TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG, CHỐNG BỆNH TAY-CHÂN-MIỆNG CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG, CHỐNG BỆNH TAY-CHÂN-MIỆNG CỦA BÀ
MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
CAN THIỆP TẠI HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
HUỲNH DIỄM PHÚC PGS TS TRẦN ĐỖ HÙNG
Cần Thơ, năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG, CHỐNG BỆNH TAY-CHÂN-MIỆNG CỦA BÀ
MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
CAN THIỆP TẠI HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Chủ nhiệm đề tài: HUỲNH DIỄM PHÚC
Thành viên tham gia:
KIM NGỌC PHƯƠNG BÌNH NGUYỄN THỊ SƠN CA
NGUYỄN TRẦM HÀ CHÂU TRẦN QUYÊN CHI
Cán bộ hướng dẫn: PGS TS TRẦN ĐỖ HÙNG
Cần Thơ, năm 2018
Trang 3Trang Lời cam đoan
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16 2.2 Phương pháp nghiên cứu 16 2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 27
3.1 Đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu 28 3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà
3.3 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống bệnh chân-miệng với đặc tính chung của bà mẹ có con dưới 5 tuổi 37 3.4 Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi sau can thiệp bằng truyền thông giáo
4.1 Đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu 45
Trang 44.3 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống bệnh chân-miệng với đặc tính chung của bà mẹ có con dưới 5 tuổi 53 4.4 Đánh giá sự thay đổi kiến thức-thái độ-thực hành phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi sau can thiệp bằng truyền thông giáo
Trang 5A5, A7, A9,
A10, B2, và B5
Subtype của CA16
ARN Acid ribonucleic
CA 16 Coxsackievirus A 16
C1, C2, C3,
C4, C5
Subtype của EV71
CDC Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh (Center for
Disease Control) EV71 Enterovirus 71
HFMD Bệnh Tay-chân-miệng (Hand, foot and mouth
disease) KAP Kiến thức, thái độ, thực hành
TCM Tay-chân-miệng
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (United Nations
Children’s Fund) VNRC Hội Chử Thập đỏ Việt Nam (The Viet Nam Red
Cross Society) WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health
Organization)
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Đặc tính chung của bà mẹ có con dưới 5 tuổi (n = 420) 28
Bảng 3.2 Kiến thức về đối tượng dễ mắc bệnh Tay-chân-miệng 29
Bảng 3.3 Kiến thức về nguyên nhân mắc bệnh Tay-chân-miệng 29
Bảng 3.4 Kiến thức về bệnh Tay-chân-miệng nguy hiểm đến tính mạng 30
Bảng 3.5 Kiến thức về dấu hiệu nghi mắc bệnh Tay-chân-miệng 30
Bảng 3.6 Kiến thức về nơi thường xảy ra bệnh Tay-chân-miệng 31
Bảng 3.8 Kiến thức về rửa tay đúng theo hướng dẫn của y tế 31
Bảng 3.9 Kiến thức về bệnh Tay-chân-miệng 32
Bảng 3.10 Kiến thức về dấu hiệu cần đưa trẻ đến bệnh viện điều trị 32
Bảng 3.11 Kiến thức chung về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng 32
Bảng 3.12 Có kiến thức phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng 33
Bảng 3.13 Thái độ về rửa tay trước và sau khi chế biến thức ăn 33
Bảng 3.14 Thái độ về rửa tay sau khi đi vệ sinh 34
Bảng 3.15 Thái độ về rửa tay sau khi thay tã lót, quần áo cho trẻ 34
Bảng 3.16 Thái độ về rửa tay cho trẻ 34
Bảng 3.17 Thái độ về rửa các đồ chơi của trẻ 34
Bảng 3.18 Thái độ về hạn chế đưa trẻ đến mẫu giáo khi có trẻ bị bệnh 35
Bảng 3.19 Thái độ chung về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng 35
Bảng 3.20 Thực hành về rửa tay trước và sau khi nấu 35
Bảng 3.21 Thực hành rửa tay sau khi đi vệ sinh 35
Bảng 3.22 Thực hành về rửa tay sau khi thay tã lót, quần áo cho trẻ bằng nước sạch và xà phòng 36
Bảng 3.23 Thực hành về rửa tay cho trẻ 36
Bảng 3.24 Thực hành về rửa tay đúng theo hướng dẫn của y tế 36
Trang 7Bảng 3.26 Thực hành thường xuyên vệ sinh, lau nhà cửa, bàn ghế, nơi sinh hoạt của trẻ 37Bảng 3.27 Thực hành chung về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng 37Bảng 3.28 Mối liên quan giữa kiến thức phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng với đặc tính chung của bà mẹ có con dưới 5 tuổi 37Bảng 3.29 Mối liên quan giữa thực hành phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng với đặc tính chung của bà mẹ có con dưới 5 tuổi 38Bảng 3.30 So sánh kiến thức phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi sau can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe 39Bảng 3.31 So sánh thái độ phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi sau can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe 40Bảng 3.32 So sánh thực hành phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi sau can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe 41Bảng 3.33 So sánh kiến thức phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở nhóm can thiệp 42Bảng 3.34 So sánh thái độ phòng, chống bệnh 43Bảng 3.35 So sánh thực hành phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở nhóm can thiệp 43
Trang 8Trang
Biểu đồ 1.1 Diễn biến tình hình mắc bệnh Tay-chân-miệng theo tháng tại khu vực phía Nam năm 2011 [30] 10Biểu đồ 1.2 Phân bố theo tỉnh số tử vong do bệnh TCM tại khu vực phía Nam năm 2011 [30] 10Biểu đồ 1.3 Tình hình mắc/100.000 dân do bệnh TCM tại các huyện thuộc Thành phố Cần Thơ năm 2011 so với cùng kỳ [22] 11Biểu đồ 1.4 Tình hình mắc, chết do bệnh TCM tại Thành phố Cần Thơ giai đoạn (2006 - 2011) [22] 11Biểu đồ 1.5 Tỉ lệ trẻ có kháng thể trung hòa EV71 theo tuổi [6] 13
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, bệnh Tay-chân-miệng không chỉ là mối quan tâm của mỗi gia đình, mà toàn xã hội đang được báo động bởi diễn biến dịch bệnh bất thường, tạo nên áp lực rất lớn cho hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới Bệnh Tay-chân-miệng hiện lưu hành ở nhiều nước,
có xu hướng tăng và duy trì ở mức cao trong nhiều năm gần đây tại một số quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực châu Á như: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc… Tại Việt Nam, năm 2011 được xem là năm bùng phát bệnh Tay-chân-miệng với số ca mắc cao nhất sau 8 năm xuất hiện, cao hơn 6,5 lần so với năm 2010 Từ đầu năm 2017, số ca mắc vẫn tăng cao với diễn biến ngày càng phức tạp đòi hỏi phải có những hành động cụ thể và quyết liệt của ngành Y tế và toàn xã hội [31]
Việc kiểm soát bệnh chủ yếu thông qua công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, tuyên truyền các biện pháp phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng Vấn đề là kiến thức, thói quen thực hành rửa tay thường xuyên, vệ sinh, khử khuẩn là những việc đòi hỏi sự tham gia của từng người dân và toàn xã hội, không chỉ riêng ngành
y tế [3], [7] Năm 2011, cả nước đã phát hiện 108.917 ca mắc bệnh miệng tại 63/63 tỉnh, thành phố và có 164 ca tử vong tại 30 tỉnh, thành phố Việt Nam đã triển khai các biện pháp phòng chống với nỗ lực giảm sự lây nhiễm bệnh Tay-chân-miệng trong cộng đồng [23] Tại thành phố Cần Thơ, theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng thành phố, có 1.141 ca bệnh Tay-chân-miệng và 01 ca
Tay-chân-tử vong, là năm có số ca mắc tăng hơn 7 lần so với cùng kỳ Cờ Đỏ là huyện thuộc thành phố Cần Thơ, ghi nhận có 51 ca mắc bệnh Tay-chân-miệng tăng 46 ca so với cùng kỳ và có 01 ca tử vong [22] Năm 2017, công tác truyền thông giáo dục sức khỏe được nhấn mạnh, các phương tiện truyền thông được sử dụng đa dạng
và rộng khắp từ Trạm y tế, khu vực nhà trẻ, trường học, đến khu vực dân cư, hộ
Trang 10dân Đây là chiến lược mới nhằm kiểm soát bệnh Tay-chân-miệng đòi hỏi sự tham gia của mỗi cá nhân, gia đình thông qua việc tạo lập một hành vi đúng mới và cũng là một quá trình rất khó khăn, lâu dài để cá nhân chủ động chuyển đổi hành
vi dưới tác động của truyền thông [26] Như vậy, sau gần một năm chuyển đổi chiến lược kiểm soát bệnh Tay-chân-miệng cùng với diễn biến dịch bệnh phức tạp như hiện nay, chúng ta rất cần thực hiện đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành
về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi, để có những hướng dẫn, những thông điệp truyền thông cụ thể, phù hợp nhất, nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng cũng như phòng, chống các dịch bệnh khác
Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại huyện Cờ
Đỏ thuộc thành phố Cần Thơ Đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi và đánh giá hiệu quả can thiệp tại huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ”, với các mục tiêu như sau:
1 Xác định tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng tại huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ năm
2 Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi với các đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu
3 Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống bệnh chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi sau can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe
Trang 11Tay-Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh Tay-chân-miệng
1.1.1 Khái niệm chung về bệnh Tay-chân-miệng
Bệnh Tay-chân-miệng (TCM) là một bệnh phổ biến ở trẻ em dưới 5 tuổi Tuy nhiên, trong những năm gần đây bệnh cũng xảy ra ở người lớn Trẻ mắc bệnh thường sốt trong 3 - 4 ngày và sau đó xuất hiện những nốt mụn bóng nước trên niêm mạc miệng, lợi, vòm họng, bàn tay, chân và mông Bệnh Tay-chân-miệng được gây ra bởi nhiễm enterovirus cấp, đặc biệt là do vi rút thuộc enterovirus týp
71 (EV71) [35], [37], [39], [56] Ngoài ra, bệnh Tay-chân-miệng còn do coxsackievirus A16 (CA16) gây ra [36], [40], [41], [45]
Vi rút EV71 thường gây sốt, đau họng và mụn nước ở bàn tay, bàn chân Bệnh thường ở mức độ nhẹ và hồi phục trong vòng 7 - 10 ngày Bệnh do EV71
có thể gây các biến chứng nặng như viêm màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp
và có liên quan đến di chứng thần kinh nghiêm trọng Từ năm 1997, đã có một sự gia tăng đáng kể trong hoạt động dịch bệnh TCM trong các nước ở khu vực châu
Á - Thái Bình Dương [43], [48], [49]
1.1.2 Tác nhân gây bệnh Tay-chân-miệng
Bệnh TCM (HFMD) do nhóm vi rút đường ruột gây bệnh cho người bao gồm: Poliovirus, Coxsackievirrus A (24 chủng), Coxsackievirus B (6 chủng), Echovirus và enterovirus 68-71 Trong đó, các vi rút gây bệnh TCM là 11 chủng thuộc Coxackievirus A (từ 2 đến 8, 10, 12, 14, 16); 4 chủng thuộc Coxsackievirus
B (1, 2, 3, 5) và EV71, trong đó phổ biến nhất là CA16 và EV71 Bệnh TCM do các chủng enterovirus khác thường ở thể nhẹ ít có biến chứng, nhưng do EV71 nguy hiểm hơn và thường gây các biến chứng thần kinh nặng và có thể dẫn đến
tử vong Vi rút dạng hình cầu đối xứng 20 mặt, đường kính 27 - 30 nm, không có
Trang 12lớp vỏ bao ngoài, bên trong chứa sợi đơn ARN (acid ribonucleic) [8], [15], [34], [43]
- Coxsackievirus A16:
Nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh TCM là coxsackievirus A16 [6], [35], [50], [52] Tuy nhiên, nó cũng có thể gây bệnh bởi những tác nhân khác nhau là: coxsackievirus A5, A7, A9, A10, B2, và B5 [36], [41], [43] Vi rút coxsackie phân phối trên toàn thế giới, có thể được phân lập quanh năm ở vùng khí hậu nhiệt đới Lần đầu tiên được phân lập trong phân người tại thị trấn Coxsackie, New York năm 1948 bởi G Dalldorf Vi rút Coxsackie thuộc một phân nhóm của Enterovirus, chỉ có một chuỗi ARN làm vật liệu di truyền
- Enterovirus týp 71 (EV71):
EV71 đã xuất hiện khá lâu, từ những năm của thập niên 1960 của thế kỷ trước, nhưng chỉ gây ra một vài ca lẻ tẻ Lần đầu tiên người ta phát hiện EV71 ở Mỹ Sau đó, EV71 xuất hiện ở châu Âu, rải rác ở châu Á [47], [59]
Enterovirus týp 71 phân lập lần đầu tiên vào năm 1969, đã chịu trách nhiệm cho nhiều dịch bệnh TCM với một tỷ lệ nhỏ các trường hợp liên quan đến bệnh thần kinh Từ năm 1997, đã có một sự gia tăng đáng kể tỷ lệ nhiễm và độc lực của EV71 trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương [48], [55] Đợt bùng phát dịch bệnh TCM chủ yếu là lành tính, xảy ra tại Nhật Bản vào năm 1973 và 1978 Bốn dịch với viêm não thân não và một số lượng đáng kể các ca tử vong xảy ra ở Bulgaria và Hungary vào cuối những năm 1970 và tại Malaysia, Đài Loan vào năm 1997 và 1998 Trong hai dịch bệnh này, phù phổi và xuất huyết thường dẫn đến tử vong nhanh chóng ở trẻ em tuổi từ 6 tháng đến 3 năm tuổi lần đầu tiên được công nhận [42] Nếu do vi rút coxsackie A16 gây ra thường bệnh ở dạng nhẹ
và tự khỏi không cần điều trị trong khoảng từ 7 - 10 ngày Hiếm khi có biến chứng viêm màng não vi rút Nhưng nếu là do enterovirus týp 71 thì rất nguy hiểm hơn,
Trang 13bởi bệnh có thể gây viêm màng não, viêm não, liệt dễ dẫn đến tử vong nếu phát hiện và điều trị muộn [19], [20], [39]
Tại Việt Nam, Coxsackievirus A16 và Enterovirus týp 71 là hai tác nhân chủ yếu Các chủng EV71 lưu hành ở khu vực phía Nam từ năm 2003 thuộc các nhóm và phân nhóm C1, C2, C3, C4 và C5 Phân nhóm C5 được ghi nhận lần đầu tiên ở miền Nam Việt Nam và cũng là lần đầu tiên trên thế giới từ năm 2003 Không có sự khác biệt về mức độ nặng nhẹ trên lâm sàng giữa các nhóm và phân nhóm của EV71 [1], [3], [27]
1.1.3 Dịch tễ học bệnh Tay-chân-miệng
1.1.3.1 Định nghĩa
Bệnh TCM là một hội chứng bệnh ở người do vi rút đường ruột họ Picornaviridae gây ra Giống vi rút gây bệnh TCM phổ biến nhất là Coxsackievirus A và Enterovirus týp 71 [4], [54], [57] Đây là một bệnh thường gặp ở nhũ nhi và trẻ em Bệnh thường được đặc trưng bởi sốt, đau họng và nổi ban có bọng nước Một đến hai ngày sau khi xuất hiện sốt trẻ bắt đầu đau miệng Ban da xuất hiện trong vòng 1 đến 2 ngày với các tổn thương phẳng trên da hoặc
có thể gồ lên, máu đỏ và một số hình thành bọng nước, ban điển hình thường xuất hiện ở các vị trí tay, chân và miệng, có thể xuất hiện ở mông
1.1.3.2 Phương thức lây truyền
Bệnh TCM là một bệnh rất dễ lây truyền Giai đoạn lây truyền nhiều nhất
là tuần đầu tiên mắc bệnh Bệnh TCM không phải là bệnh lây truyền từ động vật sang người Người bệnh hay người mang mầm bệnh truyền nhiễm không triệu chứng là những ổ chứa tác nhân gây bệnh Vi rút có mặt sớm nhất ở dịch tiết trong họng khoảng từ 5-7 ngày Vi rút có trong dịch tiết của các mụn nước từ 1-2 tuần
và có thể tồn tại trong phân tới hơn 1 tháng Bệnh có thể lây từ người sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp với chất tiết từ mũi, họng, nước bọt, mụn nước hoặc phân của người bị nhiễm Enterovirus có thể lây truyền ngay từ khi phơi nhiễm
Trang 14với vi rút trong thời kỳ ủ bệnh, khả năng lây truyền cao nhất là từ 5 đến 7 ngày sau khi phát bệnh [2], [8], [10], [27]
1.1.3.3 Tuổi mắc bệnh
Bệnh Tay-chân-miệng xảy ra chủ yếu ở trẻ em dưới 5 tuổi Tuy nhiên, cũng có thể gặp ở cả người trưởng thành Mọi người đều có thể nhiễm vi rút nhưng không phải tất cả những người nhiễm vi rút đều biểu hiện bệnh Trẻ nhũ nhi, trẻ
em và thiếu niên là những đối tượng dễ bị nhiễm bệnh và biểu hiện bệnh nhất vì chúng chưa có kháng thể chống lại bệnh này Nhiễm bệnh có thể tạo nên kháng thể đặc hiệu chống vi rút gây bệnh, tuy nhiên bệnh vẫn có thể tái diễn do một chủng vi rút khác gây nên [4]
1.1.3.5 Các dấu hiệu và triệu chứng
Các triệu chứng của bệnh TCM bao gồm:
- Sốt, nhức đầu, ói mửa, mệt mỏi, khó chịu, đau lan lỗ tai, đau họng
- Thương tổn đau rát ở răng và miệng, loét miệng, làm trẻ biếng ăn
- Phát ban không ngứa toàn thân, kèm theo đó là nhiều nốt mụn nước trên lòng bàn tay, bàn chân và mông của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
Thời kỳ ủ bệnh thường là từ 3 - 7 ngày
1.1.3.6 Chẩn đoán
Chẩn đoán bệnh thường dựa trên biểu hiện lâm sàng với vị trí đặc trưng của ban Phân lập vi rút từ các bệnh phẩm phết họng hay dịch của các bọng nước thường sau 2 đến 4 tuần mới có kết quả nên nó không hữu ích cho chẩn đoán trên từng bệnh nhân cụ thể mà chỉ có ý nghĩa chẩn đoán hồi cứu và ý nghĩa dịch tễ học Chẩn đoán phân biệt với nhiễm herpes miệng Dữ kiện lâm sàng, tuổi và yếu
tố dịch tễ thường giúp ích cho công tác chẩn đoán bệnh [2]
1.1.3.7 Biến chứng
Các biến chứng do nhiễm vi rút gây bệnh TCM thường rất hiếm thấy, nhưng nếu khi chúng xảy ra, nên nhờ đến y tế chăm sóc sức khỏe Viêm màng
Trang 15não do vi rút hoặc vô khuẩn hiếm khi có thể xảy ra với bệnh TCM Viêm màng não do vi rút gây sốt, đau đầu, cứng cổ, hoặc đau lưng Bệnh thường nhẹ và tự khỏi mà không cần điều trị gì Các biến chứng nghiêm trọng hơn như: viêm não (sưng não) hoặc tê liệt như một bệnh bại liệt Bệnh tử vong do biến chứng hô hấp – tuần hoàn, triệu chứng sốt cao và nôn ói có liên quan đến biến chứng và tử vong của bệnh [16]
1.1.3.8 Phân bổ theo mùa
Bệnh TCM có thể xuất hiện quanh năm nhưng số ca mắc cao vào những tháng đầu mùa hè và đầu mùa thu Tại Trung Quốc (2009), số bệnh nhân cao nhất trong khoảng từ tháng 5-7 [3] Tại Việt Nam, theo báo cáo của Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh phía Nam có số bệnh nhân TCM tăng trong 2 đợt: từ tháng 3 - 5 và tháng 9 - 12 hàng năm Nghiên cứu của Phan Văn Tú và cộng sự năm 2005 tại Miền Nam Việt Nam, cho thấy thời điểm từ tháng 3 - 5 bệnh TCM
do CA16 là chủ yếu, nhưng trong tháng 9 - 12 bệnh do EV71 gây ra chiếm tỷ lệ cao [4], [7], [27], [28]
1.1.3.9 Phòng bệnh
Hiện nay chưa có biện pháp phòng bệnh đặc hiệu cho bệnh miệng, cũng như các bệnh khác do enterovirrus không phải bại liệt Tuy nhiên, biện pháp vệ sinh chặt chẽ có thể hạ thấp nguy cơ nhiễm bệnh
Tay-chân-Một số can thiệp Y tế công cộng hiệu quả đã được áp dụng phòng chống bệnh TCM tại Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông và được WHO khuyến cáo như: thiết lập hệ thống giám sát và cảnh báo dịch sớm, thường xuyên; triển khai các chiến dịch truyền thông, chiến dịch vệ sinh, rửa tay bằng xà phòng [18], [35], [53], [62] Tại Việt Nam, đáp ứng với tình hình bệnh TCM, đặc biệt trong năm
2011, Chính phủ, Bộ Y tế đã ban hành các văn bản hướng dẫn giám sát, phòng và điều trị bệnh TCM Các hoạt động kiểm tra, giám sát, báo cáo tình hình hình bệnh, tăng cường các chiến dịch truyền thông, cấp phát cloramin B, đẩy mạnh công tác
Trang 16vệ sinh môi trường, phát hiện và điều trị sớm đã được tiến hành đồng thời trên phạm vi cả nước [4], [7], [32]
1.1.3.10 Bệnh Tay-chân-miệng ở nhà trẻ, mẫu giáo
Các vụ bùng phát dịch trong nhà trẻ, mẫu giáo thường xảy ra vào mùa hè
và mùa thu, thường đồng thời với hiện tượng tăng các trường hợp nhiễm bệnh trong cộng đồng Không có biện pháp cụ thể nào đảm bảo chắc chắn giảm thiểu các trường hợp mới mắc nếu dịch bùng phát trong nhà trẻ, mẫu giáo, trường học Thiếu vitamin A đã được hiển thị để ảnh hưởng đến khả năng miễn dịch kháng vi rút và do đó có thể được liên quan đến tiến độ và kết quả của bệnh TCM ở trẻ nhỏ Tuy nhiên, các biện pháp sau đây thường được khuyến cáo: Rửa tay sạch sẽ, nhất
là sau khi đi vệ sinh, thay tã hoặc dọn dẹp các vật dụng có phân trẻ; Che miệng khi ho và hắt hơi (rất khó thực hiện ở trẻ em); Vệ sinh sạch sẽ đồ chơi của trẻ Cho nghỉ tại nhà những trẻ có biểu hiện sốt và/hoặc có biểu hiện loét miệng, trẻ nhiễu nước bọt nhiều [7], [11], [38]
1.2 Tình hình bệnh Tay-chân-miệng và các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình bệnh Tay-chân-miệng trên thế giới
Trung Quốc: Trong năm 2007, một ổ dịch bệnh TCM đã xảy ra trong khu tự trị Nội Mông Cổ, Trung Quốc Sốt, chứng phát ban, mụn nước ở bàn tay, bàn chân, miệng và mông đã được trình bày trong hầu hết các bệnh nhân và là trẻ dưới 5 tuổi Hơn 1.065.000 trường hợp bệnh TCM đã được báo cáo tại Trung Quốc từ tháng 5 năm 2008 đến tháng 12 năm 2009 (12,47/10.000) Nam tỷ lệ cao hơn nữ cho mọi lứa tuổi và 91,9% bệnh nhân < 5 tuổi Đặc điểm dịch khác nhau tại các thời điểm khác nhau của nhiễm enterovirus, trẻ em dưới 3 tuổi bị nhiễm EV71 có nguy cơ cao đối với bệnh TCM nặng Năm 2010, tại thành phố Nam Xương ở tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, 109 trường hợp được báo cáo, nghiên cứu
Trang 17dịch tễ học và phân tích trong phòng thí nghiệm cung cấp bằng chứng trực tiếp đầu tiên của các kiểu gen EV71 lưu hành [46], [64], [67], [68]
Nhật Bản: Quan sát liên quan đến bệnh TCM do EV 71 tại Fukushima năm 1984, 1987, 1990, 1993, 1997, 2000 và 2003 Bằng chứng ngày càng tăng cho sự thay đổi nhanh chóng của khí hậu toàn cầu đã nhấn mạnh sự cần thiết phải điều tra xem xét mối quan hệ giữa biến đổi thời tiết và các bệnh truyền nhiễm Bệnh TCM tăng 11,2% (95% CI: 3,2-19,8) cho mỗi 10C tăng nhiệt độ trung bình
và 4,7% (95% CI 2,4-7,2) cho mỗi 1% độ ẩm tương đối [43], [51], [60]
Ấn Độ: Tay, chân, mồm long móng là do chủ yếu bởi Coxsackievirus A16 (CA16) và enterovirus 71 (EV71) Dịch bệnh TCM đã xảy ra ở Ấn Độ chỉ
có một lần trong Kerala vào năm 2003 Một ổ dịch gần đây của bệnh TCM trong
ba huyện của Tây Bengal, Ấn Độ Tổng cộng có 38 trường hợp mắc bệnh TCM
đã được báo cáo cho đến 08.10.07 Độ tuổi dao động từ 12 tháng đến 12 tuổi (trung bình 40,76 tháng, SD 29,49), nam giới cao một chút so với nữ (M : F - 21:17) [56]
Singapore: Bệnh TCM vẫn là một vấn đề y tế công cộng, với tỷ lệ hàng năm trên 100.000 dân tăng từ 125,5 năm 2001 lên 435,9 trong năm 2007 Năm
2008, Singapore có dịch bệnh TCM lớn dẫn đến 29.686 trường hợp, trong đó có
4 trường hợp mắc bệnh viêm não và 1 tử vong Enterovirus được xác định trong
34 mẫu (66,7%), với 11 mẫu (21,6%) là dương tính với EV71 Khác không EV71 enterovirus (bao gồm cả vi rút coxsakie A4, A6, A10 và A16) đã được xác định trong 23 mẫu (45,1%) [35], [65]
Thái Lan: Bệnh TCM chủ yếu được gây ra bởi EV71 và CA16 CA16 là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh trong năm 2010 EV71 đã có một tỷ lệ cao năm 2008-2009 và được xác định với tần số cao hơn kể từ năm 2011 [52]
Theo WHO, bệnh TCM chủ yếu lưu hành nhiều nhất tại các nước Đông Á-Đông Nam Á trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 và thập kỷ đầu của thế kỷ 21
Trang 181.2.2 Tình hình bệnh Tay-chân-miệng ở Việt Nam
Tại Việt Nam, bệnh xuất hiện vào năm 2002, với một vài ca mắc lẻ tẻ được ghi nhận Trong 3 tháng đầu năm 2003, hơn 20 trẻ đã tử vong tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh Đến năm 2011, có 70.261 ca mắc bệnh TCM, tử vong 145 ca Năm 2017, có 75.268 ca mắc bệnh TCM, trong đó 41 ca tử vong So với cùng kỳ, mắc tăng 1,07 lần, chết giảm 104 ca [31]
Biểu đồ 1.1 Diễn biến tình hình mắc bệnh Tay-chân-miệng theo tháng tại
khu vực phía Nam năm 2011 [30]
Biểu đồ 1.2 Phân bố theo tỉnh số tử vong do bệnh TCM tại khu vực phía Nam
năm 2011 [30]
(Nguồn: Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011)
1.2.3 Tại Thành phố Cần Thơ
Trang 19Theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Cần Thơ, năm
2011 toàn thành phố có 1.141 ca mắc bệnh TCM và 01 ca tử vong [22] Trong thời điểm này, huyện Cờ Đỏ có 51 ca mắc bệnh TCM tăng 46 ca so với cùng kỳ
và 1 ca tử vong được xác định dương tính với EV71 Năm 2017, có 1.848 ca mắc bệnh TCM, so cùng kỳ bệnh tăng 1,5 lần, chết tăng 2 ca [23]
Biểu đồ 1.3 Tình hình mắc/100.000 dân do bệnh TCM tại các huyện thuộc
Thành phố Cần Thơ năm 2011 so với cùng kỳ [22]
Theo dõi tình hình mắc bệnh TCM từ năm 2006 đến 2011
Biểu đồ 1.4 Tình hình mắc, chết do bệnh TCM tại Thành phố Cần Thơ giai
đoạn (2006 - 2011) [22]
(Nguồn: Trung tâm Y tế dự phòng Thành phố Cần Thơ năm 2011)
Trang 20Huyện Cờ Đỏ
Huyện Cờ Đỏ nằm ở phía Tây của thành phố Cần Thơ; Đông giáp quận Thốt Nốt, quận Ô Môn; Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh và tỉnh Kiên Giang; Nam giáp huyện Thới Lai; Bắc giáp huyện Vĩnh Thạnh, quận Thốt Nốt Huyện có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: Thới Hưng, Đông Hiệp, Đông Thắng, Thới Đông, Thới Xuân, Trung Hưng, Thạnh Phú, Trung An, Trung Thạnh và thị trấn Cờ Đỏ Địa bàn huyện bị chia cắt bởi hệ thống kênh rạch chằng chịt, là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của thành Cần Thơ Dân số 127.378 người, diện tích đất sản xuất của huyện chiếm 77,3% diện tích tự nhiên (31.047,67 km2) Là huyện ngoại thành của thành phố Cần Thơ, 90% dân số của huyện sống dựa vào sản xuất nông nghiệp Toàn huyện mới có 1/10 xã, thị trấn đạt chuẩn xã văn hoá, 3/41 trường học đạt chuẩn quốc gia Trung tâm y tế huyện hiện phải sử dụng phòng khám khu vực thị trấn làm trụ sở, trang thiết bị thiếu thốn, chưa đáp ứng nhu cầu khám, điều trị của người dân cũng như thực hiện các chương trình y tế quốc gia
Trong năm 2011, ở địa bàn huyện Cờ Đỏ ghi nhận có 51 ca mắc bệnh TCM tăng 46 ca so với cùng kỳ và có 01 ca tử vong do mắc bệnh TCM, được xác định dương tính với EV71 [22]
1.2.4 Một số công trình nghiên cứu về bệnh Tay-chân-miệng
Trang 21thấy các chủng EV71 được lưu hành ở Thượng Hải thuộc về subgenotype C4 Kết luận: EV71 subgenotype C4 là tác nhân gây bệnh chủ yếu của dịch bệnh TCM tại Thượng Hải [66]
1.2.4.2 Trong nước
Một nghiên cứu do Phan Văn Tú và cs, Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện trong năm 2005 Kết quả nghiên cứu cho thấy 764 bệnh nhi được nhập viện vào Bệnh viện Nhi Đồng 1, Thành phố Hồ Chí Minh, do bệnh TCM đơn thuần hoặc bệnh TCM có biến chứng thần kinh (viêm não, viêm màng não, viêm màng não vô khuẩn, bại liệt tương tự Polio…) Các trẻ em bị bệnh TCM đến khám ở các phòng khám ngoại trú bệnh viện quanh năm, nhiều nhất từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 Bệnh TCM có chẩn đoán lâm sàng không biến chứng là 76,4% (584/764 ca) và bệnh TCM có biến chứng thần kinh được chẩn đoán là 23,6% (180/764 ca) [28]
• Khảo sát kháng thể trung hòa EV71
Giải thích vì sao trẻ 5 tuổi trở lên ít bị TCM
Biểu đồ 1.5 Tỉ lệ trẻ có kháng thể trung hòa EV71 theo tuổi [6]
Các nghiên cứu trên thế giới trước đây tập trung về dịch tễ học bệnh TCM và dịch tễ huyết thanh học, nghiên cứu về tác nhân gây bệnh Tay-chân-miệng với hy vọng hiểu biết hơn về tác nhân gây bệnh cũng như các biện pháp Giúp hiểu vì sao trẻ bệnh
thường nằm ở lứa tuổi dưới 3
Trang 22điều trị, phòng bệnh hiệu quả Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh Tay-chân-miệng, nhìn chung cho thấy đây là một bệnh còn khá mới tại Việt Nam nên hiểu biết của người dân về bệnh này chưa cao
Nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố
Tay-chân-Hồ Chí Minh năm 2008” của tác giả Nguyễn Vũ Quang Ân [29], chỉ có 50,93%
bà mẹ có kiến thức đúng về đường lây truyền bệnh, 37,14% bà mẹ biết được nơi trẻ có khả năng mắc bệnh cao và 43,5% bà mẹ biết được bệnh tay chân miệng không có vắc xin phòng bệnh Tuy hiểu biết về bệnh Tay-chân-miệng không cao nhưng tỷ lệ thực hành phòng chống bệnh như rửa tay cho trẻ đúng cách, thực hành
về vệ sinh vật dụng, đồ chơi của trẻ khá cao (61,54%; 99.73%); thực hành về áp dụng các biện pháp tránh lây bệnh TCM cho trẻ khi nghi ngờ mình mắc bệnh có đến 76,66% bà mẹ thực hành đúng
Nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại phường Tam Hiệp, Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai năm 2010” của tác giả Phạm Thị Bích Ngọc cho kết quả phản ánh khá chính xác thực trạng phòng bệnh Tay-chân-miệng ở những bà mẹ có con dưới
Tay-chân-5 tuổi [29] Chỉ có 34,4% bà mẹ có kiến thức chung đúng về phòng bệnh và 28,9%
có thực hành chung đúng về phòng bệnh Nguồn thông tin về bệnh miệng mà các bà mẹ này nhận được cũng khá hạn chế, trong đó chỉ có 21,1% bà
Tay-chân-mẹ nhận được thông tin từ nhân viên y tế
Nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011” của tác giả Trương Xuân Lộc [29], tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chung đúng trong việc phòng chống bệnh TCM chiếm 42% là chưa cao
Tay-chân-Đa số đều có thái độ tích cực quan tâm đến việc phòng bệnh và 34% bà mẹ có thực hành chung đúng về phòng bệnh
Trang 23Nghiên cứu “kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2017” của tác giả Nguyễn Thị Vy Uyên [29], các bà mẹ tham gia nghiên cứu đều có nghe nói về bệnh Tay-chân-miệng Nguồn cung cấp thông tin về bệnh TCM cho bà mẹ khá đa dạng, trong đó tivi được tiếp cận nhiều nhất với tỷ lệ trên 80%; bên cạnh đó có khoảng 50% bà mẹ nhận thông tin trực tiếp từ nhân viên y tế Ngoài ra, tỷ lệ bà
mẹ có kiến thức chung về bệnh Tay-chân-miệng (18%) cũng như kiến thức phòng bệnh TCM không cao (66%), tỷ lệ bà mẹ có thái độ đúng trong phòng bệnh Tay-chân-miệng khá cao (91.3 %) nhưng tỷ lệ bà mẹ có thực hành đúng về các biện pháp phòng bệnh còn quá thấp (13%) Đa số bà mẹ đã bắt đầu có thái độ quan tâm đến việc rửa tay phòng bệnh và vệ sinh khử khuẩn Đây là một tín hiệu tốt cho việc tạo lập một hành vi đúng đắn trong việc phòng bệnh TCM, vốn chưa có vắc xin phòng ngừa cũng như chưa có thuốc điều trị đặc hiệu
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ có con dưới 5 tuổi (các bà mẹ có con sinh từ tháng 6/2017 đến tháng 6/2017) tại huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bà mẹ có con dưới 5 tuổi (các bà mẹ có con sinh từ tháng 6/2017 đến tháng 6/2017) có hộ khẩu và đang sinh sống tại 04 xã của huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ từ 6 tháng trở lên tính đến thời điểm nghiên cứu thực hiện được chọn
và chấp nhận tham gia
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bà mẹ bị rối loạn tâm thần, không còn minh mẫn, bị điếc
- Bà mẹ đang mắc các bệnh cấp tính; không đồng ý trả lời câu hỏi
- Bà mẹ không có hộ khẩu thường trú tại huyện Cờ Đỏ
2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu được tiến hành qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (Tháng 06/2017): Khảo sát tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức, thái độ và thực hành đúng về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng tại huyện
Địa điểm nghiên cứu: Huyện Cờ Đỏ thuộc thành phố Cần Thơ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 252.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp cộng đồng [13], [16]
2.2.2 Cỡ mẫu
Để đáp ứng cho mục tiêu 1 và 2, ta dùng công thức (1) ước lượng một tỷ
lệ trong quần thể nghiên cứu [13], [16]:
d
) p 1 ( p z
2 /2 - 1
−
=
Công thức (1) Trong đó:
z = trị số từ phân phối chuẩn (z0,975 = 1,96 với = 0,05)
p: Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng chống bệnh Tay-chân-miệng Do chưa có được số liệu chính thức nên chọn p = 50% để có cỡ mẫu lớn nhất
= xác suất sai lầm loại 1
d = sai số cho phép, chọn d = 0,05 Dự trù 10% thất thoát mẫu
Ta có: n = 420
Để đáp ứng cho mục tiêu 3, ta dùng công thức (2) ước lượng sự khác biệt giữa hai
tỷ lệ trong quần thể nghiên cứu:
Z21- α/2 [p1(1 – q1) + p2(1 – q2)]
n = - Công thức (2)
d2
Trong đó:
z = trị số từ phân phối chuẩn (z0,975 = 1,96 với = 0,05)
p1: Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức, thái độ, thực hành đúng phòng chống bệnh Tay-chân-miệng trước khi can thiệp Do chưa có được số liệu chính thức, chọn p1 = 50% để có cỡ mẫu lớn nhất
p2: Kỳ vọng tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức, thái độ, thực hành đúng phòng chống bệnh Tay-chân-miệng sau khi can thiệp là: p2 = 80%
Trang 26 = xác suất sai lầm loại 1
d = sai số cho phép, chọn d = 0,09
Ta có: n = 194 Chọn n = 210
Vậy, cỡ mẫu nghiên cứu là: n = 420
Cỡ mẫu được phân đều cho 2 nhóm: nhóm can thiệp và nhóm chứng Do đó, mỗi nhóm sẽ điều tra 210 bà mẹ có con dưới 5 tuổi
+ Xã Trung Hưng: Ấp Thạnh Hưng 1, Thạnh Lợi 2, Thạnh Phú 2
+ Xã Thạnh Phú: Ấp Thạnh Hòa, Thạnh Hưng, Thạnh Xuân
Nhóm chứng, gồm có 06 ấp:
+ Xã Đông Hiệp: Ấp Thới Hữu, Đông Phước, Đông Lợi
+ Xã Đông Thắng: Ấp Đông Thắng, Thới Hiệp, Thới Hiệp 2
- Chọn đối tượng nghiên cứu
Trang 27+ Dựa vào danh sách hộ gia đình của từng ấp/xã được chọn, chọn một số ngẫu nhiên từ tờ giấy bạc để chọn hộ gia đình đầu tiên, qui định đi điều tra nhà liền nhà về phía phải khi phát hiện hộ gia đình có bà mẹ có con dưới 5 tuổi thì điều tra phỏng vấn, cứ tiếp tục như thế cho đến khi đủ số bà mẹ có con dưới 5 tuổi cần điều tra (Mỗi ấp điều tra 35 bà mẹ có con dưới 5 tuổi) Nếu đến ranh giới ấp
mà vẫn chưa đủ số lượng bà mẹ thì bắt đầu lại từ hộ gia đình đầu tiên được chọn
đi điều tra tiếp tục về phía trái cho đến khi đủ số lượng bà mẹ có con dưới 5 tuổi cần nghiên cứu
+ Điều tra phỏng vấn các bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở nhóm can thiệp và nhóm chứng trước và sau can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe trên cùng một đối tượng nghiên cứu
+ Các dữ kiện được thu thập ở nhóm can thiệp và nhóm chứng trước và sau can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe trên cùng một bộ câu hỏi soạn sẵn + Thực hiện các hoạt động can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe trên cùng đối tượng bà mẹ có con dưới 5 tuổi được chọn
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
- Các đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu
- Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng, chống bệnh TCM tại huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ năm 2017
- Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống bệnh miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi với các đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu
- Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi sau can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe
Tay-chân-Kỹ thuật can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe:
+ Đối tượng can thiệp:
Trang 28Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi của 02 xã được chọn ở nhóm can thiệp
+ Nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe [24], [25]:
* Bệnh Tay-chân-miệng là gì ?
Là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở trẻ em, thường gặp nhất là trẻ dưới 5 tuổi Bệnh
do vi rút đường ruột gây ra (EV71 và CA16)
Hiện nay, bệnh Tay-chân-miệng chưa có vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu
* Triệu chứng bệnh Tay-chân-miệng ?
- Giai đoạn ủ bệnh: Từ 3 - 7 ngày, có thể kéo dài đến 10 ngày
- Giai đoạn khởi phát: Từ 1 - 2 ngày với các triệu chứng đa dạng như: sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, ho, tiêu chảy vài lần/ngày…
- Giai đoạn toàn phát: có thể kéo dài từ 3 - 10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh như:
+ Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2 - 3mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, trẻ bỏ ăn, bỏ bú
+ Phát ban dạng bóng nước: ở lòng bàn tay, bàn chân, gối, mông
+ Sốt nhẹ, ói: Nếu sốt cao và ói nhiều dễ có nguy cơ biến chứng
+ Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh
* Bệnh Tay-chân-miệng lây truyền như thế nào ?
Nguồn truyền bệnh là các dịch tiết mũi, họng phát tán ra môi trường bên ngoài do
ho, hắt hơi, dịch bóng nước và phân của người bệnh hoặc người mang mầm bệnh truyền nhiễm
Các đường lây truyền bệnh:
- Lây qua ăn, uống thức ăn có chứa mầm bệnh
- Lây qua bàn tay tiếp xúc với mầm bệnh trong môi trường sau đó đưa vào miệng
* Các biện pháp phòng chống bệnh Tay-chân-miệng:
Trang 29- Ăn uống sạch:
+ Ăn thức ăn nấu chín, uống nước đun sôi để nguội;
+ Ăn ngay sau khi nấu xong, che đậy không cho ruồi, gián, chuột chạm vào thức ăn;
+ Không để lẫn thức ăn sống và thức ăn đã nấu chín, dùng riêng dụng cụ chế biến cho thức ăn sống và thức ăn chín
+ Không đi tiêu, đổ phân của trẻ em ra ao, mương, sông
- Đồ chơi sạch: Đồ chơi của trẻ phải được vệ sinh, lau rửa sạch sẽ và sát khuẩn ít nhất 1 lần/ngày bằng dung dịch chloramin B hoặc nước Javel
- Khi thấy trẻ sốt và xuất hiện nốt phỏng ở bàn tay, bàn chân, niêm mạc miệng cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị
Lưu ý: Trẻ ốm phải được nghỉ học và không tiếp xúc với trẻ khác, thu gom và xử
lý phân của trẻ bằng dung dịch Chloramin B 5% Luộc sôi hoặc ngâm quần áo, tã lót của trẻ trước khi giặt sạch
+ Các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe được thực hiện cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở nhóm can thiệp:
- Tổ chức tập huấn kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng cho cán bộ Trạm Y tế, Tổ Y tế, Cộng tác viên ở 06 ấp của nhóm can thiệp
Trang 30- Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, thảo luận nhóm (Mỗi ấp/01 lần) về tình hình bệnh Tay-chân-miệng ở địa phương, nguyên nhân, triệu chứng và các biện pháp phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng, phát tặng 01 bánh xà phòng Lifeboy/bà
mẹ và vận động đăng ký hưởng ứng thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của các bà mẹ
- Phối hợp cấp phát tờ rơi tuyên truyền về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng Hàng tháng (từ ngày 10 đến 15) các cộng tác viên ấp đi vãng gia những hộ gia đình có bà mẹ có con dưới 5 tuổi được chọn nghiên cứu, để hướng dẫn, tuyên truyền trực tiếp tại nhà, vận động các bà mẹ có con dưới 5 tuổi thường xuyên thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng tại 06 ấp thuộc nhóm can thiệp
- Giám sát hoạt động tuyên truyền, vận động thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng đối với các bà mẹ có con dưới 5 tuổi của các cộng tác viên tại 06 ấp thuộc nhóm can thiệp
Định nghĩa các biến số:
Nhóm can thiệp và nhóm chứng
- Nhóm can thiệp: Được truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của nhà nghiên cứu
- Nhóm chứng: Không có sự tác động của nhà nghiên cứu
Đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: Chia thành 2 nhóm: ≤ 30 tuổi và trên 30 tuổi
- Dân tộc: Có 2 giá trị xác định là: Kinh và Khác
Trang 31- Nghề nghiệp: Chia làm 2 nhóm:
+ Nhóm làm ruộng, làm thuê ( Bao gồm làm ruộng, làm vườn, làm thuê) + Nhóm nghề khác (Bao gồm Cán bộ công nhân viên; Buôn bán; Công nhân; Nội trợ; Các nghề khác)
- Các nguồn truyền thông: Tivi, radio; Sách, báo, loa; Cán bộ y tế; Cộng tác
viên y tế; Giáo viên; Người nhà, bạn bè và khác
- Kinh tế gia đình: Chia làm 2 nhóm:
Hộ nghèo và hộ không nghèo (hộ nghèo được ghi nhận dựa vào sổ hộ nghèo
được cấp và có xác nhận của chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân xã)
Kiến thức về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng
- Kiến thức về đối tượng dễ mắc bệnh Tay-chân-miệng:
+ Kiến thức đúng: Biết trẻ dưới 5 tuổi dễ mắc bệnh nhất
+ Kiến thức không đúng: Khi trả lời không phải là trẻ dưới 5 tuổi
- Kiến thức về nguyên nhân mắc bệnh Tay-chân-miệng:
+ Kiến thức đúng: Khi trả lời đúng nguyên nhân mắc bệnh: ăn thức ăn bị nhiễm
vi rút TCM, do tiếp xúc trực tiếp với nước bọt, nước miếng có nhiễm vi rút và do tiếp xúc trực tiếp với các bóng nước của người bệnh bị vỡ ra
+ Kiến thức không đúng: Khi trả lời không đủ hoặc khác 3 ý trên
- Kiến thức về bệnh Tay-chân-miệng là bệnh nguy hiểm:
+ Kiến thức đúng: Khi biết bệnh TCM nguy hiểm dễ dẫn đến tử vong
+ Kiến thức không đúng: Khi không biết bệnh TCM là bệnh nguy hiểm dễ dẫn đến tử vong
- Kiến thức về dấu hiệu nghi mắc bệnh Tay-chân-miệng:
+ Kiến thức đúng: Khi biết tay, chân, miệng của trẻ có nổi những bóng nước; sốt cao, nhức đầu, ói mữa, đau họng
+ Kiến thức không đúng: Khi trả lời không đủ những ý trên
- Kiến thức về nơi bệnh Tay-chân-miệng thường xảy ra:
Trang 32+ Kiến thức đúng: Khi biết bệnh Tay-chân-miệng thường xảy ra ở nhà trẻ, mẫu giáo
+ Kiến thức không đúng: Khi trả lời không đủ những ý trên
- Kiến thức về những biện pháp phòng bệnh Tay-chân-miệng:
+ Kiến thức đúng: Khi biết biện pháp phòng bệnh là rửa tay bằng nước sạch
và xà phòng trước và sau khi chế biến thức, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã lót
và quần áo cho trẻ và ăn uống hợp vệ sinh
+ Kiến thức không đúng: Khi trả lời không đủ những ý trên
- Kiến thức về rửa tay đúng theo hướng dẫn của y tế:
+ Kiến thức đúng: Khi biết biện pháp rửa tay đúng theo hướng dẫn của y tế (gồm có 6 bước rửa tay)
+ Kiến thức không đúng: Khi trả lời không đúng, đủ 6 bước rửa tay
- Kiến thức về bệnh Tay-chân-miệng không có thuốc điều trị và vắc xin phòng bệnh:
+ Kiến thức đúng: Khi biết bệnh Tay-chân-miệng không có thuốc điều trị và vắc xin phòng bệnh
+ Kiến thức không đúng: Khi trả lời là có thuốc điều trị và vắc xin phòng bệnh
- Kiến thức về những dấu hiệu cần đưa trẻ đến bệnh viện điều trị (ngoài những dấu hiệu nghi mắc bệnh Tay-chân-miệng):
+ Kiến thức đúng: Khi biết những dấu hiệu cần đưa trẻ đến bệnh viện: Trẻ khó ngủ, quậy khóc; sốt cao; tay chân co giật; nôn ói nhiều
+ Kiến thức không đúng: Khi trả lời không đầy đủ những ý trên
Chấm điểm kiến thức đúng hay không đúng theo thang điểm: Có 9 kiến thức
về phòng chống bệnh TCM tương đương với 9 điểm, mỗi kiến thức đúng chấm 1 điểm; mỗi kiến thức không đúng chấm 0 điểm Phân loại:
Trang 33+ Kiến thức đúng: Khi đạt từ 8 điểm/9 điểm trở lên (nghĩa là đạt từ trên 80% trở lên)
+ Kiến thức không đúng: Khi đạt dưới 8 điểm/9 điểm (nghĩa là đạt dưới 80%)
Thái độ về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng
- Khi nói rằng rửa tay bằng xà phòng với nước sạch trước và sau khi nấu ăn, giúp cho trẻ phòng không mắc bệnh Tay-chân-miệng?
+ Không ý kiến, không đồng ý, đồng ý
- Khi nói rằng rửa tay trẻ bằng xà phòng với nước sạch sau khi đi vệ sinh, giúp cho trẻ phòng không mắc bệnh Tay-chân-miệng?
+ Không ý kiến, không đồng ý, đồng ý
- Khi nói rằng rửa tay bằng xà phòng với nước sạch sau khi thay tã lót và quần áo cho trẻ, giúp cho trẻ phòng không mắc bệnh Tay-chân-miệng?
+ Không ý kiến, không đồng ý, đồng ý
- Khi nói rằng rửa tay trẻ bằng xà phòng với nước sạch sau khi đi từ nhà trẻ, mẫu giáo về hay ở nhà, giúp trẻ phòng không mắc bệnh Tay-chân-miệng?
+ Không ý kiến, không đồng ý, đồng ý
- Khi nói rằng rửa đồ chơi của trẻ bằng xà phòng với nước sạch và dung dịch chloramin B, giúp cho trẻ phòng không mắc bệnh Tay-chân-miệng?
+ Không ý kiến, không đồng ý, đồng ý
- Khi nói rằng hạn chế đưa trẻ đến nhà trẻ, mẫu giáo khi có trẻ khác bị bệnh TCM, giúp cho trẻ phòng không mắc bệnh Tay-chân-miệng?
+ Không ý kiến, không đồng ý, đồng ý
Chấm điểm thái độ đúng hay không đúng theo thang điểm: Có 6 thái độ về phòng chống bệnh TCM tương đương với 6 điểm, mỗi thái độ đúng chấm 1 điểm; mỗi thái độ không đúng chấm 0 điểm Phân loại:
Trang 34+ Thái độ đúng: Khi đạt từ 5 điểm/6 điểm trở lên (nghĩa là đạt từ trên 80% trở lên)
+ Thái độ không đúng: Khi đạt dưới 5 điểm/6 điểm (nghĩa là đạt dưới 80%)
Thực hành về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng
- Những động tác thực hành đúng:
+ Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước và sau chế biến thức ăn
+ Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch sau khi đi vệ sinh
+ Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch sau khi thay tã lót, quần áo trẻ + Rửa tay cho trẻ bằng xà phòng và nước sạch, sau khi trẻ đi từ nhà trẻ, mẫu giáo về nhà hay khi trẻ ở nhà
+ Rửa tay đúng theo phương pháp hướng dẫn của y tế
+ Rửa đồ chơi của trẻ bằng xà phòng và nước sạch, khử trùng bằng dung dịch Chloramin B 5%
+ Thường xuyên làm vệ sinh nhà cửa, lau sàn nhà, bàn ghế, đồ dùng, nơi sinh hoạt của trẻ bằng xà phòng và nước sạch, khử trùng bằng dung dịch Chloramin B 5%
- Thực hành không đúng: Khi thực hành không đủ những hành vi trên Chấm điểm thực hành đúng hay không đúng theo thang điểm: Có 7 hành vi
về phòng chống bệnh TCM tương đương với 7 điểm, mỗi hành vi đúng chấm 1 điểm; mỗi hành vi không đúng chấm 0 điểm
Trang 35Quan sát và phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu, ghi chép những dữ liệu một cách đầy đủ, chính xác vào biểu mẫu
2.2.6 Các bước tiến hành thu thập số liệu
- Tập huấn cho các cán bộ tham gia điều tra Sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn, phù hợp với thực tế người dân nơi điều tra khảo sát và được thử nghiệm tại cộng đồng trước khi sử dụng Quan sát và phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu, ghi chép những dữ liệu một cách đầy đủ, chính xác vào biểu mẫu
2.2.7 Biện pháp kiểm soát sai số
- Sai lệch thông tin của điều tra viên: tập huấn thống nhất về nội dung, kỹ thuật phỏng vấn, bố trí giám sát viên kiểm tra hoạt động điều tra, phỏng vấn của các điều tra viên
- Sai lệch thông tin của đối tượng nghiên cứu: khi phỏng vấn nên ưu tiên chọn những thông tin do bà mẹ cung cấp, cần giải thích các yêu cầu cần thu thập
để bà mẹ trả lời chính xác
2.2.8 Nhập liệu, xử lý số liệu và phân tích
- Các phiếu điều tra được mã hóa và nhập vào máy vi tính Sử dụng phần mềm Epidata và Stata 10.0 để xử lý và phân tích số liệu
- Tính chi bình phương, giá trị p (p < 0,05), OR (KTC 95%) để xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống bệnh TCM của bà mẹ
có con dưới 5 tuổi với các đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu; Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của bà
mẹ có con dưới 5 tuổi sau can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu
Đề tài để thu thập những dữ liệu cần thiết và để đảm bảo vấn đề y đức chúng tôi đưa ra những câu hỏi mang tính nghiệp vụ, không gây tác hại đến đối tượng được phỏng vấn Toàn bộ dữ liệu thu thập được giữ kín, nhằm bảo vệ cho người được phỏng vấn kể cả những người từ chối không tham gia phỏng vấn
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc tính chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc tính chung của bà mẹ có con dưới 5 tuổi (n = 420)
Đặc tính Tổng cộng n(%) Nhóm tuổi Từ dưới 30 tuổi 276 (65,7)
Trên 30 tuổi 144 (34,3) Trình độ học vấn Mù chử, tiểu học 262 (62,4)
Trung học cơ sở 134 (31,9) Trung học phổ thông 21 (5,0) Cao đẳng, đại học, SĐH 3 (0,7) Nghề nghiệp Làm ruộng, làm vườn 260 (61,9)
Buôn bán 12 (2,9) CBVC 11 (2,6) Công nhân 13 (3,1) Làm thuê 29 (6,9) Nội trợ 92 (21,9) Nghề khác 3 (0,7) Dân tộc Kinh 411 (97,9)
Khác 9 (2,1)
Số con dưới 5 tuổi ≤ 2 con 362 (86,2)
Trên 2 con 58 (13,8) Kinh tế gia đình Hộ nghèo 24 (5,7)
- Bà mẹ từ dưới 30 tuổi là 65,7% và trên 30 tuổi là 34,3%
- 62,4% bà mẹ có trình độ học vấn là mù chử, tiểu học; 31,9% trung học cơ sở; 5% trung học phổ thông và 0,7% đại học và sau đại học
Trang 37- Bà mẹ làm ruộng chiếm tỷ lệ cao nhất 61,9%; kế đến nội trợ 21,9%; làm thuê 6,9%; công nhân 3,1%; buôn bán 2,9%; cán bộ viên chức 2,6%;
- 97,9% bà mẹ là dân tộc Kinh và 2,1% là các dân tộc khác
- Số bà mẹ có từ dưới 2 con là 86,2%
- Có 5,7% bà mẹ thuộc hộ nghèo
- Có 1,7% bà mẹ có trẻ dưới 5 tuổi bị bệnh Tay-chân-miệng
3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng của
bà mẹ có con dưới 5 tuổi
3.2.1 Kiến thức về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng
Bảng 3.2 Kiến thức về đối tượng dễ mắc bệnh Tay-chân-miệng
Nội dung nghiên cứu Tổng cộng n(%)
Có nghe về bệnh
Tay-chân-miệng
Có 417 (99,3) Không 3 (0,7)
Biết đối tượng dễ
mắc bệnh tay-chân-miệng
Có 399 (95,0) Không 21 (5,0)
Những đối tượng
dễ mắc bệnh nhất
Người lớn 5 (1,2) Trẻ em < 5 tuổi 394 (93,8) Không biết 21 (5,0) Kiến thức đúng 394 (93,8)
Nhận xét:
Có 93,8% bà mẹ có kiến thức đúng về trẻ dưới 5 tuổi dễ mắc bệnh miệng nhất
Tay-chân-Bảng 3.3 Kiến thức về nguyên nhân mắc bệnh Tay-chân-miệng
Nội dung nghiên cứu Tổng cộng n(%) Biết nguyên nhân
mắc bệnh
Tay-chân-miệng
Có 264 (62,9) Không 156 (37,1)
Trang 38Nhận xét: Có 50,9% bà mẹ có kiến thức đúng về nguyên nhân mắc bệnh TCM
Bảng 3.4 Kiến thức về bệnh Tay-chân-miệng nguy hiểm đến tính mạng
Nội dung nghiên cứu Tổng cộng n(%) Biết bệnh TCM có
nguy hiểm đến tính
mạng
Có 409 (97,4) Không 5 (1,2) Không biết 6 (1,4)
Kiến thức đúng 409 (97,4)
Nhận xét: Có 97,4% bà mẹ có kiến thức đúng về bệnh TCM nguy hiểm đến tính mạng con người
Bảng 3.5 Kiến thức về dấu hiệu nghi mắc bệnh Tay-chân-miệng
Nội dung nghiên cứu Tổng cộng n(%) Biết các dấu hiệu nghi
mắc bệnh
Tay-chân-miệng
Có 274 (65,2) Không 146 (34,8)
41 (9,8)
Tay có bóng nước 40 (9,5) Chân có nổi
mữa, đau họng
164 (39,0)
Trang 39Kiến thức đúng 204 (48,6)
Nhận xét: Có 48,6% bà mẹ có kiến thức đúng về dấu hiệu nghi mắc bệnh TCM
Bảng 3.6 Kiến thức về nơi thường xảy ra bệnh Tay-chân-miệng
Nội dung nghiên cứu Tổng cộng n (%) Biết nơi thường xảy ra
bệnh Tay-chân-miệng
Nhà trẻ 248 (59,0) Mẫu giáo 209 (49,8) Trường học 27 (6,4) Nơi khác 2 (0,5) Không biết 33 (7,9) Kiến thức đúng 375 (89,3)
Nhận xét: Có 89,3% bà mẹ có kiến thức đúng về nơi thường xảy ra bệnh chân-miệng
Tay-Bảng 3.7 Kiến thức về biện pháp phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng
Nội dung nghiên cứu Tổng cộng n(%) Biết biện pháp phòng
bệnh Tay-chân-miệng
Có 232 (55,2) Không 188 (44,8)
197 (46,9)
Ăn uống hợp vệ sinh 215 (51,2) Khác 1 (0,2) Kiến thức đúng 184 (43,8)
Nhận xét: Có 43,8% bà mẹ có kiến thức đúng về biện pháp phòng,chống bệnh Tay-chân-miệng
Bảng 3.8 Kiến thức về rửa tay đúng theo hướng dẫn của y tế
Nội dung nghiên cứu Tổng cộng n (%)
Trang 40Biết rửa tay đúng
theo hướng dẫn y tế
Có 239 (56,9) Không 181 (43,1)
Những động tác rửa
tay đúng
Đúng, đủ 56 (23,4) Không đúng, đủ 183 (76,6) Nhận xét: Có 56,9% bà mẹ biết rửa tay đúng theo hướng dẫn của y tế, nhưng chỉ có 23,4% bà mẹ kể ra đúng, đủ các động tác rửa tay
Thuốc điều trị đặc hiệu
bệnh Tay-chân-miệng
Có thuốc điều trị 132 (31,4) Không có 175 (41,7) Không biết 113 (26,9)
Nhận xét: Có 44,3% bà mẹ biết không có vắc xin phòng bệnh Tay-chân-miệng
và 41,7% bà mẹ biết không có thuốc điều trị bệnh Tay-chân-miệng
Bảng 3.10 Kiến thức về dấu hiệu cần đưa trẻ đến bệnh viện điều trị
Nội dung nghiên cứu Tổng cộng n(%) Biết dấu hiệu cần
đưa trẻ đến bệnh viện
Có 220 (52,4) Không 200 (47,6) Những dấu hiệu cần
đưa trẻ đến bệnh viện
Khó ngủ, quậy khóc 201 (47,9) Sốt cao 203 (48,3) Tay chân run, co giật 175 (41,7) Nôn ói nhiều 178 (42,4) Kiến thức đúng 171 (40,7)
Nhận xét: Có 52,4% bà mẹ biết những dấu hiệu cần đưa trẻ đến bệnh viện; nhưng chi 40,7% có kiến thức đúng về những dấu hiệu cần đưa trẻ đến bệnh viện để điều trị
Bảng 3.11 Kiến thức chung về phòng, chống bệnh Tay-chân-miệng