Điều trị khi có bằng chứng về vi khuẩn học: Theo hướng dẫn kê đơn kháng sinh của Cơ quan thuốc và sức khỏe Đan Mạch, việc lấy mẫu vi sinh được khuyến cáo trước khi bắt đầu sử dụng kháng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về giới tính
Bảng 3.1 Đặc điểm bệnh nhân theo giới tính
Giới tính Tần số Tỷ lệ (%)
Bệnh nhân là nữ giới chiếm tỷ lệ 51,7% và nam giới chiếm tỷ lệ 48,3%
3.1.2 Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân
Bảng 3.2 Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân
Nhóm tuổi Tần số Tỷ lệ %
Bệnh nhân thuộc nhóm tuổi 16-59 tuổi chiếm đa số (77,9%) và chiếm ít nhất là nhóm ≤15 tuổi (1,9%) Độ tuổi trung bình là 40,6±18,4 tuổi với tuổi lớn nhất là 87 tuổi và nhỏ nhất là 2 tuổi
3.1.3 Đặc điểm về tham gia bảo hiểm y tế của bệnh nhân
Bảng 3.3 Đặc điểm về tham gia bảo hiểm y tế của bệnh nhân
Bảo hiểm y tế Tần số Tỷ lệ %
Bệnh nhân có bảo hiểm y tế chiếm tỷ lệ là 61,7%
3.1.4 Đặc điểm về bệnh kèm theo
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về bệnh kèm theo Nhận xét:
Bệnh nhân có 1 bệnh kèm theo chiếm nhiều nhất (44,0%); kế đến là không mắc bệnh kèm theo (41,0%) và ít nhất là >2 bệnh kèm theo (4,3%)
3.1.5 Phân bố bệnh nhân theo phòng khám
Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân theo phòng khám
Các phòng khám Tần số Tỷ lệ %
Phòng khám tai mũi họng 150 35,7
Phòng khám nội tổng quát 65 15,5
Phòng khám răng hàm mặt 34 8,1
Phòng khám chấn thương chỉnh hình 31 7,4
Phòng khám ngoại hậu môn trực tràng 28 6,7
Phòng khám niệu nam khoa 25 6,0
Phòng khám y học gia đình 22 5,2
Phòng khám gan và bệnh truyền nhiễm 16 3,8
Phòng khám sản phụ khoa 6 1,4
Bệnh nhân khám ở phòng khám tai mũi họng chiếm tỷ lệ nhiều nhất (35,5%) và ít nhất là phòng khám ung bướu (0,5%).
Đặc điểm sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
3.2.1 Các nhóm kháng sinh gặp trong mẫu nghiên cứu
Biểu đồ 3.2 Các nhóm kháng sinh gặp trong nghiên cứu
Nhận xét: nhóm kháng sinh penicillin chiếm tỷ lệ 49,3%; nhóm cephalosporin chiếm 33,1%; nhóm quinolon chiếm 12,6%; nhóm cyclin chiếm 3,6% và nhóm macrolid chiếm 4,3%
Bảng 3.5 Các kháng sinh nhóm penicillin gặp trong nghiên cứu
Kháng sinh nhóm penicillin Tần số Tỷ lệ %
Trong nhóm kháng sinh penicillin, kháng sinh amoxicillin-acid clavulanic chiếm 99,5%
Biểu đồ 3.3 Các kháng sinh nhóm cephalosporin gặp trong nghiên cứu Nhận xét:
Trong phân nhóm kháng sinh cephalosporin, kháng sinh cefuroxim chiếm 79,1%; cefpodoxim chiếm 18,7% và cefixim chiếm 2,2%
Bảng 3.6 Các kháng sinh nhóm quinolon gặp trong nghiên cứu
Kháng sinh nhóm quinolon Tần số Tỷ lệ %
Trong nhóm kháng sinh quinolon, kháng sinh levofloxacin chiếm 41,5%; ofloxacin chiếm 34,0% và ciprofloxacin chiếm 24,5%
Bảng 3.7 Các kháng sinh nhóm cyclin gặp trong nghiên cứu
Kháng sinh nhóm cyclin Tần số Tỷ lệ %
Trong nhóm kháng sinh cyclin, kháng sinh tetracyclin chiếm 60,0%
Bảng 3.8 Các kháng sinh nhóm macrolid gặp trong nghiên cứu
Kháng sinh nhóm macrolid Tần số Tỷ lệ %
Trong nhóm kháng sinh macrolid, kháng sinh azithromycin chiếm 88,9% và spiramycin chiếm 11,1%
3.2.2 Phân bố kháng sinh đơn thành phần, đa thành phần
Bảng 3.9 Phân bố kháng sinh đơn thành phần, đa thành phần
Kháng sinh đơn thành phần, đa thành phần Tần số Tỷ lệ %
Kháng sinh đơn thành phần 214 51,0
Kháng sinh đa thành phần 206 49,0
Kháng sinh đơn thành phần chiếm đa số với 51,0% và kháng sinh đa thành phần có tỷ lệ 49,0%
3.2.3 Số kháng sinh sử dụng trong một đơn thuốc
Biểu đồ 3.4 Số lượng kháng sinh sử dụng trong một đơn thuốc Nhận xét:
Có 97,1% đơn thuốc sử dụng 1 kháng sinh và 2 kháng sinh chiếm 2,9%
Bảng 3.10 Các kháng sinh đơn trị liệu
Kháng sinh Tần số Tỷ lệ %
Kháng sinh đơn trị là penicillin chiếm tỷ lệ 48,6%; cephalosporin chiếm tỷ lệ 33,3% và cyclin chiếm 3,4%
Bảng 3.11 Tỷ lệ các phối hợp kháng sinh
Phối hợp kháng sinh Tần số Tỷ lệ %
Nhận xét: sự phối hợp giữa penicillin và quinolon chiếm 66,7%; giữa cephalosporin và quinolon chiếm 25,0%; giữa penicillin và cyclin chiếm 8,3%
3.2.4 Số ngày sử dụng kháng sinh trong một liệu trình điều trị
Bảng 3.12 Số ngày sử dụng kháng sinh trong một liệu trình điều trị
Thời gian sử dụng kháng sinh Tần số Tỷ lệ %
Nhận xét: số ngày sử dụng kháng sinh trong một liệu trình điều trị từ 05-07 ngày chiếm tỷ lệ 84,5% và từ 08-10 ngày chiếm tỷ lệ 2,4%.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm về giới tính
Kết quả khảo sát trên 420 đơn thuốc của bệnh nhân ngoại trú có sử dụng kháng sinh cho thấy tỷ lệ nam, nữ lần lượt là 48,3% và 51,7% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Hoàng Tử Nha về sử dụng kháng sinh hợp lý trong điều trị ngoại trú tại Hoà Nhơn, Bình Định; tỷ lệ nam, nữ lần lượt là 46,0% và 54,0% [25] Kết quả này cho thấy tỷ lệ bệnh tật giữa nam và nữ tại các địa bàn nghiên cứu chênh lệch nhau không nhiều
Chúng tôi ghi nhận độ tuổi trung bình của bệnh nhân được chỉ định kháng sinh là 40,6 tuổi, nhỏ nhất là 2 tuổi và lớn nhất là 87 tuổi Trong đó, nhóm tuổi 16–59 chiếm đa số (77,9%) và chiếm ít nhất là nhóm ≤15 tuổi (1,9%) Độ tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với một số nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu của Võ Thị Thanh Thúy về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2017 ghi nhận tuổi trung bình của bệnh nhân được chỉ định điều trị kháng sinh là 43,9 tuổi [33]; nghiên cứu của Phạm Văn Lập về tỷ lệ sử dụng kháng sinh trong kê đơn điều trị ngoại trú tại Long An năm 2009 cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân là 46,2 tuổi [20] Điều này có thể được lý giải là do sự khác nhau về thời gian cũng như địa bàn nghiên cứu Bên cạnh đó, đứng trước tốc độ phát triển về kinh tế, con người ngày nay phải đối mặt và tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ vì vậy mà mô hình bệnh tật nói chung và bệnh lý nhiễm trùng nói riêng có sự thay đổi ngày càng trẻ hóa [34]
4.1.3 Đặc điểm về sử dụng bảo hiểm y tế của bệnh nhân
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận bệnh nhân có BHYT chiếm 61,7% Kết quả này thấp hơn kết quả của Hoàng Tử Nha nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh hợp lý trong điều trị ngoại trú tại Hoà Nhơn, Bình Định; tỷ lệ bệnh nhân sử dụng kháng sinh có BHYT trong nghiên cứu của tác giả này chiếm đến 84,7% [25] Kết quả của chúng tôi cũng thấp hơn so với báo cáo của Nguyễn Thị Minh Châu và cộng sự về độ bao phủ và mức độ sử dụng BHYT ở Việt Nam năm 2019 ghi nhận tỷ lệ tham gia BHYT của người dân là 86,4% [10] Sự khác biệt về tỷ lệ tham gia BHYT giữa các nghiên cứu có thể là do đặc thù phân tuyến điều trị tại nơi các tác giả tiến hành nghiên cứu Ngoài ra việc sử dụng BHYT khi khám chữa bệnh còn phụ thuộc vào một số yếu tố chủ quan như: tâm lý của bệnh nhân muốn khám nhanh, muốn chất lượng thuốc điều trị tốt và các yếu tố khách quan khác như: phân tuyến điều trị, thủ tục khi chuyển tuyến
4.1.4 Số bệnh mắc kèm của bệnh nhân
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ bệnh nhân không có bệnh mắc kèm là 41,0%; có một bệnh mắc kèm là 44,0%; có hai bệnh mắc kèm là 10,7% và 4,3% bệnh nhân có nhiều hơn hai bệnh mắc kèm Đa số thuốc nói chung và kháng sinh nói riêng sẽ được chuyển hóa tại gan trước khi được thải trừ qua thận Khi bệnh nhân mắc một hay nhiều bệnh mắc kèm thì có thể xảy ra tình trạng tương tác giữa các thuốc với nhau Ngoài ra, đối với bệnh nhân sử dụng kháng sinh thì bệnh mắc kèm có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hấp thu, chuyển hóa và thải trừ thuốc; ví dụ như: suy gan, suy thận, ung thư… [5], [8] Như đã nói ở trên, việc chỉ định kháng sinh sẽ phụ thuộc vào mức độ bệnh và tình trạng của cơ thể cũng như là các bệnh lý kèm theo, trên cơ sở đó bác sĩ sẽ quyết định loại kháng sinh, liều lượng kháng sinh và đường sử dụng kháng sinh
4.1.5 Tỷ lệ các phòng khám gặp trong mẫu nghiên cứu
Chúng tôi ghi nhận bệnh nhân khám ở Phòng khám Tai-Mũi-Họng chiếm tỷ lệ cao nhất là 35,7%; kế đến là Phòng khám Nội Tổng quát chiếm 15,5%; Phòng khám Răng-Hàm-Mặt chiếm 8,1% Do chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại Khoa Khám bệnh nên thường gặp các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp như: viêm họng, viêm phế quản cấp, viêm xoang cấp, viêm tai giữa ; đây có thể là một trong những lý do khiến các bác sĩ ở Phòng khám Tai-Mũi-Họng kê kháng sinh thường xuyên hơn các phòng khám khác
4.2 Đặc điểm sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân điều trị ngoại trú
4.2.1 Các nhóm kháng sinh được sử dụng
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận kháng sinh nhóm beta-lactam chiếm tỷ lệ cao nhất với 82,4% Trong đó, phân nhóm penicillin được chỉ định với tỷ lệ 49,3% và phân nhóm cephalosporin với tỷ lệ 33,1% Tiếp đến là nhóm quinolon chiếm 12,6%; nhóm macrolid chiếm 4,3% và ít nhất là nhóm cyclin với 3,6% Kết quả của chúng tôi có sự tương đồng với nghiên cứu của Võ Thị Thanh Thúy về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh nhóm beta-lactam chiếm nhiều nhất (83,5%), kế đến là kháng sinh nhóm quinolon (7,8%) và kháng sinh macrolid (6,8%); tác giả Huỳnh Thị Thanh Phượng và cộng sự nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh của bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Long An năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh nhóm beta-lactam chiếm nhiều nhất (87,5%), kế đến là kháng sinh nhóm macrolid (5,6%), kháng sinh nhóm quinolon (4,7%) [29]
Nhưng kết quả này lại khác với kết quả của tác giả Hoàng Tử Nha nghiên cứu về tính hợp lý trong việc sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Hoà Nhơn, Bình Định năm 2009; ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh nhóm beta-lactam là 60,6% và nhóm cyclin là 0,5% [25]; nghiên cứu của Trần Nhân
Thắng về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2013 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh nhóm beta-lactam là 45,0%, nhóm macrolid là 20,0% và nhóm quinolon là 14,0% [32], [33] Kết quả của tất cả các nghiên cứu trên đều cho thấy kháng sinh nhóm beta-lactam là nhóm kháng sinh được chỉ định nhiều nhất Điều này có thể được lý giải rằng các bác sĩ ưu tiên sử dụng kháng sinh nhóm diệt khuẩn hơn các kháng sinh nhóm kìm khuẩn nhằm nâng cao hiệu quả trong việc kiểm soát nhiễm trùng và hạn chế các tác dụng phụ khi sử dụng kháng sinh liều cao
Trong nghiên cứu của Ann Versporten và các cộng sự về sử dụng kháng sinh trong các bệnh viện trên toàn thế giới năm 2017 ghi nhận kháng sinh nhóm beta-lactam là nhóm kháng sinh được chỉ định thường xuyên nhất trên toàn thế giới Trong đó, các nước ở khu vực Bắc Âu, Tây Âu và Đông Nam Á thường chỉ định nhóm kháng sinh penicillin; các nước thuộc khu vực Châu Mỹ Latin, phía nam và đông Châu Âu thường chỉ định các cephalosporin thế hệ 3 (chủ yếu là ceftriaxon) Quinolon là nhóm kháng sinh được kê đơn phổ biến thứ hai Trong đó, levofloxacin thường được sử dụng ở các bệnh viện thuộc khu vực Bắc Mỹ và Đông Nam Á và ciprofloxacin ở Tây Âu [37]
4.2.2 Đặc điểm về sử dụng kháng sinh trong từng nhóm
Nhóm kháng sinh beta-lactam
Trong phân nhóm kháng sinh penicillin thì amoxicillin kết hợp acid clavulanic trong cùng một chế phẩm được sử dụng nhiều nhất chiếm 99,5% Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Thanh Phượng và cộng sự nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh của bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Long An năm 2017 cũng ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh amoxicillin kết hợp acid clavulanic được sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ 96,4% [29] Trong nghiên cứu của tác giả Võ Thị Thanh Thúy nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh amoxicillin là 97,1% [33] Việc sử dụng amoxicillin kết hợp acid clavulanic chiếm tỷ lệ cao là do bệnh nhân ngoại trú đa số là mắc các bệnh về đường hô hấp Điều này là phù hợp vì amoxicillin kết hợp acid clavulanic có sinh khả dụng đường uống không chênh lệch đáng kể so với đường tiêm, hơn nữa đường uống phù hợp cho bệnh nhân sử dụng tại nhà
Trong phân nhóm kháng sinh cephalosporin thì kháng sinh cefuroxim (thế hệ 2) chiếm nhiều nhất với tỷ lệ là 79,1%; đứng thứ 2 là kháng sinh cefpodoxim (thế hệ 3) chiếm 18,7% và kháng sinh cefixim (thế hệ 3) chiếm 2,2% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khác với tác giả Huỳnh Thị Thanh Phượng và cộng sự nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh của bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Long An năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 1 chiếm nhiều nhất với 44,9%; kế đến là kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 2 với 43,8% và tỷ lệ ít nhất là kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 3 với 11,3%; tác giả Võ Thị Thanh Thúy nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 3 chiếm nhiều nhất với 48,7%; kế đến là kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 1 với 27,5% và tỷ lệ ít nhất là kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 2 với 23,8% [29], [33] Sự khác nhau về tỷ lệ các thế hệ kháng sinh cephalosporin có thể là do một số yếu tố như là danh sách kháng sinh trúng thầu vào các bệnh viện khác nhau, số lượng kháng sinh còn lại trong khoa dược tại thời điểm nghiên cứu, sự đa dạng của các bệnh lý
Trong nhóm kháng sinh quinolon, kháng sinh levofloxacin (thế hệ 3) được sử dụng nhiều nhất (41,5%), kế đến là kháng sinh ofloxacin (thế hệ 2) đứng thứ 2 (34,0%) và kháng sinh ciprofloxacin (thế hệ 2) chiếm tỷ lệ ít nhất (24,5%) Nhìn chung kháng sinh quinolon thế hệ 2 chiếm ưu thế hơn so với thế hệ 3 Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi khác với kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Nhân Thắng về tỷ lệ kháng sinh quinolon thế hệ 3 (64,56%) và kháng sinh quinolon thế hệ 2 (35,44%) [32] Tác giả Võ Thị Thanh Thúy nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh quinolon thế hệ
3 chiếm nhiều nhất với 75% và quinolon thế hệ 2 là 18,7% [33] Sự khác biệt giữa các mô hình bệnh tật ở mỗi bệnh viện, mỗi phòng khám và thói quen của các bác sĩ ở mỗi địa phương có thể là một trong những nguyên dẫn đến sự khác nhau giữa các kết quả nghiên cứu này
Nhóm kháng sinh macrolid và nhóm kháng sinh cyclin
Trong nhóm kháng sinh macrolid, kháng sinh azithromycin chiếm 88,9% và spiramycin chiếm 11,1% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với tác giả Trần Nhân Thắng nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2013 ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân sử dụng kháng sinh macrolid 15C (11,29%) chiếm nhiều hơn so với kháng sinh macrolid 16C (5,87%) [32]
Trong nhóm kháng sinh cyclin, kháng sinh tetracyclin chiếm 60,0% và kháng sinh doxycyclin chiếm 40,0% Hiện nay kháng sinh tetracyclin ít được sử dụng cho đường uống, chủ yếu là dùng ngoài da Kháng sinh doxyclin được sử dụng phổ biến hơn [1], [5]
4.2.3 Đặc điểm về kháng sinh đơn thành phần, đa thành phần