ma túy, nghiện rượu, hút thuốc lá

- Bệnh khác: như suy thận, tăng lipid máu, tăng huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, suy gan, bệnh Alzheimer

Đái tháo đường (ĐTĐ) ảnh hưởng đến tâm lý, thần kinh, mạch máu, nội tiết, chức năng thể hang … làm tăng tỷ lệ RLC

Trang 19

1.1.4 Khám và chẩn đoán rối loạn cương

Theo hướng dẫn của Hội Niệu khoa Châu Âu chẩn đoán cơ bản RLC chủ yếu dựa vào hỏi bệnh sử kỹ lưỡng (bệnh sử chung và bệnh sử tình dục), khám lâm sàng, định lượng testosteron máu, lipid máu, chức năng thận, gan

và đường huyết

Việc phát hiện các triệu chứng lâm sàng RLC không khó khăn, thường

đó là lý do bệnh nhân (BN) tự kể ra tập trung biểu hiện RLC qua 4 nhóm triệu chứng như sau:

- Không có ham muốn tình dục nên DV không cương cứng để tiến hành GH

- Có ham muốn tình dục nhưng DV không đủ độ cương cứng để đưa được vào ÂĐ tiến hành GH

- DV cương cứng không đúng lúc Khi định tiến hành cuộc GH thì

DV không thể cương cứng lên được, nhưng trong những hoàn cảnh tự nhiên hoàn toàn không bị kích thích về tình dục như đang đi trên đường, đang ngồi họp… thì DV lại cương rất cứng

- DV cương cứng trong thời gian rất ngắn có thể đưa được vào âm đạo (ÂĐ) nhưng sau đó mềm dần và mềm hẳn trong ÂĐ Cuộc GH hoàn toàn không thực hiện được trọn vẹn [1], [34]

Xét nghiệm máu chẩn đoán RLC có vai trò hạn chế Các xét nghiệm chuyên sâu chỉ thực hiện cho BN có dấu hiệu thuộc ba nhóm RLC do tâm lý, RLC do suy tuyến sinh dục và RLC do nguyên nhân mạch máu có thể điều trị được [14], [47]

Chẩn đoán RLC dựa vào bảng chỉ số quốc tế về chức năng cương DV IIEF–5 (International Index Erectile Function) hay còn được gọi là bảng sức khỏe tình dục nam giới SHIM (Sexual Health Inventory for Men) [52], [53], [54]

Trang 20

1

Một vài lần (ít hơn nửa

số lần)

2

Thỉnh thoảng (khoảng nửa số lần)

3

Hầu hết mọi lần (hơn nửa

số lần)

4

Gần nhƣ luôn luôn/ luôn luôn

1

Một vài lần

2

Thỉnh thoảng

3

Hầu hết mọi lần

4

Gần nhƣ luôn luôn/ luôn luôn

1

Rất khó khăn

2

Khó khăn

3

Hơi khó khăn

4

Không khó khăn

1

Một vài lần

2

Thỉnh thoảng

3

Hầu hết mọi lần

4

Gần nhƣ luôn luôn/ luôn luôn

5

Trang 21

Mức độ RLC được chia theo điểm số IIEF–5 như sau [53]:

1.1.5.1 Các biện pháp điều trị đặc hiệu

Những BN có yếu tố tâm lý có thể được giúp đỡ bằng tâm lý liệu pháp Tuy nhiên, trừ những trường hợp tâm lý rõ ràng, các biện pháp điều trị ít xâm lấn mà hiệu quả như thuốc ức chế men PDE–5, có lẽ là có ít hơn những buổi tâm lý trị liệu kéo dài

Liệu pháp nội tiết và phẫu thuật mạch máu chỉ định cho các trường hợp RLC có nguyên nhân thực thể

Vì đa số các biện pháp điều trị RLC hiện nay là không đặc hiệu, có thể

áp dụng cho đại đa số những trường hợp RLC (chỉ có ba nguyên nhân có điều trị đặc hiệu là: RLC do tâm lý, RLC do suy tuyến sinh dục và một vài dạng đặc biệt của RLC do nguyên nhân mạch máu) cho nên vấn đề quan trọng trong khám, chẩn đoán RLC là nhằm xác định BN có thuộc vào một trong ba nhóm RLC có điều trị đặc hiệu hay không [15], [29], [34]

1.1.5.2 Các biện pháp điều trị không đặc hiệu

Một phác đồ điều trị RLC do các chuyên gia hàng đầu thế giới soạn thảo ra (Shabsigh, 2000), đã đề nghị việc điều trị RLC gồm ba bước Các trị liệu bước đầu bao gồm tư vấn tâm lý tình dục, thuốc ức chế men PDE–5 và ống hút chân không Các trị liệu bước hai bao gồm alprotadil tiêm thể hang

Trang 22

hay viên nhét niệu đạo Nếu các biện pháp trên thất bại thì thể hang giả và các phẫu thuật chỉnh hình được xem như bước điều trị thứ ba Trước khi áp dụng một trong các biện pháp điều trị trên cho BN thì việc hướng dẫn BN thay đổi

lối sống cũng như thuốc đang sử dụng cho các bệnh khác là không thể thiếu:

* Thay đổi lối sống

Cho dù hiệu quả không rõ ràng, nhưng BN cần được khuyên thay đổi lối sống như tập thể dục thường xuyên, ngừng hút thuốc lá, ít uống rượu bia

và dinh dưỡng hợp lý Ngưng đạp xe đạp đường dài hay sử dụng yên xe lớn, cũng có thể cải thiện tình trạng RLC do chèn ép lên các động mạch DV

* Thay đổi thuốc đang sử dụng

Chuyển sang sử dụng các thuốc ức chế α adrenergic thay cho thuốc ức chế β có thể cải thiện tình trạng cương dương trên những BN bị tăng huyết áp Đối với BN bị trầm cảm, sử dụng trazodone có thể tốt hơn cho tình trạng cương

* Trị liệu bước một (first line therapy): trị liệu bằng thuốc uống

Được xếp vào nhóm trị liệu bước một vì các thuốc dễ sử dụng không xâm lấn, hồi phục được, tác dụng phụ thấp, thích hợp cho nhiều BN Tâm lý liệu pháp và bơm hút chân không cũng được xếp vào nhóm trị liệu bước một

Các thuốc ức chế men PDE–5: sildenafil, vardenafil và tadalafil, udernafil, avanafil Các thuốc khác như apomorphine, yohimbine và trazodone

Bơm hút chân không: không khí được hút khỏi ống trụ nhờ bơm tay để tạo áp lực âm và gây cương DV Sau đó vòng cao su được tụt khỏi ống trụ, tới chẹn ngay gốc DV đang cương, và ống trụ được rút ra Biện pháp này đáng tin cậy và nếu sử dụng đúng cách thì chỉ có vài biến chứng nhỏ Nó thường được người cao tuổi có quan hệ vợ chồng lâu dài ưa chuộng

* Trị liệu bước hai (second line therapy): tiêm thuốc thể hang

Trang 23

Thuốc giãn mạch được tiêm vào thể hang để làm giãn động mạch và máu đổ đầy các xoang hang Cương thường xảy ra trong vòng 15 phút và kéo dài khoảng 1 giờ Papaverine là thuốc được sử dụng đầu tiên để tiêm thể hang, nhưng do dễ có biến chứng cương DV kéo dài nên papaverine ít được sử dụng Tuy nhiên hiệu quả của papaverine là 84,8% với 65% trường hợp cương dương tự nhiên xuất hiện trở lại Alprostadil thường được sử dụng với hiệu quả khoảng 75% và ít gây ra cương dương kéo dài hơn nhiều so với papaverine, nhưng lại gây đau thân DV nhiều nhất (40% BN)

Viên nhét niệu đạo phóng thích alprostadil từ niêm mạc niệu đạo qua thể hang và thể xốp, với hiệu quả cương đạt yêu cầu trong 50 – 66% trường hợp, nhưng gây đau DV Do vậy, trên thực tế các viên nhét này không còn được sử dụng nữa

* Trị liệu bước ba (third line therapy): phẫu thuật đặt thể hang giả

Thể hang giả được bắt đầu áp dụng từ những năm 1970, là trị liệu đầu tiên của RLC thực thể Có ba loại thể hang giả là loại bán cứng (bộ phận giả này gồm những ống trụ bơm phồng được) hay loại bẻ gập được Các dụng cụ bơm phồng được bao gồm loại dụng cụ hai phần (two–piece device) mà bơm bìu và bốn phần chứa là một, trong khi loại dụng cụ ba phần (three–piece device) thì bồn chứa nằm riêng và được cấy trong vùng chậu Những dụng cụ này có tỷ lệ hài lòng rất cao của BN và bạn tình Các nguy cơ bao gồm nhiễm trùng và hư hỏng có thể phải lấy thể hang giả ra [15], [29], [34]

Ngoài ra còn các điều trị hỗ trợ khác như: theo nghiên cứu Bayraktar Z

và cộng sự kết luận uống 100 mg aspirin dùng mỗi ngày một lần đã cải thiện đáng kể chỉ số RLC IIEF ở nam giới bị RLC do yếu tố mạch máu [25] Theo Borrelli F và cộng sự nghiên cứu thực phẩm bổ sung thảo dược như nhân sâm có thể là một phương pháp điều trị bằng thảo dược hiệu quả cho RLC [27] Điều trị ngưng thở khi ngủ (Obstructive Sleep Apnea – OSA), ngưng thuốc giảm đau gây nghiện có liên quan đến nguy cơ RLC [35], [36], [65]

Trang 24

Điều trị trầm cảm, bệnh tim mạch và xem xét các thuốc trị trầm cảm, thuốc tim mạch gây RLC [12], [40], [46], [61] Hoạt động thể chất, tập thể dục cũng góp phần cải thiện tình trạng RLC [32], [56] Ngưng thuốc lá và tránh uống nhiều rượu bia cũng góp phần cải thiện RLC [59], [62]

1.2 Rối loạn cương và đái tháo đường type 2

Theo Quyết định số 3798/QĐ–BYT ngày 21/8/2017 về việc ban hành

“Quy trình lâm sàng chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2” [4]:

- Bệnh ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh

- Chẩn đoán ĐTĐ dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau:

+ Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) BN phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm

từ 8 – 14 giờ), hoặc:

+ Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)

Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: BN nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250 – 300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó BN ăn khẩu phần có khoảng 150 – 200 gam carbohydrat mỗi ngày

+ HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế

Trang 25

+ Ở BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)

- Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày

- Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán ĐTĐ là định lượng glucose huyết tương lúc đói

2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ

ĐTĐ là một bệnh mạn tính gây nhiều biến chứng lên các cơ quan hệ thống của cơ thể, đặc biệt là biến chứng trên mạch máu và thần kinh Cương

là một quá trình phức tạp gồm một chuỗi các sự kiện vận mạch, sinh hóa dưới tác động của hệ thần kinh trung ương và ngoại vi Khi có bất cứ một bất thường ở một khâu nào đó của quá trình này, thì đều có thể gây ra RLC Vì vậy, mối quan hệ giữa ĐTĐ và RLC đã được ghi nhận từ lâu và có nhiều nghiên cứu đi sâu vào cơ chế sinh lý bệnh RLC của ĐTĐ [3], [4], [14], [21], [22], [30], [34], [49]:

- Yếu tố thần kinh: thần kinh giao cảm, phó giao cảm, cảm giác bản thể và hệ thần kinh trung ương đều cần thiết cho hiện tượng cương bình thường làm RLC

- Yếu tố mạch máu và nội mạc: ĐTĐ bệnh mạch máu do ĐTĐ bao gồm bệnh mạch máu lớn, bệnh mạch máu nhỏ và rối loạn chức năng nội mạc Tất

cả đều có vai trò trong sinh lý bệnh của RLC do ĐTĐ

- Yếu tố nội tiết: giảm testosteron ở BN RLC do ĐTĐ được ghi nhận trong một số nghiên cứu

Trang 26

- Thuốc: một số thuốc gây ra tình trạng RLC Ở người ĐTĐ nguy cơ này tăng cao hơn do các thuốc mà BN cần dùng như thuốc hạ áp, thuốc điều trị rối loạn lipid máu, thuốc giảm đau để điều trị triệu chứng thần kinh

- Yếu tố tâm lý: mặc dù RLC do ĐTĐ chủ yếu do những tổn thương thực thể, nhưng nhiều BN có những ảnh hưởng tâm lý quan trọng góp phần vào bệnh nguyên của RLC do ĐTĐ

- Yếu tố thể hang: nhiều chứng cứ cho thấy ở BN RLC do ĐTĐ, có sự thay đổi về cấu trúc thể hang cũng như chức năng thể hang Trong đó quan trọng là sự giảm đáp ứng giãn cơ trơn thể hang và sự thay đổi cấu trúc collagen do giảm hoạt tính của NOS (nitric oxide synthase), giảm NO kèm giảm hiệu quả của NO được phóng thích và sự hiện diện của gốc oxy tự do bao gồm AGEs (Advanced Glycosylation End–products): sản phẩm cuối của đường hóa bậc cao

Chẩn đoán và điều trị RLC trên BN ĐTĐ cũng giống như RLC nói chung Nam giới bị ĐTĐ có nguy cơ bị rối loạn cương gấp đôi, gấp ba lần người không bị ĐTĐ [14], [22], [30] Các xét nghiệm máu phát hiện RLC trên

BN ĐTĐ rất hạn chế [47]

Điều trị bước đầu bao gồm hướng dẫn BN thay đổi lối sống cũng như thuốc đang sử dụng cho các bệnh khác, tư vấn tâm lý tình dục, thuốc ức chế men PDE–5 và ống hút chân không Các trị liệu bước hai bao gồm alprotadil tiêm thể hang hay viên nhét niệu đạo Nếu các biện pháp trên thất bại thì thể hang giả và các phẫu thuật chỉnh hình được xem như bước điều trị thứ ba cũng được chỉ định Điều trị can thiệp phẫu thuật như đặt thể hang giả cần phải chuẩn bị, lựa chọn BN tốt để phòng ngừa nhiễm trùng Do tính chất đặc thù của bệnh tiểu đường, song song các biến chứng do tăng đường huyết cũng

có biến chứng hạ đường huyết do thuốc, BN nên dùng một bữa ăn nhẹ trước khi quan hệ tình dục hoặc giảm liều insulin để tránh nguy cơ hạ đường huyết [7], [14], [22], [24], [30]

Trang 27

1.3 Kiến thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân về khám và điều trị rối loạn cương

Kiến thức của BN về khám và điều trị RLC là những hiểu biết của người bệnh về bệnh lý này bao gồm: biết RLC là như thế nào, những biểu hiện của RLC, nguyên nhân của bệnh RLC là gì, phương pháp điều trị RLC, nơi điều trị RLC và các ảnh hưởng của căn bệnh này mang lại cho người bệnh

Thái độ là một trạng thái cảm xúc thể hiện suy nghĩ, cảm nhận và quan điểm về sự vật hay hiện tượng Tương tự, thái độ về bệnh RLC là một trạng thái cảm xúc thể hiện suy nghĩ, cảm nhận và quan điểm về bệnh RLC Người bệnh cần nhìn nhận bệnh lý RLC nếu không điều trị có thể ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh cuộc sống là thái độ phù hợp

Thực hành (hành vi) là đặc trưng của việc thể hiện bằng hành động được nhận thấy trong một thời gian nhất định của con người Thực hành về khám và điều trị RLC là những hành động, cử chỉ như: có điều trị bệnh, tuân thủ điều trị và thay đổi lối sống nhằm hỗ trợ việc điều trị bệnh lý này tốt hơn,

Tác giả Kouidrat Y và cộng sự năm 2017 đã đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp 145 nghiên cứu về tỷ lệ RLC ở bệnh ĐTĐ trên 88577 nam giới (tuổi trung bình 55,8 ± 7,9 tuổi); tỷ lệ RLC ở ĐTĐ type 2 là 66,3%, so với nhóm chứng khỏe mạnh (n = 5385) nam giới mắc ĐTĐ (n = 863) có tỷ lệ RLC tăng lên (OR = 3,62; KTC 95%: 2,53 – 5,16; p < 0,001); RLC thường gặp ở ĐTĐ, ảnh hưởng đến hơn một nửa số nam giới mắc bệnh này và với tỷ

Trang 28

lệ mắc bệnh cao hơn khoảng 3,5 lần so với nhóm chứng; việc tầm soát và can thiệp thích hợp cho nam giới bị RLC là điều cần thiết [39]

Tác giả Luo L và cộng sự nhận thấy BN bị bệnh gút có nguy cơ bị RLC cao hơn 1,2 lần so với BN không bị bệnh gút (KTC 95%: 1,10 – 1,31 ; p

< 0,001) [43] Tác giả Ning L và cộng sự thấy rằng tăng huyết áp có liên quan chặt chẽ với RLC (OR = 1,74; KTC 95%: 0,63 – 0,80 ; p < 0,01) [45] Tác giả Pizzol D và cộng sự ghi nhận rằng tỷ lệ RLC cao hơn đáng kể ở người thừa cân (OR = 1,31; KTC 95%: 1,13 – 1,51) và ở nam giới béo phì (OR = 1,60; KTC 95%: 1,29 – 1,98) so với nam giới bình thường [48]

Tác giả Rhoden E sử dụng bảng IIEF–5 khảo sát RLC tại Brazil năm

2002 trên 850 người da trắng (88%) và 115 người da đen (12%) Tuổi trung bình của nam giới là 60,7 tuổi, dao động từ 40 đến 90 tuổi Tỷ lệ RLC là 53,9% Trong số đó, mức độ nhẹ là 21,5%, nhẹ đến trung bình là 14,1%, vừa 6,3% và nghiêm trọng là 11,9% Tỷ lệ RLC theo tuổi là: 40 – 49 (36,4%); 50 – 59 (42,5%); 60 – 69 (58,1%); 70 – 79 (79,4%) và trên 80 tuổi (100%) RLC rất phổ biến ở nam giới trên 40 tuổi và điều này cho thấy mối quan hệ rõ ràng với sự lão hóa IIEF–5 như một công cụ chẩn đoán, là một phương pháp dễ dàng, có thể được sử dụng để đánh giá tình trạng RLC trong các nghiên cứu với rất nhiều nam giới [52]

Tác giả Safarinejad M R nghiên cứu năm 2003 ở Iran trên 2674 nam giới từ 20 – 70 tuổi cho thấy tỷ lệ RLC là 18,8% Tỷ lệ hiện mắc tăng theo độ tuổi, từ 6% ở nam giới từ 20 – 39 tuổi đến 47% ở tuổi trên 60 (p < 0,001) Tiền sử bệnh ĐTĐ làm tăng tỷ lệ RLC đáng kể (OR = 3,72; KTC 95%: 2,51 – 5,71) [55]

Theo Pozzo M J và cộng sự (2016), ĐTĐ là một bệnh mạn tính gây nhiều biến chứng lên các cơ quan hệ thống của cơ thể, đặc biệt là biến chứng trên mạch máu và thần kinh Ở nam giới bị ĐTĐ thì các rối loạn tình dục có thể gặp phải như giảm ham muốn, rối loạn xuất tinh, RLC hay dạng kết hợp

Trang 29

Trong đó RLC là vấn đề tình dục phổ biến nhất, ghi nhận ở 35 – 75% BN ĐTĐ và tỷ lệ RLC tăng theo tuổi và khởi phát sớm hơn ở BN ĐTĐ (5 – 10 năm sớm hơn) so với những người không mắc ĐTĐ [49]

Tác giả Gerbild H (2018), khuyến cáo rằng 40 phút tập thể dục nhịp điệu ở cường độ trung bình đến mạnh 4 lần/ tuần, trong 6 tháng góp phần làm giảm các vấn đề về cương dương ở nam giới bị RLC do lười vận động, béo phì, tăng huyết áp [32] Silva A B và cộng sự (2016), khảo sát đánh giá qua

7 nghiên cứu với 478 người tham gia kết luận hoạt động thể chất và tập thể dục cải thiện tình trạng RLC [56]

Theo Corona G và cộng sự (2019), trong những loại thuốc được kê đơn rộng rãi nhất để điều trị bệnh đái tháo đường type 2, metformin được biết

là có tác dụng có lợi đối với chức năng sinh sản nam và nữ Trong khi các loại thuốc khác thường được sử dụng ở các dạng phức tạp hơn, chẳng hạn như insulin và sulfonylurea có thể có tác dụng tiêu cực đến trọng lượng, bất lợi đối với chức năng tuyến sinh dục và đời sống tình dục [30]

Patel D P và cộng sự (2017), khảo sát đánh giá qua 11 nghiên cứu về các dấu chứng sinh học huyết thanh RLC trên BN ĐTĐ kết luận các xét nghiệm máu phát hiện RLC trên BN ĐTĐ là rất hạn chế [47]

Tác giả Boeri L và cộng sự (2019), các nghiên cứu sâu về tiền ĐTĐ hay còn gọi là rối loạn dung nạp đường, cho thấy bằng chứng thuyết phục rằng nam giới tiền ĐTĐ dễ bị RLC và bị RLC nặng hơn nam giới có đường huyết bình thường [26]

Theo Hackett G (2020), nhận thấy việc sử dụng thuốc PDE–5 thường xuyên giúp cải thiện chức năng nội mạc mạch máu và các vấn đề viêm mạn tính của BN ĐTĐ, bên cạnh việc điều trị RLC, từ đó giúp BN tuân thủ điều trị tốt hơn [33]

Verze P và cộng sự (2015), tổng hợp phân tích từ 13 bài báo, nghiên cứu về RLC và hút thuốc kết luận hút thuốc lá có liên quan đáng kể đến RLC

Trang 30

và cai thuốc lá có tác dụng hữu ích trong việc phục hồi chức năng cương dương [59]

Wang X và cộng sự (2018), tổng hợp phân tích 24 nghiên cứu trên

154295 BN Kết quả phân tích tổng hợp chỉ ra rằng uống rượu nhẹ đến vừa phải (dưới 21 ly/ tuần – 1 ly khoảng 100 ml rượu 13,5 độ) có mối tương quan với việc giảm nguy cơ RLC (OR = 0,71; KTC 95%: 0,59 – 0,86; P < 0,001) Tuy nhiên, uống thường xuyên và uống nhiều rượu (trên 21 ly/ tuần) là không

có lợi cho RLC: uống thường xuyên (OR = 0,87; KTC 95%: 0,75 – 1,07; P = 0,062), uống nhiều rượu (OR = 0,99; KTC 95%: 0,80 – 1,22; P = 0,893) [62]

Wang X và cộng sự (2018), phân tích tổng hợp 5 nghiên cứu trên tổng

số 2525 nam giới mắc bệnh ĐTĐ cho thấy rằng những người đàn ông mắc bệnh ĐTĐ có trầm cảm so với những người đàn ông mắc bệnh ĐTĐ không có trầm cảm có nhiều nguy cơ bị RLC hơn với tỷ lệ tương ứng là 74,2% và 37,4% [64]

Theo Balhara Y (2015), tổng quan có hệ thống bao gồm tổng cộng 17 nghiên cứu kết luận: thuốc ức chế PDE–5 là thuốc hiệu quả và an toàn để điều trị rối loạn chức năng tình dục ở BN ĐTĐ bị RLC [24]

1.4.2 Tại Việt Nam

Theo tác giả Huỳnh Quốc Hội (2007), khảo sát 105 BN ĐTĐ type 2 tại Bệnh viện (BV) Chợ Rẫy có độ tuổi từ 38 đến 70 tuổi Tác giả sử dụng bảng câu hỏi IIEF–5 và kết quả cho thấy tỷ lệ RLC chung là 51,43% [5]

Cao Hữu Triều Giang (2006), khảo sát 112 BN trên 40 tuổi nằm ở khoa niệu BV Bình Dân để khảo sát về tần suất RLC cho thấy: trong nhóm đường huyết bình thường thì RLC là 29,4% nhưng trong nhóm đường huyết tăng thì RLC lên đến 40,9% và tuổi càng cao thì tần suất RLC càng lớn, từ sau 40 tuổi RLC tăng lên rất nhiều so với dưới 40 tuổi [2]

Nguyễn Thị Thục Hiền (2015), nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nồng độ testosterone ở BN ĐTĐ type 2 có rối loạn cương ghi nhận tuổi trung bình là

Trang 31

58,56 ± 7,21 tuổi Thừa cân béo phì chiếm 62,32%, kiểm soát đường huyết không tốt 56,52% RLC nhẹ chiếm 63,04%, nặng chiếm 11,59% [3]

Huỳnh Ngọc Hớn (2006), nghiên cứu RLC trên 334 BN nam giới tăng huyết áp tuổi từ 21 – 60 tuổi đang điều trị tại phòng khám tim mạch BV Chợ Rẫy cho thấy RLC chiếm 66,83% Riêng nhóm BN tăng huyết áp có kèm ĐTĐ thì RLC chiếm 94,29% [6]

Nguyễn Phục Hưng (2013), nghiên cứu tình hình RLC và tìm hiểu nhu cầu điều trị RLC ở 385 nam giới trên 18 tuổi tại Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ ghi nhận RLC chiếm 17,9% Tuổi càng cao, BMI càng tăng thì RLC càng tăng (p < 0,05); bệnh tim mạch và ĐTĐ liên quan với RLC nhiều nhất (p

< 0,05) Các yếu tố tình trạng kinh tế gia đình, trình độ học vấn không liên quan RLC (p > 0,05), nhu cầu điều trị RLC là 47,8% [8]

Hoàng Tiến Hưng (2018), xác định tỷ lệ rối loạn cương và một số yếu

tố liên quan ở 156 người có hội chứng chuyển hóa tại BV Bạch Mai ghi nhận RLC chiếm 48,1%; chưa tìm được sự khác biệt RLC trên BN có tăng đường huyết lúc đói trong nhóm này [9]

Vũ Ngọc Linh (2010), nghiên cứu tình trạng RLC ở 170 BN ĐTĐ type

2 ngoại trú tại BV Bạch Mai ghi nhận RLC chiếm 54,7% Có mối liên quan giữa RLC với tuổi, thời gian phát bệnh, HbA1c và chưa nhận thấy mối liên quan giữa RLC và BMI (p < 0,05) [11]

Võ Hoàng Nghĩa (2014), nhận xét về các bệnh lý nội khoa thường gặp

ở 250 BN RLC đến khám và điều trị tại phòng khám Nam khoa BV Đại học

Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh có 27 BN ĐTĐ chiếm 10,8% [13]

Trần Xuân Thủy (2012), nghiên cứu tình trạng RLC ở 105 BN bị bệnh mạch vành tại phòng khám BV Bạch Mai và Viện tim mạch Trung ương Trong nghiên cứu tỷ lệ RLC ở BN ĐTĐ (95%) cao hơn nhóm không ĐTĐ (69,4%), sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với P = 0,018 [17]

Trang 32

Huỳnh Ngọc Thùy Trang (2019), nghiên cứu xây dựng phương pháp

định tính nhanh tadalafil, slidenafil và vardenafil ngụy tạo trong thực phẩm

chức năng hỗ trợ điều trị RLC bằng kỹ thuật khối phổ: ứng dụng quy trình

định tính đã thẩm định đánh giá sơ bộ tình hình ngụy tạo trái phép các hoạt

chất tadalafil, sildenafil, vardenafil trên các mẫu thực phẩm chức năng hỗ trợ

điều trị RLC trên thị trường ở Thành phố Cần Thơ Kết quả phát hiện 16/40

(40%) mẫu dương tính với 1 trong 3 chất phân tích [19]

Hoàng Huy Tú (2012), nghiên cứu tình trạng RLC ở 173 BN tăng huyết

áp tại Viện tim mạch quốc gia – BV Bạch Mai, người bị bệnh tăng huyết áp

có ĐTĐ kèm theo thì nguy cơ RLC tăng cao hơn 4,19 lần so với người không

bị ĐTĐ [20]

Phạm Nam Việt (2010), khảo sát tần suất và nhu cầu điều trị RLC trên

350 BN nam tuổi từ 30 đến 75, được chẩn đoán ĐTĐ type 2 đang điều trị

ngoại trú tại phòng khám Nội tiết BV Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, tần

suất RLC trên BN RLC trong nghiên cứu là 64,28%, trong đó RLC nhẹ 10%,

RLC nhẹ tới trung bình 12,57 %, RLC trung bình 16,85% và RLC nặng

24,86% Tần suất RLC trên BN ĐTĐ type 2 càng cao ở những BN tuổi càng

cao, thời gian bị ĐTĐ càng lâu, không kiểm soát tốt đường huyết và có biến

chứng của ĐTĐ, nhu cầu điều trị RLC là 74,2% [22]

Nguyễn Thị Ngọc Yến (2016), chất lượng cuộc sống của 104 BN RLC

tại phòng khám Nam khoa BV Bình Dân Thành phố Hồ Chí Minh, chất lượng

cuộc sống của BN bị RLC giảm đáng kể, bệnh mạn tính đi kèm RLC nhiều

nhất là bệnh ĐTĐ chiếm 22,1% [23]

Nói chung, RLC ở BN mắc bệnh ĐTĐ so với ở BN không mắc bệnh

ĐTĐ xảy ra sớm hơn, mức độ nhiều và nặng hơn, gây ảnh hưởng xấu lên chất

lượng sống và kém đáp ứng hơn với thuốc điều trị PDE–5 [15], [33], [49]

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

BN nam giới đã được chẩn đoán ĐTĐ type 2 đang được điều trị ngoại trú tại các cơ sở y tế thuộc Thành phố Tây Ninh năm 2019 – 2020

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

- BN nam giới từ đủ tuổi 20 tuổi trở lên (căn cứ theo Khoản 1, Điều 8, Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam số 52/2014/QH13, điều kiện kết hôn nam giới là từ đủ 20 tuổi trở lên)

- BN đã được chẩn đoán ĐTĐ type 2

- BN đang được điều trị ngoại trú tại các cơ sở y tế thuộc Thành phố Tây Ninh

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

- BN có những bệnh nặng (ĐTĐ type 2 có biến chứng nặng, bệnh nặng kèm) như: nhồi máu cơ tim, suy tim nặng, tai biến mạch máu não chưa ổn định, yếu liệt nặng, lao phổi tiến triển, nhiễm trùng cấp tính, suy hô hấp

2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian thực hiện: tháng 6 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020

- Địa điểm nghiên cứu: tại BV Đa khoa Tây Ninh, Trung tâm y tế Thành phố Tây Ninh, BV Đa khoa tư nhân Lê Ngọc Tùng (là 3 cơ sở y tế có điều trị ngoại trú bệnh ĐTĐ type 2 thuộc Thành phố Tây Ninh)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu

can thiệp không nhóm chứng

Trang 34

α: xác suất mắc sai lầm loại I (chọn α = 0,05)

Z: hệ số tin cậy, Z (1– α/2): 1,96 với α = 0,05

d: sai số tuyệt đối, chọn d = 0,045

p: ước tính tỷ lệ RLC trên BN ĐTĐ type 2 Theo nghiên cứu của tác giả Huỳnh Quốc Hội (2007) với tỷ lệ BN ĐTĐ type 2 có RLC là 51,43% [5] Nên chúng tôi chọn p = 0,51

Thay vào công thức được cỡ mẫu là 475 BN Dự trù hao hụt 20%, mẫu cần lấy là 570 BN Thực tế ở nghiên cứu này chúng tôi lấy cỡ mẫu cho mục tiêu 1 là 580 BN

2.2.2.2 Mục tiêu 2: sử dụng theo công thức dựa trên cách tính cỡ mẫu cho

ước lượng một tỷ lệ

Trong đó:

n: cỡ mẫu cần thiết

α: xác suất mắc sai lầm loại I ( chọn α = 0,05)

Z: hệ số tin cậy, Z (1– α/2): 1,96 với α = 0,05

d: sai số tuyệt đối, chọn d = 0,055

p: để cỡ mẫu lớn nhất chúng tôi chọn p = 0,5

Thay vào công thức được cỡ mẫu là: 318 người Dự trù hao hụt 5%, mẫu cần lấy là 334 BN Thực tế ở nghiên cứu này chúng tôi lấy cỡ mẫu cho mục tiêu 2 là 335 người

Trang 35

2.2.2.3 Mục tiêu 3:

Cỡ mẫu khảo sát RLC trên BN ĐTĐ type 2 và xác định tỷ lệ BN ĐTĐ type 2 bị RLC có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về khám, điều trị RLC và các yếu tố liên quan đã được trình bày trong luận văn Mẫu can thiệp truyền thông xác định chọn mẫu là toàn bộ những BN ĐTĐ type 2 bị RLC có kiến thức, thái độ, thực hành không đúng về khám và điều trị RLC trong nghiên cứu

51 – 60 tuổi, 61 – 70 tuổi và trên 70 tuổi

- Về tình trạng hôn nhân: là biến định danh Có 2 giá trị: đang có vợ và độc thân/ ly dị/ ly thân/ góa vợ

- Số năm kết hôn: là biến thứ bậc Được tính từ thời điểm đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) kết hôn lần đầu đến thời điểm nghiên cứu Có 4 giá trị bao gồm: dưới 5 năm, 5 – 10 năm, trên 10 – 20 năm, trên 20 năm

- Dân tộc: là biến định danh Có 4 giá trị: Kinh, Khemer, Hoa và khác

Trang 36

- Nghề nghiệp: là công việc mang đến thu nhập chính của đối tượng, là biến định danh có các giá trị: buôn bán/ tự làm chủ, nông dân, công nhân/ lái

xe đường dài, nhân viên văn phòng, hưu trí, nghề khác

- Thời gian phát hiện bệnh ĐTĐ: tính từ lúc BN được phát hiện bệnh ĐTĐ đến thời điểm nghiên cứu hiện tại, tính bằng năm, chia thành 4 giá trị: dưới 1 năm, 1 – 5 năm, trên 5 – 10 năm và trên 10 năm

- Chỉ số HbA1c: là chỉ số HbA1c mới nhất của BN được thu thập từ hồ

sơ của BN Có 2 giá trị: < 7% và ≥ 7%

- Béo phì: là biến số định tính, được tính theo chỉ số khối cơ thể theo tiêu chuẩn đánh giá cho người Châu Á – Thái Bình Dương của WHO tháng

2.2.4.2 Tỷ lệ, mức độ rối loạn cương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2

RLC: là những BN có điểm từ 21 trở xuống trên thang điểm IIEF–5 Phân bố tỷ lệ RLC theo: thời gian bị RLC, độ tuổi, phân loại BMI, thời gian phát hiện bệnh ĐTĐ, HbA1c

Mức độ RLC: sử dụng thang điểm IIEF–5 có 5 câu hỏi đánh giá đời sống tình dục nam giới qua các nền văn hoá khác nhau Điền vào bộ câu hỏi IIEF–5 mỗi câu từ 1 – 5 điểm Cuối cùng cộng lại tổng số điểm để so sánh đánh giá mức độ chức năng cương DV Mức độ RLC dựa vào kết quả:

+ Không RLC: 22 – 25 + RLC trung bình: 8 – 11 + RLC nhẹ: 17 – 21 + RLC nặng: 5 –7

Trang 37

* Kiến thức

- Hiểu biết về RLC: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng

“Đúng” khi ĐTNC trình bày được RLC là tình trạng nam giới không thể đạt tới hay duy trì được sự cương cứng của DV đủ để GH thỏa mãn

- Biểu hiện RLC: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng

“Đúng” khi đối tượng trình bày được một trong các biểu hiện:

+ Không có ham muốn tình dục nên DV không cương cứng để tiến hành GH

+ Có ham muốn tình dục nhưng DV không đủ độ cương cứng để đưa được vào ÂĐ tiến hành GH

+ DV cương cứng không đúng lúc Khi định tiến hành cuộc GH thì

DV không thể cương cứng lên được Nhưng trong những hoàn cảnh tự nhiên hoàn toàn không bị kích thích về tình dục như đang đi trên đường, đang ngồi họp… thì DV lại cương rất cứng

+ DV cương cứng trong thời gian rất ngắn Có thể đưa được vào ÂĐ nhưng sau đó mềm dần và mềm hẳn trong ÂĐ Cuộc GH hoàn toàn không thực hiện được trọn vẹn

- Nguyên nhân RLC: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng “Đúng” khi đối tượng trình bày được ít nhất 5/8 nguyên nhân sau:

+ Tuổi cao + Rối loạn mạch máu

+ Rối loạn tâm lý + Do thuốc

Trang 38

+ Rối loạn thần kinh + Thói quen

+ Rối loạn nội tiết + Bệnh khác

- Điều trị RLC: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng

“Đúng” khi đối tượng trình bày được ít nhất 5/8 phương pháp điều trị sau:

+ Tư vấn tâm lý tình dục + Thay đổi thuốc đang sử dụng + Liệu pháp nội tiết + Trị liệu bằng thuốc uống

+ Phẫu thuật mạch máu + Tiêm thuốc thể hang

+ Thay đổi lối sống + Phẫu thuật đặt thể hang giả

- Nơi điều trị RLC: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng

“Đúng” khi đối tượng trình bày được 1 cơ sở y tế điều trị RLC

- Ảnh hưởng của RLC đến các khía cạnh đời sống của BN: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng “Đúng” khi đối tượng trả lời “Có” 6 trong tổng số 6 câu hỏi về:

+ Cuộc sống gia đình + Cuộc sống tình dục

+ Cuộc sống hằng ngày + Sức khỏe

+ Quan hệ với vợ + Sự hài lòng chung về chất lượng sống Kiến thức chung đúng: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng “Đúng” khi đối tượng trả lời đúng 6/6 nội dung trên

+ Cuộc sống gia đình + Cuộc sống tình dục

+ Cuộc sống hằng ngày + Sức khỏe

+ Quan hệ với vợ + Sự hài lòng chung về chất lượng sống

Trang 39

Thái độ chung đúng: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng “Đúng” khi đối tượng trả lời đúng 2 nội dung trên

* Thực hành

- Điều trị RLC: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng

“Đúng” khi đối tượng trả lời “Đã và đang điều trị”; “Không đúng” khi đối tượng trả lời “Có điều trị nhưng đã bỏ trị” hoặc “Không điều trị RLC”

- Kiểm soát cân nặng: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng “Đúng” khi đối tượng có kiểm soát cân nặng Được đánh giá dựa trên chỉ số BMI: Chỉ số khối cơ thể Được tính bằng công thức: BMI =

Hành vi đúng khi giá trị BMI < 23

- Hành vi hút thuốc lá: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng “Đúng” khi ĐTNC không hút thuốc lá hoặc có sử dụng nhưng đã bỏ

- Hành vi uống rượu, bia: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng “Đúng” khi ĐTNC không có sử dụng rượu/ bia hoặc có sử dụng nhưng

đã bỏ

- Tuân thủ chế độ dinh dưỡng: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng “Đúng” khi đối tượng có thay đổi chế độ ăn (giảm ăn ngọt, chất béo, tăng cường chất xơ, rau quả)

- Tuân thủ hoạt động thể lực: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng “Đúng” khi đối tượng có thời gian tập luyện ≥ 30 phút/ ngày

- Tuân thủ chế độ dùng thuốc: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng và Không đúng “Đúng” khi đối tượng dùng thuốc đúng theo chỉ dẫn của nhân viên y tế

- Tuân thủ kiểm soát đường huyết: là biến nhị phân, có 2 giá trị Đúng

và Không đúng “Đúng” khi ĐTNC đi xét nghiệm đường huyết 3 tháng/ lần

Thực hành chung đúng khi đối tượng có 8/8 hành vi đúng

* Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành đúng

Trang 40

- Mối liên quan giữa kiến thức với các yếu tố: tuổi, học vấn, nghề nghiệp và tôn giáo

- Mối liên quan giữa thái độ với các yếu tố: tuổi, học vấn, nghề nghiệp

và tôn giáo

- Mối liên quan giữa thực hành với các yếu tố: tuổi, học vấn, nghề nghiệp và tôn giáo

* Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành

- Mối liên quan giữa kiến thức với thái độ

- Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành

- Mối liên quan giữa thái độ với thực hành

2.2.4.4 Can thiệp và đánh giá kết quả can thiệp truyền thông về khám, điều trị rối loạn cương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có rối loạn cương

Chúng tôi tiến hành can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe

* Đối tượng can thiệp: từ mục tiêu 1 và 2 xác định những đối tượng có

kiến thức, thái độ và thực hành không đúng để tiến hành can thiệp Đặc biệt quan tâm các đối tượng sau:

- Có trình độ học vấn thấp

- Sống ở vùng có điều kiện đi lại khó khăn

- Có kiến thức, thái độ về khám và điều trị RLC thấp

* Phương thức và nội dung can thiệp: thông qua lực lượng cộng tác

viên truyền thông bằng hình thức tư vấn, đối thoại trực tiếp nhóm nhỏ tại cơ

sở khám chữa bệnh

* Tiến hành can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe

- Phát triển tài liệu và tập huấn truyền thông những kiến thức cơ bản về RLC cho các cộng tác viên Phân công mỗi cộng tác viên phụ trách một tổ Hàng tháng cộng tác viên hướng dẫn kiến thức cơ bản về RLC và cấp tài liệu truyền thông về khám và điều trị cho các đối tượng có RLC nhưng chưa điều

Ngày đăng: 18/03/2023, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w