1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và đề kháng kháng sinh trên bệnh nhân viêm phổi bệnh viện tại khoa hồi sức tích cực chống độc bệnh viện đa khoa cà mau năm 2019 2020

99 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình sử dụng kháng sinh và đề kháng kháng sinh trên bệnh nhân viêm phổi bệnh viện tại khoa hồi sức tích cực – chống độc bệnh viện đa khoa Cà Mau năm 2019 – 2020
Tác giả Lâm Nguyệt Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Thành Suôl
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Dược lý – Dược lâm sàng
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Đại cương về viêm phổi bệnh viện và kháng sinh (13)
    • 1.2. Đề kháng kháng sinh (22)
    • 1.3. Phác đồ điều trị của IDSA/ATS (2016) (24)
    • 1.4. Tương tác thuốc (30)
    • 1.5. Tình hình nghiên cứu (33)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (36)
    • 2.1. Đối tượng (36)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (37)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (50)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (51)
    • 3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (51)
    • 3.2. Xác định đặc điểm sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân VPBV (52)
    • 3.3. Tỷ lệ và mức độ TTT của kháng sinh với các thuốc dùng chung (0)
    • 3.4. Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn phân lập được (65)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (70)
    • 4.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu (70)
    • 4.2. Đặc điểm sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân VPBV (0)
    • 4.3. Tỷ lệ và mức độ TTT của kháng sinh với các thuốc dùng chung (0)
    • 4.4. Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn phân lập được trên HSBA … (84)
  • KẾT LUẬN (89)
  • PHỤ LỤC (47)

Nội dung

Tỉ lệ vi khuẩn đề kháng kháng sinh ngày càng tăng cao, trong khi đó với các kháng sinh được cho là có tác dụng cho viêm phổi bệnh viện.. Khoa Hồi Sức tích cực - Chống độc HSTC-CĐ tại Bện

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Từ tháng 4/2019 đến tháng 4/2020, tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi bệnh viện, bao gồm viêm phổi do thở máy (VPTM), đã được điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực - chống độc của Bệnh viện đa khoa Cà Mau.

Bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi sau thời gian nhập viện ít nhất

48 giờ xuất hiện những triệu chứng, dấu hiệu thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán VPBV theo IDSA/ATS (2016) tại khoa HSTC – CĐ

- Sốt ( >38 0 C) loại trừ các nguyên nhân khác

- Tăng bạch cầu ( ≥ 12 x 10 9 /L ) hoặc giảm bạch cầu ( ≤ 4 x 10 9 /L)

- Thay đổi ý thức ở bệnh nhân cao tuổi (>70 tuổi) loại trừ các nguyên nhân khác Và có ít nhất một trong các triệu chứng sau:

- Thay đổi tính chất của đàm hay tăng tiết đàm hay tăng nhu cầu hút đàm

- Ho hoặc ho tăng lên, hoặc khó thở hoặc thở nhanh

- Khám phổi có ran bệnh lý

- Xét nghiệm khí máu xấu đi : giảm oxy máu, tăng nhu cầu oxy hoặc cần thở máy

Tổn thương trên phim phổi là các bất thường mới xuất hiện hoặc tiến triển, không biến mất nhanh chóng và có thể được phát hiện qua chụp X-quang phổi hoặc chụp cắt lớp vi tính phổi Các dạng tổn thương phổ biến bao gồm thâm nhiễm, đông đặc và tạo hang, cho thấy tình trạng ảnh hưởng đến cấu trúc phổi cần được theo dõi kỹ lưỡng.

- Bệnh nhân mắc viêm phổi cộng đồng trước

- Bệnh nhân được đặt nội khí quản ở tuyến trước

- Bệnh nhân có thời gian điều trị tại khoa HSTC – CĐ dưới 3 ngày

Bệnh nhân chưa cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết như cân nặng, tuổi tác, cũng như các dữ liệu liên quan đến việc sử dụng kháng sinh, bao gồm tên thuốc, liều lượng, đường dùng và thời gian điều trị Việc thiếu thông tin này có thể ảnh hưởng đến quá trình chẩn đoán và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp Cập nhật đầy đủ các dữ liệu liên quan giúp bác sĩ hoặc nhà cung cấp dịch vụ y tế đưa ra quyết định chính xác hơn về cách sử dụng kháng sinh an toàn và hiệu quả.

- Bệnh nhân bị ung thư, lao phổi, AIDS, phụ nữ có thai

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Khoa HSTC – CĐ Bệnh viện đa khoa Cà Mau

- Thời gian: từ tháng 04/2019 đến 04/2020.

Phương pháp nghiên cứu

Theo phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Chọn mẫu toàn bộ, toàn bộ bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu nghiên cứu ngay khi bệnh nhân vào khoa HSTC – CĐ điều trị từ 01/4/2019 đến 31/4/2020

Số mẫu thực tế: 121 bệnh nhân

Các bệnh nhân được chẩn đoán mắc viêm phổi bệnh viện, bao gồm cả viêm phổi liên quan đến thở máy, được điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực - chống độc Bệnh viện Đa khoa Cà Mau trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 4 năm 2020.

Sơ đồ 2.1 Phương pháp chọn mẫu

2.2.4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi

Bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ phần trăm dựa trên cách tính bằng cách chia số lượng bệnh nhân trong nhóm tuổi này cho tổng số hồ sơ bệnh án đã khảo sát, rồi nhân với 100 để có tỷ lệ phần trăm Phương pháp này giúp đánh giá chính xác mức độ phổ biến bệnh theo nhóm tuổi, đặc biệt là nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi, từ đó hỗ trợ trong việc lập kế hoạch y tế phù hợp.

CĐ có ngày ra viện từ 01/04/2019 đến

Loại bỏ bệnh nhân thuộc tiêu chuẩn loại trừ ra khỏi mẫu nghiên cứu

Bệnh nhân viêm phổi bệnh viện mắc tại Khoa HSTC-CĐ

Chọn bệnh nhân có chẩn đoán viêm phổi

Trong phân tích giới tính của hồ sơ bệnh án, tỷ lệ phần trăm được tính bằng cách lấy số hồ sơ bệnh án theo giới tính của bệnh nhân chia cho tổng số hồ sơ bệnh án khảo sát, rồi nhân với 100 Phương pháp này giúp xác định tỷ lệ phần trăm giới trong tổng số hồ sơ bệnh án, cung cấp cái nhìn rõ nét về sự phân bổ giới trong nghiên cứu y học.

Cách tính: tỷ lệ % về nhóm bệnh mắc kèm được chẩn đoán được thuộc mỗi nhóm bệnh chia cho tổng số hồ sơ bệnh án và nhân 100

Trong nghiên cứu, có 4 bệnh nền chính được xác định Cách tính tỷ lệ phần trăm của từng bệnh nền dựa trên số bệnh nhân có bệnh nền trong hồ sơ bệnh án, chia cho tổng số hồ sơ bệnh án trong mẫu nghiên cứu rồi nhân với 100 để quy đổi thành phần trăm Phương pháp này giúp đánh giá tỷ lệ mắc các bệnh nền tương ứng, cung cấp dữ liệu cần thiết để phân tích mức độ phổ biến của từng bệnh trong cộng đồng nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu, tỷ lệ phần trăm ngày nằm viện được tính bằng cách lấy tổng số ngày điều trị của bệnh nhân trong hồ sơ bệnh án từng nhóm, chia cho tổng số hồ sơ bệnh án trong mẫu nghiên cứu rồi nhân với 100 Điều này giúp xác định chính xác tỷ lệ thời gian điều trị của bệnh nhân trong khoảng thời gian trên 20 ngày, cung cấp dữ liệu quan trọng để phân tích hiệu quả điều trị và quản lý bệnh viện.

2.2.4.2 Xác định đặc điểm sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân viêm phổi bệnh viện

 Các nhóm kháng sinh, số lượng và đường dùng đã được sử dụng:

Cách tính: bao gồm tên hoạt chất, hàm lượng, số lượng và các đường sử dụng

Các kháng sinh được phân loại thành các nhóm chính dựa trên loại, số lượng và đường dùng, theo Thông tư 30/2018/TT-BYT Phân loại này giúp xác định tỷ lệ phần trăm các loại kháng sinh trong tổng số kháng sinh nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng thuốc kháng sinh hợp lý.

 Số loại kháng sinh được sử dụng trong một liệu trình điều trị:

- > 4 loại Cách tính: được tính từ các loại kháng sinh được sử dụng trên hồ sơ bệnh án trong suốt quá trình điều trị tại khoa

 Số ngày sử dụng kháng sinh:

Cách tính tỷ lệ phần trăm số ngày sử dụng kháng sinh dựa trên hồ sơ bệnh án là lấy số ngày sử dụng kháng sinh theo từng nhóm ngày chia cho tổng số hồ sơ bệnh án trong mẫu nghiên cứu, sau đó nhân với 100 để được tỷ lệ phần trăm chính xác.

 Xác định tỷ lệ cách phối hợp kháng sinh:

Cách tính tỷ lệ phần trăm các phương pháp phối hợp kháng sinh trong điều trị được thực hiện bằng cách chia số hồ sơ bệnh án áp dụng phương pháp phối hợp thuốc cụ thể cho tổng số hồ sơ trong mẫu nghiên cứu rồi nhân với 100 để có tỷ lệ chính xác Quá trình này giúp xác định mức độ phổ biến của từng cách phối hợp kháng sinh trong quá trình điều trị, hỗ trợ phân tích dữ liệu và nâng cao hiệu quả nghiên cứu.

 Xác định tỷ lệ kháng sinh trong phác đồ ban đầu

Cách tính tỷ lệ phần trăm các loại kháng sinh trong phác đồ ban đầu dựa trên tỷ lệ phần trăm được xác định bằng cách lấy số lượng kháng sinh trong phác đồ ban đầu điều trị chia cho tổng số hồ sơ bệnh án trong mẫu nghiên cứu, sau đó nhân với 100 để có kết quả chính xác.

 Xác định tỷ lệ loại phác đồ ban đầu theo hoạt chất

- Phác đồ ban đầu có cephalosporin thế hệ 3,4

- Phác đồ ban đầu có fluoroquinolon

- Phác đồ ban đầu có carbapenem

- Phác đồ ban đầu có amikacin

- Phác đồ ban đầu có metronidazol

- Phác đồ ban đầu có vancomycin

- Phác đồ ban đầu có colistin

Cách tính tỷ lệ phần trăm các loại phác đồ ban đầu dựa trên hoạt chất được thực hiện bằng cách chia số lượng hồ sơ bệnh án điều trị bằng loại phác đồ ban đầu đó cho tổng số hồ sơ trong mẫu nghiên cứu, sau đó nhân kết quả với 100 để có tỷ lệ phần trăm.

 Thay đổi kháng sinh trong điều trị và cơ sở của sự thay đổi

- Thay đổi kháng sinh trong điều trị

Tỷ lệ phần trăm hồ sơ bệnh án thay đổi kháng sinh trong quá trình điều trị được xác định bằng cách lấy tổng số hồ sơ có chỉ định thay đổi kháng sinh chia cho tổng số hồ sơ trong mẫu nghiên cứu, sau đó nhân với 100 để chuyển đổi thành phần trăm.

- Cơ sở của sự thay đổi kháng sinh:

+ Do tác dụng không mong muốn

+ Không cải thiện lâm sàng

Phương pháp tính tỷ lệ phần trăm về cơ sở của sự thay đổi kháng sinh trong quá trình điều trị dựa trên công thức lấy tổng số hồ sơ bệnh án có thay đổi kháng sinh chia cho tổng số hồ sơ bệnh án trong mẫu nghiên cứu, sau đó nhân với 100 để xác định tỷ lệ phần trăm chính xác.

2.2.4.3 Tỷ lệ, mức độ tương tác thuốc và một số yếu tố liên quan của kháng sinh với các thuốc dùng chung trên hồ sơ bệnh án

Một khảo sát đã được thực hiện để xác định tỷ lệ bệnh án gặp phải tương tác thuốc (TTT), đồng thời phân tích mối liên hệ giữa số lượng thuốc trong hồ sơ bệnh án và nguy cơ TTT Việc phát hiện các tương tác thuốc được thực hiện thông qua tra cứu trực tuyến trên trang web http://drugs.com, giúp tăng độ chính xác và khả năng phát hiện các tương tác tiềm ẩn Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm tra tương tác thuốc trong quá trình điều trị để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

 Tỷ lệ bệnh án có tương tác thuốc

Để xác định tỷ lệ hồ sơ bệnh án gặp tương tác thuốc, chúng tôi tiến hành khảo sát dựa trên hồ sơ bệnh án, sử dụng phần mềm chuyên dụng và tài liệu hỗ trợ phân tích các loại tương tác có thể xảy ra Quá trình này giúp phát hiện những hồ sơ bệnh án chứa tương tác thuốc có hại cần được quan tâm đặc biệt, từ đó nâng cao an toàn trong quản lý và điều trị bệnh nhân.

Cách tính: tỷ lệ này được tính bằng cách chia số hồ sơ bệnh án có TTT cho tổng số hồ sơ bệnh án nhân với 100

 Tỷ lệ các mức tương tác thuốc của các cặp tương tác

Để xác định tỷ lệ các mức tương tác thuốc của kháng sinh và các thuốc dùng chung, chúng tôi phân tích các cặp tương tác thuốc xuất hiện trong hồ sơ bệnh án thông qua việc tra cứu trực tuyến tại trang web http://drugs.com Quá trình này giúp phân loại các tương tác từ mức độ 1 đến 3 dựa trên độ nghiêm trọng và khả năng ảnh hưởng của chúng Phương pháp này giúp đánh giá chính xác tỷ lệ các tương tác thuốc trong tổng số các cặp thuốc được kê đơn, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý thuốc và giảm thiểu các nguy cơ cho bệnh nhân.

Bảng 2.1 Phân loại mức độ nặng của tương tác trong drugs.com

Mức độ tương tác Ý nghĩa

Nghiêm trọng Tương tác có ý nghĩa rõ rệt trên thực hành lâm sàng/Tránh kết hợp, nguy cơ tương tác thuốc cao hơn lợi ích

Trung bình Tương tác có ý nghĩa trên thực hành lâm sàng/Thường tránh kết hợp, chỉ sử dụng trong một số trường hợp đặc biệt

Đạo đức trong nghiên cứu

Tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đảm bảo tính khách quan và trung thực trong đánh giá, xử lý số liệu nghiên cứu Các thông tin thu thập từ hồ sơ bệnh án cần được lưu trữ và bảo mật cẩn thận, chỉ sử dụng đúng mục đích nghiên cứu Quá trình thu thập số liệu không gây ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh cũng như uy tín của đồng nghiệp và cơ quan.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân Đặc điểm bệnh nhân Tần số

Số ngày nằm viện trung bình 23,21 ±14,53

Trong đó, có đến 81,8% bệnh nhân trên 60 tuổi và nam giới chiếm tỷ lệ 53,7% Khoảng một nửa số bệnh nhân (51,2%) điều trị nội trú trên 20 ngày, trung bình mỗi người nằm viện là 23,21 ± 14,53 ngày Bệnh lý thần kinh chiếm 41,9% tổng số ca, và 14,9% bệnh nhân có đồng thời hai bệnh trở lên.

Xác định đặc điểm sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân VPBV

3.2.1 Các nhóm kháng sinh, số lượng và đường dùng đã được sử dụng 3.2.1.1 Nhóm kháng sinh sử dụng

Biểu đồ 3.1 Các nhóm kháng sinh

Có 31 hoạt chất, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm thuốc betalactam, chiếm 18 hoạt chất trong đó nhóm cephalosporin có 10 hoạt chất, penicilin phối hợp với chất ức chế beta-lactamase có 4 hoạt chất, carbapenem có 3 hoạt chất và penicillin phổ rộng có 01 hoạt chất, thấp nhất là các nhóm macrolid, sulfamid, tetracyclin và nitroimidazol có 01 hoạt chất

3.2.1.2 Số lượng, đường dùng của các kháng sinh được sử dụng

Bảng 3.2 Số lượng, đường dùng kháng sinh

Ticarcillin + acid clavulanic TM Lọ 3.2g 162 162 1,38

Imipenem + cilastatin* TM Lọ 500mg/

* PO: Thuốc uống TM: thuốc tiêm tĩnh mạch

Nhóm thuốc polypetid (colistin) là 31,06% chiếm tỷ lệ cao nhất;

Thứ hai là nhóm carbapenem chiếm 29,28 % trong đó meropenem chiếm tỷ lệ cao hơn là 15,2% kế đến là imipenem/cilastatin là 13,58%;

Thứ ba là nhóm betalactam chiếm tỷ lệ 22,07%, trong đó cephalosporin chiếm 16,54% (kháng sinh Cefoperazon + sulbactam sử dụng nhiều nhất chiếm 11,21%)

Thứ tư là nhóm fluoroquinolon chiếm 8,8%, trong đó levofloxacin là kháng sinh được sử dụng cao nhất trong nhóm chiếm 6,6%

Trong nghiên cứu, có hai phương pháp sử dụng thuốc chính là đường tĩnh mạch, chiếm tỷ lệ cao nhất với 78,38%, và đường uống với 21,62% Các loại kháng sinh dùng qua đường uống phổ biến gồm doxycyclin (0,95%), amoxicilin kết hợp acid clavulanic (0,91%), và sulfamethoxazol + trimethoprim (0,75%), phản ánh xu hướng điều trị chủ yếu bằng thuốc theo đường uống trong bệnh viện.

3.2.2 Số loại, số ngày, thời gian, phối hợp kháng sinh

Bảng 3.3 Số loại, số ngày, thời gian, phối hợp kháng sinh Đặc điểm sử dụng kháng sinh Số lượng

Số loại kháng sinh trong đợt điều trị

Thời gian sử dụng kháng sinh

Thời gian trung bình điều trị với kháng sinh (ngày) 19,43 ± 13,43

Phối hợp kháng sinh Đơn trị liệu 10 8,26

Phối hợp 4 thuốc trở lên 1 0,83

Sử dụng hơn 4 loại kháng sinh cùng lúc chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 37,19%, trong khi chỉ sử dụng 1 loại kháng sinh chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,83% Thời gian sử dụng kháng sinh trên 11 ngày chiếm tỷ lệ lớn nhất, chiếm đến 72,24% Đồng thời, phương pháp phối hợp 2 kháng sinh được áp dụng phổ biến nhất, với tỷ lệ lên tới 88,43%.

3.2.3 Xác định tỷ lệ kháng sinh trong phác đồ ban đầu

Bảng 3.4 Tỷ lệ kháng sinh trong phác đồ ban đầu

Phác đồ điều trị Số lượng

Trong giai đoạn điều trị, phác đồ phối hợp kháng sinh theo kinh nghiệm chiếm tỷ lệ khá cao, đạt 64,46%, trong đó phác đồ sử dụng hai kháng sinh chiếm 57,02% Ngược lại, phác đồ ban đầu chỉ dùng một kháng sinh chiếm 35,54%, thể hiện xu hướng ưu tiên phối hợp để nâng cao hiệu quả điều trị.

3.2.4 Xác định tỷ lệ loại phác đồ ban đầu theo hoạt chất

Thành phần trong phác đồ ban đầu

Bảng 3.5 Thành phần trong phác đồ ban đầu

Loại phác đồ ban đầu Số lượng

Thành phần trong phác đồ ban đầu

Thành phần phác đồ ban đầu chủ yếu là 3 nhóm kháng sinh gồm cephalostorin (42,23%), fluoroquinolon (37,86%) và carbapenem (12,62%)

Phác đồ ban đầu có cephalosporin

Bảng 3.6 Phác đồ ban đầu có cephalosporin

Loại phác đồ ban đầu SL

Phác đồ ban đầu có cephalosporin

Cephalosporin là nhóm kháng sinh phổ biến nhất được sử dụng trong điều trị ban đầu, chiếm tỷ lệ cao trong các phác đồ điều trị Trong đó, việc sử dụng phối hợp hai kháng sinh là phổ biến nhất với tỷ lệ 66,67%, và việc kết hợp Cephalosporin với levofloxacin đạt tỷ lệ 58,62%.

Phác đồ ban đầu có carbapenem

Bảng 3.7 Phác đồ ban đầu có carbapenem

Loại phác đồ ban đầu Số lượng

Phác đồ ban đầu có carbapenem

Carbapenem thường được sử dụng trong phác đồ ban đầu chủ yếu là kết hợp với 1 hoặc 2 kháng sinh, chiếm tới 76,92%, trong đó phối hợp với 2 kháng sinh chiếm 53,85% Trong các phác đồ này, levofloxacin là kháng sinh phối hợp phổ biến nhất với carbapenem trong các phác đồ phối hợp 2 kháng sinh, đạt tỷ lệ 30,77%.

3.2.5 Thay đổi kháng sinh và cơ sở thay đổi kháng sinh

Bảng 3.8 Thay đổi kháng sinh và cơ sở thay đổi kháng sinh Đặc điểm sử dụng kháng sinh Số lượng

Thay đổi kháng sinh Có thay đổi 97 80,17

Tác dụng không mong muốn

Không cải thiện lâm sàng 5 5,15

Trong quá trình điều trị có sự thay đổi kháng sinh chiếm 80,17%, trong đó cơ sở thay đổi chủ yếu là theo kháng sinh đồ là 92,78%

3.3 Tỷ lệ và mức độ tương tác thuốc của kháng sinh với các thuốc dùng chung trên hồ sơ bệnh án

3.3.1 Tỷ lệ và mức độ tương tác thuốc của kháng sinh với các thuốc dùng chung

Bảng 3.9 Tương tác thuốc giữa kháng sinh với các thuốc dùng chung

Tương tác thuốc giữa kháng sinh với các thuốc dùng chung Số lượng Tỷ Lệ %

Tương tác thuốc giữa kháng sinh và các thuốc dùng chung xảy ra trong 87,6% hồ sơ bệnh án, cho thấy mức độ phổ biến rất cao Tỷ lệ tương tác trung bình đạt 64,15%, phản ánh khả năng xảy ra các tương tác thuốc không kiểm soát được Trong đó, tỷ lệ tương tác thuốc ở mức độ nghiêm trọng chiếm 34,07%, đòi hỏi sự chú ý và quản lý chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

3.3.2 Tỷ lệ các mức tương tác thuốc của các cặp tương tác

3.3.2.1 Các cặp TTT có kháng sinh mức độ nghiêm trọng

Bảng 3.10 Các cặp TTT có kháng sinh mức độ nghiêm trọng

Các cặp tương tác thuốc có kháng sinh mức độ nghiêm trọng

STT Cặp tương tác thuốc Số lượng Tỷ lệ%

Có 8 cặp TTT có kháng sinh với các thuốc dùng chung mức độ nghiêm trọng, nhóm kháng sinh tương tác với các thuốc khác nhiều nhất là fluoroquinolon 67,48% (các thuốc thường tương tác là insulin và hydrocortison)

3.3.2.2 Các cặp TTT có kháng sinh mức độ Trung bình

Bảng 3.11 Các cặp TTT có kháng sinh mức độ trung bình

Các cặp tương tác thuốc có kháng sinh mức độ trung bình

STT Cặp tương tác thuốc Số lượng Tỷ lệ%

Amikacin và PPI (esomeprazol, lansoprazol, omeprazol) 30 13,64

Có 13 cặp TTT có kháng sinh với các thuốc dùng chung mức độ trung bình, nhóm kháng sinh tương tác với các thuốc khác nhiều nhất là fluoroquinolon 57,28% (các thuốc thường tương tác là magnesium /calcium, aspirin và albuterol)

3.3.2.3 Các cặp TTT có kháng sinh mức độ nhẹ

Bảng 3.12 Các cặp TTT có kháng sinh mức độ nhẹ

Có 3 cặp TTT có kháng sinh với các thuốc dùng chung mức độ nhẹ, nhóm kháng sinh tương tác với các thuốc khác nhiều nhất là fluoroquinolon

Xét các yếu tố ảnh hưởng đến tương tác thuốc

3.3.2.4 Mối liên quan giữa số thuốc sử dụng và số tương tác thuốc

Bảng 3.13 Ảnh hưởng của số lượng thuốc sử dụng lên tương tác thuốc

Nhóm Bệnh án Bệnh nhân Số lượng trung bình

BA có TTT Tỷ lệ %

Phân tích hồi quy tuyến tính đơn giản cho thấy mối liên hệ giữa số kháng sinh và số tương tác giữa kháng sinh với các thuốc dùng chung trong hồ sơ bệnh án là rõ ràng, với R² là 0,167, F = 25,139 và p < 0,001, cho thấy mô hình phù hợp và có ý nghĩa thống kê Kết quả cho thấy mỗi lượt bổ sung thuốc trong hồ sơ bệnh án dẫn đến tăng trung bình 1,074 các tương tác thuốc giữa kháng sinh và các thuốc dùng chung, với khoảng tin cậy 95% từ 0,650 đến 1,498, phản ánh mức độ ảnh hưởng đáng kể của số thuốc đến mức độ tương tác thuốc trong quá trình điều trị.

Các cặp tương tác thuốc có kháng sinh mức độ nhẹ

STT Cặp tương tác thuốc Số lượng Tỷ lệ%

3.3.2.5 Mối liên quan giữa tuổi bệnh nhân và sự xuất hiện tương tác thuốc

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa tuổi bệnh nhân và sự xuất hiện TTT

Nhóm người trên 65 tuổi ghi nhận 82 trường hợp tương tác giữa kháng sinh và các thuốc dùng chung Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ tương tác giữa kháng sinh và các thuốc này giữa các nhóm tuổi khác nhau (p > 0,05).

3.3.2.6 Mối liên quan giữa nhóm bệnh và sự xuất hiện tương tác thuốc

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa bệnh nền bệnh nhân và sự xuất hiện TTT

Nhóm bệnh nền Bệnh nhân Số lượng trung bình

BA có TTT Tỷ lệ %

Phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy có mối tương quan giữa số bệnh nền và số tương tác thuốc liên quan đến kháng sinh và các thuốc dùng chung, với hệ số xác định R² là 0,077 và giá trị F là 11,045, p < 0,001 Cước theo đó, mỗi bệnh nền bổ sung trong hồ sơ bệnh án sẽ làm tăng số tương tác thuốc trung bình thêm 1,153, với khoảng tin cậy 95% từ 0,466 đến 1,840.

3.4 Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn phân lập được trên hồ sơ bệnh án

3.4.1 Các loại vi khuẩn được phân lập tại khoa

Bảng 3.16 Các loại vi khuẩn được phân lập

Số TT Tên vi khuẩn Số lượng

Các ca bệnh được phân lập chủ yếu do vi khuẩn Gram âm, trong đó Klebsiella pneumonia chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,9%, tiếp theo là Acinetobacter baumannii với 29,5%, Pseudomonas aeruginosa chiếm 13,9%, Escherichia coli là 5,7%, cùng nhiều vi khuẩn Gram âm và Gram dương khác chiếm tỷ lệ 13,9%.

3.4.2 Mức độ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn phân lập được

3.4.2.1 Đề kháng kháng sinh của Klebsiella pneumonia

Biểu đồ 3.2 Đề kháng kháng sinh của Klebsiella pneumonia

Klebsiella pneumonia đề kháng hầu hết các loại kháng sinh betalactam, fluoroquinolon và carbapenem với tỷ lệ kháng từ 60% đến 88% Tuy nhiên, loại vi khuẩn này vẫn còn nhạy cảm với một số kháng sinh nhất định, đặc biệt nhóm aminoglycosid, trong đó amikacin có tỷ lệ nhạy cảm lên tới 71%, gentamicin 35,6% và tobramycin 17,8%.

3.4.2.2 Đề kháng kháng sinh của Acinetobacter bauminnii

Biểu đồ 3.3 Đề kháng kháng sinh của Acinetobacter bauminnii

Acinetobacter Bauminnii đề kháng cao trên 90% với beta lactam, fluoroquinolon, carbapenem trên 80%, nhạy với colistin 100% và aminoglycosid là khoảng 10% đến 30%

3.4.2.3 Đề kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa

Biểu đồ 3.4 Đề kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa

Pseudomonas aeruginosa exhibits resistance to most beta-lactam antibiotics and carbapenems, except for imipenem, which remains effective in 17.6% of cases It remains fully susceptible to colistin, with a 100% sensitivity rate, while showing low susceptibility to aminoglycosides such as amikacin (29.4%), gentamicin (17.6%), and tobramycin (11.8%).

3.4.2.4 Đề kháng kháng sinh của Escherichia coli

Biểu đồ 3.5 Đề kháng kháng sinh của Escherichia coli

Escherichia coli kháng hầu hết với beta lactam trừ piperacillin/tazobactam còn nhạy trên 50% , còn nhạy khá cao với amikacin 85%, carbapenem trên 85%

Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn phân lập được

3.4.1 Các loại vi khuẩn được phân lập tại khoa

Bảng 3.16 Các loại vi khuẩn được phân lập

Số TT Tên vi khuẩn Số lượng

Các nguyên nhân chính gây bệnh được xác định là vi khuẩn gram âm, trong đó Klebsiella pneumonia chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,9%, tiếp theo là Acinetobacter baumannii chiếm 29,5%, Pseudomonas aeruginosa 13,9%, Escherichia coli 5,7%, cùng một số vi khuẩn gram âm và gram dương khác chiếm 13,9%.

3.4.2 Mức độ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn phân lập được

3.4.2.1 Đề kháng kháng sinh của Klebsiella pneumonia

Biểu đồ 3.2 Đề kháng kháng sinh của Klebsiella pneumonia

Klebsiella pneumoniae thường kháng hầu hết các kháng sinh betalactam, fluoroquinolon và carbapenem với tỷ lệ kháng cao từ 60% đến 88% Tuy nhiên, vi khuẩn này vẫn còn nhạy cảm với một số nhóm kháng sinh nhất định, đặc biệt là nhóm aminoglycosid, trong đó amikacin có tỷ lệ nhạy cảm lên đến 71%, gentamicin 35,6% và tobramycin 17,8%.

3.4.2.2 Đề kháng kháng sinh của Acinetobacter bauminnii

Biểu đồ 3.3 Đề kháng kháng sinh của Acinetobacter bauminnii

Acinetobacter Bauminnii đề kháng cao trên 90% với beta lactam, fluoroquinolon, carbapenem trên 80%, nhạy với colistin 100% và aminoglycosid là khoảng 10% đến 30%

3.4.2.3 Đề kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa

Biểu đồ 3.4 Đề kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa

Pseudomonas aeruginosa exhibits resistance to most beta-lactam antibiotics and carbapenems, with the exception of imipenem, which remains effective in 17.6% of cases The bacterium remains highly sensitive to colistin, showing a 100% response rate, while displaying low susceptibility to aminoglycosides—amikacin at 29.4%, gentamicin at 17.6%, and tobramycin at 11.8%.

3.4.2.4 Đề kháng kháng sinh của Escherichia coli

Biểu đồ 3.5 Đề kháng kháng sinh của Escherichia coli

Escherichia coli kháng hầu hết với beta lactam trừ piperacillin/tazobactam còn nhạy trên 50% , còn nhạy khá cao với amikacin 85%, carbapenem trên 85%

BÀN LUẬN

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Tuổi cao là yếu tố nguy cơ độc lập gây viêm phổi bệnh viện, do sự suy giảm chức năng các cơ quan, đặc biệt hệ miễn dịch và hàng rào bảo vệ cơ học của đường hô hấp Người cao tuổi thường mắc nhiều bệnh lý phối hợp, điều này làm tăng khả năng phải nhập viện điều trị nhiều hơn.

Nghiên cứu cho thấy người cao tuổi có nguy cơ mắc viêm phổi bệnh viện cao hơn so với người trẻ, với tỷ lệ bệnh nhân cao tuổi chiếm đa số (81,8%), phù hợp với các công trình như của Nguyễn Bữu Huy (75%), Peerawong Werarak (70,8%) và Phạm Ngọc Kiều (67,17%), tuy nhiên cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (34,5%) Đa số bệnh nhân có bệnh nền thần kinh (41,9%), đặc biệt các bệnh như đột quỵ, bệnh mạch máu não, tỷ lệ này cũng tương đương các nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (37,9%) và Peerawong Werarak (30,8%), nhưng lại cao hơn nhiều so với Nguyễn Thị Thanh Bình (23,5%) Bệnh nền hô hấp chiếm 11,6%, gần giống với Phạm Ngọc Kiều (10,7%), nhưng thấp hơn các nghiên cứu của Nguyễn Bữu Huy (28,1%) và Nguyễn Thị Thanh Bình (58,8%) Bệnh tim mạch chiếm 7,4%, tương đương Nguyễn Thị Thanh Bình (9,4%) nhưng thấp hơn các nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (31,9%) và Nguyễn Phước An (55,1%), thể hiện rõ sự phân bố tỷ lệ bệnh lý khác nhau giữa các nhóm nghiên cứu.

Các nghiên cứu khác nhau cho thấy tỷ lệ các bệnh nền liên quan đến bệnh lý hô hấp đa dạng do địa điểm nghiên cứu là các bệnh viện khác nhau, dẫn đến sự phân luồng, tiếp nhận bệnh nhân và lựa chọn đối tượng nghiên cứu không đồng nhất Các bệnh nền này được cho là làm tăng nguy cơ hít phải dịch tiết ở vùng hầu họng, nhiễm khuẩn dịch dạ dày, và làm suy yếu hệ miễn dịch, từ đó khiến cơ thể dễ bị các tác nhân gây bệnh xâm nhập và phát triển ở đường hô hấp.

Khoảng 51,2% bệnh nhân nằm viện trên 20 ngày, với số ngày nằm viện trung bình là 23,21 ngày, phù hợp với kết quả nghiên cứu của Võ Hữu Ngoan tại Bệnh viện Chợ Rẫy, đạt 23,77 ngày.

4.2 Xác định đặc điểm sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân viêm phổi bệnh viện

4.2.1 Các nhóm kháng sinh, số lượng và đường dùng đã được sử dụng 4.2.1.1 Nhóm kháng sinh sử dụng

Trong điều trị viêm phổi bệnh viện và viêm phổi thở máy, việc chỉ định kháng sinh cần thực hiện sớm nhất có thể, đặc biệt trong vòng 1 giờ đầu nếu bệnh nhân kèm theo sốc nhiễm khuẩn Lựa chọn kháng sinh phù hợp đòi hỏi đánh giá toàn diện các yếu tố như cơ địa bệnh nhân, các yếu tố nguy cơ và bệnh lý kèm theo, tiền sử sử dụng kháng sinh, mức độ tổn thương phổi, tình hình dịch tễ học, và độ nhạy cảm hay đề kháng của các chủng vi khuẩn tại từng khoa phòng và bệnh viện.

Trong nghiên cứu của chúng tôi về nhóm kháng sinh, có tổng cộng 31 hoạt chất, trong đó nhóm kháng sinh betalactam chiếm tỷ lệ cao nhất với 14 hoạt chất Cụ thể, nhóm cephalosporin gồm 10 hoạt chất, nhóm penicillin cộng các chất ức chế beta-lactamase có 4 hoạt chất, carbapenem có 3 hoạt chất, và penicillin phổ rộng cũng được đề cập trong phân nhóm này.

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng, nhóm hoạt chất kháng sinh phổ biến bao gồm các nhóm macrolid, sulfamid, tetracyclin và nitroimidazol, mỗi nhóm chỉ có một hoạt chất Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Đỗ Trí Ngoan về đặc điểm sử dụng kháng sinh tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh, nơi ghi nhận tổng cộng 33 hoạt chất kháng sinh được sử dụng.

[26] Nhưng so với nghiên cứu của Trần Ngọc tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện đa khoa Tây Ninh chỉ gồm 23 hoạt chất [28]

4.2.1.2 Số lượng, đường dùng của kháng sinh được sử dụng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất là polypeptid (colistin) chiếm tỷ lệ 31,06%, tiếp đến là carbapenem với 29,28%, trong khi betalactam chiếm 22,07%, trong đó cephalosporin là 16,54% Khác với kết quả của Trần Ngọc tại Bệnh viện đa khoa Tây Ninh, nơi sử dụng kháng sinh nhiều nhất là fluoroquinolon (94,5%), cephalosporin (61,8%), aminoglycoside (38,2%) và carbapenem (36,4%) Colistin, thuộc nhóm polypeptid, tập trung tác dụng chủ yếu trên trực khuẩn Gram-âm.

Enterobacter, E coli, Klebsiella, Salmonella, Pasteurella, Bordetella, và Shigella thuốc cũng có tác dụng trên phần lớn các chủng P.aeruginosa, Acinetobacter [43], [44] Trong nghiên cứu của chúng tôi các chủng

P.aeruginosa, Acinetobacter còn nhạy cảm 100% với colistin, nên việc sử dụng kháng sinh này với tỷ lệ cao nhất là hợp lý

Trong nghiên cứu, đường tĩnh mạch chiếm tỷ lệ cao nhất với 78,38%, phản ánh xu hướng sử dụng đường này để đạt hiệu quả tối ưu trong điều trị, đặc biệt trong các bệnh tình nặng tại khoa hồi sức tích cực Ngược lại, đường uống chiếm tỷ lệ thấp nhất là 21,62%, phù hợp với thực tế nhiều bệnh nhân phải sử dụng sond để ăn, khiến việc dùng thuốc qua đường uống gặp khó khăn Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Đỗ Trí Ngoan và Trần Ngọc, cho thấy rõ xu hướng ưu tiên sử dụng đường tiêm tĩnh mạch nhằm đảm bảo liều lượng cần thiết và hiệu quả điều trị cao hơn.

4.2.2 Số loại, số ngày, thời gian, phối hợp kháng sinh

Trong việc điều trị viêm phổi bệnh viện, lựa chọn kháng sinh ban đầu dựa trên các yếu tố nguy cơ, mô hình vi khuẩn địa phương và mức độ nặng của bệnh, đặc biệt là các trường hợp nặng cần điều trị tại khoa Hồi sức tích cực Cần phối hợp kháng sinh cho các ca nhiễm khuẩn đa kháng và viêm phổi bệnh viện nặng, đồng thời theo dõi chiến lược giảm liều kháng sinh sau khi có kết quả kháng sinh đồ Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bệnh nhân thường sử dụng hơn 4 loại kháng sinh, cao nhất là 37,19%, trong khi nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh lại chủ yếu dùng 1 loại kháng sinh, chiếm 27,3% Sự khác biệt này có thể do nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn gram âm kháng nhiều thuốc tại cơ sở của chúng tôi, đòi hỏi phải phối hợp kháng sinh đa dạng nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.

Trong điều trị viêm phổi bệnh viện, thời gian sử dụng kháng sinh thường từ 10 đến 14 ngày theo hướng dẫn, và có thể kéo dài đến 21 ngày đối với các nhiễm khuẩn kháng thuốc Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ dùng kháng sinh trên 10 ngày là 72,24%, với thời gian trung bình là 19,43 ngày, vượt xa so với hướng dẫn và các nghiên cứu trước như của Đỗ Trí Ngoan tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh Viêm phổi bệnh viện là bệnh lý phổ biến trong khoa Hồi sức tích cực, đồng thời là nguyên nhân chính làm gia tăng thời gian và chi phí điều trị.

Trong điều trị viêm phổi bệnh viện, phối hợp kháng sinh là chiến lược cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều trị, mở rộng phổ tác dụng và giảm thiểu nguy cơ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ sử dụng kháng sinh đơn trị rất thấp, chỉ 0,83%, trong khi tỷ lệ phối hợp hai kháng sinh đạt tới 88,43%, phù hợp với các nghiên cứu của Đỗ Trí Ngoan, Nguyễn Việt Hùng, Đỗ Đình Vinh tại Bệnh viện đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh Ngược lại, trong nghiên cứu của Peerawong Werarak tại Bệnh viện Siriraj, Bangkok, Thái Lan, có đến 60% bệnh nhân sử dụng kháng sinh đơn trị, còn Ngô Thế Hoàng tại Bệnh viện Thống Nhất tỷ lệ phối hợp kháng sinh là 85,7% Đặc biệt, trong một số trường hợp nhất định, việc phối hợp beta-lactam với aminoglycosid như amikacin hay gentamicin mang lại tác dụng hiệp đồng vượt mức, nhờ beta-lactam ngăn cản tổng hợp vách vi khuẩn, tạo điều kiện cho aminoglycosid dễ dàng xâm nhập vào tế bào vi khuẩn để tiêu diệt tận gốc ổ nhiễm khuẩn.

Phối hợp thuốc nhóm cephalosporin với thuốc nhóm aminoglycosid mang lại hiệu quả hiệp đồng vượt mức, nhưng cũng tạo ra tương tác mức độ 4 (phối hợp nguy hiểm), chỉ phù hợp trong các trường hợp nhiễm khuẩn nặng như do Klebsiella spp, Enterobacter spp, Proteus spp, Providencia spp, Serratia spp, Pseudomonas aeruginosa, Haemophilus influenzae Việc theo dõi chức năng thận, bao gồm lượng nước tiểu và creatinin máu, là cần thiết khi sử dụng phối hợp này để đảm bảo an toàn cho người bệnh.

4.2.3 Tỷ lệ kháng sinh trong phác đồ ban đầu

Theo hướng dẫn của IDSA 2016, phác đồ kết hợp kháng sinh được ưu tiên sử dụng để tăng cường tác dụng chống lại các vi khuẩn đề kháng kháng sinh mức độ cao, đặc biệt trong điều trị các trường hợp viêm phổi bệnh viện và viêm phổi thở máy khởi phát sớm không có nguy cơ mắc vi khuẩn đa kháng Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn bệnh nhân (64,46%) được điều trị theo phác đồ phối hợp kháng sinh dựa trên kinh nghiệm, phù hợp với tỷ lệ 71,1% trong nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng Dù theo hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam và IDSA, phác đồ dùng kháng sinh đơn vẫn được khuyến nghị trong các trường hợp không có nguy cơ đa kháng, tuy nhiên, phát hiện của chúng tôi cho thấy vi khuẩn K pneumoniae, Acinetobacter baumannii và P.aeruginosa có độ đề kháng cao, khiến việc lựa chọn phác đồ phối hợp kháng sinh trở thành phương án ưu tiên hơn để nâng cao hiệu quả điều trị.

4.2.4 Tỷ lệ loại phác đồ ban đầu theo hoạt chất

Thành phần trong phác đồ ban đầu

Việc điều trị VPBV hiện nay gặp nhiều thách thức do sự đề kháng kháng sinh ngày càng nghiêm trọng và thiếu các thuốc mới được phát minh Để giảm tử vong, phương pháp phổ biến là sử dụng kháng sinh mạnh, phổ rộng ngay từ đầu, đặc biệt cho bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao và vi khuẩn đa kháng Sau khi bệnh nhân cải thiện lâm sàng và có kết quả vi sinh, liệu trình kháng sinh sẽ được thu hẹp nhằm tránh kháng thuốc và giảm chi phí điều trị Carbapenem, nhóm kháng sinh dự trữ, hiện thường được dùng trong điều trị viêm phổi bệnh viện và viêm phổi thở máy dựa trên kinh nghiệm tại các đơn vị chăm sóc đặc biệt Việc lựa chọn kháng sinh phù hợp ngay từ đầu đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ cho bệnh nhân Các kháng sinh như fluoroquinolon, cephalosporin thế hệ 3, 4 và carbapenem thường được phối hợp trong phác đồ ban đầu của điều trị VPBV, theo các nghiên cứu và khuyến cáo y học Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thành phần phác đồ ban đầu chủ yếu gồm cephalostorin (42,23%), fluoroquinolon (37,86%) và carbapenem (12,62%), tương đồng về mặt thành phần nhưng không về tỷ lệ so với nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và Peerawong Werarak Lựa chọn kháng sinh ban đầu thường dựa trên yếu tố nguy cơ, mô hình vi khuẩn phổ biến theo địa phương, mức độ nặng của bệnh, tuổi bệnh nhân, các bệnh kèm theo, cũng như các tương tác và tác dụng phụ của thuốc.

Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn phân lập được trên HSBA …

4.4.1 Vi khuẩn phân lập được

Trong kết quả vi sinh, Klebsiella pneumonia chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,9%, tiếp theo là Acinetobacter baumannii với 29,5%, Pseudomonas aeruginosa với 13,9%, và Escherichia coli với 5,7%, cho thấy Klebsiella pneumonia là căn nguyên hàng đầu, tiếp đó là Acinetobacter baumannii, Pseudomonas aeruginosa và cuối cùng là Escherichia coli Nghiên cứu của Huỳnh Văn Ân tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định đã cho ra kết quả tương tự về thứ tự các tác nhân gây bệnh, xác nhận tính phổ biến của các vi khuẩn này trong nhiễm trùng bệnh viện.

Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy, căn nguyên vi khuẩn gây bệnh rất đa dạng và thay đổi theo từng khu vực, trong đó Klebsiella pneumonia là nguyên nhân hàng đầu, phù hợp với dữ liệu của Đỗ Minh Thái (2015).

42,1%, Pseudomonas aeruginosa 16%, Acinetobacter baumannii và Escherichia coli chiếm 2,6% [35]

Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi không tương đồng với phổ vi khuẩn của một số nghiên cứu khác trong khu vực phía nam Trong nguyên cứu của

Nguyễn Bữu Huy căn nguyên hàng đầu là Acinetobacter baumannii (48,9%),

Pseudomonas aeruginosa (6,5%), Klebsiella sp (19,8%), Escherichia coli

(11,1%) [18] và nghiên cứu của Võ Hữu Ngoan, căn nguyên hàng đầu là

Acinetobacter baumannii (61%), Pseudomonas aeruginosa (11,7%), S aureus

(11,7%), Klebsiella sp (10,4%), Escherichia coli (5,2%) [27] so với nghiên cứu của Phạm Hồng Nhung (2017) tại khoa ICU Bệnh viện Bạch Mai là

Acinetobacter baumannii chiếm tỷ lệ 31,3%, trong khi Pseudomonas aeruginosa chiếm 9,8% và Klebsiella pneumoniae chiếm 19% theo các nghiên cứu [29] Tại Bệnh viện Quân y 175, nghiên cứu của Vũ Đình Ân cho thấy Acinetobacter baumannii là tác nhân gây nhiễm trùng phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 40,7% [4] Các tác nhân thường gặp tiếp theo gồm Klebsiella pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa và Staphylococcus aureus, lần lượt chiếm tỷ lệ cao trong các trường hợp nhiễm trùng này.

Trong nghiên cứu của Trần Minh Giang và cộng sự (2014) tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, tỷ lệ vi khuẩn Gram âm chiếm chủ yếu, gồm các chủng như Acinetobacter baumannii (69%), Klebsiella spp (11,5%), Enterobacter spp (11,5%) và Pseudomonas aeruginosa (8%) Các tỷ lệ này phản ánh sự phân lập đa dạng của vi khuẩn trong môi trường bệnh viện, đặc biệt là các chủng gây nhiễm trùng chủ yếu Tỷ lệ xuất hiện của các chủng vi khuẩn này có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều trị và kiểm soát nhiễm khuẩn Các dữ liệu này hỗ trợ việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn phù hợp trong bệnh viện.

4.4.2.1 Đề kháng kháng sinh của Klebsiella pneumonia

Klebsiella pneumonia vẫn còn nhạy cảm cao với các kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid, đặc biệt là amikacin với tỷ lệ nhạy cảm lên tới 71% Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó như của Lê Bật Tân tại Bệnh viện Phổi Trung ương (2014-2015), nơi tỷ lệ đề kháng của K pneumonia với amikacin dưới 30-40%, và nghiên cứu của Trần Ngọc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh, với tỷ lệ Klebsiella pneumonia còn nhạy cảm với amikacin là 69,2%.

Klebsiella pneumoniae kháng hầu hết các loại kháng sinh beta-lactam và fluoroquinolon, với tỷ lệ đề kháng dao động từ 60% đến 88%, phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trước đây như của Lê Bật Tân tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2014-2015, Nguyễn Thị Tuyến tại Bệnh viện Bạch Mai, và Vũ Đình Ân tại Bệnh viện Quân Y 175, đều cho thấy tỷ lệ đề kháng cao đối với các nhóm kháng sinh này.

Tỷ lệ đề kháng của Klebsiella pneumonia với carbapenem trên 60% trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của Nguyễn Thị Tuyến tại Bệnh viện Bạch Mai nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Lê Bật Tân tại Bệnh viện Phổi Trung ương, chỉ khoảng 26-36% Song, so với nghiên cứu của Vũ Đình Ân tại Bệnh viện Quân Y 175, Klebsiella pneumonia vẫn còn nhạy với một số kháng sinh như colistin, amikacin, imipenem và meropenem với tỷ lệ nhạy lần lượt là 82%, 73%, 73% và 55%.

4.4.2.2 Đề kháng kháng sinh của Acinetobacter bauminnii:

Acinetobacter baumannii có khả năng đề kháng cao với các nhóm thuốc như beta lactam và fluoroquinolon Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của Đỗ Minh Thái và Vũ Đình Ân, đều chỉ ra tỷ lệ đề kháng beta lactam dao động từ 83% đến 100%, cho thấy mức độ kháng thuốc đáng kể của chủng vi khuẩn này.

[35] và nghiên cứu của tác giả Vũ Quỳnh Nga tại bệnh viện Chợ Rẫy (96,6%), đối với fluoroquinolon trong nghiên cứu của chúng tôi thì

Acinetobacter bauminnii đề kháng cao (trên 80%) [25] so với nghiên cứu của Đỗ Minh Thái đề kháng với fluoroquionolon dưới 50% [35]

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mức độ nhạy của Acinetobacter baumannii đối với carbapenem khoảng 10%, tương đồng với tỷ lệ 15% của tác giả Vũ Quỳnh Nga tại Bệnh viện Chợ Rẫy, nhưng thấp hơn so với các nghiên cứu khác như của Đỗ Minh Thái (khoảng 83% nhạy với imipenem) và Dương Thị Thanh Vân (85% kháng carbapenem tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ) Trong khi đó, nghiên cứu của Trần Ngọc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh năm 2018 cũng phản ánh các mức độ kháng thuốc khác nhau của Acinetobacter baumannii đối với carbapenem.

Acinetobacter spp còn nhạy với imipenem ở mức 50%, trong khi Acinetobacter baumannii thể hiện khả năng nhạy với colistin tới 100%, phù hợp với kết quả các nghiên cứu của Đăng Văn Ninh (2014), Trần Hữu Thông tại Bệnh viện Bạch Mai, Nguyễn Thị Thanh Bình, Lê Bật Tân tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2014-2015, và cao hơn so với tỷ lệ nhạy với colistin được ghi nhận trong nghiên cứu của Nguyễn Xuân Vinh (2014).

Acinetobacter bauminnii là 83,7% và nghiên cứu mới đây nhất của Trần Thị

Mặc dù Acinetobacter baumannii tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang vẫn còn nhạy cảm với colistin ở mức 96,23%, tác giả Vũ Đình Ân ghi nhận tỷ lệ nhạy cảm giảm xuống còn 73% Điều này cho thấy khả năng đề kháng của vi khuẩn này với colistin có xu hướng tăng lên, đòi hỏi cần có chiến lược sử dụng kháng sinh cẩn thận nhằm phòng ngừa sự gia tăng đề kháng kháng sinh trong cộng đồng y tế.

4.4.2.3 Đề kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa

Pseudomonas aeruginosa thường kháng lại hầu hết các nhóm kháng sinh như beta-lactam, carbapenem, với kết quả này phù hợp nhiều nghiên cứu trong khu vực, bao gồm Đặng Văn Ninh và Đỗ Minh Thái (2015) Tuy nhiên, nghiên cứu của Cao Minh Nga tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM năm 2012 cho thấy Pseudomonas aeruginosa chỉ còn nhạy cao với ceftazidim/Sulbactam, tỷ lệ khoảng 2,7% Kháng amikacin chiếm đến 62,5%, phù hợp với kết quả của Trần Hữu Thông tại Bệnh viện Bạch Mai Ngoài ra, tỷ lệ đề kháng của Pseudomonas aeruginosa với fluoroquinolon vượt quá 85%, cao hơn so với nghiên cứu của Đỗ Minh Thái (2015) Trong khi đó, tỷ lệ kháng carbapenem trên 90% trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đó, cho thấy xu hướng kháng thuốc ngày càng gia tăng đáng kể.

Pseudomonas aeruginosa 83% và nghiên cứu của Trần Ngọc là 59,1% [28],

Nghiên cứu của Phạm Hồng Nhung tại Bệnh viện Bạch Mai từ năm 2012 đến 2016 cho thấy tỷ lệ vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa nhạy cảm với carbapenem giảm dần theo thời gian, đạt mức dưới 30% vào năm 2016, phản ánh xu hướng đề kháng ngày càng tăng của vi khuẩn này.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, Pseudomonas aeruginosa cho thấy mức độ nhạy cảm 100% với colistin, phù hợp với kết quả của Lê Bật Tân tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2014-2015 Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Vũ Đình Ân, tỷ lệ nhạy cảm của Pseudomonas aeruginosa với colistin chỉ khoảng 70%.

4.4.2.4 Đề kháng kháng sinh của Escherichia coli

Trong nghiên cứu của chúng tôi, Escherichia coli nhạy với piperacillin/tazobactam hơn 50%, amikacin 85%, và carbapenem trên 85%, cho thấy sự tương đồng với kết quả của nghiên cứu của Lê Tiến Dũng tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM năm 2015, với tỷ lệ kháng kháng sinh trong nhóm betalactam và amikacin dao động từ 8,5% đến 17%, và kháng carbapenem khoảng 15% Tuy nhiên, tỷ lệ nhạy của Escherichia coli với piperacillin/tazobactam trong nghiên cứu của ông chỉ là 12,5% Ngược lại, nghiên cứu của Huỳnh Văn Ân tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định cho thấy Escherichia coli vẫn còn nhạy với carbapenem đến 100%.

Ngày đăng: 18/03/2023, 17:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm