Thực trạng chất lượng tiêm chủng mở rộng và đánh giá một số giải pháp can thiệp tại tuyến xã huyện Đà Bắc - tỉnh Hoà Bình, năm 2007 - 2008
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
DƯƠNG THỊ HỒNG
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP TẠI TUYẾN XÃ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2 0
Ch yên ng n : Vệ sin x hội học v Tổ chức y tế
Mã số: : 6 7 7 15
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
- Thư viện Qu c gia,
- Thư viện Viện Vệ sin Dịch ễ Tru g ươn
Trang 3DANH MỤC CÁC BÀI BÁO LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN
1 Dương Thị Hồng, Phạm Ngọc Đính, Đỗ Sĩ Hiển (2009), “Một số nét về thực
trạng công tác tiêm chủng mở rộng tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình năm 2007”,
Tạp chí Y học Thực hành, (657), tr 28 -31
2 Dương Thị Hồng, Đỗ Sĩ Hiển, Phạm Ngọc Đính, (2009), “Một số biện pháp can
thiệp nâng cao chất lượng tiêm chủng mở rộng tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”,
Tạp chí Y học Thực hành, (657), tr 84 -87
3 Dương Thị Hồng, Phạm Ngọc Đính (2009), “Tìm hiểu kiến thức, thái độ và
thực hành của bà mẹ có con từ 12 đến 23 tháng tuổi tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa
Bình năm 2007”, Tạp chí Y học thực hành, (665), tr 29 – 32
4 Dương Thị Hồng (2009), “Vài nét về tình hình tiêm chủng mở rộng trên thế
giới”, Tạp chí Y học thực hành, (641 +642), tr 30 -33
Trang 4CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Vắc-xin phòng bệnh bạch hầu – ho gà - uốn ván
(Vắc-xin phòng bệnh bại liệt uống)
quốc)
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) ở Việt Nam được triển khai trên quy mô
cả nước từ năm 1985 Từ năm 1993 đến nay tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi luôn được duy trì trên 90% đã góp phần làm thay đổi cơ bản cơ cấu bệnh tật của trẻ em
Số trẻ bị mắc và chết do các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đã giảm xuống rất rõ rệt Mặc dù công tác tiêm chủng của Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả to lớn, song việc nâng cao tỷ lệ và chất lượng tiêm chủng ở các tỉnh miền núi vẫn còn nhiều khó khăn
và tồn tại như tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng thời gian quy định ở một số huyện miền núi còn thấp Tỷ lệ mắc một số bệnh truyền nhiễm ở trẻ em ở vùng miền núi cao hơn so với tỷ lệ chung trong toàn quốc và vẫn có nguy cơ bùng phát một số dịch bệnh như sởi,
ho gà, bạch hầu
Một số nghiên cứu đã chỉ ra nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ và chất lượng của dịch vụ tiêm chủng ở các huyện miền núi khó khăn như điều kiện địa lý, giao thông khó khăn, mật độ dân thưa, xa cơ sở y tế nên các bà mẹ không có điều kiện tiếp cận dịch
vụ đưa trẻ đi tiêm chủng Các yếu tố khác cũng ảnh hưởng tới chất lượng công tác tiêm chủng như nguồn nhân lực thiếu và yếu, vận chuyển vắc-xin tới điểm tiêm chủng quá xa, vật tư đáp ứng việc bảo quản vắc-xin trong nhiều ngày
Việc phân tích những khó khăn và đánh giá hiệu quả của một số giải pháp can thiệp đồng bộ phù hợp, thực thi để từ đó có thể áp dụng cho những vùng miền núi phía Bắc nhằm nâng cao tỷ lệ và chất lượng dịch vụ tiêm chủng cũng là câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu này Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng chất lượng tiêm chủng và một số giải pháp can thiệp tại huyện miền núi Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, năm 2007” với 3 mục tiêu là:
1 Mô tả thực trạng chất lượng tiêm chủng mở rộng tại huyện miền núi Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
2 Mô tả một số yếu tố liên quan tới chất lượng tiêm chủng mở rộng tại huyện miền núi Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
3 Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp nâng cao chất lượng tiêm chủng mở rộng trên địa bàn huyện
Ý nghĩa thực tiễn và những đóng góp mới của luận án:
Luận án đã đáp ứng một số định hướng ưu tiên về TCMR trong giai đoạn 2010 - 2015
là tăng cường chất lượng dịch vụ tiêm chủng đặc biệt ở các huyện, xã vùng núi, vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo; tăng cường đảm bảo an toàn tiêm chủng và giám sát các sự
cố xảy ra sau tiêm chủng
Xuất phát từ những đòi hỏi thực tế về thực trạng công tác tiêm chủng mở rộng của huyện miền núi khó khăn chưa được khảo sát nghiên cứu đầy đủ, nghiên cứu đã tiến hành đánh giá toàn diện trên cả đối tượng cung cấp dịch vụ tiêm chủng và đối tượng nhận dịch vụ TCMR
Đề tài đã phát hiện một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tiêm chủng có tính đặc thù của địa bàn miền núi: những tồn tại trong thực hành tiêm chủng, thiếu hụt kiến thức của cán bộ y tế về TCMR, nhu cầu về TT-GDSK của bà mẹ về TCMR cũng như những khó khăn về địa lý, cơ sở vật chất và một số yếu tố liên quan đến chất lượng TCMR tại một huyện miền núi khá điển hình
Trang 6Từ đó áp dụng những giải pháp phù hợp với điều kiện sẵn có và năng lực của tuyến y
tế cơ sở trên cả 2 nhóm đối tượng CBYT và bà mẹ có con trong độ tuổi tiêm chủng Các
giải pháp can thiệp tập huấn và giám sát hỗ trợ trong buổi tiêm chủng đã làm thay đổi về kiến thức, thực hành tiêm chủng của CBYT Sử dụng phương pháp truyền thông trực tiếp, các CBYT xã và nhân viên YTTB truyền thông cho đối tượng đã cải thiện rõ rệt
kiến thức, thực hành của bà mẹ về TCMR Những giải pháp can thiệp này có thể áp dụng tiến hành ở những vùng miền núi khó khăn có điều kiện tương tự nhằm nâng cao chất lượng TCMR
CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 148 trang, 4 chương: Đặt vấn đề: 2 trang, Chương I - Tổng quan: 37 trang Chương II - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 17 trang Chương III-Kết quả:
51 trang Chương IV- Bàn luận: 38 trang Kết luận: 3 trang Kiến nghị: 1 trang Luận án
có 57 bảng, 20 biểu đồ, 2 sơ đồ, 125 tài liệu tham khảo (70 tài liệu tiếng Việt và 55 tài liệu tiếng Anh)
Tuy nhiên, cho tới nay tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi vẫn còn ở mức thấp tại nhiều vùng và nhiều nước trên thế giới (dưới 90% trẻ < 1 tuổi được TCĐĐ) là vấn đề cần được củng cố Theo số liệu của TCYTTG năm 2006, tỷ lệ tiêm vắc-xin DPT3 ở khu vực châu Phi là 73%, Trung Đông là 86%, Đông Nam Á là 63%
Một số bệnh được thanh toán và loại trừ ở một số nước nhưng việc bảo vệ thành quả rất khó khăn vì các nước xung quanh vẫn còn lưu hành bệnh Hơn nữa, một số nước tỷ lệ tiêm chủng quá thấp, TCMR giảm sút đã ảnh hưởng đến thành quả của công tác tiêm chủng toàn cầu Bệnh bại liệt còn lưu hành ở một số nước Châu Phi, Châu Á, Trung
Đông và rất dễ xâm nhập trở lại các nước đã thanh toán xong bệnh bại liệt
Chương trình loại trừ uốn ván sơ sinh được triển khai đã làm thay đổi tình hình mắc UVSS trên toàn cầu nhờ các biện pháp phòng bệnh UVSS; đặc biệt việc tiêm vắc-xin phòng uốn ván cho phụ nữ có thai và nữ tuổi sinh đẻ Năm 2006 so với năm 1980 số mắc uốn ván sơ sinh toàn cầu đã giảm 1,55 lần; tuy nhiên, số mắc uốn ván sơ sinh vẫn còn tập trung nhiều ở các nước khu vực châu Phi (3468 trường hợp), khu vực Đông Nam Á (1073 trường hợp) và khu vực Tây Thái Bình Dương (2854 trường hợp)
Cùng với việc tăng cường tỷ lệ tiêm chủng, triển khai vắc-xin mới, WHO ngay từ những năm 1999 đã khuyến cáo việc tăng cường an toàn trong tiêm chủng: vắc-xin đảm bảo chất lượng, an toàn và tiêm chủng an toàn
1.1.2 Tình hình tiêm chủng ở Việt Nam
Chương trình TCMR bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 với sự hỗ trợ của WHO và UNICEF Đến năm 1985 chương trình TCMR được đẩy mạnh và triển khai trên phạm vi cả nước Từ năm 1986, TCMR được coi là một trong 6 chương trình y tế quốc gia ưu tiên
Trang 7Năm 1989, Việt Nam đã đạt mục tiêu phổ cập tiêm chủng 6 loại vắc-xin phòng bệnh với tỷ lệ tiêm chủng toàn quốc là 87% Từ năm 1993 đến nay, tỷ lệ tiêm chủng thường xuyên cho trẻ dưới 1 tuổi liên tục đạt trên 90%; tỷ lệ tiêm chủng vắc-xin uốn ván cho phụ
nữ có thai và nữ tuổi sinh đẻ luôn đạt 80 –90% Để đạt được thành quả duy trì tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi trên 90% trên quy mô toàn quốc là một vấn đề khó khăn, thách thức đặc biệt ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa Năm 1995 nhờ có sự nỗ lực của
bộ đội biên phòng và ngành y tế tỉnh Lai Châu, 8 xã trắng về tiêm chủng cuối cùng ở huyện Mường Tè đã triển khai được dịch vụ TCMR
Kết quả tiêm chủng đạt tỷ lệ cao liên tục từ 1993 đến nay đã góp phần quan trọng làm giảm số mắc và chết của các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở trẻ em Việt Nam rất rõ rệt Việt Nam đã thanh toán bệnh Bại liệt vào năm 2000 và loại trừ bệnh uốn ván sơ sinh vào năm 2005
1.2 CÁC THÀNH TỐ CỦA CHẤT LƯỢNG TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG
1.2.1 Hệ thống dây chuyền lạnh bảo quản vắc-xin
Vắc-xin là một sinh phẩm đặc biệt, cần được bảo quản nghiêm ngặt trong hệ thống dây chuyền lạnh Nhiệt độ đảm bảo để giữ vắc-xin an toàn là từ +2độ C đến +8 độ C từ nhà sản xuất đến tận điểm tiêm chủng và tới khi tiêm chủng cho đối tượng Vắc-xin bị phơi nhiễm với nhiệt độ cao sẽ bị mất hiệu lực Vắc-xin bị đông băng thì không những gây ảnh hưởng tới hiệu lực bảo vệ của vắc-xin mà còn có thể gây ra các phản ứng không
tiêm chủng bao gồm vắc-xin đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng
1.2.2 Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch cho trẻ em
Một trẻ được tiêm chủng vắc-xin đầy đủ và đúng lịch mới có miễn dịch đầy đủ cho trẻ phòng bệnh Kết quả một số cuộc điều tra, đánh giá về hoạt động tiêm chủng cho thấy tỷ
lệ tiêm chủng cho trẻ em và phụ nữ ở vùng miền núi khó khăn còn thấp, tỷ lệ tiêm chủng
đúng lịch cũng rất hạn chế
12.3 An toàn tiêm chủng
An toàn tiêm chủng bao gồm vắc-xin, dụng cụ tiêm chủng an toàn, kỹ năng thực hành tiêm chủng đúng và giám sát phản ứng sau tiêm chủng Giám sát phản ứng sau tiêm chủng là một khâu quan trọng trong vấn đề an toàn tiêm chủng Việc báo cáo nhanh, chính xác những phản ứng bất thường sau tiêm chủng có thể giúp xác định những sai sót trong thực hành tiêm chủng, những vấn đề về chất lượng vắc-xin và những sự cố ngẫu nhiên trùng hợp, từ đó đề ra hành động thích hợp
1.2.4 Giám sát bệnh
Hoạt động giám sát bệnh trong chương trình TCMR là thước đo đánh giá kết quả của công tác tiêm chủng Tiêm chủng đầy đủ và đảm bảo chất lượng, trẻ có miễn dịch phòng bệnh sẽ làm giảm số mắc, tiến tới loại trừ hoặc thanh toán các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm Công tác giám sát cho biết những vùng nguy cơ mắc bệnh cao để từ đó giúp cho chương trình tiêm chủng có các biện pháp xử trí kịp thời – tăng cường công tác tiêm chủng tại những địa phương này hoặc tổ chức tiêm chủng chiến dịch tại các vùng xảy ra dịch
1.2.5 Nhân lực và công tác đào tạo
Trang 8Hầu hết các cán bộ ở TYT xã đều tham gia vào công tác tiêm chủng nhưng việc tập huấn kỹ năng cho tất cả cán bộ của trạm y tế còn rất hạn chế Chỉ cán bộ chuyên trách tiêm chủng và trưởng trạm y tế được tập huấn và cập nhật thông tin thường xuyên
1.2.6 Quản lý hoạt động tiêm chủng bao gồm hệ thống báo cáo, giám sát
Chương trình TCMR Việt Nam đã xây dựng một hệ thống báo cáo, giám sát từ tuyến
xã tới tuyến trung ương Kết quả một số cuộc đánh giá cho thấy hệ thống này hoạt động
có hiệu quả và thường xuyên Tuy nhiên, chất lượng của các báo cáo cần được củng cố hơn, điều này liên quan trực tiếp đến kiến thức của cán bộ y tế về báo cáo, giám sát trong TCMR
1.2.7 Tăng cường kiến thức và khả năng tiếp cận của bà mẹ với dịch vụ tiêm chủng
Mặc dù tỷ lệ tiêm chủng cao nhưng với mục tiêu tiến tới đạt tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ trên 90% trên quy mô huyện, tại các vùng miền núi khó khăn việc bà mẹ đưa con đi TCĐĐ vẫn là vấn đề cần quan tâm Sự hiểu biết và tham gia của bà mẹ về tiêm chủng cho con mình Bà mẹ có kiến thức đầy đủ về tiêm chủng họ sẽ cho con đi tiêm chủng đúng lịch, chủ động tham gia vào an toàn tiêm chủng: biết theo dõi con sau tiêm chủng, biết làm gì khi có phản ứng bất thường xảy ra với con họ Kết quả một số cuộc điều tra đánh giá cho thấy kiến thức, thực hành của bà mẹ về tiêm chủng còn rất hạn chế Bà mẹ
ở một số vùng miền núi không biết lịch tiêm chủng họ thụ động đưa con đi tiêm chủng khi được CBYT nhắc nhở
1.2.8 Sự tham gia và ủng hộ của cộng đồng
Sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong vấn đề nâng cao chất lượng dịch vụ tiêm chủng Họ là những người quyết định về chiến lược, chính sách cho hoạt động TCMR bao gồm quản lý nguồn nhân lực, cung cấp trang thiết bị và kinh phí Thực tế là hiện nay khi hoạt động TCMR đã đi vào nền nếp thì sự quan tâm của một số cấp chính quyền và ban ngành có chiều hướng giảm sút
1.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP CÓ THỂ ÁP DỤNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG
Hiện nay để nâng cao chất lượng TCMR, trên thế giới và Việt Nam đưa ra những giải pháp tập trung vào 3 nhóm đối tượng với nội dung cụ thể sau:
- Can thiệp trên đối tượng cung cấp dịch vụ gồm: đào tạo và đào tạo lại cho CBYT xã
và YTTB Tất cả CBYT xã cần được tập huấn về tiêm chủng Đồng thời, thực hiện
giám sát hỗ trợ trong buổi tiêm chủng để hỗ trợ hoạt động tập huấn, kết hợp đào tạo tại chỗ
- Can thiệp trên đối tượng nhận dịch vụ: Hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ với nội dung phù hợp, tận dụng cơ hội truyền thông trước, trong và sau khi tiêm chủng cho trẻ Kết hợp lồng ghép với hoạt động truyền thông khác tại cộng đồng để chuyển tải thông tin tới bà mẹ
- Tác động tới các nhà quản lý nhằm tăng cường sự hỗ trợ của các cấp chính quyền cho hoạt động tiêm chủng, nâng cao chất lượng dịch vụ tiêm chủng
Chương 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả: Huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình có nhiều đặc điểm của vùng miền núi khó khăn
Nghiên cứu can thiệp: 3 xã Toàn Sơn, Tu Lý, Cao Sơn và 3 xã đối chứng là Tân Minh, Tân Pheo, Mường Chiềng
Trang 9Thời gian: Năm 2007 và 2008
Nội dung 1: Nghiên cứu mô tả
*Đối tượng nghiên cứu và nguồn số liệu: Hoạt động tiêm chủng mở rộng tại huyện Đà
Bắc, nhân lực tham gia hoạt động tiêm chủng; Bà mẹ có con từ 12 đến 23 tháng tuổi tính
đến thời điểm điều tra (trẻ sinh từ ngày 1/11/2005 đến 1/11/2006)
*Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế điều tra mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính và
nghiên cứu định lượng
*Cỡ mẫu và cách chọn mẫu :
Đánh giá công tác tiêm chủng tại huyện Đà Bắc (CSYT):
Nghiên cứu định lượng:
− Tiến hành điều tra 21/21 xã trong huyện theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn
− Phỏng vấn kiến thức về TCMR của các CBYT tại 21 xã trong huyện
Nghiên cứu định tính: phỏng vấn sâu cán bộ lãnh đạo trung tâm YTDP huyện, 21 cán bộ trạm trưởng trạm y tế xã, 21 cán bộ chuyên trách tiêm chủng mở rộng, 42 nhân viên YTTB của 21 xã, cán bộ lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện, cán bộ hội phụ nữ
mẹ của những trẻ này Trên thực tế chúng tôi điều tra 804 bà mẹ và con của họ
Nội dung 2: Áp dụng một số giải pháp can thiệp và đánh giá hiệu quả can thiệp
*Đối tượng nghiên cứu
Tất cả cán bộ y tế xã và nhân viên y tế thôn bản tại các xã được chọn thời điểm trước can thiệp tháng 11/2007 và sau can thiệp 1/2009
− Bà mẹ là đối tượng của nghiên cứu can thiệp: Bà mẹ có con dưới 1 tuổi, bà mẹ của trẻ sinh từ 1/1/2007 đến 31/12/2007
− Đối tượng đánh giá trước và sau can thiệp:
+ Đánh giá trước can thiệp: Bà mẹ có con 12 – 23 tháng tuổi tại 3 xã can thiệp và 3 xã đối chứng (trẻ sinh từ ngày 1/11/2005 đến 1/11/2006)
+ Đánh giá sau can thiệp: Bà mẹ có con 12 -23 tháng tuổi (trẻ sinh từ ngày 1/1/2007 đến ngày 31/12/2007), là đối tượng đã được can thiệp truyền thông trong 11 tháng 2008 tại các xã được chọn
*Cỡ mẫu nghiên cứu
− Cán bộ y tế: 100% cán bộ y tế xã và 100% nhân viên y tế thôn bản tại 3 xã nghiên
cứu Cụ thể:Nhóm xã can thiệp: 17 cán bộ y tế và 29 nhân viên YTTB Nhóm xã đối chứng: 14 cán bộ y tế và 26 nhân viên YTTB
2 2
1 0 0 1
1 1
1
1
P P f f
Q P Q
P f Q P f n
−
−
Ζ + +
− Ζ
Thay vào công thức, tính được cỡ mẫu là 160.Tại các xã can thiệp chọn ngẫu nhiên
160 bà mẹ và nhóm xã chứng chọn 160 bà mẹ có con trong độ tuổi từ 12 đến 23 tháng tuổi
*Thiết kế nghiên cứu: So sánh trước sau, so sánh có đối chứng
*Đánh giá kết quả can thiệp
2
2 2 / 1
) 1 (
d
p p
Z
Trang 10So sánh kết quả trước – sau: dựa theo phương pháp so sánh 2 tỷ lệ, sử dụng kiểm
Các bước tổ chức nghiên cứu:
Bước1: Nghiên cứu mô tả thực trạng chất lượng tiêm chủng mở rộng tại huyện miền núi
Phần1: Mô tả thực trạng chất lượng tiêm chủng mở rộng tại huyện miền núi Đà Bắc, tỉnh
Hoà Bình
Phần 2: Mô tả một số yếu tố liên quan tới chất lượng tiêm chủng mở rộng tại huyện
miền núi Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Bước 2: Xác định vấn đề can thiệp, những giải pháp can thiệp
Bước 3: Thực hiện can thiệp đào tạo và giám sát hỗ trợ cho cán bộ y tế, nhân viên
YTTB; can thiệp TT – GDSK cho bà bà mẹ có con dưới 1 tuổi, phụ nữ có thai, trong 11
tháng từ tháng 1 đến hết tháng 11 năm 2008
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được làm sạch và mã hoá trước khi nhập vào máy tính Sử dụng phần mềm
trong chương trình thống kê dịch tễ học Epi data 3.01 và các test thống kê thường dùng
trong y tế
Chương 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TIÊM CHỦNG TẠI HUYỆN ĐÀ
BẮC
3.1.1 Thông tin chung về huyện nghiên cứu: Đà Bắc là huyện miền núi của tỉnh Hoà
Bình, 19/21 là xã miền núi khó khăn Dân số toàn huyện là 52.743 người, số trẻ dưới 1
tuổi là 977 trẻ, số phụ nữ có thai là 1.324 Trung bình mỗi trạm y tế có 5,5 cán bộ y tế xã
3.1.2.Thực trạng tiêm chủng mở rộng của các xã thuộc huyện Đà Bắc
3 Khoảng cách trung bình từ TYT xã đến điểm tiêm
− CSHQ B : Chỉ số hiệu quả của nhóm chứng
− P 1 : Tỷ lệ % chỉ số nghiên cứu thời gian trước can thiệp
− P 2 : Tỷ lệ % chỉ số nghiên cứu thời gian sau can thiệp
Trang 113.1.2.2 Quản lý đối tượng tiêm chủng: 100% các xã có quản lý đối tưuợng tiêm chủng
nhưng số liệu từ nhiều nguồn khác nhau, không thống nhất: YTTB báo cáo là 38,1% số
xã, sổ sinh của xã 23,8%, phụ trách dân số 23,8%, điều tra thực tế là 14,3%
3.1.2.3 Quản lý vắc-xin
Các xã trong huyện đã thực hành quản lý vắc-xin, có dự trù vắc-xin và vắc-xin được
cung cấp đủ trong buổi tiêm chủng Tuy nhiên chất lượng quản lý vắc-xin không đồng
đều giữa các xã, có 14,3% xã trong huyện không ghi chép số liệu quản lý vắc-xin trong
sổ, 71,4 % xã không báo cáo hao phí vắc-xin
3.1.2.4 Vận chuyển và bảo quản vắc- xin
Các xã của Đà Bắc đều được trang bị tủ lạnh chuyên dụng để bảo quản vắc-xin tại xã
Tủ trong tình trạng hoạt động tốt là 85,7% số tủ Việc sử dụng tủ lạnh còn rất hạn chế:
hầu như các xã không sử dụng tủ lạnh bảo quản vắc-xin thường xuyên tại xã, 9,52% xã
chỉ sử dụng tủ lạnh để bảo quản vắc-xin nếu có vắc-xin tồn
Bảng 3.5 Hoạt động vận chuyển và bảo quản vắc-xin
2 Sử dụng miếng xốp để bảo quản lọ vắc-xin đã mở
trong buổi tiêm chủng
3 14,3
trạm y tế
4 19,4
3.1.2.5 An toàn tiêm chủng
100% số xã sử dụng bơm kim tiêm tự khóa và 76,2% số xã sử dụng hộp an toàn Tuy
nhiên, có 47,6 % số xã có tình trạng thiếu hộp an toàn cho các điểm tiêm chủng ngoài
trạm y tế
Việc huỷ bơm kim tiêm đã sử dụng được thực hiện ở 90,5% số xã Có 2 xã (9,5%) đổ
bơm kim tiêm xuống miệng hố hở chưa qua xử lý, chưa đảm bảo an toàn cho cộng đồng
3.1.2.6 Thực hành tiêm chủng trong buổi tiêm chủng tại trạm y tế
Quan sát trực tiếp và sử dụng bảng kiểm tại buổi tiêm chủng ở các xã điều tra chúng
tôi có kết quả sau:
Bảng 3.9 Một số thực hành của cán bộ y tế trong buổi tiêm chủng tại TYT
Trang 123.1.2.7 Hoạt động giám sát bệnh và giám sát phản ứng sau tiêm chủng
Hệ thống giám sát phản ứng sau tiêm chủng được thực hiện ở 80,9% số xã của huyện,
4 xã không triển khai hoạt động này Số xã có báo cáo về trường hợp PƯSTC là 42%, số
xã có ghi chép trong sổ theo dõi PƯSTC là 80,9%
100% số xã có báo cáo giám sát bệnh hàng tháng Số xã phát hiện được ca liệt mềm
cấp là 23,8%, có báo cáo trường hợp CSS nghi ngờ UVSS là 38,1% số xã, có báo cáo ca
nghi sởi là 23,8%
3.1.2.8 Hoạt động đào tạo cán bộ y tế về TCMR: số cán bộ chuyên trách được tập huấn
trước khi làm tiêm chủng là 85,7% (18/21 xã) Có 42,8% cán bộ chuyên trách TCMR
được tập huấn về giám sát bệnh, 38,1% cán bộ chuyên trách TCMR được tập huấn về
giám sát phản ứng sau tiêm
3.1.3 Mô tả kiến thức và thực hành của bà mẹ về TCMR
3.1.3.1.Thông tin chung về bà mẹ
Tại huyện Đà Bắc, phần lớn bà mẹ trực tiếp đưa trẻ đi tiêm chủng chiếm tỷ lệ
96,9% Đa số bà mẹ ở độ tuổi từ 20 -35 tuổi (88,2%) Bà mẹ có trình độ tiểu học và trung
học cơ sở là 73,88% Phần lớn bà mẹ là nông dân chiếm 89,4% Đối tượng nghiên cứu
chủ yếu là dân tộc Mường chiếm 40,05%, dân tộc Tày là 24,25%, dân tộc là Dao
13,18%, dân tộc Kinh là 12,69%, dân tộc Thái là 9,83%
Kiến thức của bà mẹ về tiêm chủng mở rộng
Kiến thức về sử dụng phiếu tiêm chủng: Bà mẹ sử dụng phiếu tiêm chủng để biết
vắc-xin đã tiêm cho con mình là 31,5%, biết lịch tiêm chủng là 5,8%, thời gian đi tiêm mũi
tiếp theo là 6,8% và vẫn còn 60,3% bà mẹ không biết tác dụng của phiếu tiêm chủng
20% số bà mẹ có kiến thức đúng và đầy đủ về thời điểm đi tiêm chủng, 32,2% số bà mẹ
không biết nhũng tháng tuổi nào cần đưa trẻ đi tiêm chủng
Tỷ lệ %
Biểu đồ 3.7 Kiến thức về phản ứng xảy ra sau tiêm chủng