BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO NGHIÊN CỨU SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP Ở BỆN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
Ở BỆNH NHÂN TRÊN 60 TUỔI TẠI PHÒNG KHÁM BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
CẦN THƠ – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU SỰ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
Ở BỆNH NHÂN TRÊN 60 TUỔI TẠI PHÒNG KHÁM
BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
CẦN THƠ – 2019
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ, hình vẽ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tăng huyết áp 3
1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp 3
1.1.2 Phân loại tăng huyết áp 4
1.1.3 Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp nguyên phát 7
1.1.4 Chẩn đoán tăng huyết áp 8
1.1.5 Biến chứng tăng huyết áp 9
1.2 Các yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp 9
1.3 Điều trị tăng huyết áp 14
1.3.1 Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc 14
1.4 Tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân 16
1.5 Nghiên cứu hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 22
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
Trang 42.2.1 Thiết kế nghiên cứu 22
2.2.2 Cỡ mẫu 22
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 23
2.2.4 Nội dung nghiên cứu 23
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 31
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢN NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân tăng huyết áp 32
3.2 Tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp 36
Bảng 3.10 Tỷ lệ tuân thủ điều trị không dùng thuốc của bệnh nhân THA 36
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kết quả không tuân thủ điều trị 39
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 47
4.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân 47
4.2 Tỷ lệ tuân thủ điều trị và mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp 51
4.3 Một số yếu tố liên quan đến việc không tuân thủ điều trị ở bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2018-2019 52
KẾT LUẬN 58
KIẾN NGHỊ 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin tỏ long biết ơn đến GS Phạm Văn Lình, người trực tiếp hướng dẫn luận văn, đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi tìm ra hướng nghiên cứu, tiếp cận thực tế, tìm kiếm tài liệu, xử lý và phân tích số liệu, giải quyết vấn
đề nhờ đó tôi mới có thể hoàn thành luận văn cao học của mình Ngoài ra, trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi còn nhận được nhiều sự quan tâm, góp ý, hỗ trợ quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và người thân Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Cha mẹ và những người thân trong gia đình đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian qua và đặc biệt trong thời gian tôi theo học khóa thạc sỹ tại Trường Đại học Y dược Cần Thơ
- Quý thầy cô Khoa Y tế công cộng trường Trường Đại học Y dược Cần Thơ đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt hai năm học vừa qua
- Tập thể Phòng Đảm bảo chất lượng và các bạn bè, đồng nghiệp luôn động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả thu được trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Cần Thơ, ngày tháng 10 năm 2019
Ký tên
Nguyễn Trần Phương Thảo
Trang 7ISH International Society of Hypertention
(Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại THA theo JNC VII 6
Bảng 1.2 Định nghĩa và phân độ Tăng Huyết Áp tại phòng khám 2018 6
Bảng 3.1 Nhóm tuổi của bệnh nhân 32
Bảng 3.2 Trình độ học vấn 33
Bảng 3.3 Nghề nghiệp của bệnh nhân 33
Bảng 3.4 Kinh tế gia đình 34
Bảng 3.5 Dân tộc của bệnh nhân 34
Bảng 3.6 Tình trạng sống chung 34
Bảng 3.7 Bảo hiểm y tế 34
Bảng 3.8 Tình trạng điều trị 35
Bảng 3.9 Tỷ lệ tuân thủ điều trị không dùng thuốc của bệnh nhân THA 36
Bảng 3.10 Mức độ tuân thủ điều trị không dùng thuốc ở bệnh nhân THA 37
Bảng 3.11 Tỷ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp 38
Bảng 3.12 Mức độ tuân thủ điều trị dùng thuốc ở bệnh nhân THA 38
Bảng 3.13 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và nhóm tuổi của bệnh nhân 39
Bảng 3.14 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và giới tính của bệnh nhân 40 Bảng 3.15 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và học vấn của bệnh nhân 40
Bảng 3.16 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và kinh tế gia đình 41
Bảng 3.17 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và nghề nghiệp của bệnh nhân 41
Bảng 3.18 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và dân tộc của bệnh nhân 42
Bảng 3.19 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và tình trạng sống chung 42
Bảng 3.20 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị kiến thức về biến chứng 43
Bảng 3.21 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và tình trạng điều trị 43
Bảng 3.22 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và theo dõi huyết áp 44
Trang 9Bảng 3.23 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và khó khăn điều trị 44 Bảng 3.24 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và lối sống của bệnh nhân 45 Bảng 3.25 Liên quan giữa không tuân thủ điều trị và kiểm soát huyết áp của bệnh nhân 46 Bảng 3.26 Liên quan giữa tuân thủ không dùng thuốc và tuân thủ điều trị dùng thuốc 46
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ - BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Sơ đồ khám đo và chẩn đoán tăng huyết áp 5
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo giới tính 32
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ kiểm soát huyết áp của bệnh nhân 35
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ tuân thủ điêu trị không dùng thuốc chung ở bệnh nhân THA 37
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ tuân thủ điêu trị dùng thuốc chung ở bệnh nhân THA 39
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính, đặc trưng bởi tình trạng tăng chỉ
số huyết áp tâm thu hoặc tâm trương Đây là một bệnh cần theo dõi và điều trị lâu dài với những biến chứng nguy hiểm, bệnh cũng là gánh nặng cho gia đình và xã hội, phải bỏ ra kinh phí, thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng, luyện tập Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới năm 2002 về những yếu tố nguy cơ mới của sức khỏe toàn cầu thì tăng huyết áp đứng hàng thứ 3 trong
10 yếu tố nguy cơ hàng đầu, là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong cho khoảng 7,1 triệu người và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu [46]
Nghiên cứu SHEP liên quan đến những bệnh nhân tăng huyết áp trên
60 tuổi có huyết áp tâm thu trước điều trị trên 160 mmHg và huyết áp tâm trương trên 90mmHg, điều trị chống tăng huyết áp tích cực giảm tai biến mạch vành được 23%, đột quỵ 30%, tử vong do tim mạch 18% và tử vong khác 13% [42] Tại Hoa Kỳ - nơi xuất xứ của các chương trình JNC chỉ có một số bác sĩ chấp nhận và có theo đúng hướng dẫn về điều trị Về phía yếu
tố người bệnh, nhiều báo cáo cho thấy sự tuân thủ điều trị trong đó có sự tuân thủ việc dùng thuốc hạ áp đóng vai trò quan trọng và thực sự cần thiết
Tuy nhiên, qua một số nghiên cứu ở Việt Nam về nhận biết, điều trị và kiểm soát huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp cho kết quả không mấy khích lệ Theo một điều tra cho thấy trong số những người bị tăng huyết áp thì có tới 52% (khoảng 5,7 triệu người) là không biết mình có bị tăng huyết áp: 30% (khoảng 1,6 triệu người) của những người đã biết mình bị tăng huyết áp nhưng vẫn không có một biện pháp điều trị, những người tăng huyết áp (khoảng 2,4 triệu người) đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về số huyết áp mục tiêu [13]
Việc thay đổi lối sống có lợi cho điều trị tăng huyết áp và tuân thủ dùng thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ là cần thiết cho một điều trị có
Trang 12hiệu quả, tuy nhiên hai yêu cầu trên không phải luôn được các bệnh nhân tăng huyết áp hiểu biết đầy đủ và thực hiện nghiêm túc Từ những vấn đề
trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự tuân thủ điều trị
và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân trên 60 tuổi tại phòng khám Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2018” nhằm làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp, xây dựng các
chương trình giáo dục sức khỏe thích hợp cho bệnh nhân tăng huyết áp góp phần việc dự phòng biến chứng và điều trị tăng huyết áp Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2018 đến tháng 8/2019 với các mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ bệnh nhân trên 60 tuổi bệnh tăng huyết áp tuân thủ điều trị tăng huyết áp và mức độ tuân thủ điều trị tại phòng khám Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2018-2019
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến sự không tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tại phòng khám Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2018-2019
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tăng huyết áp
1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp
Huyết áp là áp lực mạch máu ép lên thành động mạch Huyết áp của một người được biểu thị bằng 2 con số là huyết áp tâm thu (số cao) và huyết
áp tâm trương (số thấp)[5]
Các thông số huyết áp thường được ứng dụng là:
- Huyết áp tâm thu (HATT) là giới hạn cao nhất của những dao động
có chu kỳ của HA trong mạch, thể hiện sức bơm máu của tim
- Huyết áp tâm trương (HATTr) là giới hạn thấp nhất của những dao động có chu kỳ của HA trong mạch, thể hiện sức cản của mạch
- Huyết áp trung bình (HATB) là áp suất tạo ra với dòng máu chảy liên tục, và có lưu lượng bằng với cung lượng tim
- Hiệu áp hay áp lực máu (ALM) là hiệu số giữa HATT và HATTr HATT, HATTr, ALM được xem là những yếu tố dự báo bệnh tim mạch, trong đó ALM có giá trị dự báo nguy cơ bệnh tim mạch ở các đối tượng trên 55 tuổi
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hiệp hội THA quốc tế (ISH):
- HA bình thường nếu HA động mạch tối đa (hay còn gọi HATT)
<140 mmHg và HA động mạch tối thiểu (hay còn gọi là HATTr) <90mmHg
- Tăng huyết áp nếu HA động mạch tối đa hay còn gọi là HATT
≥140mmHg và HA động mạch tối thiểu hay còn gọi là HATTr ≥ 90mmHg
Theo Tổ chức Y tế thế giới: Một người lớn được gọi là THA khiHATT ≥ 140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA
Trang 14THA tâm thu đơn độc:đối với người lớn, HATT có xu hướng tăng và HATTr có xu hướng giảm Khi trị số HATT >140mmHg và HATTr
<90mmHg, được gọi là THA tâm thu đơn độc Độ chênh HA (tâm thu- tâm trương) và HATT dự báo nguy cơ và quyết định điều trị
THA áo choàng trắng:một số bệnh nhân HA thường xuyên tăng tại bệnh viện hoặc tại phòng khám bác sĩ trong khi huyết áp hằng ngày hoặc đo
24 giờ lại bình thường, tình trạng này gọi là THA áo choàng trắng.Chẩn đoán: HA phòng khám ≥140/90mmHg sau nhiều lần đi khám và huyết áp 24 giờ<125/80mmHg
Tăng HA ẩn dấu: thường ít gặp hơn THA áo choàng trắng nhưng khó phát hiện hơn, đó là tình trạng trái ngược: HA bình thường tại phòng khám
và THA ở nơi khác.Những bệnh nhân này có tổn thương cơ quan đích nhiều hơn và nguy cơ cao hơn những đối tượng HA luôn bình thường
Tăng HA giả tạo: trong một số ít bệnh nhân lớn tuổi, các động mạch ngoại biên trở nên cứng nên băng quấn phải có áp lực cao hơn để nén lại, động mạch quay vẫn bắt được dù băng quấn đã được bom căng.Khi nghi ngờ THA giả tạo phải đo HA nội động mạch quay để xác định chẩn đoán
1.1.2 Phân loại tăng huyết áp
Phân loại tăng huyết áp có thể chia ra các loại như sau [5]:
- Tăng huyết áp thường xuyên: có thể phân biệt thành tăng huyết áp lành tính, tăng huyết ápác tính
- Cơn tăng huyết áp: trên cơ sở HA bình thường hoặc gần bình thường, có những cơn tăng vọt, vào những cơn này thường có tai biến
- Tăng huyết áp dao động: trị số HA có thể có lúc tăng giảm Theo WHO khuyên rằng không nên sử dụng danh từ này và nên xếp vào loại tăng huyết áp giới hạn, vì cho rằng tất cả các loại tăng huyết áp đều ít nhiều “dao động”
Trang 15- Tăng huyết áp nguyên phát: trường hợp tăng huyết áp mà không tìm thấy nguyên nhân, được gọi là bệnh tăng huyết áp nguyên phát vô căn Thường gặp ở người lớn, chiếm 90 – 95% tổng số các đối tượng có tăng huyết áp
- Tăng huyết áp thứ phát: trường hợp tăng huyết áp tìm thấy nguyên nhân, còn gọi là tăng huyết áp triệu chứng Chiếm khoảng 5% tổng số các đối tượng có tăng huyết áp
Hình 1.1 Sơ đồ Khám đo và chẩn đoán tăng huyết áp
Nguồn: Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam (2018) Khuyến cáo và chẩn đoán điều trị tăng huyết áp [13]
Trang 16Bảng 1.1 Phân loại THA theo JNC VII
Phân loại HA HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương (mmHg)
Nguồn: Phạm Nguyễn Vinh 2010 [35]
Bảng 1.2 Định nghĩa và phân độ Tăng Huyết Áp tại phòng khám 2018
* Nếu HA không cùng mức để phân loại thì chọn mức HA tâm thu hay tâm
trương cao nhất THA TT đơn độc xếp loại theo mức HATT
**Tiền Tăng huyết áp: khi HATT >120-139mmHg và HATTr >80-89 mmHg
Nguồn: Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam (2018) Khuyến cáo và chẩn đoán điều trị tăng huyết áp [13]
Trang 171.1.3 Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp nguyên phát
Qua nhiều năm nghiên cứu các nhà sinh lý và lâm sàng tim mạch đã
cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để giải thích cơ chế bệnh sinh của THA và các
cơ chế đã được công nhận [23]
1.1.3.1 Tăng hoạt động thần kinh giao cảm
Khi tăng hoạt tính hệ thần kinh giao cảm, sẽ làm tăng hoạt động của tim, dẫn đến tăng tần số tim và cung lượng tim Đồng thời sẽ gây ra phản xạ
co thắt toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận làm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến hậu quả là THA động mạch
1.1.3.2 Vai trò của hệ Renin - Angiotensin – Aldosteron (RAA)
Renin là một enzym do các tế bào tổ chức cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có các yếu tố kích thích: các tế bào cơ trơn trên thành mao mạch đến của tiểu cầu thận chịu trách nhiệm nhận cảm áp lực của động mạch tiểu cầu thận, kích thích các tế bào cạnh tiểu cầu thận tiết ra renin để điều hòa huyết áp, duy trì áp lực lọc ở tiểu cầu thận khi renin được tiết ra,
sẽ chuyển α2 globulin (được tổng từ gan) với tên gọi là angiotensinogen (có
14 acid amin) thành angiotensin I (là một peptid có 10 acid amin) tuần hoàn trong máu lên tuần hoàn phổi, tại phổi tách khỏi chất vận chuyển rồi cắt đi 2 acid amin nhờ hệ enzym chuyển ở phổi còn lại 8 acid amin được gọi là angiotensin II, angiotensin II có khả năng: kích thích vỏ thượng thận tăng tiết aldosterol gây tăng giữ nước và muối, gây co mạch gấp 100 – 200 lần so với adrenalin, đây cơ sở của THA động mạch Sau đó Angiotensin II bị enzym Angiotensinase phá hủy để tạo thành một số hoạt chất trung gian (Angiotensin III)
1.1.3.3 Vai trò của Natri trong cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp
Natri trong cơ chế bệnh sinh của THA nguyên phát được giải thích như sau: một chế độ ăn nhiều natri (thức ăn có 2% muối, nước uống có 1% muối) có thể làm khả năng lọc của thận tăng và cũng tăng tái hấp thu nước,
Trang 18làm thể tích máu tăng màng tế bào có sự thẩm thấu di truyền đối với natri, ion Na ứ đọng nhiều trong các sợi cơ trơn ở thành các tiểu động mạch còn làm tăng độ thấm của calci qua các màng tế bào, dẫn đến tăng khả năng làm
co các mạch máu, tăng sức cản ngoại vị gây THA
1.1.3.4 Giảm chất điều hòa huyết áp
Prostaglandin E2 và kallikrein ở thận có chức năng sinh lý điều hòa
HA, hạ calci máu, tăng calci niệu Khi các chất này thiếu hoặc bị ức chế sẽ gây THA
1.1.4 Chẩn đoán tăng huyết áp [23]
Dựa vào kết quả đo huyết áp động mạch cánh tay sau nghỉ ngơi 10 phút, nếu vượt chỉ số bình quân đo lại 2 lần tiếp theo, mỗi lần cách nhau 10
phút, lấy trung bình cộng
Theo JNC VII, của Liên ủy ban Quốc gia về phòng ngừa, phát hiện, đánh giá về điều trị tăng HA Có nhiều cách phân loại THA khác nhau nhưng phân loại của JNC VII thường được dùng nhất Theo JNC VII, một người được gọi là THA khi HATT ≥140mmHg hoặc và/hoặc HATTr
≥90mmHg
Các biểu hiện của THA:
- Nhức đầu: thường ở phía sau gáy hoặc trước trán, vào buổi sáng, đôi khi kéo dài cả ngày
- Chóng mặt: cảm giác đi đứng không vững và hơi nặng đầu
- Mệt, có thể cảm giác nặng ngực và khó thở nhẹ
- Yếu liệt tay chân từ vài giây đến vài phút
- Chảy máu cam: thường chảy giọt nhanh và nhiều, nếu THA không được chữa trị và phát hiện kịp thời thì tình trạng chảy máu cam sẽ tái phát nhiều lần
Trang 191.1.5 Biến chứng tăng huyết áp [23]
THA làm tổn thương các mạch máu nuôi não, nuôi thận, nuôi mắt gây các biến chứng tai biến mạch máu não, suy thận, giảm thị giác so với người thường, người THA, nếu không chữa, dễ bị bệnh hẹp tắc các động mạch tim làm thiếu máu nuôi (ischemic heart disease) gấp 3 lần, dễ suy tim gấp 6 lần và dễ bị tai biến mạch máu não gấp 7 lần
Tổn thương cơ quan đích đưa đến các biến chứng thường gặp:
- Bệnh tim mạch: nhồi máu cơ tim cấp, phù phổi cấp, dầy thất trái, bệnh động mạch vành mạn tính, suy tim…
- Não: xuất huyết não, tắc mạch não, tai biến mạch máu não thoáng qua…
- Thận: đái máu, protein niệu vi thể, suy thận
- Mắt: phù, xuất huyết, mạch co nhỏ ở đáy mắt…
- Bệnh động mạch ngoại vi: phình thành động mạch chủ, động mạch ngoại vi khác
1.2 Các yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp [23]
1.2.1 Tuổi
Tuổi càng tăng thì tỷ lệ THA càng cao, đặc biệt là lứa tuổi trên 55.Theo nghiên cứu của Phạm Hùng Lực (2003) tại Đồng bằng sông Cửu Long, THA bắt đầu ở tuổi 30, tỷ lệ THA ở nhóm tuổi 25-34 là 4,3%, nhóm 35-44 là 21,1%, nhóm 45-54 là 24,2%, nhóm 55-64 là 43,1%, nhóm 65-75 là 46,6% Tác giả còn nhận thấy giữa THA và tuổi có mối tương quan tuyến tính với nhau biểu hiện qua công thức: HATT = 98,67 + (0,54 x tuổi)
1.2.2 Giới tính
Nữ giới tuổi tiền mãn kinh và lứa tuổi 55 – 60 có quá trình lão quá, động mạch giảm đàn hồi rơi vào trạng thái động mạch xơ cứng gây bệnh cảnh THA đặc biệt gọi là “bệnh THA đàn hồi” HATT cao mà HATTr lại thấp.Theo thống kê Y tế Hoa Kỳ, nữ giới có nguy cơ tương đương như nam
Trang 20giới đối với việc phát triển bệnh THA trong cuộc đời Tuy nhiên, đối với những người dưới 45 tuổi tình trạng bệnh này ảnh hưởng tới nam giới nhiều hơn nữ giới Ngược lại, đối với người 65 tuổi trở lên, nó ảnh hưởng đến nữ giới nhiều hơn nam giới Cụ thể ở lứa tuổi 45-54, tỷ lệ THA giữa nam và nữ tương đương nhau 36,2%, lứa tuổi 55-64 tỷ lệ THA ở nữ bắt đầu cao hơn nam 54,4% so với 50,2%, lứa tuổi 65-74 là 70,8% so với 64,1%, từ 75 tuổi trở lên là 80,2% so với 65% [40]
Khi so sánh tỷ lệ THA tâm thu đơn độc giữa hai giới trong nghiên cứu của Nguyễn Thái Hoàng (2007) tại thành phố Cần Thơ, nhận thấy nữ giới có
tỷ lệ cao hơn nam (25,1% so với 19,23%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê (p=0,034) Ngoài ra, tình trạng THA ở nữ giới cao tuổi không chỉ chịu chi phối của tuổi mà còn bị ảnh hưởng bởi sự thiếu hụt estrogen sau thời kỳ mãn kinh
áp Với natri 75-100 mmol/ngày, có thể làm giảm nhẹ được chỉ số HA trong hầu hết các nghiên cứu
Trang 211.2.4 Thuốc lá
Nguy cơ của người hút thuốc lá gây THA cao hơn người không hút thuốc lá 2–4 lần Đối với người đã bị bệnh THA rồi thì dứt khoát nên bỏ thuốc lá vì sau một lần hút HA lại tăng lên
Thuốc lá được xem là chất thúc đẩy quan trọng của THA Trong thuốc
lá có nhiều chất kích thích, đặc biệt là nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và THA, nhiều nghiên cứu cho thấy hút một điếu thuốc lá
có thể làm tăng HATT lên 11mmHg và HATTr lên 9mmHg kéo dài trong 20-30 phút Vì vậy, không hút thuốc lá cũng là một biện pháp phòng bệnh THA Những người bỏ thuốc lá sẽ giảm mạnh nguy cơ bệnh tim mạch 50% trong một năm, nhưng phải ngừng hút thuốc lá 10 năm thì nguy cơ bệnh tim mạch mới giống như những người không hút thuốc lá
đi nhiều lợi ích về tim mạch Một phần thông thường của thức uống có cồn
là 12oz bia hoặc 4 oz rượu vang hoặc 1,5 oz rượu mạnh whiskey (1oz=30mL) chứa khoảng 10-12mL cồn Mức độ an toàn của việc dùng rượu đều đặn đối với THA của người nam là dưới hai phần mỗi ngày Ngoài THA, dùng rượu quá mức còn có khuynh hướng tác dụng đối kháng với hiệu quả hạ áp của các thuốc, ngay cả đối với những bệnh nhân không phải là người nghiện rượu
1.2.6 Yếu tố di truyền
Nhiều thống kê cho thấy: nhiều người THA trong gia đình, họ hàng có THA giống nhau
Trang 22Tính di truyền được xác định trong bệnh THA thông qua các nghiên cứu di truyền quần thể, nghiên cứu trên trẻ sinh đôi cũng như các phân tích phả hệ Tần suất bệnh THA cao từ 2–7 lần ở người có bố hoặc mẹ bị THA
so với quần thể chung Khả năng bệnh THA ở trẻ có bố và mẹ đều THA cao hơn so với trẻ chỉ có bố hoặc mẹ bị THA
Nghiên cứu của Phạm Hùng Lực (2003) cho thấy trong 14,9% người THA ở Đồng bằng sông Cửu Long có 10,5% người có cha THA, 16,8% có
mẹ THA, 3,7% có anh chị em ruột THA và 5,9% có ông bà bị THA Theo nhận định của tác giả là có mối liên quan giữa tăng huyết áp và yếu tố gia đình
1.2.7 Thừa cân, béo phì
Theo nghiên cứu gần đây của Đặng Thị Diệu Hiền và cộng sự tại Huế năm 2008, tỷ lệ THA tăng dần theo BMI, sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê (p=0,002) Phân tích tương quan giữa BMI và THA cho thấy BMI càng cao, khả năng bị THA càng nhiều với nguy cơ tương đối càng tăng Ngoài
ra, khi mức BMI nguy cơ từ 23 Kg/m2 trở lên thì nguy cơ THA cao gấp 1,38 lần so với nhóm không nguy cơ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,026) [6]
Cùng với dân số trở nên già hơn, béo phì trở thành dịch ở Mỹ và tăng nhanh ở tất cả các vùng mà quá trình đô thị hóa đang điễn ra Hơn phân nửa
sự tăng tần suất bệnh là do tăng chỉ số khối cơ thể (BMI: Body Mass Index)
Có sự liên quan chặt chẽ giữa tăng cân và THA Nghiên cứu đoàn hệ trực tiếp trên 80000 phụ nữ cho thấy sự gia tăng trên 5Kg ở tuổi 18 có nguy cơ tương đối THA cao hơn 60% so với người chỉ có tăng cân không quá 2Kg, người tăng cân ≥10Kg có nguy cơ THA cao gấp 2,2 lần theo Kannel và cộng sự, tăng mỗi pounds sẽ làm tăng HATT khoảng 4-5 mmHg [10]
1.2.8 Hoạt động thể lực
Trang 23Hoạt động thể lực đều đặn giúp hạ HA, đồng thời làm giảm các bệnh tim mạch và các bệnh nội khoa khác (đột quỵ, đái tháo đường) Mỗi ngày nên tập luyện thể lực (như đi bộ nhanh, đạp xe, thể dục nhịp điệu) ít nhất 30 phút vào tất cả các ngày trong tuần sự tập luyện đều đặn như vậy sẽ làm giảm HA từ 4-9mmHg [39 ]
Trong một phân tích gộp trên 54 thử nghiệm ngẫu nhiên với tổng số
2419 người tham gia, những người có luyện tập thể dục nhịp điệu có HA giảm trung bình 3,8/2,6mmHg so với những người có lối sống tĩnh tại [32]
1.2.9 Đái tháo đường
Đái tháo đường (ĐTĐ) được xem là một tiêu chuẩn riêng biệt, là một yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch ít nhất hai lần so với nhóm không có ĐTĐ ĐTĐ thường kết hợp với các yếu tố nguy cơ tim mạch khác, thường là rối loạn lipid máu và là yếu tố nguy cơ của THA Trong các nghiên cứu đã ghi nhận tỷ lệ THA ở nhóm có tiền sử ĐTĐ (62,86%) cao hơn nhóm không có tiền sử ĐTĐ (48,86%) với tỷ số chênh 1,77, sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê (p=0,024)
Nghiên cứu tiền cứu ĐTĐ ở Anh quốc (UKPDS) cho thấy giảm HATT 10mmHg sẽ giảm tử vong liên quan đến ĐTĐ 15% Ở người ĐTĐ, tỷ lệ THA là 47,3% cao hơn rõ rệt so với những người không có ĐTĐ là 22,1%,
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,01) ĐTĐ làm tăng nguy cơ THA 1,85 lần và tình trạng THA trên bệnh nhân ĐTĐ đang điều trị là 55,9%
Bệnh ĐTĐ, trong đó chủ yếu là bệnh ĐTĐ typ 2 chiếm 85-95% trong tổng số bệnh nhân ĐTĐ, đang là một trong những bệnh không lây phổ biến nhất trên toàn cầu Theo S.Colagiuly tổng hợp từ nhiều nghiên cứu thì tỷ lệ ĐTĐ typ 2 cứ trong vòng 15 năm lại tăng lên gấp đôi Vì ĐTĐ thường đi kèm với THA, nên việc xác định và điều trị ĐTĐ sớm chắc chắn sẽ tiết kiệm
được chi phí chăm sóc sức khỏe [8]
Trang 241.3 Điều trị tăng huyết áp [23]
1.3.1 Điều trị tăng huyết áp bằng thuốc
Điều trị THA là nhằm mục tiêu giữ cho chỉ số huyết áp nằm trong khoảng bình thường, để tránh sự thay đổi cấu trúc của mạch máu nuôi tim (mạch vành)
và những bệnh liên quan đến THA có nguy cơ tử vong cao như: suy tim; xơ vữa động mạch; đau thắt ngực; nhồi máu cơ tim; loạn nhịp; tai biến mạch máu não; xuất huyết não; suy thận
Tăng huyết áp được xem là kiểm soát tốt khi áp lực động mạch tâm thu và
áp lực động mạch tâm trương đạt được dưới mục tiêu đã xác định theo từng cá nhân, thông thường là < 140/90 mmHg Với người cao tuổi trên 60 tuổi có mục tiêu huyết áp ít khắt khe hơn, tức < 150/90 mmHg
Có nhiều loại thuốc trị THA khác nhau như: Nhóm lợi tiểu (như furosemid, hydrochlorothiazid), Nhóm chẹn beta (như atenolol), Nhóm chẹn kênh canxi (như nifedipin), Nhóm sartan (valsartan), Nhóm chẹn alpha (như prazosin), Nhóm ức chế men chuyển (như captopril)
Bác sĩ sẽ lựa chọn loại thuốc nào để điều trị THA cho một người bệnh tùy theo mức độ THA, những bệnh mắc kèm hoặc những yếu tố nguy cơ tim mạch (như tuổi, thuốc lá, di truyền, đái tháo đường, rối loạn lipid) và ảnh hưởng lên cơ quan đích (não, tim, thận) Ví dụ: nếu có bệnh đái tháo đường kèm theo thì nhóm ức chế men chuyển và nhóm sartan được ưu tiên vì tác dụng của chúng trong việc bảo vệ các tế bào thận
Thường bắt đầu điều trị bằng một thuốc hay một thuốc phối hợp cố định ở liều thấp Theo dõi huyết áp thường xuyên, sau 4 tuần điều trị nếu không có đáp ứng hay có nhiều tác dụng phụ thì cần thiết phải thay đổi liệu pháp: Hoặc là tăng liều, hoặc là thay đổi thuốc, hoặc là kết hợp hai hay ba thuốc trị THA
Kết hợp các thuốc trị THA cho phép đạt được tác dụng bổ trợ, hiệp đồng, dẫn đến giảm huyết áp mạnh và nhanh hơn đồng thời sẽ giảm bớt những tác dụng phụ Nếu dùng dạng phối hợp liều cố định chỉ cần dùng một viên nén mỗi
Trang 25ngày Điều này sẽ giúp cải thiện sự tuân thủ điều trị và sự dung nạp thuốc Thường bác sĩ phải thử nhiều liệu pháp điều trị THA trước khi tìm ra liệu pháp tốt nhất cho một người bệnh
Phân loại và xử trí HA cho người từ 18 tuổi trở lên theo JNC VII (điều trị được quyết định theo mức phân loại HA cao nhất):
- HA bình thường: khuyến khích điều chỉnh lối sống
- Tiền THA: cần điều chỉnh lối sống; không dùng thuốc nếu chưa có chỉ định bắt buộc; sử dụng thuốc khi có chỉ định bắt buộc, (điều trị bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính, Đái tháo đường tới đích HA < 130/80mmHg)
- THA giai đoạn 1: cần điều chỉnh lối sống; dùng lợi niệu typ thiazide cho hầu hết các trường hợp; cân nhắc chọn ức chế men chuyển; chẹn thụ thể angiotensin, chẹn , chẹn kênh calci hoặc phối hợp, khi chưa có chỉ định bắt buộc; cần thuốc chống THA khác (lợi niệu, ức chế men chuyển; chẹn thụ thể angiotensin, chẹn , chẹn kênh calci), khi có chỉ định bắt buộc
- THA giai đoạn 2: hầu hết cần phối hợp 2 thuốc (thường là lợi niệu typ thiazide và ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể angiotensin, hoặc chẹn , hoặc chẹn kênh calci), (khởi trị phối hợp, nên thận trọng ở những người có nguy cơ tụt
HA tư thế đứng); cần thuốc chống THA khác (lợi niệu, ức chế men chuyển, chẹn thụ thể angiotensin, chẹn , chẹn kênh calci), khi có chỉ định bắt buộc
1.3.2 Điều chỉnh lối sống để điều trị THA theo JNC VI và VII:
Duy trì trọng lượng cơ thể bình thường (18,5< BMI < 24,9); sẽ giảm HA: 20mmHg/10kg cân nặng giảm
5-Tuân thủ kế hoạch ăn DASH (Dietary Approaches to Stop Hypertension): ăn
nhiều trái cây, rau và các sản phẩm bơ sữa ít chất béo, giảm mỡ bão hòa và mỡ toàn phần giàu cholesterol (CL); sẽ giảm HA: 8-14mmHg
Giảm natri trong khẩu phần ăn: <100mEg/L (2,4g Na # 6g NaCl); sẽ giảm HA: 2-8mmHg
Trang 26Hoạt động thể lực đều đặn, như đi bộ nhanh, đạp xe đạp (ít nhất 30 phút/ ngày), và hầu hết các ngày trong tuần) đạt 40-60% tiêu thụ oxy tối đa; sẽ giảm HA: 4-9mmHg
Uống rượu mức độ vừa phải: không quá 2 ly rượu nhỏ mỗi ngày, tương đương 30ml ethanol, 720ml bia, 300ml rượu vang; hay 60ml whisky 80 độ rượu cho nam và không quá 15ml ethanol cho nữ và người nhẹ cân; sẽ giảm HA: 2-4mmHg
Duy trì đủ lượng kali (chế độ ăn # 90mmol/ ngày), lượng calci và magnes Ngừng hút thuốc lá
1.4 Tình hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân
Việc tuân thủ dùng thuốc của người bệnh được hiểu là việc người bệnh làm đúng theo chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ Việc tuân thủ dùng thuốc vẫn còn thấp cả trên thế giới và trong nước Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu
về mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh THA và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị Một nghiên cứu năm 2013 tại Thành phố Hồ Chí Minh đã cho biết có tới 70% người bệnh bỏ điều trị sau 6 tháng rời bệnh viện Một nghiên cứu khác tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang 2013 cho thấy 73,2% người bệnh bỏ sót uống thuốc
Các lý do dẫn đến người bệnh không tuân thủ điều trị có thể là: bệnh nhân
sợ hạ huyết áp, sợ tác dụng phụ của thuốc, sợ uống nhiều thuốc, không đủ điều kiện kinh tế, quên uống thuốc, không biết cần uống thuốc liên tục, nghĩ đã khỏi bệnh Phụ nữ ít tuân thủ điều trị hơn nam giới và người trẻ ít tuân thủ điều trị hơn người lớn tuổi
Trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp thay đổi lối sống (như ăn nhạt, vận động) mà vẫn không đưa huyết áp về chỉ số bình thường thì việc bác sĩ
kê một hay nhiều loại thuốc điều trị THA là cần thiết
Sử dụng thuốc đều đặn là cần thiết để đề phòng những cơn THA đột ngột
Trang 27Nếu quên dùng thuốc thì tốt hơn hết nên dùng lại thuốc sớm nhất có thể trong ngày, không dùng liều gấp đôi vào ngày hôm sau
Trong trường hợp di chuyển hay du lịch (nhất là ra nước ngoài) cần phải tăng cường theo dõi huyết áp và nghĩ đến việc mang theo thuốc Một mặt nếu có chênh lệch giờ nhiều thì tốt hơn hết nên tiếp tục dùng thuốc theo giờ của nơi đến (thường buổi sáng), mặt khác tránh quên dùng thuốc vì giá trị huyết áp tăng rất cao trong ngày
Không bao giờ dừng điều trị và dự trù đúng lúc việc mua thuốc bổ sung Nên tự đo huyết áp thường xuyên bằng máy đo huyết áp tại nhà để nhằm cải thiện sự tuân thủ điều trị, nhất là những ngày trước khi đi khám bác sĩ
Nếu gặp những tác dụng không mong muốn khiến người bệnh không muốn dùng thuốc, cần thông báo cho bác sĩ hay dược sĩ để cân nhắc xử lý và lựa chọn thuốc phù hợp hơn
Ngoài tuân thủ dùng thuốc, người bệnh cần phải tuân thủ chế độ ăn (ăn nhạt tối đa 2g muối/ngày, hạn chế thức ăn chứa cholesterol, acid béo bão hòa),
bỏ hút thuốc lá và hạn chế uống rượu, nên vận động nhẹ (ví dụ đi bộ 30-60 phút/ngày)
Trong trường hợp THA được kiểm soát tốt nên theo dõi huyết áp và khám tim mạch 3 đến 6 tháng một lần
Xét nghiệm creatinin và ion đồ máu thỉnh thoảng được yêu cầu bổ sung, nhất là khi người bệnh đang được điều trị bằng thuốc lợi tiểu hoặc thuốc ức chế men chuyển
Xét nghiệm protein niệu được khuyến cáo 1 lần/mỗi 5 năm
Kiểm tra chức năng thận 1 lần/mỗi 1 đến 2 năm
Đo đường huyết và mỡ máu 1 lần/ 3 năm
Điện tâm đồ được khuyến cáo 1 lần/3 năm
Tất cả các xét nghiệm có thể được thực hiện thường xuyên trong các trường hợp bệnh lý đi kèm như đái tháo đường, bệnh động mạch vành, suy thận
Trang 28Người bệnh cần đến gặp bác sĩ điều trị khi xuất hiện các triệu chứng sau: + Đau nửa đầu, rối loạn thị giác, chảy máu cam, chảy máu niêm mạc lặp
đi lặp lại
+ Hạ huyết áp khi đứng dậy đột ngột
+ Mệt mỏi quá mức và chóng mặt khi dùng thuốc điều trị THA
+ Chỉ số huyết áp bất bình thường đột ngột
1.5 Nghiên cứu hình tuân thủ điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân
Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Mai Tranh (2012) về tỷ lệ tuân thủ việc dùng thuốc điều trị tăng huyết áp và các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ điều trị THA ở bệnh nhân cao tuổi tại Bệnh viện Quận 7 TP.HCM cho thấy tỷ lệ không tuân thủ điều trị 75% Nguyên nhân kém tuân thủ điều trị bao gồm: Không đủ điều kiện kinh tế (43%), quên uống thuốc (36%), không biết cần uống thuốc liên tục (34%), sợ uống nhiều thuốc (31%), nghĩ đã khỏi bệnh (23%) chiếm một tỉ lệ đáng chú ý trong các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị gồm: BHYT, tình trạng hôn nhân, tuổi, bệnh mạn tính kèm theo, BS tư vấn, áp dụng biện pháp không dùng thuốc [29]
Nghiên cứu của tác giả Đào Thị Lan (2014) về tình hình tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA tại Tây Ninh cho thấy có 86% bệnh nhân tuân thủ điều trị hoàn toàn và 70,5% bệnh nhân đạt HA mục tiêu sau thời gian điều trị Sau thời gian điều trị các chỉ số về huyết áp, đường huyết, cholesterol và triglycerit đều giảm Bệnh nhân tuân thủ hoàn toàn có sự thay đổi các chỉ số sinh học tốt hơn so với nhóm bệnh nhân không tuân thủ không hoàn, sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê 1% bệnh nhân sau điều trị cả huyết áp tâm thu (HATT) và huyết áp tâm trương (HATTr) đều tăng 9,5% sau điều trị HATT và HATTr không thay đổi và 44% sau điều trị HATT và HATTr đều giảm Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị khá cao Bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt có thể vừa kiểm soát được huyết áp vừa
Trang 29kiểm soát được một số chỉ số cholesterol, triglycerit và glucose ở mức tốt hơn [14]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2013) tại khoa Khám Bệnh Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương TP.HCM năm 2012 cho thấy tỉ lệ tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp là 69,4% Có mối liên quan giữa sự tuân thủ dùng thuốc với các yếu tố: tuổi, thời gian điều trị tăng huyết áp và có bệnh đái tháo đường kèm theo (p<0,05) Cụ thể, bệnh nhân ≥ 60 tuổi, thời gian điều trị trên 5 năm và kèm bệnh đái tháo đường có tỉ lệ tuân thủ dùng thuốc cao hơn
Từ đó, tác giả đã kiến nghị tại khoa Khám bệnh của các bệnh viện nên có chương trình giáo dục và biện pháp thích hợp để nâng cao khả năng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp, giúp hỗ trợ tốt hơn cho công tác dự phòng biến chứng của bệnh [4]
Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Nhi (2016) về tỷ lệ bệnh nhân THA có sự tuân thủ điều trị và các yếu tố có liên quan đến việc tuân thủ điều trị của các bệnh nhân THA tại xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cho thấy tuân thủ điều trị theo thang đo MMAS-8 trên 232 bệnh nhân có tỷ lệ 48,3% Tỷ lệ nam giới tuân thủ điều trị dùng thuốc THA bằng 0,73 lần so với nữ giới (p=0,03) Bệnh nhân trong độ tuổi từ 65 trở lên có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao 2,02 lần so với nhóm trong độ tuổi dưới 55 (p=0,001) Thời gian mắc bệnh từ 5 năm trở lên có sự tuân thủ điều trị cao hơn 2,23 lần so với nhóm có thời gian mắc bệnh dưới 2 năm [21]
Nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Uyên Ly (2016) khảo sát sự tuân thủ điều trị dùng thuốc và điều trị thay đổi lối sống của bệnh nhân tăng huyết áp (THA) điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai về việc tuân thủ điều trị có đến 91,6% bệnh nhân uống thuốc thường xuyên; 90,9% tái khám khi hết thuốc Tỉ lệ bệnh nhân biết kiêng: mặn (79,1%),mỡ (81,3%),thuốc
lá (64,5%), rượu bia (43,5%) Có 44,2% bệnh nhân tập thể dục thường xuyên
Trang 30Nhận thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị bằng thuốc cao, trong khi tỷ lệ điều trị bằng thay đổi lối sống còn thấp [17]
Tác giả Ngô Văn Kiệp (2017) nghiên cứu thực trạng tuân thủ điều trị của người cao tuổi tại huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh năm 2017 cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị chung là 53,0%; tuân thủ chế độ ăn 56,5%; tuân thủ chế độ uống rượu, bia 49,0%; tuân thủ việc bỏ thuốc lá 42,0%; tuân thủ luyện tập thể dục 29,5%; tuân thủ uống thuốc 90,0%; tuân thủ tái khám đều đặn theo lịch 85,0%; theo dõi huyết áp hằng ngày 18,0 % Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu chung: 70,5%; người tuân thủ đạt huyết áp mục tiêu 81,1%, người không tuân thủ đạt huyết áp mục tiêu 58,5% Nghiên cứu của tác giả cho tháy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị chiếm tỷ lệ thấp (25%) Nguyên nhân kém tuân thủ chiếm hàng đầu là không
đủ điều kiện kinh tế Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị: BHYT, tình trạng hôn nhân, tuổi, bệnh mạn tính kèm theo, BS tư vấn, áp dụng biện pháp không dùng thuốc [11]
Tác giả Thạch Thị Mỹ (2019) nghiên cứu tỷ lệ tuân thủ điều trị, và một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp người dân tộc Khmer tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Cầu Ngang tỉnh Trà Vinh cho kết quả: tỷ lệ tuân thủ uống thuốc chiếm 76,7%, tuy nhiên có 66,9% đối tượng đã từng quên thuốc Khoảng 96,6% đối tượng tuân thủ điều trị ở mức độ trung bình
và thấp Tỷ lệ của những thực hành thay đổi lối sống: 34,0% bệnh nhân có uống rượu bia trong 12 tháng qua, tỷ lệ lạm dụng rượu 27,6%, 27,9% hiện đang hút thuốc lá Những yếu tố làm tăng mức độ tuân thủ điều trị bằng thuốc: thời gian điều trị càng dài, nghề nghiệp và kiến thức đúng về điều trị bệnh tăng huyết áp [18]
Qua các nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị tăng huyết áp ở mức độ thấp, có nhiều yếu tố liên quan đến việc kém tuân thủ điều trị ở bệnh nhân Vì thế việc nghiên cứu các yếu tố liên quan đến
Trang 31tuân thủ điều trị và xây dựng các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe
về tuân thủ điều trị tăng huyết áp cần phải được quan tâm nhiều hơn
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên đã được chẩn đoán THA và điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân từ 60 tuổi được chẩn đoán tăng huyết áp nguyên phát theo khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam (2018) [13], có HATT ≥140mmHg va/hoặc HATTr ≥90 mmHg đến khám tại khoa khám bệnh - bệnh tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ lần thứ 2 trở lên
Đồng ý và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân THA thứ phát: hội chứng Cushing, u tủy thượng thận, cường aldosteron tiên phát, cường cận giáp, đang mắc các bệnh cấp tính, bệnh thận, bệnh cầu thận, mạch máu thận, đang dùng liệu pháp steroid, đang sử dụng nội tiết tố
Những đối tượng nghe kém và không trả lời chính xác câu hỏi
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Thời gian nghiên cứu từ tháng 08/2018 đến tháng 08/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước tính cỡ mẫu 1 tỷ lệ [15]:
n
= 374
Trang 332.2.4 Nội dung nghiên cứu
Đặc điểm chung của bệnh nhân
- Tuổi: là tuổi tính bằng cách lấy số năm hiện tại trừ đi năm sinh và xếp làm 3 nhóm theo 10 năm
Trang 34+ Nghèo (có sổ hộ nghèo do UBND cấp)
+Không nghèo (không có sổ hộ nghèo do UBND cấp)
- Thời gian mắc bệnh:
+ Dưới 2 năm
+ Từ 2-5 năm
+ Trên 5 năm
Biến chứng của bệnh tăng huyết áp:
Các biến chứng của tăng huyết áp: thông qua khám lâm sàng và kết quả cận lâm sàng:
- Các biến chứng về tim: Cơn đau thắt ngực, dày thất trái, nhồi máu cơ tim, suy tim…
- Các biến chứng về não: Xuất huyết não, nhũn não, cơn đột qụy thoáng qua, bệnh não do THA…
- Các biến chứng về thận: Đái ra protein, suy thận…
- Các biến chứng về mắt: Mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị…
- Các biến chứng về mạch máu: Phình hoặc phình tách thành động mạch, các bệnh động mạch ngoại vi…
Trang 35Tuân thủ điều trị không dùng thuốc
- Thói quen ăn nhạt:
+ Có: không ăn thực phẩm mặn nhiều hơn những người khác trong gia đình
+ Không: ăn thực phẩm mặn nhiều hơn những người khác trong gia đình
- Giảm cân nặng:
+ Có: Cân nặng giảm hoặc duy trì ổn định trong 1 tháng nay
+ Không: Tăng cân không kiểm soát trong 1 tháng nay
- Hạn chế ăn mỡ động vật:
+ Có: ăn 1-3 lần mỗi tuần hoặc ít hơn
+ Không: ăn trên lần mỗi tuần hoặc nhiều hơn
- Tần suất tiêu thụ rau, trái cây, chất xơ:
+ Có: thường xuyên: ăn rau, trái cây, chất xơ hằng ngày
+ Không: ít hoặc không ăn rau, trái cây, chất xơ
- Uống rượu bia vừa phải ở nam giới: dựa trên cốc tiêu chuẩn, tương đương với 330 ml bia 5% ethanol, hoặc 140 ml rượu vang 10 – 12 % ethanol, hoặc 40 ml rượu mạnh 30/40% ethanol:
+ Có: ≤3 cốc chuẩn/ngày hoặc ≤14 cốc chuẩn/tuần
+ Không: >3 cốc chuẩn/ngày hoặc >14 cốc chuẩn/tuần
- Tăng cường vận động:
+ Có: hoạt động thể lực đều đặn 30-60 phút/ngày, 4-7 ngày/tuần (chạy bộ, đi bộ nhanh, đi xe đạp…) Nếu là người lao động hoặc nội trợ làm công việc nhà thường xuyên được tính là có vận động + Không: ít hơn 30-60 phút/ngày, 4-7 ngày/tuần
- Ngưng/Không hút thuốc lá
+ Có: không hoặc ngưng hút
Trang 36+ Không: Vẫn còn đang hút
- Bệnh nhân tuân thủ điều trị không dùng thuốc là có sử dụng các biện pháp kiểm soát lối sống: Ăn nhạt, giảm cân nặng, hạn chế ăn mỡ động vật, ăn nhiều rau, chất xơ, hạn chế sử dụng rượu bia, tăng cường vận động thể lực và không hút thuốc lá
- Mức độ tuân thủ điều trị không dùng thuốc
+ Tuân thủ không dùng thuốc tốt: Nữ: 3/5 yếu tố là tốt; Nam: 4/7 là tốt + Tuân thủ không dùng thuốc trung bình: Nữ 2/5 là trung bình; Nam: 3/7
là trung bình
+ Tuân thủ không dùng thuốc kém: Nữ dưới 2 là kém; Nam: dưới 2 là kém
Tỷ lệ tuân thủ điều trị không dùng thuốc chung là tỷ lệ tuân thủ điều trị tốt
Tuân thủ điều trị dùng thuốc
- Uống thuốc thường xuyên:
+ Tốt: uống thuốc mỗi ngày hoặc chỉ bỏ thuốc 1 lần trong đợt điều trị
+ Chưa tốt khi bỏ ≥ 2 lần dùng thuốc trong đợt điều trị
- Uống thuốc đúng liều:
+ Tốt: uống đủ số viên thuốc/lần và đủ số lần/ngày theo toa
+ Chưa tốt: không uống đủ số viên thuốc/lần hoặc đủ số lần/ngày theo toa
Trang 37- Bệnh nhân tự ý ngưng thuốc thuốc
+ Có: bệnh nhân tự ý ngưng thuốc
+ Không: bệnh nhân không tự ý ngưng thuốc
- Bệnh nhân tuân thủ điều trị dùng thuốc:
+ Uống thuốc thường xuyên
+ Uống thuốc đúng liều
+ Tái khám đúng hẹn
+ Uống thuốc có sự theo dõi của bác sĩ
+ Không tự ý mua thuốc
+ Không tự ý ngưng thuốc
- Mức độ tuân thủ điều trị dùng thuốc
+ Tuân thủ dùng thuốc tốt: tuân thủ 6/6
+ Tuân thủ dùng thuốc trung bình: tuân thủ 5/6
+ Tuân thủ dùng thuốc kém: tuân thủ < 5
Tỷ lệ tuân thủ điều trị dùng thuốc chung là tỷ lệ tuân thủ điều trị tốt
Tình hình kiểm soát bệnh tăng huyết áp
Mức huyết áp mục tiêu đạt được trên các đối tượng nghiên cứu dựa theo khuyến cáo 2008 của hội tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán, điều trị tăng huyết áp ở người lớn và sách chuyên khảo tăng huyết áp trong thực hành lâm sàng 2008 của tác giả Đặng Vạn Phước[23], đối tượng nghiên cứu được kiểm soát huyết áp khi:
+ HATTh/HATTr trên người không ĐTĐ là <140/85 mmHg
+ HATTh/HATTr trên người có ĐTĐ <130/80 mmH
Trang 38Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp
- Tình trạng phối hợp thuốc của bệnh nhân:
3 Sống với con cái
4 Sống với người thân khác
- Kiến thức về những biến chứng nguy hiểm của bệnh tăng huyết áp:
1 Biến chứng về não: Tai biến mạch máunão, cơn thiếu máu não
2 Biến chứng về tim: Suy tim, bệnh mạchvành, đau thắt ngực
3 Biến chứng về thận: Protein niệu, suy thận
Trang 393 Khác
- Những khó khăn khi thực hiện:
1 Hay quên uống thuốc
2 Cảm thấy khó chịu vì tác dụng phụ của thuốc
- Nguồn tiếp nhận thông tin về bệnh THA của bệnh nhân
1 Phương tiện truyền thông (tivi, đài, internet…)
2 Cán bộ y tế
3 Người thân, bạn bè
4 Khác
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Tiếp cận bệnh nhân đến khám hằng ngày tại phòng khám liên tiếp trong vòng 1 tháng Khi gặp đối tượng sẽ thực hiện tư vấn, đo huyết ấp, cân nặng, chiều cao và phỏng vấn trực tiếp
Bệnh nhân được phỏng vấn trực tiếp theo bảng câu hỏi soạn sẵn, được khám đo chiều cao, cân nặng, huyết áp và ghi nhận thông tin
Đánh giá biến chứng bằng khám bệnh và xét nghiệm cận lâm sàng
Đo huyết áp bằng máy đo huyết áp cơ Microlife BP AG1 – 20 (đã được kiểm chuẩn)
Ghi nhận việc tuân thủ điều trị tăng huyết áp của bệnh nhân qua phỏng vấn và sổ điều trị ngoại trú (nếu có)
2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Trang 40- Máy đo huyết áp cơ Microlife BP AG1 – 20
- Bộ câu hỏi phỏng vấn chi tiết về nhận biết và điều trị tăng huyết áp, kiến thức và các thói quen về lối sống có ảnh hưởng đến việc kiểm soát huyết áp như: giảm cân nặng, giảm ăn mặn, giảm chất béo, tăng cường rau, trái cây, tăng cường vận động, giảm uống rượu, ngưng hút thuốc, tuân thủ điều trị dùng thuốc kiểm soát huyết áp: dùng thuốc thường xuyên, đúng liều, tái khám đúng hẹn
2.2.5.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Dữ liệu được thu thập bằng phương pháp:
- Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân theo bộ câu hỏi chi tiết về kiến thức và thực hành về tuân thủ dùng thuốc
Kỹ thuật đo huyết áp:
- Bệnh nhân ngồi nghỉ ít nhất 5 phút trước khi đo, không được uống cà phê 1 giờ trước đó, không hút thuốc 30 phút trước đó và không sử dụng các thuốc cường giao cảm Đối tượng ngồi yên tĩnh trên ghế có tựa lưng, nới lỏng tay áo, tay kê ở mức ngang tim Thả lỏng tay và không nói chuyện trong khi đo
- Kích thước túi hơi: dùng băng quân tay đạt tiêu chuẩn Bao hơi chiếm 80% diện tích cánh tay Sử dụng âm thanh pha I và V của Korotkoff để xác định huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương, nếu không nghe được pha V chọn pha
IV thay thế Nếu nghe tiếng Korotkoff quá yếu: cho đối tượng giơ cao tay rồi nằm, xỏe bàn tay 5 – 10 lần để đo lại[9]
- Đo 2 lần, cách nhau ít nhất 2 phút Tính huyết áp dựa trên số trung bình giữa 2 lần đo Nếu giữa 2 lần đo đầu tiên chệnh lệch hơn 5mmHg thì đo thêm lần thứ 3, trị số huyết áp cũng lấy trị số trung bình của cả 3 lần đo Đo huyết áp cả 2 tay Nếu có sự chênh lệch, lấy huyết áp ở tay cao hơn
2.2.6 Phương pháp hạn chế sai số
- Dụng cụ đo được chuẩn định trước khi nghiên cứu
- Đo huyết áp và các chỉ số nhân trắc được thực hiện bởi cùng một người
để hạn chế sai số giữa các lần đo