1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu kiến thức, thái độ về phòng, chống hivaids trƣớc và sau can thiệp của sinh viên các trƣờng trung cấp, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh bến tre năm 2019 2020

82 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu kiến thức, thái độ về phòng, chống HIV/AIDS trước và sau can thiệp của sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2019-2020
Tác giả Nguyễn Văn Nu
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Thành Tài
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (11)
    • 1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu (11)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS 11 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (19)
    • 2.1. Đối tƣợng (26)
      • 2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu (26)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu (26)
      • 2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ (26)
      • 2.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (26)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (26)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (26)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu (27)
      • 2.2.3. Phương pháp chọn mẫu (27)
      • 2.2.4. Nội dung nghiên cứu (29)
      • 2.2.5. Phương pháp thu thập số liệu (33)
      • 2.2.6. Phương pháp kiểm soát sai số (34)
      • 2.2.7. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu (35)
    • 2.3. Vấn đề y đức (35)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (26)
    • 4.1. Kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS của ĐTNC TCT (52)
    • 4.2. Kết quả can thiệp bằng truyền thông về kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS của ĐTNC năm 2020 (61)
  • KẾT LUẬN (67)

Nội dung

NGUYỄN VĂN NU NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE NĂM 2019-2020

Trang 1

NGUYỄN VĂN NU

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

BẾN TRE NĂM 2019-2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

CẦN THƠ - 2020

Trang 2

NGUYỄN VĂN NU

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu kiến thức, thái độ về phòng, chống HIV/AIDS trước và sau can thiệp của sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2019-2020” do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Thành Tài, Khoa Y tế công cộng - Trường Đại học Y dược Cần Thơ Những số liệu tôi trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trước đây

Nếu có gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng

Cần Thơ, ngày tháng 09 năm 2020

Nguyễn Văn Nu

Trang 4

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

Đặt vấn đề 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3

1.2 Tình hình nghiên cứu kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS 11 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng 18

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 18

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 18

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18

2.2 Phương pháp nghiên cứu 18

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 18

2.2.2 Cỡ mẫu 19

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 19

2.2.4 Nội dung nghiên cứu 21

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu 25

2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số 26

2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 27

2.3 Vấn đề y đức 27

Trang 5

3.2 Kết quả can thiệp bằng truyền thông về kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS của ĐTNC năm 2020 40

Chương 4: BÀN LUẬN 44

4.1 Kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS của ĐTNC TCT 44 4.2 Kết quả can thiệp bằng truyền thông về kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS của ĐTNC năm 2020 53

KẾT LUẬN 59 KIẾN NGHỊ 60

Tài liệu tham khảo

Phụ lục:Phiếu thu thập thông tin nghiên cứu

Trang 6

AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người nhiễm HIV

(Accquired Immuno Deficiency Syndrome) ARV Thuốc kháng virus HIV (Antiretrovaral)

KQ NC Kết quả nghiên cứu

NC Nghiên cứu

OR Tỷ số chênh (Odds ratio)

SAVY Điều tra và đánh giá về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam

(Survey Assessment of Vietnamese Youth) SCT Sau can thiệp

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2 1: Số lớp được chọn vào nghiên cứu của 3 trường 20 Bảng 3 1: Một số đặc điểm về học tập của ĐTNC 29 Bảng 3 2: Một số đặc điểm cá nhân của ĐTNC 30 Bảng 3 3: Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS ở

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo ước tính của UNAIDS/WHO đến năm 2018 trên toàn Thế giới có khoảng 37,9 triệu người đang sống chung với HIV, 1,7 triệu người mới bị nhiễm HIV, 770.000 người chết vì các bệnh liên quan đến AIDS Trong đó khu vực Đông và Nam Châu Phi có số lượng người nhiễm cao nhất 20,6 triệu, Châu Á-Thái Bình Dương đứng thứ hai về số người nhiễm 5,9 triệu Năm

2018, số người chết vì AIDS trên toàn Thế giới thì Châu Phi chiếm 30% [31]

Tại Việt Nam, trong 9 tháng đầu năm 2017, cả nước xét nghiệm mới có 6.883 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 3.484, số bệnh nhân tử vong là 1.260 trường hợp Trong số đó, nữ chiếm 22%, nam chiếm 78%, lây truyền qua đường tình dục chiếm 58%, trong độ tuổi từ 30-39 là 40%, 20-29 là 30%, 9% là trong độ tuổi 40-49, từ 14-19 chiếm 3% [5]

Tại tỉnh Bến Tre, tính đến năm 2018 số người nhiễm HIV được phát hiện trong toàn tỉnh là 2.784 người, số người chuyển sang AIDS là 1.590 và

tử vong 998 người, trong năm 2018 phát hiện mới 206 người nhiễm HIV: tỷ lệ nhiễm HIV nam chiếm 79,1%, nữ giới là 20,9%, chủ yếu lây nhiễm qua đường tình dục chiếm 90,09%, về bố số lượng người nhiễm theo tuổi từ 15-49 chiếm 95% [28]

Tỉnh Bến Tre là một tỉnh thuộc đồng bằng sông cửu long với điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, năm 2018 trên địa bàn Tỉnh hiện có 4 trường trung cấp, cao đẳng, đại học với 102 lớp, tổng số sinh viên là 2.945 sinh viên

Theo các nghiên cứu trong nước mức độ hiểu biết về phòng, chống HIV/AIDS vẫn còn có sự khác biệt ở nhiều nhóm cộng đồng dân cư (tỷ lệ có kiến thức, thái độ đúng từ 30% đến <80% ở nhóm học sinh, sinh viên) [9],[16],[17], một số kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm học sinh, sinh viên

Trang 10

vẫn còn thiếu kiến thức về phòng, chống HIV/AIDS [14],[27] Các nghiên cứu cũng cho biết cần chú trọng đặc biệt đến nhóm thanh thiếu niên từ 15 đến

24 tuổi [11] hay trong bối cảnh các em phải sống ở những thành phố có nhiều cám dỗ và phức tạp về mặt xã hội thì việc cần có đủ kiến thức cơ bản để phòng, chống HIV/AIDS cho bản thân là rất cần thiết [19]

Theo Bộ Y tế đến năm 2020 để bảo vệ bản thân trước nguy cơ nhiễm HIV/AIDS thì tỷ lệ người dân trong độ tuổi từ 15 đến 49 tuổi có hiểu biết đầy

đủ về HIV/AIDS đạt 80% và tỷ lệ người dân không kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV đạt 80% [3] mà các em học sinh sinh viên cũng là những đối tượng trên

Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kiến thức, thái độ

về phòng, chống HIV/AIDS trước và sau can thiệp của sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học trên địa bàn Tỉnh Bến Tre năm 2019- 2020”

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ đúng về phòng, chống HIV/AIDS

và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS ở sinh viên tại các trường trung cấp, cao đẳng, đại học trên địa bàn Tỉnh Bến Tre năm 2019-2020

2 Đánh giá kết quả can thiệp bằng truyền thông về kiến thức, thái độ

về phòng, chống HIV/AIDS ở sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Bến Tre sau 6 tháng can thiệp năm 2020

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Một số định nghĩa

Kiến thức về phòng, chống HIV/AIDS: theo Cục Phòng, chống HIV một người được cho là có hiểu biết đầy đủ về HIV khi họ phải trả lời đúng hoặc hiểu đúng cả 5 câu hỏi Bộ chỉ số 20 và Bộ chỉ số 20 được coi như là một chỉ số chuẩn để đánh giá kiến thức của một người hiểu biết về dự phòng lây nhiễm HIV [7]

Kiến thức là một điều kiện cần thiết và hết sức quan trọng, đối tượng không thể thay đổi được hành vi nếu họ không có đủ kiến thức để hiểu được hành vi của họ có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và lợi ích nếu được thay đổi hành vi [6]

Thái độ: là cách để lộ ý nghĩ và tình cảm trước một sự việc, trong một hoàn cảnh, bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động [8]

Kỳ thị HIV: Kỳ thị là nhận thức, hành động đối xử không công bằng vì nguyên nhân liên quan đến HIV [6]

Theo Cục phòng, chống HIV/AIDS, sinh viên là những người thuộc nhóm người di biến động (người thường xuyên đi công tác, học tập ở trong nước xa gia đình) [4]

Theo WHO quy định lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên Thanh niên trẻ là lứa tuổi 19 - 24 tuổi [40] Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên - thanh niên của khối Liên minh Châu

Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi [40]

Trang 12

1.1.2 Dịch tễ học HIV/AIDS

1.1.2.1 Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đưa ra tại Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2018 của Bộ Y tế ngày 19/01/2018 Theo Bộ trưởng, hiện số người

nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống là 209.450 nghìn người Trong đó

90.100 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS, số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 94.620 người [5]

Trong 9 tháng đầu năm 2017, cả nước xét nghiệm phát hiện mới 6.883 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS 3.484, số bệnh nhân tử vong 1.260 trường hợp Nữ chiếm 22%, nam chiếm 78%, lây truyền qua đường tình dục chiếm 58%, lây truyền qua đường máu chiếm 32% Về phân nhóm tuổi, 30% người nhiễm trong độ tuổi từ 20-29, nhóm tuổi

từ 14-19 chiếm 3%, lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ trọng lớn trong những năm gần đây [5]

Nhận xét chung: dịch HIV/AIDS vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong cộng đồng, những nơi được đầu tư mạnh của các tổ chức quốc tế vẫn còn có thể phát hiện thêm nhiều người nhiễm HIV Dự báo vẫn còn nhiều người nhiễm HIV không thuộc nhóm nguy cơ cao do đó rất khó phát hiện sớm, các trường hợp này thường chẩn đoán muộn giai đoạn AIDS Do đó các địa phương cần

có các biện pháp xét nghiệm phát hiện phù hợp để có thể hỗ trợ người nhiễm HIV sớm biết tình trạng HIV/AIDS của bản thân [5]

1.1.2.2 Dịch tễ học HIV/AIDS tỉnh Bến Tre

Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bến Tre lũy tích từ năm 1993 đến 31/12/2018 số người nhiễm HIV được phát hiện trong toàn tỉnh

là 2.784 người, số người chuyển sang AIDS là 1.590 và tử vong 998 người

Về địa bàn phân bố dịch: Đến 31/12/2018 toàn tỉnh đã có 164/164 xã/phường

Trang 13

phát hiện người nhiễm HIV chiếm tỷ lệ 100%, tất cả 9 huyện/thành phố Bến Tre đều có người nhiễm Phân bố trường hợp nhiễm HIV theo giới: theo số liệu thống kê cho thấy số trường hợp nhiễm HIV giới tính nam chiếm 79,1%,

nữ giới là 20,9% Năm 2018, các trường hợp nhiễm HIV do lây nhiễm qua đường tình dục chiếm 92,09%, lây truyền qua đường máu chiếm 5,65%, lây truyền từ mẹ sang con chiếm tỷ lệ 2,26% Năm 2018 lây truyền qua đường tình dục cao 16 lần lây truyền qua đường máu Về phân bố trường hợp nhiễm HIV theo nhóm tuổi năm 2018 vẫn chủ yếu tập trung ở độ tuổi 15 - 49 tuổi chiếm 95,0%, trong đó nhóm tuổi 15-24 chiếm 28% [28]

1.1.3 Vị thành niên, thanh niên và nguy cơ nhiễm HIV/AIDS

Theo Tổ chức y tế thế giới, tuổi vị thành niên - độ tuổi từ 10-19 là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn Các em đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh về mặt thể chất, hoàn thiện bộ máy sinh sản, trưởng thành về tâm lý xã hội và hoàn thiện về mặt nhân cách, các em bắt đầu hình thành nhiều câu hỏi để khám phá thế giới của người lớn và cũng tập để bắt đầu suy nghĩ một cách độc lập hơn [1]

Theo một báo cáo đăng trên wedside của WHO, ước tính trên 30% tổng

số ca nhiễm HIV mới xảy ra ở lứa tuổi thanh niên từ 15 đến 25 tuổi Ngoài ra, ngày càng có nhiều trẻ em bị nhiễm khi sinh ra ở độ tuổi vị thành niên phải đối mặt với tình trạng nhiễm HIV của mình Kết hợp cả hai, có 5 triệu thanh niên sống chung với HIV Nguy cơ mới nhiễm HIV của thanh niên tương quan chặt chẽ với tuổi bắt đầu quan hệ tình dục [46]

Cũng theo một báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) năm 2018, thanh niên từ 13 đến 24 tuổi chiếm 21% trong số 37.832 trường hợp chẩn đoán HIV mới ở Hoa Kỳ và các khu vực phụ thuộc Thanh niên nhiễm HIV là nhóm tuổi ít có khả kiểm soát được tải lượng virus Để giải quyết vấn đề HIV ở thanh niên đòi hỏi thanh niên phải tiếp cận với thông

Trang 14

tin và công cụ cần thiết để đưa ra các hành vi lành mạnh và giảm nguy cơ nhiễm HIV, điều trị và được chăm sóc [45]

Thanh thiếu niên và thanh niên từ 15-24 tuổi là một trong những nhóm dân số bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch HIV toàn cầu với ước tính 50%

số ca nhiễm mới xảy ra ở nhóm tuổi này Do đó, họ là một trong những quần thể chính để nhắm mục tiêu các biện pháp phòng ngừa hành vi và y sinh Tuy nhiên, tác động của đại dịch HIV ở thanh niên rất khác nhau tùy theo khu vực địa lý cũng như lịch sử hành vi nguy cơ [44]

Tại Việt nam, theo nhiều số liệu điều tra cho thấy về sự lây truyền HIV/AIDS trong học sinh, lứa tuổi dưới 13 chiếm 0,61% và 13-19 tuổi là 9,36% trong tổng số người nhiễm Xu hướng trẻ hóa đối tượng nhiễm HIV ngày càng thể hiện rõ, một số nguy cơ thúc đẩy xu hướng này là: quan hệ tình dục trước hôn nhân và mức độ thay đổi bạn tình của thanh thiếu niên ngày càng tăng đặc biệt là sự nổi lên của nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới trong thời gian gần đây, ít hiểu biết về các nguy cơ sức khỏe do hành vi không an toàn, nhất là hành vi tình dục Theo thống kê từ nhiều nguồn tin cho thấy, hầu hết vị thành niên bị nhiễm HIV/AIDS là do tiêm chích ma túy, qua đường tình dục đặc biệt là ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh giáp biên giới Cam-pu-chia [1]

Theo một số nghiên cứu cho thấy hiểu biết về HIV/AIDS của vị thành niên còn chưa cao, tỷ lệ nhiễm HIV thì ngày càng tăng ở lứa tuổi này [25],[32],[33] Rõ ràng là đối tượng nhiễm HIV/AIDS ở nước ta đang dần được “trẻ hóa” [1]

1.1.4 Tình hình hoạt động truyền thông phòng, chống HIV/AIDS

1.1.4.1 Tình hình hoạt động truyền thông phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam

Trong năm 2017, ước tính có 132.392.426 lượt truyền thông được triển

Trang 15

khai trên toàn quốc, với gần 1.000 tin, bài với các chủ đề khác nhau về HIV/AIDS đã được các báo viết, báo mạng, báo hình, báo nói đăng tải Website Cục đã là kênh truyền thông chính thống của các cán bộ quản lý các cấp và người dân nói chung Năm 2017 có 280 bài truyền thông gồm tin, bài, ảnh, video, clip và các văn bản chuyên môn kỹ thuật, văn bản thông báo, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến HIV/AIDS và công tác y tế được đăng tải Phối hợp với các đơn vị Báo chí xây dựng kế hoạch và triển khai hoạt động truyền thông phòng, chống HIV/AIDS Thường xuyên, chủ động cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tấn báo chí và phóng viên về tình hình dịch và các trọng tâm hoạt động trong từng thời điểm Phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức các đoàn nhà báo đi thực tế, viết bài tại các địa phương

và truyền thông trên các phương tiện đại chúng về công tác phòng, chống HIV/AIDS [5]

Các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi được thực hiện với sự phối hợp đa ngành bằng nhiều hình thức ở tất cả các cấp trong toàn quốc Hoạt động này được triển khai đa dạng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hoặc truyền thông trực tiếp qua mít tinh, thi tuyên truyền về HIV, hoặc thông qua các nhóm tuyên truyền viên đồng đẳng triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại [5]

Các hoạt động truyền thông về HIV/AIDS trên phương tiện thông tin đại chúng được đẩy mạnh, trong năm 2017 có hàng trăm bài báo đưa tin về HIV/AIDS, trong đó chú trọng nhiều đến công tác điều trị ARV, bảo hiểm y

tế, Methadone, xét nghiệm HIV tại cộng đồng, dự phòng tiền phơi nhiễm HIV bằng thuốc, thực hiện các mục tiêu 90-90-90 vào năm 2020 và hướng tới kết thúc AIDS vào năm 2030 [5]

Trang 16

1.1.4.2 Tình hình hoạt động truyền thông phòng, chống HIV/AIDS tại Bến Tre

Trong năm 2018, kí hợp đồng và tổ chức phối hợp tuyên truyền với 04 ban ngành đoàn thể tuyến tỉnh trong việc tuyên truyền các thông tin phòng, chống HIV/AIDS với các cán bộ phụ trách chương trình phòng, chống HIV/AIDS thuộc hệ thống ngành dọc của mình như: Tỉnh Đoàn; Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch; Chi cục Dân số; Trường Cao đẳng Bến Tre

Tỉnh Đoàn Bến Tre triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS cho thanh niên, đoàn viên, học sinh trong tỉnh bằng nhiều hình thức: tuyên truyền, phát tờ rơi về HIV/AIDS, lồng ghép nội dung tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS vào các hoạt động Đoàn

Phối hợp với Báo Đồng Khởi, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh xây dựng Chuyên mục “AIDS và sức khỏe cộng đồng” với 01 phóng sự và 8 chuyên mục phát thanh, nhiều tin, bài về hoạt động phòng, chống HIV/AIDS Phối hợp tuyên truyền với Bản Tin sức khỏe tích cực tuyên truyền 10 tin, bài viết với nội dung chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone, bảo hiểm y tế, tăng cường điều trị ARV cho bệnh nhân nhiễm HIV [28]

Năm 2016, Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Bến Tre (nay là Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bến Tre) bắt đầu triển khai các hoạt động tuyên truyền qua mạng Internet như lập các trang Facebook để tuyên truyền: CLB MSM Bến Tre, Thông tin phòng, chống HIV/AIDS Bến Tre, Hội những người bạn nhiễm HIV/AIDS, tuyên truyền qua zalo: PC HIV Bến Tre (0365227120), và các số zalo của các nhân viên tiếp cận cộng đồng Phương thức truyền thông mới này cũng đã thu hút rất nhiều đối tượng có nhu cầu tương tác trong đó có thanh thiếu niên và học sinh, sinh viên

Mạng lưới cộng tác viên xã, phường, cán bộ chuyên trách AIDS tuyến

Trang 17

xã, phường cũng làm đầu mối chính thực hiện các biện pháp truyền thông ở quy mô xã, phường như phát thanh bài về HIV/AIDS, phối hợp với y tế trường học và tư vấn trực tiếp khi người dân có nhu cầu

1.1.5 Mô hình truyền thông phòng, chống HIV/AIDS

Theo Hướng dẫn hoạt động truyền thông phòng, chống HIV/AIDS tại tuyến xã, phường và Hướng dẫn triển khai phòng, chống HIV/AIDS tại nơi làm việc của Cục phòng, chống HIV/AIDS – Bộ Y tế, các mô hình truyền thông phòng, chống HIV/AIDS được sử dụng có hiệu quả hiện nay được áp dụng cho hoạt động truyền thông tại tuyến cơ sở gồm [4],[2]:

- Mô hình tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh xã/phường

Nội dung, cách thức triển khai các mô hình được quy định cụ thể tại các Hướng dẫn của Cục phòng, chống HIV/AIDS ban hành

- Tiếp cận, tuyên truyền qua mạng Internet

1.1.6 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS

Các nghiên cứu trên nhiều nhóm đối tượng khác nhau cho những kết quả về yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ phòng, chống HIV/AIDS có thể chia thành 2 nhóm: nhóm các yếu tố đặc điểm đối tượng nghiên cứu và nhóm các yếu tố thông tin, giáo dục, truyền thông về HIV/AIDS

1.1.6.1 Yếu tố đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Giới tính: kết quả một số nghiên cứu của các tác giả trong nước trên

Trang 18

nhiều nhóm như học sinh, sinh viên, cộng đồng dân cư, dân tộc thiểu số, nhân viên y tế,… điều chỉ ra có sự liên quan giữa giới tính và kiến thức, thái độ đúng về phòng, chống HIV/AIDS, phần lớn các nghiên cứu cho biết nữ giới

có kiến thức tốt hơn nam giới, phần nhỏ cho kết quả ngược lại Lý giải một phần do nữ giới có trách nhiệm, ý thức về sức khỏe cao hơn nam giới hoặc nam giới có nhiều thời gian tiếp xúc, học tập hơn nữ [14],[17],[21],[22],[26],[27]

Trình độ học vấn: phần lớn các kiến thức, hiểu biết điều có được từ học

tập, các nghiên cứu về kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS trên nhóm đối tượng là học sinh, cộng đồng dân cư cho kết quả kiến thức và thái độ có liên quan đến trình độ học vấn của ĐTNC, đối tượng nghiên cứu học ở những cấp học khác nhau có kiến thức khác nhau, học giỏi có kiến thức và thái độ tốt hơn các nhóm còn lại [11],[14],[21],[22],[23],[26],[30],[37],[39]

Trường học, ngành học: nghiên cứu của Phạm Thị Thùy Dung (2017)

nghiên cứu kiến thức, thái độ trong phòng, chống và chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS của sinh viên điều dưỡng Trường đại học Y Hà Nội và Trường đại học Thành Tây có sự liên quan giữa kiến thức phòng, chống HIV/AIDS và nơi học của sinh viên, sinh viên Trường đại học Y Hà Nội cao hơn 5,76 lần so với sinh viên Trường đại học Thành Tây [9]

Nơi (vùng) sinh sống: nghiên cứu của tác giả Tạ Thị Hồng Hạnh (2018)

chỉ ra sự liên quan giữa việc sinh sống ở nội thành và ngoại thành với kiến

thức về phòng, chống HIV/AIDS người dân sống ở vùng ngoại thành có kiến

thức chưa đầy đủ về phòng lây nhiễm HIV cao hơn người dân sống vùng nội thành (OR=2,71) [11]

1.1.6.2 Yếu tố thông tin, giáo dục, truyền thông về HIV/AIDS

Các kết quả nghiên cứu trong nước chỉ ra sự liên quan giữa việc truyền thông, giáo dục, tập huấn về HIV/AIDS với kiến thức và thái độ phòng,

Trang 19

chống HIV/AIDS như kiến thức có liên quan đến kênh nhận thông tin về phòng, chống HIV/AIDS [14], thông tin từ trường học và báo chí - internet là những nguồn thông tin mà học sinh sinh viên thu nhận kiến thức về phòng, chống HIV/AIDS nhiều nhất [17], nguồn thôn tin từ gia đình, bạn bè, phát thanh, truyền hình, báo chí, nhà trường có liên quan đến kiến thức phòng, chống HIV [24] Hay thái độ không kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV của nhóm ĐTNC chịu tác động nhiều từ nguồn thông tin truyền thông (gián tiếp, trực tiếp) [14]

Sự liên quan mật thiết giữa kiến thức và thái độ phòng, chống HIV/AIDS đã được chỉ ra ở kết quả của nhiều nghiên cứu [9],[14],[22],[23],[26],[36],[37]

1.2 Tình hình nghiên cứu kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS 1.2.1 Tình hình nghiên cứu về kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS trên thế giới

Năm 2014, Mbelle N, Setswe G, Sifunda S, Mabaso M, Maduna V nghiên cứu kiến thức, thái độ và hành vi của học sinh và nhân viên tại các trường cao đẳng giáo dục và đào tạo kỹ thuật và dạy nghề ở Nam Phi trên 657.690 sinh viên và hơn 16.000 học viên kỹ thuật tại 50 trường cao đẳng và

236 trường đại học Kết quả kiến thức về lây truyền HIV rất cao, với 96% sinh viên và nhân viên biết virus có thể truyền qua quan hệ tình dục không được bảo vệ Một tỷ lệ cao sinh viên (84%) và nhân viên (90%) biết rằng nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STIs) khiến mọi người có nguy

cơ nhiễm HIV cao hơn Tuy nhiên, 37,9% sinh viên và 25% nhân viên thừa nhận rằng họ không biết liệu quan hệ tình dục qua đường hậu môn có làm tăng nguy cơ nhiễm HIV [41]

Năm 2016, Samia Amin và Zarina Awang nghiên cứu mức độ hiểu biết

về HIV/AIDS trong số các sinh viên khoa học sức khỏe đại học tại một

Trang 20

trường đại học y ở Malaysia Kết quả nghiên cứu trên 150 sinh viên gồm 68 (45,33%) sinh viên y, 46 (30,66%) sinh viên nha khoa và 36 (24,01%) sinh viên vật lý trị liệu Đa số các sinh viên trả lời đúng về cách thức lây nhiễm ở các con đường lây nhiễm HIV/AIDS chính như tình dục không được bảo vệ (88,67%), truyền máu không được sàng lọc (76,68%) và dùng chung kim tiêm (64,02%) [42]

Năm 2016, Akoachere, Colins Kingoum Nubed và Jane-Francis Tatah Kihla nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về HIV/AIDS ở học sinh trung học cơ sở ở Phân khu Fako, vùng tây nam Cameroon, kết quả nghiên cứu trên 464 sinh viên từ 13 đến 25 tuổi, phần lớn những người tham gia đã thể hiện sự hiểu biết đầy đủ về lây truyền và phòng ngừa HIV Tuy nhiên, những quan niệm sai lầm về các tuyên truyền đã được quan sát thấy ở 3,4 đến 23,3% số người được hỏi Khoảng một nửa số người được hỏi có quan điểm tiêu cực về người nhiễm HIV Học sinh có trình độ kiến thức trung bình (34,3%) và cao (62,1%) có nhiều khả năng thể hiện thái độ tích cực mặc dù

Năm 2018, tác giả Trần Quốc Huy NC trên sinh viên trường Đại học Trà Vinh kết quả về cách phòng tránh lây nhiễm HIV có 92,5% hiểu không dùng chung BKT Thái độ của sinh viên với người nhiễm HIV 40% sinh viên

có thái độ tích cực như thông cảm và chia sẻ với họ, chỉ 6% xa lánh và 4% vẫn chưa biết rõ thái độ mình như thế nào [16]

Năm 2018, NC của Lê Văn Học trên nhóm đối tượng là học viên cai

Trang 21

nghiện kiến thức chung đúng 78,6% [12]

Năm 2017, tác giả Phạm Thị Thùy Dung kiến thức về HIV của sinh viên điều dưỡng là 63% 15,5% sinh viên có thái độ xa lánh, đổ lỗi cho người

có HIV, rằng HIV/AIDS là sự trừng phạt cho hành vi xấu, tỷ lệ sinh viên có thái độ đồng ý/rất đồng ý với việc “chăm sóc cho bệnh nhân AIDS vì đó là trách nhiệm nghề nghiệp” chiếm khá cao 86,2% [9]

Năm 2017, tác giả Tạ Thị Hồng Hạnh trên cộng đồng dân cư 15-49 tuổi tại Hà Nội tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về phòng lây nhiễm HIV là 47,9% [11]

Năm 2017, tác giả Vũ Hải Vinh NC trên nhóm thuyền viên Việt Nam kiến thức chung đúng về HIV là 89,3%, 84,4% ĐTNC sẵn sàng động viên an

ủi người nhiễm HIV; 12,3% vẫn tiếp xúc nhưng có cách bảo vệ [36] Hay một

NC của tác giả Vũ Hải Vinh (2018) trên nhóm công nhân tỷ lệ kiến thức chung về HIV là 81,5% [34]

Năm 2017, tác giả Lê Đức Tùng và cộng sự nghiên cứu trên học sinh trung học phổ thông tại Thái Nguyên năm 2017 cho tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng về nguyên nhân gây bệnh HIV/AIDS chiếm 86,9% Kiến thức đúng

về đường lây (29,8%), kiến thức đúng về triệu chứng (10,9%) và có kiến thức chung đúng chiếm 2,3% Tỷ lệ học sinh có thái độ đúng khi sử dụng các biện pháp phòng tránh chiếm 86,4%, tỷ lệ ứng xử đúng (58,3%) Học sinh có thái

độ chung đúng chiếm 53,8% [30]

Năm 2016, tác giả Nguyễn Đăng Vững nghiên cứu trên đối tượng học sinh trung học phổ thông tại Bắc Giang có 72,4% học sinh có kiến thức về HIV chung đạt, tỷ lệ học sinh có thái độ chung đúng (53,8%); không dùng chung BKT (99,2%); thực hành chung đúng chiếm 5,6% [37]

Năm 2016, tác giả Lê Thị Hường kiến thức phòng, chống HIV/AIDS của chiến sĩ bộ đội biên phòng ở khu vực biên giới tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 22

94,3% trả lời đúng về đường lây truyền HIV, tỷ lệ đồng ý mua rau từ người bán hàng bị nhiễm HIV mà bạn biết 95,2% [15]

Năm 2016, tác giả Nguyễn Duy Phong và Phạm Minh Triết nghiên cứu trên đối tượng là học sinh trung học phổ thông tại Củ Chi năm 2016 kiến thức đúng về HIV khoảng 50% [23]

Năm 2016, tác giả Phạm Nhật Tuấn nghiên cứu kiến thức và thực hành phòng, chống HIV/AIDS trên nhóm công nhân khai thác vàng tại tỉnh Quảng Nam cho kết quả tỷ lệ công nhân có kiến thức chung đúng là 29,6% [29]

Năm 2016, tác giả Nguyễn Thị Thanh Nhàn và cộng sự nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế đối với bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Trưng Vương cho kết quả tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức chung đúng về đường lây truyền chiếm 72,4%, kiến thức chung đúng về kỳ thị và phân biệt đối xử chiếm 43,8% và kiến thức chung đúng về phòng ngừa HIV chiếm 61,9%, tỷ lệ nhân viên y tế có thái độ phù hợp với bệnh nhân HIV chiếm 59,1% [22]

Năm 2014, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tấn Phước và cộng sự trên nhóm học sinh trung học phổ thông ở huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai về kiến thức về HIV/AIDS và thái độ kì thị người nhiễm HIV/AIDS cho kết quả học sinh có kiến thức đúng là 75,7%, thái độ tốt là 42,5% [24]

Năm 2014, Huỳnh Thị Mỹ và Nguyễn Duy Phong nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về phòng, chống HIV/AIDS của học sinh trung học phổ thông tại huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh, kết quả nghiên cứu trên 400 học sinh tỉ lệ học sinh biết về phòng ngừa HIV là 75,25% Tỉ lệ các học sinh trung học phổ thông đồng ý với viẹ c sử dụng BCS để phòng ngừa HIV là 75,50%, kho ng sử dụng chung BKT để phòng ngừa HIV 80,5% Thái

độ các học sinh trung học phổ thông đồng ý các biẹ n pháp phòng la y nhiễm HIV/AIDS là 75% Thái độ chung về pha n biẹ t đối xử đạt 71,50% [21]

Trang 23

Năm 2014, Huỳnh Ngọc Lan Vy nghiên cứu kiến thức, thái độ về phòng ngừa và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS ở phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi đã lập gia đình tại xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang năm 2014 cho kết quả chỉ 11,7% người được hỏi có kiến thức đúng về HIV/AIDS, 27,9% phụ nữ trong nghiên cứu có thái độ tích cực về phòng ngừa HIV [38]

Năm 2013, tác giả Vũ Khắc Lương nghiên cứu trên sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Y Hà Nội 85,3% - 95,3% sinh viên có kiến thức đúng về

4 phương pháp chính phòng lây nhiễm HIV [19]

Năm 2013, tác giả Hồng Trần Duy Linh khảo sát kiến thức và thực hành phòng ngừa lây nhiễm HIV nghề nghiệp của sinh viên răng hàm mặt Trường đại học Y dược Cần Thơ cho kết quả tỷ lệ sinh viên răng hàm mặt năm 5 và năm 6 là 49,7% Trong số các kiến thức cơ bản về phòng ngừa lây nhiễm HIV nghề nghiệp sinh viên: 97,6% sinh viên biết rằng HIV có thể lây qua dụng cụ nha khoa vấy bẩn, 91% sinh viên biết được nguy cơ trong lĩnh vực nha khoa, về biểu hiện vùng miệng của HIV/AIDS thì chỉ có 16,2% trả lời đúng, 40,7% sinh viên biết được cách xử trí khi bị kim đâm trúng [18]

Năm 2013, Phan Thị Thu Hương nghiên cứu thực trạng kiến thức, thái

độ, hành vi và hiệu quả mô hình can thiệp phòng lây nhiễm HIV trong nhóm dân tộc Thái 15-49 tuổi tại 2 huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa, kết quả nghiên cứu trên 800 người dân độ tuổi 15-49 tuổi Tỷ lẹ đối tu ợng có hiểu biết đúng về 4 nhóm kiến thức HIV/AIDS ở mức thấp hoạ c rất thấp, lần lu ợt là 29,6% cho nhóm kiến thức dự phòng la y nhiễm, 36,2% cho nhóm phản đối quan niẹ m sai lầm về HIV, 11,2% cho nhóm hiểu biết về các dịch vụ phòng chống HIV, 54,1% cho nhóm hiểu biết đu ờng la y truyền HIV từ mẹ sang con Tỷ lẹ đối

tu ợng trả lời đúng theo 3 nhóm thái độ đối với ngu ời nhiễm HIV khá thấp, lần

lu ợt là 38,0% cho nhóm kho ng kỳ thị sợ la y nhiễm, 34,1% cho nhóm kho ng

Trang 24

kỳ thị đổ lỗi phán xét, 14,3% cho nhóm kho ng pha n biẹ t đối xử với ngu ời nhiễm HIV Tỷ lẹ đối tu ợng đu ợc tiếp cạ n với các hoạt đọ ng truyền tho ng phòng chống HIV/AIDS còn thấp, phương tiện thiếu, nội dung thông điệp đơn điệu và nghèo nàn [14]

Năm 2012, tác giả Nguyễn Trần Tuấn Kiêt nghiên cứu trên sinh viên năm thứ I trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai tỷ lệ học sinh sinh viên có kiến thức chung đúng là 78,1% Thái độ đúng của sinh viên là 86,6% [17]

Năm 2010, Phan Quốc Hội đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống HIV/AIDS của sinh viên Trường Đại học sư phạm kỹ thuật

Vinh, Nghệ An, kết quả kiến thức phòng, chống HIV/AIDS của sinh viên là

42% sinh viên vừa xác định được cách phòng ngừa lây nhiễm HIV Vẫn còn 13,5% sinh viên cho rằng muỗi cắn và 4% sinh viên cho rằng ăn chung với người nhiễm HIV bị lây nhiễm HIV; 86,2% sinh viên cho rằng một người nhìn khỏe mạnh có thể bị nhiễm HIV Có 6% các sinh viên trả lời sẽ không giúp đỡ bạn nhiễm HIV/AIDS Thái độ sinh viên trong kiểm tra và bảo vệ chính mình phòng nhiễm HIV là 83,2% Có 90,8% sinh viên cho rằng có thể bảo vệ chính mình tránh lây nhiễm HIV và các bệnh lây lây truyền qua đường tình dục khi quan hệ tình dục [13]

Kết quả điều tra quốc gia vị thành niên thanh niên Việt Nam lần 2 năm

2010 (SAVY 2) có 45% người được hỏi không có thái độ kỳ thị người có HIV trong khi đa số vẫn có thái độ kỳ thị người có HIV 55% [32] Nghiên cứu IBBS vòng 2 năm 2009-2010, tỷ lệ người tiêm chích ma túy hiểu biết đúng về các phương pháp phòng tránh HIV và phủ nhận hiểu biết sai về đường lây truyền HIV ở An Giang là 38,3%, Cần Thơ là 48,4%, Đà Nẵng là 44,0%,Đồng Nai là 34,0%, Tp HCM 54,8%, Hà Nội 41,0% [33]

1.2.3 Một số thông tin về sinh viên tỉnh Bến Tre

Năm 2018, theo số liệu được các trường trên địa bàn tỉnh Bến Tre có 4

Trang 25

trường gồm: Trường Cao đẳng Bến Tre, Trường Cao đẳng Đồng Khởi, Trường Trung cấp nghề Bến Tre và phân hiệu Đại học quốc gia Tp HCM tại Bến Tre

Về hệ đào tạo: có 3 hệ đào tạo là Trung cấp, Cao đẳng và Đại học với,

tổng số lớp là 102 lớp, 2.945 sinh viên

Trang 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên tại các trường trung cấp, cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Bến Tre

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Sinh viên đang học tại các trường trung cấp, cao đẳng, đại học năm học 2019-2020

- Đã sống tại tỉnh Bến Tre từ 6 tháng trở lên

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

Vắng mặt hơn 3 lần khi tiến hành thu thập số liệu

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.4.1 Địa điểm nghiên cứu:

Trường Cao đẳng Bến Tre, Trường Cao đẳng Đồng Khởi, Phân hiệu đại học quốc gia Tp HCM tại Bến Tre

2.1.4.2 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2020 đến tháng 07/2020

+ Nghiên cứu trước can thiệp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang vào tháng

01 năm 2020

+ Hoạt động can thiệp: từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 06 năm 2020 + Nghiên cứu sau can thiệp: Nghiên cứu can thiệp không nhóm chứng vào tháng 07 năm 2020

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và nghiên cứu can

thiệp không nhóm chứng

Trang 27

2.2.2 Cỡ mẫu

Công thức tính cỡ mẫu:

n=

Trong đó:

Z: là giá trị phân phối chuẩn, với mức ý nghĩa α = 5% nên Z(1 – α/2)=1,96

d: sai số cho phép của nghiên cứu, chọn d= 0,05

p: trong một nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thùy Dung (2017 trên đối

tượng là sinh viên tỷ lệ kiến thức đúng về phòng, chống HIV/AIDS là 63% và

tỷ lệ thái độ đúng về phòng, chống HIV/AIDS là 39% [9]

n: là cỡ mẫu nghiên cứu

Theo kết quả tính toán, cỡ mẫu tính theo p kiến thức là 358 cỡ mẫu tính theo thái độ là 365,5, chúng tôi chọn cỡ mẫu tính toán lớn nhất là 365,5 đối tượng nghiên cứu

Theo công thức trên và nhân hệ số ảnh hưởng thiết kế mẫu (DE) lấy bằng 1,5, dự trù 10% mẫu, cỡ mẫu nghiên cứu là 603 người đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu

Thực tế số mẫu chúng tôi thu thập được là 603 mẫu

Trang 28

- Chọn lớp:

Tính số học sinh trung bình 1 lớp: tổng số lớp 3 trường là 72 lớp, tổng

số sinh viên 3 trường là 1.621 sinh viên Trung bình 22,5 sinh viên/lớp

Tính được số lớp cần điều tra cho 3 trường là: 603/22,5 = 26,8 lớp (làm tròn 27) Vậy tổng số lớp cần điều tra là 27 lớp cho 3 trường

Tính số lớp cần điều tra cho một trường (chọn mẫu xác xuất tỷ lệ):

(số lớp cần điều tra) x

Kết quả trình bày ở Bảng 2.1

Bảng 2 1: Số lớp được chọn vào nghiên cứu của 3 trường

- Chọn đối tượng nghiên cứu:

Tại mỗi lớp được chọn vào nghiên cứu chọn tất cả các học sinh đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu

2.2.3.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu sau can thiệp tháng 07 năm 2020:

Nghiên cứu sau can thiệp vào tháng 07 năm 2020 sử dụng danh sách mẫu của NC TCT (tháng 01 năm 2020) để đảm bảo tính tương đồng quần thể, giảm bớt yếu tố gây nhiễu đối với so sánh các chỉ số TCT và SCT

Trang 29

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Tỷ lệ kiến thức, thái độ đúng về phòng, chống HIV/AIDS

Các chỉ số mô tả thực trạng kiến thức, thái độ sử dụng trong nghiên cứu theo Bộ chỉ số theo dõi và đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS quốc gia của Cục phòng, chống HIV/AIDS ban hành [7]

Bên cạnh đó chúng tôi cũng tham khảo một số nghiên cứu của Cục phòng, chống HIV/AIDS, các nghiên cứu của các tác giả trước về cách đánh giá kiến thức, thái độ và đánh giá về hiệu quả can thiệp phòng, chống HIV/AIDS đã được công bố [14]

Biến số về đặc điểm cá nhân:

- Giới tính: nam, nữ

- Dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer, khác

- Tôn giáo: không theo tôn giáo, phật giáo, công giáo, tôn giáo khác

- Tình cảm (người yêu): có hoặc đã từng, chưa có hoặc chưa từng

- Nơi sống trước khi học: Tp BT hoặc nơi khác

- Nơi sống hiện nay: thành thị, nông thôn

Biến số đặc điểm học tập:

- Loại hình đào tạo: trung cấp, cao đẳng, đại học

- Ngành học: ngành sức khỏe, ngành khác

- Thời gian học: 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm

- Trường: Cao đẳng Bến Tre, Cao đẳng Đồng Khởi, phân hiệu đại học quốc gia Tp HCM tại Bến Tre

Biến số nghiên cứu về kiến thức phòng, chống HIV/AIDS:

- Hiểu biết đúng về biện pháp phòng tránh HIV- Bao gồm cả 3 thành phần: Tỷ lệ % ĐTNC trả lời cho rằng có thể phòng tránh HIV bằng cách luôn sử dụng BCS, quan hệ tình dục với 1 bạn tình chung thủy và không bị nhiễm bệnh, và không dùng chung BKT/Số người được điều tra có trả lời 3

Trang 30

câu hỏi trên

- Không hiểu sai về AIDS – Bao gồm 3 thành phần: Tỷ lệ % ĐTNC được hỏi không hiểu sai về 2 cách lây truyền: HIV không lây truyền qua muỗi đốt; ăn chung với người đang sống chung với HIV/AIDS không lây nhiễm HIV và cho rằng một người khỏe mạnh có thể đã nhiễm HIV/Số người được điều tra có trả lời 3 câu hỏi trên

- Kiến thức về lây truyền từ mẹ sang con: Tỷ lệ phần trăm số người trả lời cho rằng virus HIV có thể lây truyền từ mẹ sang con ở cả 3 giai đoạn hành vi/Số người được điều tra có trả lời câu hỏi

- Kiến thức về phòng tránh lây truyền mẹ con bằng cách sử dụng thuốc kháng virus trong quá trình mang thai: Tỷ lệ phần trăm số người trả lời cho rằng lây truyền HIV từ mẹ sang con có thể phòng tránh bằng việc

sử dụng thuốc kháng virus trong quá trình mang thai của người mẹ/ Số người được điều tra có trả lời câu hỏi

- Hiểu biết về thuốc điều trị ARV: Tỷ lệ phần trăm số người trả lời biết có thuốc ARV để giúp người nhiễm HIV sống lâu hơn, khỏe mạnh hơn/Số người được điều tra

- Kiến thức chung về phòng, chống HIV/AIDS-Chỉ số dự phòng 20,

bộ chỉ số Quốc gia (trả lời đúng 2 biện pháp phòng tránh AIDS và phản đối các quan niệm sai lầm về HIV/AIDS): Tỷ lệ % ĐTNC được hỏi trả lời đúng 2 phương pháp phòng tránh HIV (luôn sử dụng BCS đúng cách, quan

hệ tình dục chung thuỷ với một bạn tình mà người đó cũng chung thuỷ và không bị nhiễm HIV) và phản đối các quan niệm sai lầm về HIV/AIDS (HIV lây truyền qua đường muỗi đốt, ăn chung với người nhiễm HIV/AIDS và cho rằng một người khỏe mạnh có thể đã bị nhiễm HIV)/Số người được điều tra trả lời 5 ý trên

Trang 31

Biến số nghiên cứu về thái độ phòng, chống HIV/AIDS:

- Thái độ không kỳ thị đối với người nhiễm HIV/AIDS (không sợ hãi lây nhiễm): Tỷ lệ phần trăm số người được hỏi có thái độ chấp nhận, sẵn sàng chăm sóc cho thành viên trong gia đình bị ốm do AIDS và sẵn sàng mua rau/thức ăn của người bán hàng bị nhiễm HIV/AIDS/Số người được điều tra

có trả lời 2 câu hỏi trên

- Thái độ không kỳ thị đối với người nhiễm HIV (không xấu hổ, đổ lỗi, phán xét): Tỷ lệ phần trăm số người được hỏi có thái độ chấp nhận đối với nữ giáo viên có HIV dương tính và cho phép được tiếp tục giảng dạy khi chưa bị

ốm do AIDS và không cần giữ kín tình trạng nhiễm HIV của thành viên trong gia đình/ Số người được điều tra có trả lời 2 câu hỏi trên

- Thái độ không phân biệt đối xử với người nhiễm HIV vì tình trạng của họ: Tỷ lệ phần trăm số người được hỏi trả lời không đồng tình là người nhiễm HIV phải thấy xấu hổ về bản thân mình và có lỗi trong việc mang bệnh tật về cho cộng đồng/Số người được điều tra có trả lời 2 câu hỏi trên

- Thái độ chung về phòng, chống HIV/AIDS (Thái độ tích cực với HIV/AIDS - Chỉ số dự phòng 2.2, bộ chỉ số quốc gia): Tỷ lệ số người đã từng nghe nói HIV/AIDS và trả lời có thái độ tích cực đối với người nhiễm HIV/AIDS đúng cả 4 câu hỏi: sẵn sàng mua rau/thức ăn của người bán hàng

bị nhiễm HIV; sẵn sàng chăm sóc cho người trong gia đình bị ốm do AIDS; không cần giữ kín tình trạng nhiễm HIV của thành viên trong gia đình; và chấp nhận đối với nữ giáo viên có HIV được tiếp tục giảng dạy khi đang khỏe mạnh/ Số người được điều tra có trả lời 4 câu hỏi trên

Biến số thông tin thông tin, giáo dục, truyền thông về HIV/AIDS của sinh viên:

- Nghe/đọc về HIV/AIDS: có, không

- Tham gia sinh hoạt trong 1 CLB phòng, chống HIV/AIDS: có, không

Trang 32

- Theo dõi 1 trang tin tức về phòng, chống HIV/AIDS: có, không

- Học về HIV/AIDS: có, không

- Nhận thông tin về HIV/AIDS trong 6 tháng qua: có, không

- Có chương trình truyền thông về HIV/AIDS tại trường: có, không

- Nhận được thông tin về HIV/AIDS tại trường: có, không

Phân tích chỉ số hiệu quả can thiệp (HQCT):

Công thức sau tính chỉ số hiệu quả can thiệp:

| P2 – P1|

HQCT (%) = - x 100

P 1Trong đó:

P1: là kết quả có tại thời điểm đánh giá trước can thiệp

P2: là kết quả tại thời điểm đánh giá sau can thiệp

2.2.4.2 Nghiên cứu trước can thiệp

- Giai đoạn trước can thiệp: tháng 01/2020

- Cách thu thập số liệu nghiên cứu: trình bày trong mục 2.2.5 chương 2

- Các chỉ số nội dung đánh giá: Theo nhóm các câu hỏi đánh giá về kiến thức, thái độ phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS ở sinh viên địa bàn tỉnh Bến Tre Các chỉ số mô tả và phân tích đánh giá xem tại mục 2.2.4.1 của

Chương 2

2.2.4.3 Tiến hành can thiệp bằng truyền thông:

Theo đề cương chúng tôi đề ra 7 nhóm biện pháp và 4 hoạt động để can thiệp nâng cao kiến thức và thái độ phòng, chống HIV/AIDS của các ĐTNC, tuy nhiên do tình hình lúc chúng tôi nghiên cứu xảy ra dịch COVID 19 cũng

đã ảnh hưởng không nhỏ để việc triển khai các hoạt động, nhiều hoạt động can thiệp chúng tôi không thể triển khai được do tính chất của phòng chống dịch bệnh như không tập trung đông người, giãn cách xã hội, phải tập trung tuyên truyền phòng, chống dịch COVID 19

Trang 33

Một số biện pháp chúng tôi đã thực hiện như cấp phát tờ rơi về phòng, chống HIV đến tất cả các sinh viên nghiên cứu, giới thiệu các địa chỉ trang Facebook và zalo tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS của tỉnh để sinh viên theo dõi, tương tác Ngoài các biện pháp can thiệp nâng cao kiến thức của chúng tôi thực hiện, còn có các hoạt động truyền thông phòng, chống HIV/AIDS của địa phương nơi các trường thực hiện như truyền thông đại chúng qua loa phát thanh, các phóng sự tin tức về phòng, chống HIV/AIDS qua Tivi, sự tự tìm hiểu thêm về kiến thức phòng, chống HIV/AIDS của các bạn sinh viên

2.2.4.4 Nghiên cứu sau can thiệp

- Giai đoạn nghiên cứu sau can thiệp: tháng 07/2020

- Cách thu thập số liệu nghiên cứu: trình bày trong mục 2.2.5 chương 2

- Các chỉ số nội dung đánh giá: theo nhóm các câu hỏi đánh giá về kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS ở sinh viên địa bàn tỉnh Bến Tre Các chỉ số nghiên cứu xem tại mục 2.2.4.1 của Chương 2

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu và báo cáo về kết quả hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS nói chung và cho sinh viên nói riêng được thu thập tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bến Tre, tại trung tâm y tế thành phố Bến Tre

và trạm y tế xã/phường nơi có các trường Tại các trường nghiên cứu chúng tôi cũng thu thập các số liệu về kết quả hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS cho sinh viên thông qua kế hoạch hoạt động hàng năm và các báo cáo chuyên môn định kỳ hàng năm của trường

2.2.5.2 Thu thập số liệu nghiên cứu

Thiết kế Bộ câu hỏi tự điền cho đối tượng sinh viên (phụ lục Phiếu thu thập thông tin nghiên cứu)

Trang 34

Điều tra khảo sát ban đầu tại các trường được chọn trước khi tiến hành

NC TCT nhằm tìm hiểu các thông tin chung, số lượng sinh viên, thời gian học, các khái niệm dùng trong bộ câu hỏi có hiểu được không, khái niệm về mốc thời gian, ĐTNC có sẵn sàng cho phỏng vấn Đồng thời xem xét cách thức và thời điểm thực hiện nghiên cứu điều tra là thích hợp và không ảnh hưởng đến việc học, hoạt động giảng dạy của nhà trường và sự đồng ý của các trường cũng như sinh viên, đảm bảo tính an toàn phòng, chống dịch bệnh COVID 19

Thảo luận cụ thể với Ban giám hiệu hoặc Giám đốc trong các Trường

để lấy giấy phép cho cuộc nghiên cứu điều tra và can thiệp Liên hệ các thầy

cô hỗ trợ và Khoa/ phòng để tiến hành nghiên cứu

Hiệu chỉnh lại bộ câu hỏi để tiến hành thu thập thông tin chính thức thông qua điều tra thử 30 bộ cậu hỏi

Tiếp cận và tiến hành điều tra:

Điều tra viên đến địa điểm điều tra, tự giới thiệu mình và giải thích mục đích, ý nghĩa, quy trình nghiên cứu và sự bảo mật của thông tin điều tra Lấy ý kiến đồng ý tham gia của các đối tượng nghiên cứu Người tham gia nghiên cứu được phát 1 tờ thông tin về nhóm nghiên cứu để liên lạc, nhận hỗ trợ khi cần thiết

Tiến hành thu thập thông tin: tất cả các sinh viên trong lớp được chọn

đủ tham gia đều được thu thập thông tin theo bộ câu hỏi tự điền cá nhân

2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số

- Tính toán và chọn mẫu đại diện

- Đảm bảo chọn mẫu đúng phương pháp Điều tra đúng theo khung chọn mẫu

- Sử dụng bộ công cụ đo lường (chỉ số nghiên cứu) đã được chuẩn hóa bởi Cục Phòng, chống HIV/AIDS

Trang 35

Phân tích trong nghiên cứu mô tả:

Số liệu được mã hoá lại được chỉnh lý đảm bảo tính chính xác, thống nhất và hoàn chỉnh

Các biến kết quả bao gồm: các kết quả về kiến thức và thái độ được thống kê theo phân nhóm bằng tần số và tỷ lệ

Phân tích đa biến:

Mô hình hồi quy logistic được sử dụng để phân tích đa biến Ước tính

tỷ số chênh (OR) cho kiến thức, thái độ trước can thiệp với các yếu tố liên quan

Các biến lựa chọn vào mô hình logistic dựa trên hiểu biết trước và mức

ý nghĩa thống kê trong phân tích đơn biến

Phân tích so sánh hiệu quả can thiệp:

Mức độ kiến thức, thái độ được so sánh giữa TCT và SCT bằng kiểm định bằng Mcnemar test, loại bỏ giả thuyết Ho với mức độ ý nghĩa p<0,05

Hiệu quả can thiệp được tính toán bằng tỷ lệ phần trăm theo công thức

Trang 36

Hội đồng đạo đức về nghiên cứu y sinh học, Trường Đại học Y dược Cần Thơ chấp thuận trước khi triển khai thu thập số liệu

Nghiên cứu được sự chấp thuận của lãnh đạo Trung tâm kiểm soát bệnh tật Bến Tre, lãnh đạo các Trường thu thập số liệu và can thiệp và lãnh đạo các địa phương có các trường tại Bến Tre trước khi triển khai

Nghiên cứu cũng đóng góp vào nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật Bến Tre và tỉnh nhà

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kiến thức, thái độ phòng, chống HIV/AIDS của ĐTNC TCT

3.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 3 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trường (n=603)

Nhận xét:

Tỷ lệ ĐTNC là sinh viên trường Cao đẳng Bến Tre là 51,6%, trường Cao đẳng Đồng Khởi là 41,6%, phân hiệu Đại học quốc gia Tp HCM tại Bến Tre là 6,8%

Trang 38

Nhận xét:

Tỷ lệ sinh viên thuộc hệ đào tạo trung cấp là 22,7%, tỷ lệ sinh viên cao đẳng là 70,5%, sinh viên đại học là 6,8% Tỷ lệ sinh viên đã học trên 1 năm là 69,3%, tỷ lệ sinh viên có thời gian học dưới 1 năm là 30,7% Tỷ lệ sinh viên thuộc nhóm ngành sức khỏe là 16,4%, tỷ lệ sinh viên thuộc nhóm ngành khác

Tỷ lệ sinh viên nữ là 61,9%, nam là 38,1% Dân tộc kinh chiếm 97,5%

Tỷ lệ sinh viên không theo tôn giáo là 79,1%, tỷ lệ sinh viên theo tôn giáo là 20,9% Tỷ lệ sinh viên có/đã từng có người yêu là 67,7%, chưa từng có người yêu là 32,3%

Sinh viên có nơi sống hiện nay là thành thị là 54,2%, nông thôn là 45,8% Sinh viên có nơi sống trước khi đến học là Tp BT là 49,6%, sinh viên

từ nơi khác đến là 50,4%

Trang 39

3.1.2 Kiến thức phòng, chống HIV/AIDS của ĐTNC TCT

Biểu đồ 3 2: Tỷ lệ kiến thức đúng theo nhóm kiến thức phòng, chống

HIV/AIDS của ĐTNC TCT (n=603)

Nhận xét:

Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng về phòng, chống HIV/AIDS chung là 66%

3.1.3 Thái độ về phòng, chống HIV/AIDS của ĐTNC TCT

Biểu đồ 3 3: Tỷ lệ thái độ đúng theo nhóm thái độ phòng, chống HIV/AIDS

Kiến thức

về đường lây truyền HIV từ mẹ sang con

Kiến thức về thuốc giảm lây truyền mẹ-con

Kiến thức về thuốc ARV

Kiến thức chung về phòng, chống HIV/AIDS

Trang 40

Nhận xét:

Tỷ lệ sinh viên có thái độ về phòng, chống HIV/AIDS chung đúng là 64,5%, thái độ về phòng, chống HIV/AIDS chung chưa đúng là 35,5% Tỷ lệ sinh viên có thái độ không phân biệt đối xử với HIV là 62% Thái độ không

đỗ lỗi phán xét với HIV/AIDS là 70% Thái độ không kỳ thị với HIV/AIDS là 74,3%

Bảng 3 3: Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS ở

ĐTNC TCT

Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng,

Sinh hoạt trong 1 CLB về phòng, chống

đã học về HIV là 81,1%

Tỷ lệ sinh viên nhận được thông tin về HIV/AIDS trong 6 tháng qua là 64,5% Tỷ lệ sinh viên biết có chương trình truyền thông về HIV tại trường là 69,2% Tỷ lệ nhận được thông tin về HIV/AIDS tại trường là 53,9%

Ngày đăng: 18/03/2023, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm