1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện trường đại học y dược cần thơ năm 2019 2020

79 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện trường đại học y dược cần thơ năm 2019-2020
Tác giả Bùi Lan Anh
Người hướng dẫn TS.DS. Nguyễn Thắng, TS.DS. Phạm Thị Tố Liên
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Dược lý – Dược lâm sàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Định nghĩa và phân loại kháng sinh (13)
    • 1.2. Đặc điểm sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh (16)
    • 1.3. Sử dụng kháng sinh hợp lý và một số yếu tố liên quan (18)
    • 1.4. Một số nghiên cứu về sử dụng kháng sinh trên thế giới và tại Việt Nam 14 Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (24)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (28)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (28)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (36)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (28)
    • 3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (38)
    • 3.2. Đặc điểm sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ (41)
    • 3.3. Tình hình sử dụng kháng sinh hợp lý và một số yếu tố liên quan (45)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (38)
    • 4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (53)

Nội dung

Điều trị khi có bằng chứng về vi khuẩn học: Theo hướng dẫn kê đơn kháng sinh của Cơ quan thuốc và sức khỏe Đan Mạch, việc lấy mẫu vi sinh được khuyến cáo trước khi bắt đầu sử dụng kháng

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm về giới tính

Bảng 3.1 Đặc điểm bệnh nhân theo giới tính

Giới tính Tần số Tỷ lệ (%)

Bệnh nhân là nữ giới chiếm tỷ lệ 51,7% và nam giới chiếm tỷ lệ 48,3%

3.1.2 Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân

Bảng 3.2 Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân

Nhóm tuổi Tần số Tỷ lệ %

Bệnh nhân thuộc nhóm tuổi 16-59 tuổi chiếm đa số (77,9%) và chiếm ít nhất là nhóm ≤15 tuổi (1,9%) Độ tuổi trung bình là 40,6±18,4 tuổi với tuổi lớn nhất là 87 tuổi và nhỏ nhất là 2 tuổi

3.1.3 Đặc điểm về tham gia bảo hiểm y tế của bệnh nhân

Bảng 3.3 Đặc điểm về tham gia bảo hiểm y tế của bệnh nhân

Bảo hiểm y tế Tần số Tỷ lệ %

Bệnh nhân có bảo hiểm y tế chiếm tỷ lệ là 61,7%

3.1.4 Đặc điểm về bệnh kèm theo

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về bệnh kèm theo Nhận xét:

Bệnh nhân có 1 bệnh kèm theo chiếm nhiều nhất (44,0%); kế đến là không mắc bệnh kèm theo (41,0%) và ít nhất là >2 bệnh kèm theo (4,3%)

3.1.5 Phân bố bệnh nhân theo phòng khám

Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân theo phòng khám

Các phòng khám Tần số Tỷ lệ %

Phòng khám tai mũi họng 150 35,7

Phòng khám nội tổng quát 65 15,5

Phòng khám răng hàm mặt 34 8,1

Phòng khám chấn thương chỉnh hình 31 7,4

Phòng khám ngoại hậu môn trực tràng 28 6,7

Phòng khám niệu nam khoa 25 6,0

Phòng khám y học gia đình 22 5,2

Phòng khám gan và bệnh truyền nhiễm 16 3,8

Phòng khám sản phụ khoa 6 1,4

Bệnh nhân khám ở phòng khám tai mũi họng chiếm tỷ lệ nhiều nhất (35,5%) và ít nhất là phòng khám ung bướu (0,5%).

Đặc điểm sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

3.2.1 Các nhóm kháng sinh gặp trong mẫu nghiên cứu

Biểu đồ 3.2 Các nhóm kháng sinh gặp trong nghiên cứu

Nhận xét: nhóm kháng sinh penicillin chiếm tỷ lệ 49,3%; nhóm cephalosporin chiếm 33,1%; nhóm quinolon chiếm 12,6%; nhóm cyclin chiếm 3,6% và nhóm macrolid chiếm 4,3%

Bảng 3.5 Các kháng sinh nhóm penicillin gặp trong nghiên cứu

Kháng sinh nhóm penicillin Tần số Tỷ lệ %

Trong nhóm kháng sinh penicillin, kháng sinh amoxicillin-acid clavulanic chiếm 99,5%

Biểu đồ 3.3 Các kháng sinh nhóm cephalosporin gặp trong nghiên cứu Nhận xét:

Trong phân nhóm kháng sinh cephalosporin, kháng sinh cefuroxim chiếm 79,1%; cefpodoxim chiếm 18,7% và cefixim chiếm 2,2%

Bảng 3.6 Các kháng sinh nhóm quinolon gặp trong nghiên cứu

Kháng sinh nhóm quinolon Tần số Tỷ lệ %

Trong nhóm kháng sinh quinolon, kháng sinh levofloxacin chiếm 41,5%; ofloxacin chiếm 34,0% và ciprofloxacin chiếm 24,5%

Bảng 3.7 Các kháng sinh nhóm cyclin gặp trong nghiên cứu

Kháng sinh nhóm cyclin Tần số Tỷ lệ %

Trong nhóm kháng sinh cyclin, kháng sinh tetracyclin chiếm 60,0%

Bảng 3.8 Các kháng sinh nhóm macrolid gặp trong nghiên cứu

Kháng sinh nhóm macrolid Tần số Tỷ lệ %

Trong nhóm kháng sinh macrolid, kháng sinh azithromycin chiếm 88,9% và spiramycin chiếm 11,1%

3.2.2 Phân bố kháng sinh đơn thành phần, đa thành phần

Bảng 3.9 Phân bố kháng sinh đơn thành phần, đa thành phần

Kháng sinh đơn thành phần, đa thành phần Tần số Tỷ lệ %

Kháng sinh đơn thành phần 214 51,0

Kháng sinh đa thành phần 206 49,0

Kháng sinh đơn thành phần chiếm đa số với 51,0% và kháng sinh đa thành phần có tỷ lệ 49,0%

3.2.3 Số kháng sinh sử dụng trong một đơn thuốc

Biểu đồ 3.4 Số lượng kháng sinh sử dụng trong một đơn thuốc Nhận xét:

Có 97,1% đơn thuốc sử dụng 1 kháng sinh và 2 kháng sinh chiếm 2,9%

Bảng 3.10 Các kháng sinh đơn trị liệu

Kháng sinh Tần số Tỷ lệ %

Kháng sinh đơn trị là penicillin chiếm tỷ lệ 48,6%; cephalosporin chiếm tỷ lệ 33,3% và cyclin chiếm 3,4%

Bảng 3.11 Tỷ lệ các phối hợp kháng sinh

Phối hợp kháng sinh Tần số Tỷ lệ %

Nhận xét: sự phối hợp giữa penicillin và quinolon chiếm 66,7%; giữa cephalosporin và quinolon chiếm 25,0%; giữa penicillin và cyclin chiếm 8,3%

3.2.4 Số ngày sử dụng kháng sinh trong một liệu trình điều trị

Bảng 3.12 Số ngày sử dụng kháng sinh trong một liệu trình điều trị

Thời gian sử dụng kháng sinh Tần số Tỷ lệ %

Nhận xét: số ngày sử dụng kháng sinh trong một liệu trình điều trị từ 05-07 ngày chiếm tỷ lệ 84,5% và từ 08-10 ngày chiếm tỷ lệ 2,4%.

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

4.1.1 Đặc điểm về giới tính

Kết quả khảo sát trên 420 đơn thuốc của bệnh nhân ngoại trú có sử dụng kháng sinh cho thấy tỷ lệ nam, nữ lần lượt là 48,3% và 51,7% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Hoàng Tử Nha về sử dụng kháng sinh hợp lý trong điều trị ngoại trú tại Hoà Nhơn, Bình Định; tỷ lệ nam, nữ lần lượt là 46,0% và 54,0% [25] Kết quả này cho thấy tỷ lệ bệnh tật giữa nam và nữ tại các địa bàn nghiên cứu chênh lệch nhau không nhiều

Chúng tôi ghi nhận độ tuổi trung bình của bệnh nhân được chỉ định kháng sinh là 40,6 tuổi, nhỏ nhất là 2 tuổi và lớn nhất là 87 tuổi Trong đó, nhóm tuổi 16–59 chiếm đa số (77,9%) và chiếm ít nhất là nhóm ≤15 tuổi (1,9%) Độ tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với một số nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu của Võ Thị Thanh Thúy về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2017 ghi nhận tuổi trung bình của bệnh nhân được chỉ định điều trị kháng sinh là 43,9 tuổi [33]; nghiên cứu của Phạm Văn Lập về tỷ lệ sử dụng kháng sinh trong kê đơn điều trị ngoại trú tại Long An năm 2009 cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân là 46,2 tuổi [20] Điều này có thể được lý giải là do sự khác nhau về thời gian cũng như địa bàn nghiên cứu Bên cạnh đó, đứng trước tốc độ phát triển về kinh tế, con người ngày nay phải đối mặt và tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ vì vậy mà mô hình bệnh tật nói chung và bệnh lý nhiễm trùng nói riêng có sự thay đổi ngày càng trẻ hóa [34]

4.1.3 Đặc điểm về sử dụng bảo hiểm y tế của bệnh nhân

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận bệnh nhân có BHYT chiếm 61,7% Kết quả này thấp hơn kết quả của Hoàng Tử Nha nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh hợp lý trong điều trị ngoại trú tại Hoà Nhơn, Bình Định; tỷ lệ bệnh nhân sử dụng kháng sinh có BHYT trong nghiên cứu của tác giả này chiếm đến 84,7% [25] Kết quả của chúng tôi cũng thấp hơn so với báo cáo của Nguyễn Thị Minh Châu và cộng sự về độ bao phủ và mức độ sử dụng BHYT ở Việt Nam năm 2019 ghi nhận tỷ lệ tham gia BHYT của người dân là 86,4% [10] Sự khác biệt về tỷ lệ tham gia BHYT giữa các nghiên cứu có thể là do đặc thù phân tuyến điều trị tại nơi các tác giả tiến hành nghiên cứu Ngoài ra việc sử dụng BHYT khi khám chữa bệnh còn phụ thuộc vào một số yếu tố chủ quan như: tâm lý của bệnh nhân muốn khám nhanh, muốn chất lượng thuốc điều trị tốt và các yếu tố khách quan khác như: phân tuyến điều trị, thủ tục khi chuyển tuyến

4.1.4 Số bệnh mắc kèm của bệnh nhân

Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ bệnh nhân không có bệnh mắc kèm là 41,0%; có một bệnh mắc kèm là 44,0%; có hai bệnh mắc kèm là 10,7% và 4,3% bệnh nhân có nhiều hơn hai bệnh mắc kèm Đa số thuốc nói chung và kháng sinh nói riêng sẽ được chuyển hóa tại gan trước khi được thải trừ qua thận Khi bệnh nhân mắc một hay nhiều bệnh mắc kèm thì có thể xảy ra tình trạng tương tác giữa các thuốc với nhau Ngoài ra, đối với bệnh nhân sử dụng kháng sinh thì bệnh mắc kèm có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hấp thu, chuyển hóa và thải trừ thuốc; ví dụ như: suy gan, suy thận, ung thư… [5], [8] Như đã nói ở trên, việc chỉ định kháng sinh sẽ phụ thuộc vào mức độ bệnh và tình trạng của cơ thể cũng như là các bệnh lý kèm theo, trên cơ sở đó bác sĩ sẽ quyết định loại kháng sinh, liều lượng kháng sinh và đường sử dụng kháng sinh

4.1.5 Tỷ lệ các phòng khám gặp trong mẫu nghiên cứu

Chúng tôi ghi nhận bệnh nhân khám ở Phòng khám Tai-Mũi-Họng chiếm tỷ lệ cao nhất là 35,7%; kế đến là Phòng khám Nội Tổng quát chiếm 15,5%; Phòng khám Răng-Hàm-Mặt chiếm 8,1% Do chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại Khoa Khám bệnh nên thường gặp các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp như: viêm họng, viêm phế quản cấp, viêm xoang cấp, viêm tai giữa ; đây có thể là một trong những lý do khiến các bác sĩ ở Phòng khám Tai-Mũi-Họng kê kháng sinh thường xuyên hơn các phòng khám khác

4.2 Đặc điểm sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân điều trị ngoại trú

4.2.1 Các nhóm kháng sinh được sử dụng

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận kháng sinh nhóm beta-lactam chiếm tỷ lệ cao nhất với 82,4% Trong đó, phân nhóm penicillin được chỉ định với tỷ lệ 49,3% và phân nhóm cephalosporin với tỷ lệ 33,1% Tiếp đến là nhóm quinolon chiếm 12,6%; nhóm macrolid chiếm 4,3% và ít nhất là nhóm cyclin với 3,6% Kết quả của chúng tôi có sự tương đồng với nghiên cứu của Võ Thị Thanh Thúy về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh nhóm beta-lactam chiếm nhiều nhất (83,5%), kế đến là kháng sinh nhóm quinolon (7,8%) và kháng sinh macrolid (6,8%); tác giả Huỳnh Thị Thanh Phượng và cộng sự nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh của bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Long An năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh nhóm beta-lactam chiếm nhiều nhất (87,5%), kế đến là kháng sinh nhóm macrolid (5,6%), kháng sinh nhóm quinolon (4,7%) [29]

Nhưng kết quả này lại khác với kết quả của tác giả Hoàng Tử Nha nghiên cứu về tính hợp lý trong việc sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Hoà Nhơn, Bình Định năm 2009; ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh nhóm beta-lactam là 60,6% và nhóm cyclin là 0,5% [25]; nghiên cứu của Trần Nhân

Thắng về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2013 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh nhóm beta-lactam là 45,0%, nhóm macrolid là 20,0% và nhóm quinolon là 14,0% [32], [33] Kết quả của tất cả các nghiên cứu trên đều cho thấy kháng sinh nhóm beta-lactam là nhóm kháng sinh được chỉ định nhiều nhất Điều này có thể được lý giải rằng các bác sĩ ưu tiên sử dụng kháng sinh nhóm diệt khuẩn hơn các kháng sinh nhóm kìm khuẩn nhằm nâng cao hiệu quả trong việc kiểm soát nhiễm trùng và hạn chế các tác dụng phụ khi sử dụng kháng sinh liều cao

Trong nghiên cứu của Ann Versporten và các cộng sự về sử dụng kháng sinh trong các bệnh viện trên toàn thế giới năm 2017 ghi nhận kháng sinh nhóm beta-lactam là nhóm kháng sinh được chỉ định thường xuyên nhất trên toàn thế giới Trong đó, các nước ở khu vực Bắc Âu, Tây Âu và Đông Nam Á thường chỉ định nhóm kháng sinh penicillin; các nước thuộc khu vực Châu Mỹ Latin, phía nam và đông Châu Âu thường chỉ định các cephalosporin thế hệ 3 (chủ yếu là ceftriaxon) Quinolon là nhóm kháng sinh được kê đơn phổ biến thứ hai Trong đó, levofloxacin thường được sử dụng ở các bệnh viện thuộc khu vực Bắc Mỹ và Đông Nam Á và ciprofloxacin ở Tây Âu [37]

4.2.2 Đặc điểm về sử dụng kháng sinh trong từng nhóm

Nhóm kháng sinh beta-lactam

Trong phân nhóm kháng sinh penicillin thì amoxicillin kết hợp acid clavulanic trong cùng một chế phẩm được sử dụng nhiều nhất chiếm 99,5% Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Thanh Phượng và cộng sự nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh của bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Long An năm 2017 cũng ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh amoxicillin kết hợp acid clavulanic được sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ 96,4% [29] Trong nghiên cứu của tác giả Võ Thị Thanh Thúy nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh amoxicillin là 97,1% [33] Việc sử dụng amoxicillin kết hợp acid clavulanic chiếm tỷ lệ cao là do bệnh nhân ngoại trú đa số là mắc các bệnh về đường hô hấp Điều này là phù hợp vì amoxicillin kết hợp acid clavulanic có sinh khả dụng đường uống không chênh lệch đáng kể so với đường tiêm, hơn nữa đường uống phù hợp cho bệnh nhân sử dụng tại nhà

Trong phân nhóm kháng sinh cephalosporin thì kháng sinh cefuroxim (thế hệ 2) chiếm nhiều nhất với tỷ lệ là 79,1%; đứng thứ 2 là kháng sinh cefpodoxim (thế hệ 3) chiếm 18,7% và kháng sinh cefixim (thế hệ 3) chiếm 2,2% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khác với tác giả Huỳnh Thị Thanh Phượng và cộng sự nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh của bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Long An năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 1 chiếm nhiều nhất với 44,9%; kế đến là kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 2 với 43,8% và tỷ lệ ít nhất là kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 3 với 11,3%; tác giả Võ Thị Thanh Thúy nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 3 chiếm nhiều nhất với 48,7%; kế đến là kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 1 với 27,5% và tỷ lệ ít nhất là kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ 2 với 23,8% [29], [33] Sự khác nhau về tỷ lệ các thế hệ kháng sinh cephalosporin có thể là do một số yếu tố như là danh sách kháng sinh trúng thầu vào các bệnh viện khác nhau, số lượng kháng sinh còn lại trong khoa dược tại thời điểm nghiên cứu, sự đa dạng của các bệnh lý

Trong nhóm kháng sinh quinolon, kháng sinh levofloxacin (thế hệ 3) được sử dụng nhiều nhất (41,5%), kế đến là kháng sinh ofloxacin (thế hệ 2) đứng thứ 2 (34,0%) và kháng sinh ciprofloxacin (thế hệ 2) chiếm tỷ lệ ít nhất (24,5%) Nhìn chung kháng sinh quinolon thế hệ 2 chiếm ưu thế hơn so với thế hệ 3 Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi khác với kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Nhân Thắng về tỷ lệ kháng sinh quinolon thế hệ 3 (64,56%) và kháng sinh quinolon thế hệ 2 (35,44%) [32] Tác giả Võ Thị Thanh Thúy nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2017 ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh quinolon thế hệ

3 chiếm nhiều nhất với 75% và quinolon thế hệ 2 là 18,7% [33] Sự khác biệt giữa các mô hình bệnh tật ở mỗi bệnh viện, mỗi phòng khám và thói quen của các bác sĩ ở mỗi địa phương có thể là một trong những nguyên dẫn đến sự khác nhau giữa các kết quả nghiên cứu này

Nhóm kháng sinh macrolid và nhóm kháng sinh cyclin

Trong nhóm kháng sinh macrolid, kháng sinh azithromycin chiếm 88,9% và spiramycin chiếm 11,1% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với tác giả Trần Nhân Thắng nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2013 ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân sử dụng kháng sinh macrolid 15C (11,29%) chiếm nhiều hơn so với kháng sinh macrolid 16C (5,87%) [32]

Trong nhóm kháng sinh cyclin, kháng sinh tetracyclin chiếm 60,0% và kháng sinh doxycyclin chiếm 40,0% Hiện nay kháng sinh tetracyclin ít được sử dụng cho đường uống, chủ yếu là dùng ngoài da Kháng sinh doxyclin được sử dụng phổ biến hơn [1], [5]

4.2.3 Đặc điểm về kháng sinh đơn thành phần, đa thành phần

Ngày đăng: 18/03/2023, 17:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Ngọc Ẩn (2017), “Khảo sát tình hình kê đơn sử dụng thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tân Trụ năm 2016”, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, (10), tr.61-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình kê đơn sử dụng thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tân Trụ năm 2016”, "Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
Tác giả: Tạ Ngọc Ẩn
Năm: 2017
2. Nguyễn Quốc Bình, Châu Thị Ánh Minh (2017), “Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh ngoại trú tại Bệnh viện Chợ Rẫy”, Tạp chí nghiên cứu Y học, Phụ bản Tập 21, Số 2, 2017, tr.270-277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh ngoại trú tại Bệnh viện Chợ Rẫy”, "Tạp chí nghiên cứu Y học
Tác giả: Nguyễn Quốc Bình, Châu Thị Ánh Minh
Năm: 2017
6. Bộ Y tế (2015), “Hướng dẫn sử dụng kháng sinh”, Quyết định 708/QĐ- BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng kháng sinh”, "Quyết định 708/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
7. Bộ Y tế (2016), “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện”, Quyết định số 772/QĐ – BYT ngày 04/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện”, "Quyết định số 772/QĐ – BYT ngày 04/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2016
8. Bộ Y tế (2016), “Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú ”, Thông tư số 05/2016/TT – BYT ngày 29/2/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú ”, "Thông tư số 05/2016/TT – BYT ngày 29/2/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2016
9. Bộ Y tế (2017), “Quy định về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú”, Thông tư số 52/2017/TT – BYT ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú”, "Thông tư số 52/2017/TT – BYT ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2017
10. Nguyễn Thị Minh Châu, Nguyễn Thị Cúc Trâm và cộng sự (2019), “Độ bao phủ và mức độ sử dụng bảo hiểm y tế ở Việt Nam”, Báo cáo giữa kỳ, Viện nghiên cứu kinh tế Châu Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ bao phủ và mức độ sử dụng bảo hiểm y tế ở Việt Nam”, "Báo cáo giữa kỳ
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Châu, Nguyễn Thị Cúc Trâm và cộng sự
Năm: 2019
11. Nguyễn Kim Chi và cộng sự (2017), Đánh giá sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Bệnh viện Đa Khoa Trung tâm An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sử dụng kháng sinh trong điều trị ngoại trú
Tác giả: Nguyễn Kim Chi và cộng sự
Năm: 2017
12. Phạm Bá Đà, Văn Đức Phong, Trần Thị Phượng và cộng sự (2015), “Khảo sát sử dụng kháng sinh hợp lý tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum năm 2014”, Tạp chí Truyền nhiễm Việt Nam, 3(11), 62-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát sử dụng kháng sinh hợp lý tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum năm 2014”, "Tạp chí Truyền nhiễm Việt Nam
Tác giả: Phạm Bá Đà, Văn Đức Phong, Trần Thị Phượng và cộng sự
Năm: 2015
13. Nguyễn Thị Song Hà, Lê Thị Uyển, Lê Thị Quỳnh Anh (2015), “Phân tích hoạt động kê đơn thuốc ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2014”, Tạp chí Dược học, (474), 8-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động kê đơn thuốc ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2014”, "Tạp chí Dược học
Tác giả: Nguyễn Thị Song Hà, Lê Thị Uyển, Lê Thị Quỳnh Anh
Năm: 2015
14. Nguyễn Thị Thu Hương, Hoàng Thị Minh Hiền, Hoàng Thị Kim Huyền (2016), “Đánh giá thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú trên bệnh nhân cao tuổi theo công cụ sàng lọc STOPP 2014 tại một số bệnh viện trên địa bàn Hà Nội”, Tạp chí Dược học, (481), tr.2-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú trên bệnh nhân cao tuổi theo công cụ sàng lọc STOPP 2014 tại một số bệnh viện trên địa bàn Hà Nội”, "Tạp chí Dược học
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương, Hoàng Thị Minh Hiền, Hoàng Thị Kim Huyền
Năm: 2016
15. Nguyễn Phục Hưng, Phạm Thành Trọng, Nguyễn Thị Ngọc Vân (2018), “Khảo sát tình hình kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú ở trẻ em dưới 6 tuổi tại các bệnh viện đa khoa công lập trên địa bàn Thành phố Cần Thơ năm 2015-2016”, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, (13- 14), tr.248-253 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú ở trẻ em dưới 6 tuổi tại các bệnh viện đa khoa công lập trên địa bàn Thành phố Cần Thơ năm 2015-2016”, "Tạp chí Y Dược học Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Phục Hưng, Phạm Thành Trọng, Nguyễn Thị Ngọc Vân
Năm: 2018
16. Nguyễn Việt Hùng (2019), Phân tích thực trạng tiêu thụ kháng sinh và việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi bệnh viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên, Luận văn thạc sĩ dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng tiêu thụ kháng sinh và việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi bệnh viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng
Năm: 2019
17. Ninh Mai Hường, Nguyễn Tố Khanh (2016), “Sử dụng kháng sinh Quinolon trong thực hành lâm sàng”, Báo cáo chuyên đề Dược, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng kháng sinh Quinolon trong thực hành lâm sàng”, "Báo cáo chuyên đề Dược
Tác giả: Ninh Mai Hường, Nguyễn Tố Khanh
Năm: 2016
18. Trần Quốc Khánh (2018), “Mặt trái của kháng sinh và thuốc tây”, Tạp chí Khoa học & Đời sống Việt Nam, 8, tr.43-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt trái của kháng sinh và thuốc tây”, "Tạp chí Khoa học & Đời sống Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Khánh
Năm: 2018
19. Khoa Y tế công cộng (2014), Tài liệu học tập xử lý số liệu bằng chương trình SPSS, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập xử lý số liệu bằng chương trình SPSS
Tác giả: Khoa Y tế công cộng
Năm: 2014
20. Phạm Văn Lập (2009), Tỉ lệ sử dụng kháng sinh trong kê đơn điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa huyện Cần Giuộc tỉnh Long An năm 2008, Luận văn chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ sử dụng kháng sinh trong kê đơn điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa huyện Cần Giuộc tỉnh Long An năm 2008
Tác giả: Phạm Văn Lập
Năm: 2009
21. Nguyễn Văn Mạnh (2018), Phân tích sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Phố Nối, Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Phố Nối
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Năm: 2018
22. Nguyễn Sơn Nam, Phạm Vĩnh Trường (2018), “Phân tích đơn thuốc điều trị ngoại trú cho bệnh nhân có bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108 năm 2017”, Tạp chí Y học Việt Nam, 464(1), tr.151-155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích đơn thuốc điều trị ngoại trú cho bệnh nhân có bảo hiểm y tế tại Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108 năm 2017”, "Tạp chí Y học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Sơn Nam, Phạm Vĩnh Trường
Năm: 2018
23. Dương Ngọc Ngà, Bùi Thị Luyến, Dương Quốc Trưởng (2020), “Đánh giá hoạt động kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên năm 2019”, Tạp chí Khoa học & Công nghệ, 225(01), tr.127-133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hoạt động kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên năm 2019”, "Tạp chí Khoa học & Công nghệ
Tác giả: Dương Ngọc Ngà, Bùi Thị Luyến, Dương Quốc Trưởng
Năm: 2020

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w