1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh đường tiêm và đánh giá kết quả sử dụng kháng sinh hợp lý tại bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh an giang giai đoạn 2018 2020

95 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh đường tiêm và đánh giá kết quả sử dụng kháng sinh hợp lý tại bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang giai đoạn 2018 2020
Tác giả Nguyễn Kim Chi
Người hướng dẫn TS.DS. Đỗ Châu Minh Vĩnh Thọ
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Tổ chức Quản lý dược
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Kháng sinh và các chỉ số về sử dụng kháng sinh (14)
    • 1.2. Sử dụng kháng sinh hợp lý (15)
    • 1.3. Đánh giá sử dụng kháng sinh trong bệnh viện (22)
    • 1.4. Đánh giá sử dụng kháng sinh hợp lý trong bệnh viện (25)
    • 1.5. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài (27)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.1. Đối tượng (33)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (33)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu (33)
      • 2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ (33)
      • 2.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (33)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (33)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu (34)
      • 2.2.3. Phương pháp chọn mẫu (35)
      • 2.2.4. Nội dung nghiên cứu (35)
      • 2.2.7. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu (46)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (46)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (47)
    • 3.1. Xác định tỉ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm theo phân tích ABC tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang năm 2018 (47)
    • 3.2. Xác định tỉ lệ sử dụng kháng sinh hợp lý và một số yếu tố liên quan sử dụng kháng sinh hợp lý 2018 (49)
    • 3.3. Đánh giá kết quả can thiệp việc sử dụng kháng sinh đường tiêm hợp lý tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang (59)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (66)
    • 4.1. Xác định tỉ lệ cơ cấu sử dụng kháng sinh đường tiêm theo phân tích (66)
    • 4.2. Xác định tỉ lệ sử dụng kháng sinh hợp lý và một số yếu tố liên quan sử dụng kháng sinh hợp lý (67)
    • 4.3. Đánh giá kết quả can thiệp việc sử dụng kháng sinh hợp lý tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang (79)
  • KẾT LUẬN (85)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (88)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Theo số liệu ghi nhận được từ các báo cáo sử dụng thuốc hàng năm, lượng kháng sinh đường tiêm được sử dụng trong điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang ước tính c

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Danh mục thuốc và báo cáo sử dụng thuốc của BVĐKTT An Giang

Hồ sơ bệnh án (HSBA) có sử dụng kháng sinh đường tiêm điều trị nội trú BVĐKTT An Giang

Danh mục thuốc và số liệu báo cáo về sử dụng thuốc trong cùng kỳ đấu thầu, lưu trữ trong phần mềm quản lý BVĐKTT An Giang

HSBA đã sử dụng kháng sinh đường tiêm từ các khoa ICU, Nhiễm, các khoa khối Nội và Ngoại, đảm bảo đủ số lượng theo giai đoạn nghiên cứu Toàn bộ hồ sơ đã được hoàn chỉnh, lưu trữ tại phòng Kế hoạch tổng hợp để thuận tiện cho quá trình theo dõi và kiểm tra sau này Việc thực hiện này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và đảm bảo tính chính xác của dữ liệu nghiên cứu.

Những bệnh án của các bệnh nhân trốn viện hoặc tử vong

Bệnh án sử dụng kháng sinh đường uống hoặc không có đầy đủ thông tin về thuốc kháng sinh

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang

- Thời gian thực hiện từ tháng 02/2019 - 07/2020.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích và can thiệp

2.2.2.1 Cỡ mẫu cho mục tiêu 1

Toàn bộ danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện và báo cáo sử dụng thuốc của BVĐKTT An Giang năm 2018 và 2019

2.2.2.2 Cỡ mẫu cho mục tiêu 2, 3 Được tính theo công thức:

- n là cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý

- Z: 1,96 (α=0,05 , mức tin cậy mong muốn là 95%)

- d: Sai số d mong muốn là 4% (d = 0,04)

- p: Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có sử dụng kháng sinh hợp lý Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bê (2015) tỉ lệ hồ sơ bệnh án có sử dụng kháng sinh hợp lý tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang là p = 40% [2]

Thay vào công thức ta có:

Để đảm bảo mẫu nghiên cứu đạt yêu cầu, chúng tôi đã thu thập thêm 5% hồ sơ bệnh án, nâng tổng số lên 616 hồ sơ Hồ sơ bệnh án được lấy đều từ 14 khoa khác nhau để đảm bảo tính đại diện và chất lượng dữ liệu trong nghiên cứu.

Toàn bộ danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện và báo cáo sử dụng thuốc của Bệnh viện năm 2018 và 2019

Là hồ sơ có sử dụng kháng sinh đường tiêm của khoa ICU, khoa Nhiễm, các khoa khối Nội, các khoa khối Ngoại lưu tại kho lưu trữ HSBA

Chọn mẫu thuận tiện Từ phần mềm FPT, truy xuất ngẫu nhiên dữ liệu bệnh án có sử dụng kháng sinh đường tiêm

2.2.4.1 Xác định tỉ lệ cơ cấu sử dụng kháng sinh đường tiêm theo phân tích ABC tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang năm 2018

* Các chỉ số sử dụng kháng sinh dựa trên chi phí tiền thuốc

Chi phí thuốc kháng sinh đường tiêm trong tổng tiền thuốc đã sử dụng phản ánh số tiền chi cho các loại kháng sinh dạng tiêm hoặc truyền dùng trong một năm Đây được tính bằng cách lấy tổng số tiền kháng sinh đường tiêm đã sử dụng chia cho tổng tiền thuốc đã sử dụng tại bệnh viện, sau đó nhân với 100 để chuyển đổi thành phần trăm Việc nắm rõ tỷ lệ chi phí kháng sinh đường tiêm giúp đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc và quản lý ngân sách điều trị hiệu quả hơn.

- Chi phí kháng sinh đường tiêm sản xuất trong nước và nhập ngoại so với tổng tiền kháng sinh đường tiêm đã sử dụng, được tính theo tỉ lệ %

* Phân tích ABC kháng sinh đường tiêm sử dụng năm 2018

Phân tích ABC là phương pháp xác định mối tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, giúp phân định rõ các loại thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách thuốc của bệnh viện Đây là công cụ quan trọng để quản lý chi phí y tế hiệu quả, từ đó tối ưu hóa danh mục thuốc và giảm thiểu lãng phí ngân sách Phân tích ABC hỗ trợ phát hiện các thuốc có ảnh hưởng lớn đến chi phí y tế, giúp đưa ra các quyết định quản lý thuốc hợp lý và bền vững hơn.

- Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm có trong phân nhóm A, B, C về số lượng + Chọn điểm cắt cho hạng A là 75%, hạng B là 15% và 10% hạng C

Xác định tỷ lệ kháng sinh đường tiêm trong các hạng A, B, C bằng cách tính tổng lượng thuốc kháng sinh tiêm trong từng hạng chia cho tổng lượng thuốc đã sử dụng trong mẫu nghiên cứu, sau đó nhân với 100 để có tỷ lệ phần trăm Điều này giúp đánh giá chính xác mức độ sử dụng kháng sinh theo từng hạng, hỗ trợ các chiến lược kiểm soát kháng thuốc hiệu quả hơn Phương pháp này là công cụ quan trọng trong phân tích và theo dõi sự thay đổi trong việc sử dụng kháng sinh, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và tuân thủ các quy định y tế.

Tỉ lệ kháng sinh trong các phân nhóm A, B và C được xác định bằng cách lấy tổng số tiền thuốc kháng sinh đường tiêm thuộc từng hạng chia cho tổng lượng thuốc đã sử dụng trong mẫu nghiên cứu, sau đó nhân với 100 để tính tỷ lệ phần trăm Các phương pháp này giúp đánh giá chính xác mức độ sử dụng kháng sinh trong từng nhóm, hỗ trợ tối ưu hóa việc sử dụng thuốc và kiểm soát đề kháng kháng sinh Việc phân tích tỷ lệ kháng sinh theo từng phân nhóm là bước quan trọng trong quản lý thuốc nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và hạn chế tác dụng phụ không mong muốn.

2.2.4.2 Xác định tỉ lệ sử dụng kháng sinh hợp lý và một số yếu tố liên quan sử dụng kháng sinh hợp lý tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang năm 2018

* Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu Đặc điểm bệnh mắc kèm:

- Có 02 giá trị: có bệnh mắc kèm và không có bệnh mắc kèm

Tỉ lệ phần trăm các bệnh kèm theo được tính bằng cách lấy số bệnh nhân mắc từng bệnh kèm chia cho tổng số bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu, sau đó nhân với 100 để quy đổi thành phần trăm Đặc điểm nhóm bệnh trong nghiên cứu HSBA thể hiện rõ tỷ lệ mắc các bệnh kèm theo, giúp hiểu rõ hơn về tình hình bệnh lý của nhóm bệnh nhân Phương pháp này giúp phân tích chính xác tỷ lệ mắc bệnh kèm theo và hỗ trợ trong việc xác định các yếu tố liên quan trong chẩn đoán và điều trị Việc xác định tỷ lệ phần trăm các bệnh kèm theo đóng vai trò quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bệnh và xây dựng các chiến lược chăm sóc sức khỏe phù hợp.

- Chẩn đoán bệnh là chẩn đoán cuối cùng lúc xuất viện

- Điều kiện: chẩn đoán bệnh cần điều trị bằng kháng sinh đường tiêm trong các khoa lâm sàng

Chẩn đoán bệnh được phân loại thành các nhóm chính nhằm giúp xác định chính xác nguyên nhân và hướng điều trị phù hợp Các nhóm bệnh phổ biến bao gồm nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn tiêu hóa, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn cơ, xương, khớp và các nhiễm khuẩn khác Việc phân loại này hỗ trợ bác sĩ trong quá trình chẩn đoán và đưa ra phương án điều trị hiệu quả nhất cho bệnh nhân.

- Cách tính: tỉ lệ phần trăm về nhóm bệnh chính được chẩn đoán được tính bằng cách lấy số bệnh nhân thuộc mỗi nhóm bệnh chia cho tổng số bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu và nhân 100

- Có 2 giá trị: có phẫu thuật và không có phẫu thuật

- Được xác định bằng cách tính tỉ lệ người bệnh có phẫu thuật trên tổng số bệnh nhân nghiên cứu

Tỉ lệ % người bệnh phẫu thuật có sử dụng kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật

- Có 2 giá trị: có sử dụng kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật và không có sử dụng kháng sinh dự phòng

- Được tính bằng cách lấy số lượng của loại sử dụng chia cho tổng số kháng sinh đường tiêm đã sử dụng trong mẫu nghiên cứu và nhân 100

Tỉ lệ % kháng sinh theo phân nhóm hướng dẫn sử dụng kháng sinh của

Bộ Y tế và theo từng khoa nghiên cứu

Cơ cấu nhóm kháng sinh: được chia thành 6 nhóm [10]

- Betalatam gồm các hoạt chất: ampicilin, ampicilin/sulbactam, amoxicillin/sulbactam, cloxacilin, piperacillin/tazobactam, ticarcilin/kali clavulanat, cefalothin, cefazolin, cefuroxim, cefmetazol, cefotaxim, ceftazidim, cefoperazon, ceftriaxon, cefepim, meropenem, imipenem/cilastatin

- Quinolon gồm các hoạt chất: ciprofloxacin, levofloxacin, moxifloxacin

- Aminoglycosid gồm các hoạt chất: amikacin, gentamicin, netilmicin

- Nitro-imidazol gồm: metronidazol, tinidazol

- Hoạt chất khác: vancomycin và colistin

+ Điều kiện: hồ sơ bệnh án có sử dụng kháng sinh đường tiêm

Cách tính kháng sinh đường tiêm dựa trên việc phân loại các loại kháng sinh theo các phân nhóm chính khác nhau Từ đó, tính tỷ lệ phần trăm của từng loại kháng sinh so với tổng lượng kháng sinh đường tiêm đã được sử dụng trong nghiên cứu Ngoài ra, tỷ lệ kháng sinh đường tiêm được chỉ định trong Hồ sơ bệnh án (HSBA) cũng được xác định để đánh giá chính xác việc sử dụng thuốc.

Tỉ lệ % hồ sơ có xét nghiệm vi khuẩn

- Có 02 giá trị: có bệnh mắc kèm và không có xét nghiệm vi khuẩn

Tỉ lệ phần trăm các bệnh kèm theo được xác định bằng cách chia số bệnh nhân mắc mỗi bệnh kèm theo cho tổng số bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu, sau đó nhân với 100 để có tỷ lệ phần trăm Phương pháp này giúp đánh giá mức độ phổ biến của các bệnh đi kèm trong nhóm nghiên cứu một cách chính xác và minh bạch Việc tính toán tỉ lệ phần trăm này là bước quan trọng trong phân tích dữ liệu y tế nhằm cung cấp thông tin rõ ràng về tỷ lệ mắc bệnh kèm theo.

* Xác định tỉ lệ sử dụng kháng sinh hợp lý tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang năm 2018

Sử dụng thuốc hợp lý là việc dùng thuốc đáp ứng được yêu cầu lâm sàng của người bệnh ở liều thích hợp trên từng cá thể người bệnh (đúng liều, đúng khoảng cách đưa thuốc và thời gian sử dụng thuốc), đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng thuốc, khả năng cung ứng và có giá cả phù hợp nhằm giảm tới mức thấp nhất chi phí cho người bệnh và cộng đồng [2], [57]

Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm đúng 2018

- Là những hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm được kê khi có bằng chứng nhiễm khuẩn:

+ Soi, cấy có vi khuẩn

+ Có ổ nhiễm trùng trên lâm sàng: ổ áp xe, vết thương nhiễm trùng, phổi ran ẩm nổ, nước tiểu đục…

+ Có bằng chứng của nhiễm trùng bao gồm các dấu hiệu lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh hoặc các xét nghiệm (như cấy máu dương tính, nhuộm soi tươi,

PCR, Xquang ngực có hình ảnh viêm phổi…) Bạch cầu tăng và CRP (C - Reactive Protein) tăng cùng với chứng viêm, nhiễm trùng

- Điều kiện: có chỉ định sử dụng kháng sinh đường tiêm

Cách tính tỷ lệ phần trăm kháng sinh được kê dựa trên bằng chứng nhiễm khuẩn, bằng cách chia số hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm đúng cho tổng số hồ sơ bệnh án nghiên cứu theo từng khoa hoặc nhóm bệnh Phương pháp này giúp đánh giá chính xác việc sử dụng kháng sinh đúng chuẩn dựa trên căn cứ lâm sàng Việc xác định tỷ lệ kháng sinh phù hợp góp phần nâng cao chất lượng điều trị và kiểm soát tình hình đề kháng kháng sinh.

Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm có liều dùng theo khuyến cáo 2018

- Liều lượng khuyến cáo: có 2 giá trị hợp lý và không hợp lý

+ Hợp lý: theo hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế (2015), dược thư quốc gia năm 2018 [11] và hướng dẫn sử dụng thuốc

Hồ sơ bệnh án cần xác định rõ việc chỉ định sử dụng kháng sinh đường tiêm, phù hợp với các tiêu chuẩn đã đề ra Trường hợp không hợp lý, tức là hồ sơ bệnh án không đáp ứng tiêu chuẩn hoặc không giải thích được lý do khác (nếu có), thì sẽ không đáp ứng yêu cầu Việc ghi nhận rõ ràng lý do sử dụng kháng sinh qua đường tiêm là điều kiện bắt buộc để đảm bảo tính hợp lệ của hồ sơ.

Cách tính: tổng số bệnh án có liều lượng khuyến cáo hợp lý chia cho tổng số bệnh án được nghiên cứu và nhân 100

Tỉ lệ HSBA có chỉ định kháng sinh đường tiêm có khoảng cách liều theo khuyến cáo 2018

Khoảng cách liều là khoảng thời gian giữa 2 lần dùng kháng sinh kế tiếp nhau

Khoảng cách liều theo khuyến cáo: Có 2 giá trị hợp lý và không hợp lý

+ Hợp lý: theo hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế (2015) và dược thư quốc gia năm 2018 [11]

+ Không hợp lý: ngoài tiêu chuẩn trên hoặc không giải thích được lý do khác (nếu có)

Cách tính: tổng số bệnh án có liều lượng khuyến cáo hợp lý chia cho tổng số bệnh án được nghiên cứu và nhân 100

Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định sử dụng kháng sinh đường tiêm hợp lý

Đạo đức trong nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu trung thực và nghiêm túc

Thông tin riêng tư của đối tượng nghiên cứu được bảo mật tuyệt đối, đảm bảo tuân thủ các quy định về quyền riêng tư Nghiên cứu được thực hiện dựa trên hồ sơ bệnh án đã qua xử lý, không gây ảnh hưởng đến tính mạng hoặc sức khỏe của người bệnh.

Việc thu thập số liệu trong nghiên cứu y sinh học tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ chỉ được tiến hành sau khi đã được sự chấp thuận chính thức từ Hội đồng đạo đức Điều này đảm bảo tuân thủ các quy định đạo đức và tiêu chuẩn nghiên cứu y học, đảm bảo tính hợp pháp và đạo đức của dữ liệu thu thập Việc xin phép và nhận sự chấp thuận từ Hội đồng đạo đức là bước cần thiết để đảm bảo quyền lợi và sự an toàn của các đối tượng tham gia nghiên cứu, đồng thời nâng cao uy tín và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Xác định tỉ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm theo phân tích ABC tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang năm 2018

3.1.1 Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm và chi phí sử dụng 2018

Bảng 3.1: Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm so với tổng số tiền thuốc sử dụng năm 2018

Chỉ số phân tích Số lượng biệt dược n (%)

Năm 2018, Bệnh viện đã sử dụng 76 biệt dược kháng sinh đường tiêm, với tổng chi phí lên tới 30,07 tỷ đồng, chiếm 21,65% tổng chi phí thuốc đã sử dụng trong năm.

Bảng 3.2: Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm sản xuất trong nước và ngoại nhập đã sử dụng năm 2018

Tổng tiền KS đường tiêm ngoại nhập trong tổng KS tiêm 23,78 79,08 Tổng tiền KS đường tiêm trong nước trong tổng KS tiêm 6,29 20,92

Trong tổng giá trị kháng sinh đường tiêm đã sử dụng, kháng sinh sản xuất trong nước chiếm 6,29 tỷ đồng, tương đương 20,93%, trong khi đó kháng sinh nhập khẩu chiếm tới 23,78 tỷ đồng, chiếm 79,08% Điều này cho thấy phần lớn kháng sinh đường tiêm được sử dụng là nhập khẩu từ nước ngoài, phản ánh xu hướng phụ thuộc vào thị trường quốc tế trong ngành công nghiệp dược phẩm Việc tăng cường sản xuất trong nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm phụ thuộc và đảm bảo nguồn cung ổn định cho ngành y tế.

3.1.2 Phân tích ABC cho các hoạt chất kháng sinh đường tiêm sử dụng năm 2018

Biểu đồ 3.1: Phân tích ABC của kháng sinh đường tiêm trong tổng danh mục thuốc được sử dụng trong năm 2018

Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, giúp xác định các loại thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách của nhà thuốc bệnh viện Phương pháp này hỗ trợ quản lý kho hiệu quả, tối ưu hóa chi phí và tập trung vào những mặt hàng có ảnh hưởng lớn đến ngân sách Áp dụng phân tích ABC giúp bệnh viện đưa ra quyết định chính xác về tồn kho, giúp giảm thiểu lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc.

Kết quả cho thấy, trong phân nhóm A (nhóm chiếm tỉ trọng cao, chiếm 74,92% giá trị thuốc sử dụng), kháng sinh đường tiêm chiếm 20,37% về giá trị sử dụng

KS đường tiêm Thuốc khác

Bảng 3.3: Tỉ lệ % kháng sinh đường tiêm nhóm A, B, C trong tổng số thuốc kháng sinh đường tiêm sử dụng năm 2018

Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm về số lượng danh mục (%)

Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm về giá trị sử dụng (%)

Hạng A Hạng B Hạng C Tổng số Hạng A Hạng B Hạng C Tổng số

Kết quả cho thấy kháng sinh đường tiêm nhóm A chiếm tỷ lệ cao nhất về lượng (48,28%) và chiếm đến 94,13% về giá trị sử dụng trong tổng số kháng sinh đường tiêm đã sử dụng Phân nhóm B chiếm 13,79% về số lượng nhưng chỉ khoảng 3,77% về giá trị sử dụng, trong khi phân nhóm C chiếm 37,93% về số lượng nhưng chỉ khoảng 2,1% về giá trị Điều này cho thấy kháng sinh nhóm A đóng vai trò chủ yếu trong việc sử dụng kháng sinh tiêm và có ảnh hưởng lớn đến tổng giá trị sử dụng.

Xác định tỉ lệ sử dụng kháng sinh hợp lý và một số yếu tố liên quan sử dụng kháng sinh hợp lý 2018

3.2.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

3.2.1.1 Đặc điểm bệnh lý mắc kèm

Bảng 3.4: Tỉ lệ các bệnh lý mắc kèm

Số bệnh mắc kèm Tần suất Tỉ lệ (%)

Không có bệnh mắc kèm 290 47,08

Trong 616 HSBA khảo sát, tỉ lệ người bệnh có bệnh lý mắc kèm chiếm 52,92% và tỉ lệ người bệnh không có bệnh lý mắc kèm chiếm tỉ lệ 47,08%

3.2.1.2 Đặc điểm nhóm bệnh được chẩn đoán trong hồ sơ bệnh án

Bảng 3.5: Các bệnh được chẩn đoán theo hồ sơ bệnh án

STT Nhóm bệnh Tên bệnh Tần suất

Nhiễm khuẩn khác (Viêm hô hấp, viêm phế quản…)

Nhiễm khuẩn khác (Tiêu chảy cấp, nhiễm trùng tiêu hóa…)

3 Nhiễm trùng huyết Nhiễm trùng huyết 32 5,19 5,19

Nhiễm khuẩn cơ, xương, khớp

Nhiễm khuẩn khác (Abcess, các bệnh lý bụng ngoại khoa)

Viêm màng não, nhiễm trùng da 97 15,75 15,75

Bệnh lý nhiễm khuẩn hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số 616 bệnh nhân được chẩn đoán trong HSBA, với tần suất 258 trường hợp, chiếm 41,89% tổng số bệnh.

Các bệnh nhiễm khuẩn cơ, xương, khớp chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh nhiễm khuẩn, với mức 27,76% Tiếp theo là các bệnh nhiễm khuẩn tiêu hóa, chiếm 9,41%, trong khi nhiễm trùng huyết chiếm 5,19% Ngoài ra, các loại nhiễm trùng khác chiếm tỷ lệ 15,75%, cho thấy tầm quan trọng của việc chẩn đoán và điều trị đúng các bệnh nhiễm khuẩn để giảm thiểu biến chứng và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Bảng 3.6: Tình trạng phẫu thuật Tình trạng người bệnh Tần suất Tỉ lệ (%)

Trong 616 HSBA khảo sát, có 108 trường hợp có phẫu thuật (17,53%) và 508 trường hợp không phẫu thuật (82,47%)

3.2.1.3 Đặc điểm kháng sinh sử dụng dự phòng cho phẫu thuật

Bảng 3.7: Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có sử dụng kháng sinh dự phòng cho phẫu thuật

Chỉ định sử dụng kháng sinh đường tiêm Số lượng

Có dùng kháng sinh dự phòng 3 2,78

Không dùng kháng sinh dự phòng 105 97,22

Kết quả cho thấy, các bệnh nhân phẩu thuật có tỉ lệ sử dụng kháng sinh dự phòng cho phẫu thuật là 2,78%

3.2.1.4 Tỉ lệ số loại kháng sinh đường tiêm được sử dụng theo phân nhóm hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế và theo từng khoa nghiên cứu 2018

Bảng 3.8: Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm được chỉ định trong hồ sơ bệnh án nghiên cứu

Nhóm kháng sinh đường tiêm

Qua khảo sát 616 HSBA cho thấy, tần suất sử dụng các nhóm kháng sinh đường tiêm được sử dụng là 1.013

Trong đó, nhóm betalactam là nhóm kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 49,26% với tần suất 499 lần Tiếp theo là nhóm quinolon, chiếm 30,11% với 305 lần sử dụng, kế đến là nhóm nitroimidazol và aminoglycosid với tần suất lần lượt là 133 (13,13%) và 33 (3,26%) Việc sử dụng kháng sinh đường tiêm phổ biến nhất diễn ra tại các khoa thuộc khối Nội, trong đó tỷ lệ sử dụng betalactam đạt 54,73% và quinolon là 26,90%, phản ánh xu hướng sử dụng kháng sinh phù hợp tại các bệnh viện.

3.2.1.5 Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có xét nghiệm vi khuẩn

Bảng 3.9: Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có xét nghiệm vi khuẩn

Nội dung Số lượng Tỉ lệ (%)

Có xét nghiệm vi khuẩn 118 19,16

Không xét nghiệm vi khuẩn 498 80,84

Trong 616 HSBA khảo sát, có 118 trường hợp có chỉ định xét nghiệm vi khuẩn (tỉ lệ 19,16%), còn lại 498 trường hợp không có chỉ định (80,84%)

3.2.2 Xác định tỉ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm hợp lý tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang 2018

3.2.2.1 Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm đúng 2018

Bảng 3.10: Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm đúng

Chỉ định sử dụng kháng sinh đường tiêm Đúng Không đúng

Tần suất Tỉ lệ (%) Tần suất Tỉ lệ (%)

Tỉ lệ HSBA có chỉ định kháng sinh đúng chiếm 93,02% Tỉ lệ HSBA có chỉ định sử dụng kháng sinh đường tiêm chưa đúng là 6,98%

Bảng 3.11: Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm đúng theo nhóm bệnh

Chỉ định sử dụng kháng sinh đường tiêm Đúng Không đúng

Tần suất Tỉ lệ (%) Tần suất Tỉ lệ (%)

Nhiễm khuẩn cơ, xương, khớp 157 25,49 14 2,27

Có 573 HSBA có chỉ định kháng sinh đường tiêm đúng theo các nhóm bệnh (tỉ lệ 93,02%) và còn 43 HSBA chỉ định chưa đúng (tỉ lệ 6,98%)

Bảng 3.12: Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm đúng liều dùng

Liều dùng kháng sinh đường tiêm

Hợp lý Không hợp lý

Tần suất Tỉ lệ (%) Tần suất Tỉ lệ (%)

Tỉ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm có liều dùng đúng theo khuyến cáo khoảng 98,54% và 1,46% chưa phù hợp với từng loại kháng sinh

3.2.2.2 Tỉ lệ hồ sơ bệnh án chỉ định kháng sinh đường tiêm với khoảng cách liều hợp lý năm 2018

Bảng 3.13: Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm với khoảng cách liều hợp lý

Khoảng cách liều kháng sinh đường tiêm

Hợp lý Không hợp lý

Tần suất Tỉ lệ (%) Tần suất Tỉ lệ (%)

Kết quả khảo sát cho thấy, tỉ lệ HSBA có chỉ định kháng sinh đường tiêm với khoảng cách liều hợp lý là 98,05%

3.2.2.3 Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh hợp lý năm 2018

Bảng 3.14: Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm hợp lý

HSBA có chỉ định kháng sinh đường tiêm hợp lý

Hợp lý Không hợp lý

Tần suất Tỉ lệ (%) Tần suất Tỉ lệ (%)

Trong 616 HSBA khảo sát, có 573 HSBA có chỉ định kháng sinh hợp lý (93,02%) và 43 HSBA có chỉ định kháng sinh chưa hợp lý (6,98%)

3.2.2.4 Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm có khoảng thời gian điều trị

Bảng 3.15: Tỉ lệ hồ sơ bệnh án sử dụng kháng sinh đường tiêm có khoảng thời gian điều trị

Khoa Thời gian sử dụng KS đường tiêm n (%) Số ngày TB ± SD

Kết quả phân tích cho thấy, thời gian điều trị kháng sinh dưới 7 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,8% Khoa HSTC ghi nhận mức sử dụng kháng sinh đường tiêm lâu nhất, trung bình là 12,66 ± 6,94 ngày Trong đó, số bệnh nhân điều trị từ 7 đến 10 ngày lần lượt là 42,21%, trong khi điều trị trên 10 ngày chiếm khoảng 18,99% Một số nhóm bệnh như nhiễm trùng, khối nội, và khối ngoại đều có tỷ lệ bệnh nhân điều trị dài hơn, đặc biệt nhóm khối nội có số ngày trung bình là 9,5 ± 4,25 ngày Các dữ liệu này phản ánh xu hướng sử dụng kháng sinh theo thời gian điều trị, góp phần tối ưu hóa phác đồ điều trị phù hợp và nâng cao hiệu quả chăm sóc bệnh nhân.

3.2.2.5 Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có thay đổi đường dùng kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống

Bảng 3.16: Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định thay đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống

Khoa Đường tiêm sang đường uống

Trong khảo sát, có 96 trường hợp thay đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống (tỉ lệ 15,58%) Các khoa khối Ngoại thay đổi nhiều nhất là 8,60%

3.2.2.6 Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định phối hợp kháng sinh

Bảng 3.17: Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có phối hợp kháng sinh

Số lượng kháng sinh đường tiêm sử dụng Đơn trị liệu Phối hợp 2 kháng sinh

Tần suất Tỉ lệ Tần suất Tỉ lệ Tần suất Tỉ lệ

Kết quả khảo sát cho thấy, các khoa khối Nội, khối Ngoại và Nhiễm tỉ lệ sử dụng kháng sinh đơn trị liệu cao

Tỉ lệ phối hợp từ 2 - 3 kháng sinh đường tiêm cao nhất ở các khoa khối Nội và khối Ngoại

3.2.2.7 Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh an toàn

Bảng 3.18: Kết quả tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm an toàn

Biểu hiện Số lượng Tỉ lệ (%)

Có xảy ra phản ứng có hại (ADR) 1 0,16

Không có phản ứng có hại (ADR) 615 99,84

Kết quả Bảng 3.18 cho thấy có 01 trường hợp xảy ra ADR trong các HSBA nghiên cứu chiếm 0,16%

3.2.3 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng kháng sinh 2018

Bảng 3.19: Một số yếu tố liên quan đến sử dụng kháng sinh

Hợp lý Không hợp lý OR p n % n %

Các yếu tố nhóm bệnh và việc sử dụng kháng sinh dự phòng ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng kháng sinh không hợp lý Sử dụng kháng sinh dự phòng giúp giảm nguy cơ sử dụng kháng sinh không phù hợp, với Odds Ratio (OR) = 0,14 và ý nghĩa thống kê rõ ràng với p < 0,05, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát và giảm thiểu tình trạng kháng kháng sinh.

Một số yếu tố khác như phẫu thuật, tình trạng bệnh, thời gian nằm viện chưa thấy có ảnh hưởng sử dụng kháng sinh hợp lý.

Đánh giá kết quả can thiệp việc sử dụng kháng sinh đường tiêm hợp lý tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang

3.3.1 Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm và chi phí sử dụng 2019 (sau can thiệp) Bảng 3.20: Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm so với tổng số tiền thuốc sử dụng năm 2019

Số lượng biệt dược Giá trị n (%) Tỉ VNĐ (%)

Kháng sinh đường tiêm 94 (7,38) 32,34 (21,58) Thuốc khác 1.179 (92,62) 117,53 (78,42)

Năm 2019, Bệnh viện đã sử dụng tổng cộng 94 biệt dược kháng sinh đường tiêm, với tổng chi phí lên đến 32,34 tỷ đồng Trong đó, thuốc kháng sinh đường tiêm chiếm 21,58% tổng chi phí thuốc đã sử dụng tại bệnh viện Kết quả này cho thấy mức tiêu thụ cao của các loại kháng sinh tiêm trong quá trình điều trị tại bệnh viện Việc sử dụng đa dạng biệt dược kháng sinh đường tiêm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý thuốc và tối ưu hóa chi phí y tế.

Bảng 3.21: Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm sản xuất trong nước và ngoại nhập đã sử dụng năm 2019

Tổng tiền KS đường tiêm ngoại nhập trong tổng KS tiêm 24,17 74,73 Tổng tiền KS đường tiêm trong nước trong tổng KS tiêm 8,17 25,27

Trong ngành kháng sinh đường tiêm tại Việt Nam, tổng giá trị sử dụng đạt khoảng 32,34 tỷ đồng, trong đó kháng sinh sản xuất trong nước chiếm 8,17 tỷ đồng, tương đương 25,27%, còn kháng sinh nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao hơn, đạt 24,17 tỷ đồng, chiếm 74,73% Điều này cho thấy sự phụ thuộc lớn vào kháng sinh nhập khẩu trong lĩnh vực này, đồng thời phản ánh xu hướng tiêu thụ và sản xuất kháng sinh tại thị trường nội địa Việc tăng cường sản xuất trong nước có thể góp phần giảm nhập khẩu và đảm bảo nguồn cung kháng sinh ổn định, an toàn.

3.3.2 Phân tích ABC cho các hoạt chất kháng sinh đường tiêm sử dụng năm 2019

Biểu đồ 3.2: Phân tích ABC của kháng sinh đường tiêm trong tổng danh mục thuốc được sử dụng trong năm 2019

Trong phân nhóm A (nhóm chiếm tỉ trọng cao, chiếm 74,62% giá trị thuốc sử dụng), kháng sinh đường tiêm chiếm 20,44% về giá trị sử dụng

Bảng 3.22: Tỉ lệ % kháng sinh đường tiêm nhóm A, B, C trong tổng số thuốc kháng sinh đường tiêm sử dụng năm 2019

Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm về số lượng danh mục (%)

Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm về giá trị sử dụng (%)

Hạng A Hạng B Hạng C Tổng số Hạng A Hạng B Hạng C Tổng số 46,4 14,29 39,29 100,00 94,73 3,44 1,82 100,00

Kháng sinh đường tiêm phân nhóm A chiếm tỉ lệ cao nhất với 46,4% về lượng và chiếm 94,73% về giá trị sử dụng Kháng sinh đường tiêm thuộc phân nhóm A chiếm tỉ trọng cao nhất về giá trị sử dụng

KS đường tiêm Thuốc khác

3.3.3 So sánh tiền thuốc kháng sinh sử dụng trước và sau can thiệp

Bảng 3.23 So sánh tiền thuốc kháng sinh sử dụng trước và sau can thiệp

1 Tổng tiền thuốc sử dụng 138,92 100,00 149,87 100,00 0

Tỉ lệ KS đường tiêm/ tổng tiền thuốc sử dụng

Tỉ lệ KS đường tiêm ngoại nhập/

Tỉ lệ KS đường tiêm sản xuất trong nước/ KS đường tiêm

Sau khi can thiệp tỉ lệ chi phí kháng sinh đường tiêm sử dụng giảm hơn so với năm 2018

Kháng sinh đường tiêm ngoại nhập giảm 4,34%, kháng sinh đường tiêm sản xuất trong nước tăng 4,34%

3.3.4 So sánh tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh hợp lý sau can thiệp

3.3.4.1 So sánh tỉ lệ hồ sơ bệnh án có kháng sinh được chỉ định đúng sau can thiệp

Bảng 3.24: So sánh tỉ lệ hồ sơ bệnh án có kháng sinh được chỉ định đúng

Trước can thiệp Sau can thiệp Đúng Không đúng Đúng Không đúng p

Trước can thiệp, tỷ lệ kháng sinh được chỉ định đúng đạt 93,02%, trong khi tỷ lệ HSBA có kháng sinh đường tiêm chưa đúng chỉ chiếm từ 0,16% đến 3,08% Sau can thiệp, tỷ lệ HSBA được chỉ định đúng kháng sinh đường tiêm nâng lên đáng kể, đạt 98,70%, thể hiện rõ sự cải thiện đáng kể trong việc quản lý sử dụng kháng sinh tại bệnh viện.

Tỉ lệ kháng sinh được chỉ định đúng tại các khoa đã tăng 5,68% sau can thiệp, cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong quản lý thuốc Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,05, xác nhận hiệu quả của các biện pháp can thiệp Trong đó, các khoa nội chiếm tỷ lệ cao nhất với 56,66%, phản ánh sự chú trọng của các khoa này trong việc sử dụng kháng sinh hợp lý.

Sau can thiệp, tỷ lệ sử dụng kháng sinh đúng của khoa Nhiễm đạt 100%, thể hiện hiệu quả cao trong việc quản lý thuốc Trong các khoa khối Nội, tỷ lệ sử dụng kháng sinh đúng là 56,66%, trong khi khối Ngoại là 27,92%, và khoa Hồi sức chỉ đạt 6,98%, cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tuân thủ hướng dẫn sử dụng kháng sinh giữa các khoa.

3.3.4.2 So sánh tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh có liều dùng theo khuyến cáo

Bảng 3.25: So sánh tỉ lệ hồ sơ bệnh án có kháng sinh đường tiêm được chỉ định đúng theo liều dùng khuyến cáo

Trước can thiệp Sau can thiệp Đúng Không đúng Đúng Không đúng p

Trước khi can thiệp, vẫn còn một số khoa chỉ định liều dùng chưa đúng theo khuyến cáo, trong đó tỷ lệ cao nhất thuộc khối Nội với 0,65%, tiếp đến là khoa HSTC với 0,49%, và các khoa khối Ngoại chiếm tỷ lệ 0,32%.

Sau khi can thiệp, tỷ lệ kháng sinh đường tiêm không đúng liều khuyến cáo đã giảm rõ rệt ở tất cả các khoa, cho thấy sự cải thiện đáng kể trong việc kiểm soát sử dụng thuốc Sự thay đổi này mang ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,035 (< 0,05), xác nhận hiệu quả của các biện pháp can thiệp trong việc nâng cao chất lượng sử dụng kháng sinh.

Các khoa Nhiễm, Hồi sức và Khối Nội đều sử dụng kháng sinh đúng liều theo hướng dẫn sau can thiệp, đạt tỷ lệ 100% Trong khi đó, chỉ có khối Ngoại có tỷ lệ sử dụng kháng sinh chưa đúng liều là 0,16%, cho thấy mức độ phù hợp trong việc chỉ định kháng sinh chưa đồng đều giữa các khoa.

3.3.4.3 So sánh kết quả sau can thiệp việc sử dụng kháng sinh với khoảng cách liều hợp lý

Bảng 3.26: So sánh tỉ lệ hồ sơ bệnh án có kháng sinh đường tiêm được chỉ định với khoảng cách liều hợp lý

Trước can thiệp Sau can thiệp p

Hợp lý Không hợp lý Hợp lý Không hợp lý

Trước can thiệp tỉ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm đúng khoảng cách liều theo khuyến cáo với tỉ lệ 98,05% và tỉ lệ HSBA không hợp lý là 1,95%

Sau can thiệp tỉ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm đúng khoảng cách liều theo khuyến cáo là 99,84% Các tỉ lệ kháng sinh đường tiêm sử dụng với khoảng cách liều không hợp lý tại các khoa đã giảm 1,79% so với trước can thiệp với mức ý nghĩa p < 0,05

Các khoa Nhiễm, khối Nội và khối Ngoại có tỉ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm đúng khoảng cách liều hợp lý sau can thiệp là 100%

3.3.4.4 So sánh tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh hợp lý sau can thiệp

Bảng 3.27: So sánh tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm hợp lý sau can thiệp

Trước can thiệp Sau can thiệp

Hợp lý Không p hợp lý Hợp lý Không hợp lý

Trong 616 HSBA sau can thiệp, có 608 bệnh án có chỉ định kháng sinh hợp lý, chiếm tỉ lệ 98,7%

Tỉ lệ chỉ định kháng sinh đường tiêm không hợp lý tại các khoa đã giảm 5,68% sau can thiệp, với mức ý nghĩa thống kê p = 0,004 (< 0,05) Đặc biệt, các khoa thuộc khối Ngoại ghi nhận giảm nhiều nhất với tỷ lệ hợp lý hơn, giảm 2,43% so với trước can thiệp, góp phần nâng cao chất lượng sử dụng kháng sinh trong bệnh viện.

BÀN LUẬN

Xác định tỉ lệ cơ cấu sử dụng kháng sinh đường tiêm theo phân tích

Trong năm 2018, sử dụng kháng sinh đường tiêm được thể hiện qua Bảng 3.1, với tổng số 76 biệt dược và giá trị sử dụng đạt 30,07 tỷ đồng, chiếm 21,65% tổng chi phí thuốc đã sử dụng, cho thấy tỷ lệ tiêu thụ kháng sinh đường tiêm còn hạn chế so với các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thị.

Bê (2015), tỉ lệ kháng sinh đường tiêm sử dụng năm 2014 là 92% và 2015 là 95%

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ chi tiêu cho kháng sinh qua đường tiêm chiếm 42,3% và thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương và cộng sự về đặc điểm danh mục kháng sinh tại Bệnh viện đa khoa khu vực Định Quán trong giai đoạn từ tháng 10/2016 đến tháng 9/2017 Ngoài ra, tỷ lệ này còn cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Trần Quang Thịnh.

Vào năm 2018 tại Bệnh viện đa khoa Bưu điện, nghiên cứu cho thấy có 47 biệt dược kháng sinh đường tiêm đã được sử dụng, chiếm tới 71% tổng chi phí dành cho kháng sinh Những hoạt động này còn chiếm 12,8% tổng ngân sách của bệnh viện dành cho thuốc trong cùng giai đoạn, phản ánh tầm quan trọng và mức độ tiêu thụ lớn của kháng sinh đường tiêm trong quản lý điều trị bệnh nhân.

Chi phí kháng sinh đường tiêm sản xuất trong nước đã đạt 6,29 tỉ đồng, chiếm tỷ lệ 20,93% tổng chi phí kháng sinh Các nhóm kháng sinh đường tiêm được sử dụng tại bệnh viện khá đa dạng, gần như bao gồm đầy đủ các loại kháng sinh chính thường được dùng trong các bệnh viện hạng II Việc sử dụng đa dạng các nhóm kháng sinh này phản ánh nhu cầu điều trị phong phú và phù hợp với các trường hợp bệnh nhân tại bệnh viện.

Việc hạn chế sử dụng kháng sinh đường tiêm giúp giảm thiểu chi phí thuốc và vật tư tiêu hao như bông, băng, bơm tiêm, đồng thời tạo thêm thời gian cho nhân viên y tế chăm sóc người bệnh, giảm đau đớn và hạn chế các phản ứng bất lợi có thể xảy ra Kháng sinh tiêm có tỉ lệ ADR cao và dễ xảy ra sai sót trong pha chế, khiến nguy cơ biến chứng tăng lên; bên cạnh đó, giá thành của kháng sinh tiêm cao hơn nhiều so với dạng uống và không phù hợp với nguyên tắc MINDME trong sử dụng thuốc an toàn.

Phân tích ABC là phương pháp phổ biến nhằm đánh giá mối tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, giúp xác định các loại thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách nhà thuốc của bệnh viện Trong phân nhóm A, kháng sinh đường tiêm chiếm 2,98% về lượng sử dụng nhưng lại chiếm 20,37% giá trị tiêu thụ, cho thấy thuốc này đóng vai trò quan trọng trong chi phí tổng thể Kết quả trong Bảng 3.3 cho thấy, kháng sinh đường tiêm thuộc phân nhóm A chiếm tới 94,13% trong tổng giá trị sử dụng kháng sinh đường tiêm, trong khi các loại thuốc cùng nhóm B và C chiếm tỷ lệ nhỏ hơn đáng kể Do đó, biến động về mức độ sử dụng và đơn giá của kháng sinh đường tiêm phân nhóm A có khả năng ảnh hưởng lớn đến tổng chi phí tiêu thụ kháng sinh đường tiêm trong bệnh viện.

Xác định tỉ lệ sử dụng kháng sinh hợp lý và một số yếu tố liên quan sử dụng kháng sinh hợp lý

4.2.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 616 mẫu bệnh án phù hợp từ các bệnh nhân năm 2018 tại Bệnh viện đa khoa Trung tâm An Giang Dữ liệu tập trung chủ yếu từ các khoa Nhiễm, Hồi sức tích cực, khối Nội và khối Ngoại Phương pháp này giúp đánh giá chính xác các đặc điểm và xu hướng bệnh tật trong các lĩnh vực y tế quan trọng của bệnh viện Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin hữu ích để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân và tối ưu hóa quy trình điều trị.

Nghiên cứu cho thấy bệnh nhiễm trùng đường hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,89%, chủ yếu do sức đề kháng yếu và tác động của môi trường ô nhiễm hiện nay Các bệnh lý ngoại khoa chiếm 27,76%, trong khi các bệnh về tiêu hóa chiếm 9,41%, nhiễm trùng huyết 5,19%, và các bệnh nhiễm khuẩn khác chiếm 15,75% Nguyên nhân bệnh hô hấp cao có thể liên quan đến khí hậu nhiệt đới ẩm nóng, gió mùa, khiến người dễ mắc các bệnh về hô hấp khi không thích nghi Trong nhóm bệnh về hô hấp, viêm phổi là bệnh phổ biến nhất với tỷ lệ 32,31%, mặc dù kết quả này chỉ dựa trên dữ liệu người lớn và không phản ánh đầy đủ tình hình bệnh nhi như trong nghiên cứu của Nguyễn Thị.

Hầu hết các bệnh mắc phải liên quan đến viêm phổi, theo Hồng Phiến (2017), phản ánh tầm quan trọng của bệnh này trong nhóm các bệnh hô hấp Kết quả nghiên cứu của Hoàng Thy Nhạc Vũ và Thái Điền Bảo Trân cho thấy, trong các trường hợp sử dụng kháng sinh đường tiêm, có tới 25% bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi, và tỷ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm trong nhóm bệnh lý này là 26,9% Nhiễm trùng là nguyên nhân phổ biến nhất gây viêm phổi, đặc biệt trong điều kiện thời tiết chuyển mùa, tạo điều kiện lý tưởng để các bệnh hô hấp phát triển Bệnh viêm phổi rất hay gặp ở tất cả các nhóm tuổi, đặc biệt là người trên 60 tuổi do hệ miễn dịch suy giảm trầm trọng, khiến nguy cơ nhiễm khuẩn cơ hội và nhiễm khuẩn bệnh viện tăng cao Ô nhiễm không khí từ bụi bẩn, khói bụi trong nhà và nơi làm việc làm giảm khả năng bảo vệ của niêm mạc hô hấp, giảm tiết nhầy và hoạt động của các đại thực bào, dễ dẫn đến nhiễm khuẩn hô hấp Thuốc lá là tác nhân gây ô nhiễm không khí nguy hiểm, ảnh hưởng tiêu cực đến cơ chế bảo vệ của đường hô hấp chống lại tác nhân gây nhiễm trùng, làm suy giảm hệ thống phòng vệ này, do đó người hút thuốc có nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng hô hấp cao hơn so với người không hút thuốc.

Việc xác định vai trò của tác nhân gây viêm phổi và tính nhạy cảm với kháng sinh là một bước quan trọng trong chẩn đoán bệnh Điều này giúp các bác sĩ lâm sàng có thêm kiến thức và kinh nghiệm để xác định chính xác tác nhân gây bệnh Nhờ vậy, họ có thể lựa chọn kháng sinh phù hợp, tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu tình trạng kháng thuốc.

Trong quá trình chẩn đoán, có tới 52,92% bệnh nhân mắc kèm từ một đến hai bệnh lý khác ngoài bệnh chính, ảnh hưởng đáng kể đến quá trình tiến triển hoặc phục hồi của người bệnh Việc quyết định sử dụng kháng sinh cho những trường hợp này cần được xem xét cẩn thận về loại kháng sinh phù hợp, cũng như phối hợp kháng sinh nhằm giảm thiểu gánh nặng chi phí và đảm bảo việc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý.

Trong tổng số 616 mẫu nghiên cứu, có 108 trường hợp chỉ định phẫu thuật (17,53%), tuy nhiên chỉ có 3 trường hợp sử dụng kháng sinh dự phòng, chiếm tỷ lệ 2,78% Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Bê (2015) với tỷ lệ 2,2% và không có sự cải thiện so với nghiên cứu của Mã Lan Thanh và cộng sự tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang năm 2018 về việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật Các số liệu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Kiều Chí Thành và Đỗ Bá Quyết (2013), cho thấy tỷ lệ sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật là 17,06%.

Kháng sinh dự phòng được chỉ định cho tất cả các can thiệp phẫu thuật thuộc loại sạch - nhiễm, nhằm giảm nguy cơ nhiễm trùng sau mổ Trong các phẫu thuật sạch, việc áp dụng liệu pháp kháng sinh dự phòng nên được xem xét đặc biệt cho các ca ngoại khoa nặng, ảnh hưởng tới chức năng sống hoặc mạng sống của bệnh nhân như phẫu thuật chỉnh hình, phẫu thuật tim, mạch máu, thần kinh hay nhãn khoa Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng sử dụng kháng sinh dự phòng trong các phẫu thuật sạch - nhiễm mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giảm tỷ lệ nhiễm trùng, tiết kiệm chi phí điều trị, đồng thời hạn chế đề kháng kháng sinh phát triển.

Các bác sĩ tại Việt Nam thường có thói quen dùng kháng sinh ngay sau mổ, ngay cả trong các phẫu thuật sạch, do môi trường bệnh viện không an toàn và nguồn lực hạn chế về kiểm soát nhiễm khuẩn Phẫu thuật viên thường kéo dài việc sử dụng kháng sinh sau phẫu thuật nhằm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ, tuy nhiên, nghiên cứu của Lê Thị Anh Thư và Nguyễn Văn Khôi (2010) cho thấy việc sử dụng kháng sinh dự phòng ngắn hạn và không kéo dài sau phẫu thuật vẫn đảm bảo an toàn, không làm tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ và giúp tiết kiệm chi phí điều trị.

4.2.2 Xác định tỉ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm hợp lý tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang

4.2.2.1 Tỉ lệ kháng sinh đường tiêm được sử dụng theo từng khoa nghiên cứu

Theo đánh giá của 616 HSBA, tần suất sử dụng kháng sinh đường tiêm là 1.013, trong đó nhóm beta-lactam chiếm khoảng 49,26%, thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Hoàng Thy Nhạc Vũ (2018), khi nhóm này chiếm 67% và đứng thứ hai là nhóm quinolon với tỷ lệ 30,11% Nghiên cứu của Hoàng Thy Nhạc Vũ cũng cho thấy nhóm beta-lactam chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng chi phí kháng sinh, đạt 67%, còn nhóm quinolon chiếm 22,7% Trong khi đó, theo báo cáo của Nguyễn Thị Bê, nhóm quinolon là loại kháng sinh phổ biến thứ hai, chiếm tỷ lệ từ 20,3% đến 34,8%, chủ yếu là fluoroquinolon dạng tiêm.

Các nhóm thuốc kháng sinh được sử dụng tại bệnh viện rất đa dạng, trong đó nhóm beta-lactam chiếm tỉ lệ vượt trội, phản ánh sự ưu tiên lựa chọn kháng sinh này trong lâm sàng Thị trường dược phẩm phong phú về các hoạt chất của nhóm beta-lactam cũng góp phần thúc đẩy việc sử dụng rộng rãi nhóm thuốc này Tuy nhiên, việc sử dụng đường tiêm trong điều trị kháng sinh mang lại nhiều nguy cơ và tác hại, do đó cần cân nhắc chuyển đổi hợp lý từ đường tiêm sang đường uống vào đúng thời điểm để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.

Kháng sinh nhóm quinolon đường tiêm có giá thành cao hơn nhiều so với các kháng sinh khác, dẫn đến tỷ lệ chi phí thuốc nhóm này cao dù sử dụng với tỉ lệ thấp hơn Việc sử dụng quinolon trong bệnh viện cần được xem xét kỹ lưỡng để tối ưu hóa chi phí, đồng thời chuyển từ đường tiêm sang đường uống khi có thể, vì một số loại quinolon như moxifloxacin và levofloxacin có sinh khả dụng đường uống tương đương với đường tiêm, giúp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả điều trị.

Trong các khoa khối Nội, kháng sinh đường tiêm được sử dụng nhiều nhất, chủ yếu tập trung vào ba nhóm chính là beta-lactam (54,73%), quinolon (26,90%), và nitro-imidazol (11,13%) Các khoa khối Ngoại cũng sử dụng các nhóm kháng sinh này với tần suất cao, ngoài ra còn sử dụng nhóm aminoglycosid, phù hợp khi kết hợp với kháng sinh nhóm cephalosporin để nâng cao hiệu quả diệt khuẩn trong điều trị các bệnh lý ngoại khoa Khoa Nhiễm và HSTC cũng lựa chọn nhóm beta-lactam và quinolon là ưu tiên hàng đầu trong quá trình điều trị.

4.2.2.2 Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có xét nghiệm vi khuẩn

Trong tổng số các trường hợp, chỉ có 119 trường hợp (19,16%) được chỉ định xét nghiệm vi khuẩn, trong khi còn lại 498 trường hợp (80,84%) không được chỉ định, tỷ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu trước đó của Nguyễn Thị Bê bao gồm cả đường tiêm và đường uống Việc xét nghiệm vi sinh là rất quan trọng để xác định căn nguyên gây bệnh, giúp lựa chọn kháng sinh phù hợp và nâng cao hiệu quả điều trị Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân chưa được thực hiện xét nghiệm vi sinh còn cao đặt ra vấn đề quan ngại, đòi hỏi các bệnh viện cần quan tâm và xây dựng kế hoạch giám sát sử dụng kháng sinh hiệu quả hơn nữa Nâng cao chất lượng xét nghiệm vi sinh tại khoa Xét nghiệm cùng với việc đưa ra các khuyến cáo rõ ràng về việc sử dụng kháng sinh là rất cần thiết để tăng cường chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

Việc chỉ định sử dụng kháng sinh khi chưa có kết quả xét nghiệm vi sinh cần được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh sử dụng kháng sinh không phù hợp Trong trường hợp có bằng chứng rõ ràng về vi khuẩn và kết quả kháng sinh đồ, nên lựa chọn kháng sinh có hiệu quả cao nhất, độc tính thấp nhất và phổ tác dụng hẹp nhất phù hợp với tác nhân gây bệnh Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy sự xuất hiện ngày càng nhiều vi khuẩn kháng thuốc và tỷ lệ kháng thuốc đang gia tăng theo thời gian Đặc biệt, đề kháng ciprofloxacin đã được ghi nhận ở cả trẻ em và người trưởng thành, thậm chí ngay cả những đối tượng chưa từng sử dụng kháng sinh quinolon.

4.2.2.3 Tỉ lệ hồ sơ bệnh án có chỉ định kháng sinh đường tiêm đúng 2018

Sử dụng kháng sinh hợp lý và an toàn đòi hỏi chỉ sử dụng khi có nhiễm trùng thực sự, chọn đúng loại kháng sinh phù hợp và đường dùng, đồng thời tuân thủ đúng liều lượng cũng như thời gian điều trị quy định Việc phối hợp kháng sinh một cách hợp lý cũng rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc [17], [25].

Đánh giá kết quả can thiệp việc sử dụng kháng sinh hợp lý tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang

đa khoa trung tâm tỉnh An Giang

Việc xây dựng các quy định về sử dụng kháng sinh hợp lý, giám sát chặt chẽ việc sử dụng kháng sinh và tăng cường hoạt động dược lâm sàng tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang đã giúp nâng cao kiến thức của cán bộ nhân viên y tế về việc sử dụng kháng sinh Kết quả sau khi can thiệp cho thấy rõ sự cải thiện đáng kể về nhận thức và hành vi của nhân viên y tế liên quan đến việc sử dụng kháng sinh hợp lý trong bệnh viện.

4.3.1 So sánh chi phí sử dụng kháng sinh trước và sau can thiệp

Nghiên cứu tại mục tiêu 1 và 2 cho thấy, sau khi áp dụng các biện pháp can thiệp, việc sử dụng kháng sinh tại bệnh viện đã được cải thiện rõ rệt Cụ thể, tỷ lệ kháng sinh đường tiêm giảm 7%, giúp giảm đáng kể nguy cơ kháng thuốc Ngoài ra, tỉ lệ sử dụng kháng sinh ngoại nhập đã giảm khoảng 4,34%, trong khi tỉ lệ sử dụng kháng sinh nội địa tăng cùng mức tương ứng, thể hiện sự chuyển đổi tích cực trong việc lựa chọn nguồn cung ứng thuốc Những kết quả này phù hợp và phản ánh xu hướng cải thiện so với các số liệu khảo sát trước khi can thiệp, góp phần nâng cao chất lượng quản lý kháng sinh trong bệnh viện.

Bê (2015), là vấn đề sử dụng thuốc sản xuất trong nước giảm, thuốc ngoại nhập tăng, tỉ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm không giảm [2]

Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện đã quan tâm đặc biệt đến việc quản lý sử dụng kháng sinh, đặc biệt là thuốc sản xuất trong nước, nhằm giảm tỷ lệ kháng thuốc và tiết kiệm chi phí cho người bệnh Các giải pháp can thiệp đã mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần giảm tốc độ kháng thuốc, giảm chi phí điều trị, tiết kiệm ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm y tế.

Ngành Dược Việt Nam đã từng bước phát triển và chứng minh hiệu quả, đáp ứng gần 50% nhu cầu thuốc khám chữa bệnh trong nước Tuy nhiên, tỉ trọng hàng Việt Nam vẫn còn thấp, đạt 24% so với trung bình 33,9% của các bệnh viện tuyến tỉnh cả nước theo công bố của Cục Quản lý Dược năm 2010 Để thúc đẩy ngành dược phát triển bền vững, cần đẩy mạnh công tác truyền thông và tăng cường sử dụng hàng Việt Nam chất lượng cao, nhằm giảm chi phí thuốc và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.

Sau can thiệp, nghiên cứu cho thấy kiến thức chung về sử dụng thuốc đã được cải thiện rõ rệt, với tỷ lệ chỉ định kháng sinh đúng tăng từ 93,02% trước can thiệp lên 98,70% sau can thiệp, thể hiện mức tăng 5,68% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị p

Ngày đăng: 18/03/2023, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Văn Bé và cộng sự (2013), Đánh giá kết quả điều trị kháng sinh dự phòng trong mổ thoát vị bẹn tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang, Kỷ yếu Hội Nghị Khoa học Bệnh viện An Giang 2013, tr.36-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội Nghị Khoa học Bệnh viện An Giang 2013
Tác giả: Phan Văn Bé và cộng sự
Năm: 2013
2. Nguyễn Thị Bê (2015), Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang năm 2014-2015, Luận án chuyên khoa 2, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang năm 2014-2015
Tác giả: Nguyễn Thị Bê
Năm: 2015
4. Đỗ Ngọc Bích, Đặng Nguyễn Đoan Trang (2019), Nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp của dược lâm sàng trong việc sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tụy tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, Phụ bản tập 23(2), tr. 178-184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Đỗ Ngọc Bích, Đặng Nguyễn Đoan Trang
Năm: 2019
6. Bộ Y tế (2011), Thông tư 23/2011/TT-BYT ngày 10/06/2011, Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh, , Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
7. Bộ Y tế (2012), Thông tư số 31/2012/TT-BYT ngày 20 tháng 12 năm 2012 Hướng dẫn hoạt động dược lâm sàng trong bệnh viện, Bộ Y tế 8. Bộ Y tế (2013), Quyết định số 2174/QĐ-BYT ngày 21 tháng 6 năm 2013, Phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn hoạt động dược lâm sàng trong bệnh viện", Bộ Y tế 8. Bộ Y tế (2013), Quyết định số 2174/QĐ-BYT ngày 21 tháng 6 năm 2013, "Phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020
Tác giả: Bộ Y tế (2012), Thông tư số 31/2012/TT-BYT ngày 20 tháng 12 năm 2012 Hướng dẫn hoạt động dược lâm sàng trong bệnh viện, Bộ Y tế 8. Bộ Y tế
Năm: 2013
9. Bộ Y tế (2013), Thông tư 21/2013/TT-BYT, Quy định về hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
11. Bộ Y tế (2016), Quyết định số 772/QĐ-BYT ngày 04 tháng 03 năm 2016, Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2016
12. Hoàng Thị Kim Dung (2015), Phân tích thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh tại Bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên năm 2014, Luận văn thạc sĩ dược học, trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh tại Bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên năm 2014
Tác giả: Hoàng Thị Kim Dung
Năm: 2015
14. Đặng Văn Hoàng (2018), Phân tích thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sĩ dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Đặng Văn Hoàng
Năm: 2018
15. Vũ Thị Thu Hương (2012), Đánh giá hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong xây dựng và thực hiện danh mục thuốc tại một số bệnh viện đa khoa, Luận án Tiến sĩ dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong xây dựng và thực hiện danh mục thuốc tại một số bệnh viện đa khoa
Tác giả: Vũ Thị Thu Hương
Năm: 2012
16. Nguyễn Thị Hương và CS (2018), Đặc điểm danh mục kháng sinh sử dụng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Định Quán giai đoạn 10/2016 - 09/2017, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, tập 22, số 1, tr.261-264 17. Nguyễn Văn Kính (2010), Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh vàkháng kháng sinh ở Việt Nam, Global Antibiotic Resistance Partnership Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh", tập 22, số 1, tr.261-264 17. Nguyễn Văn Kính (2010), "Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh và
Tác giả: Nguyễn Thị Hương và CS (2018), Đặc điểm danh mục kháng sinh sử dụng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Định Quán giai đoạn 10/2016 - 09/2017, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, tập 22, số 1, tr.261-264 17. Nguyễn Văn Kính
Năm: 2010
18. Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Kim Chi (2018), Đánh giá sử dụng thuốc năm 2018 tại Bệnh viện đa khoa Trung tâm An Giang. Kỷ yếu hội nghị khoa học kỹ thuật Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang 2018, tr. 272-282 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội nghị khoa học kỹ thuật Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang 2018
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Kim Chi
Năm: 2018
19. Trần Quang Hiền và Nguyễn Thiện Tri (2014), Bước đầu nghiên cứu sử dụng thuốc qua phân tích ABC/ VEN năm 2013 tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang, Kỷ yếu Hội Nghị Khoa học Bệnh viện An Giang 2014, tr.85-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội Nghị Khoa học Bệnh viện An Giang 2014
Tác giả: Trần Quang Hiền và Nguyễn Thiện Tri
Năm: 2014
20. Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc (2017), Kháng sinh dùng trong hồi sức tích cực, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng sinh dùng trong hồi sức tích cực
Tác giả: Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2017
21. Nguyễn Việt Hùng (2010), Đặc điểm dịch tễ học nhiễm khuẩn vết mổ và tình hình sử dụng kháng sinh ở người bệnh phẫu thuật tại một số bệnh viện tỉnh phía Bắc năm 2008, Tạp chí Y học thực hành, 705(2), tr. 48-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng
Năm: 2010
22. Hà Nguyễn Y Khuê và cộng sự (2019), Đánh giá hiệu quả của việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, tập 23, số 2, tr.170-177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Hà Nguyễn Y Khuê và cộng sự
Năm: 2019
24. Nguyễn Phước Bích Ngọc và cộng sự (2018), Phân tích chi phí thuốc kháng sinh sử dụng tại Bệnh viện Quân y 268 năm 2016, Tạp chí Dược học, Trường Đại học Y Dược Huế, Tập 8, số 2, tr.104-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dược học
Tác giả: Nguyễn Phước Bích Ngọc và cộng sự
Năm: 2018
25. Nguyễn Thị Hồng Phiến (2017), Nghiên cứu tình hình sử dụng và đánh giá kết quả can thiệp việc sử dụng kháng sinh hợp lý tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Cần Thơ năm 2016 - 2017, Luận án Chuyên khoa cấp 2, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sử dụng và đánh giá kết quả can thiệp việc sử dụng kháng sinh hợp lý tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Cần Thơ năm 2016 - 2017
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Phiến
Năm: 2017
27. Mã Lan Thanh và CS (2018), Đánh giá hiệu quả can thiệp sử dụng kháng sinh hợp lý tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang, Kỷ yếu hội nghị khoa học kỹ thuật Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang 2018, tr.59-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội nghị khoa học kỹ thuật Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang 2018
Tác giả: Mã Lan Thanh và CS
Năm: 2018
28. Đỗ Thanh Thanh (2019), Phân tích thực trạng kháng sinh trong điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Long Thành tỉnh Đồng Nai năm 2018, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng kháng sinh trong điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Long Thành tỉnh Đồng Nai năm 2018
Tác giả: Đỗ Thanh Thanh
Năm: 2019

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w