Xác định giá trị của một số phương pháp phát hiện dị tật bẩm sinh của thai nhi ở tuổi thai 13-26 tuần
Trang 1Trường đại học y hμ nội
Nguyễn Việt Hùng
Xác định giá trị của một số phương pháp phát hiện dị tật bẩm sinh của thai nhi
ở tuổi thai 13 - 26 tuần
Chuyên ngành: Sản Phụ khoa
Trang 2
Người hướng dẫn khoa học:
1.GS.TS Trần thị phương Mai
2.GS.TS Trịnh văn Bảo
Phản biện 1: GS.TS Phan Trường Duyệt
Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Ngọc Thoa
Phản biện 3: PGS.TS Trần Thị Liên
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại Trường Đại học Y Hà Nội vào hồi 14 giờ 00 ngày 12 tháng 01 năm 2007
Có thể tìm đọc luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc Gia
- Thư viện Thông tin Y học
- Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội
- Thư viện Bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội
Trang 3có liên quan đến luận án
1 Nguyễn Việt Hùng, Lê Hanh và CS (2004) Một số chỉ số sinh học
của trẻ sơ sinh đẻ tại khoa Phụ-Sản Bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm 1995-1999 Công trình NCKH Bệnh viện Bạch Mai 2003-2004, NXB Y học, tập 2, tr.255-267
2 Nguyễn Việt Hùng, Trần Thị Phương Mai, Hoàng Thị Ngọc Lan,
Vũ Công Khanh (2005) Chẩn đoán các dị tật bẩm sinh của thai nhi bằng siêu âm sàng lọc và xử trí lâm sàng các dị tật bẩm sinh tại khoa Sản Bệnh viện Bạch Mai Tạp chí Y học thực hành, số 1 (501), tr.10-13
3 Nguyễn Việt Hùng, Trịnh Văn Bảo (2005) Nghiên cứu tình hình dị tật bẩm sinh của sơ sinh đẻ tại Bệnh viện Bạch Mai từ 1/1/1999 đến 30/9/2003 và một số yếu tố liên quan Tạp chí Y học thực hành, số
3 (505), tr.12-15
4 Hoàng Thị Ngọc Lan, Nguyễn Việt Hùng, Trịnh Văn Bảo, Trần Thị
Thanh Hương (2004) Một số kết quả ban đầu trong đánh giá giá trị
test sàng lọc ở phụ nữ mang thai để phát hiện thai dị tật Tạp chí
nghiên cứu Y học, tập 29, số 3, tr.33-41
5 Hoàng Thị Ngọc Lan, Nguyễn Việt Hùng, Trần Danh Cường, Trịnh
Văn Bảo, Trần Thị Thanh Hương (2006) Phân tích nhiễm sắc thể
của tế bào ối nuôi cấy có đối chiếu với kết quả của siêu âm thai và test sàng lọc trước sinh Tạp chí nghiên cứu Y học, phụ trương 40,
số 1, tr 47-53
6 Trần Thị Thanh Hương, Hoàng Thị Ngọc Lan, Trần Thị Lan Anh,
Nguyễn Việt Hùng, Trịnh Văn Bảo, Hoàng Thu Lan (2006) Định
lượng AFP, βhCG,uE3 trong huyết thanh mẹ để sàng lọc trước sinh những dị tật bẩm sinh Tạp chí nghiên cứu Y học, phụ trương 40, số
1, tr 25-31
Trang 4Đặt vấn đề
Dị tật bẩm sinh (DTBS) là lĩnh vực được quan tâm nhiều trong ngành sản khoa hiện nay DTBS là một nguyên nhân hàng đầu gây tử vong chu sinh (khoảng 20%) và tử vong của trẻ trong năm đầu tiên Tỉ
lệ DTBS gặp ở 20% các trường hợp thai nghén, bao gồm cả các thai sẩy, thai chết lưu và đẻ non
Nhiều phương pháp thăm dò hiện đại được ứng dụng để sàng lọc
và chẩn đoán DTBS như test bộ ba (AFP, β-hGG, uE3) và plasma protein A (PAPP-A) Gần đây sự kết hợp giữa siêu âm và xét nghiệm sinh học đã giúp chẩn đoán DTBS trước sinh có độ chính xác cao Siêu
âm càng ngày càng phát triển, từ siêu âm 2 chiều nay có siêu âm 3 chiều, 4 chiều và Doppler màu Chẩn đoán trước sinh phát triển từ di truyền tế bào sang di truyền phân tử, phân tích ADN bằng kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH) và kỹ thuật nhân bản ADN in vitro (PCR)
để xác định gen khiếm khuyết Các kỹ thuật lấy mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm di truyền cũng thay đổi từ các thủ thuật xâm phạm sang các thủ thuật không xâm phạm, không gây tổn thương thai Trong hoàn cảnh hiện nay của Việt nam, trước tình hình các DTBS của thai nhi ngày càng có xu hướng tăng lên và nhu cầu được chăm sóc trước sinh
ngày càng cao nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định
giá trị của một số phương pháp phát hiện dị tật bẩm sinh của thai nhi ở tuổi thai 13-26 tuần”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
1 Xác định tần suất DTBS và mô hình DTBS theo chẩn đoán siêu
âm trong tổng số thai phụ đến khám, siêu âm, xét nghiệm và đẻ tại Khoa Phụ- Sản, Bệnh viện Bạch Mai từ 1.1.1999 đến 31.9 2005
2 Đánh giá giá trị của các phương pháp được áp dụng để phát hiện sớm các DTBS của thai nhi trong ba tháng giữa của thời kỳ thai nghén
Trang 53 Đề xuất phương pháp chẩn đoán các DTBS của thai nhi trong ba tháng giữa của thời kỳ thai nghén nên áp dụng ở nước ta trong hoàn cảnh hiện nay
Những đóng góp mới của luận án
1 Xác định được tần suất DTBS về hình thể thai nhi trong tuổi thai 13-26 tuần bằng siêu âm hai chiều là 0,51% và tần suất từng loại DTBS xếp theo hệ cơ quan theo ICD-10 qua siêu âm 17.921 thai phụ Xác định mối liên quan chặt chẽ giữa DTBS của thai nhi với lứa tuổi
và thứ tự lần sinh của thai phụ
2 Xác định được một số dấu hiệu đặc trưng hay dấu hiệu chỉ điểm của siêu âm (ultrasound markers) trong chẩn đoán các bất thường NST của thai nhi trong các hội chứng Down, hội chứng Edward, hội chứng Patau và hội chứng Turner ở ba tháng giữa của thời kỳ thai nghén
3 Góp phần khẳng định sự cần thiết phối hợp bổ sung lẫn nhau của 3
phương pháp siêu âm chẩn đoán, test sàng lọc và xét nghiệm NST trong việc tăng cao tính chính xác trong chẩn đoán DTBS trước sinh cho các thai phụ ứng dụng trong thực tiễn lâm sàng
4 Phối hợp với phòng di truyền tế bào của Bộ môn Y sinh học - Di
truyền của Trường Đại học Y Hà Nội để xác định bất thường NST của thai nhi ở ba tháng giữa của thời kỳ thai nghén
Cấu trúc luận án: luận án được trình bày trên 152 trang giấy khổ
A4 không kể phụ lục và được chia ra:
+ Đặt vấn đề, 3 trang
+ Chương 1: Tổng quan tài liệu, 49 trang
+ Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu, 20 trang
+ Chương 3: Kết quả nghiên cứu, 38 trang
+ Chương 4: Bàn luận, 39 trang
+ Kết luận 2 trang Kiến nghị 1 trang
Trang 6Luận án gồm 8 hình, 69 bảng Phần phụ lục gồm các hình ảnh thai nhi bị DTBS trên siêu âm, ảnh lâm sàng, ảnh NST, các ảnh minh họa thủ thuật chọc hút dịch ối, mẫu phiếu thu thập số liệu khoa học, mẫu siêu âm thai, kỹ thuật chọc hút dịch ối, nuôi cấy tế bào ối, cách tính độ nhạy, độ đặc hiệu và bảng danh sách các thai phụ có thai bị DTBS
Chương 1 tổng quan tμi liệu
1.1 Một số khái niệm
- Bất thường bẩm sinh (BTBS): BTBS bao gồm những DTBS do di
truyền, sự phát triển bị ngắt quãng do các nhân tố gây quái thai và những biến dạng gây nên do các nguyên nhân cơ học trong tử cung của mẹ
- Dị tật bẩm sinh (DTBS): DTBS là tất cả những bất thường về cấu
trúc, chức năng hoặc sinh hoá có mặt lúc mới sinh cho dù các bất thường này có được phát hiện ở thời điểm đó hay không DTBS đều có nguyên nhân từ trước sinh; dị tật có thể ở mức độ cơ thể, tế bào hoặc dưới tế bào; dị tật có thể phát hiện ngay lúc mới sinh hoặc ở những giai đoạn muộn hơn
1.2 Tình hình DTBS trên thế giới và Việt Nam
Theo WHO tỉ lệ DTBS là 1,73% Theo Marden PM (Hoa Kỳ,1964)
tỉ lệ DTBS nhỏ là 14,7% và DTBS lớn là 2,04%,theo Abudu O.O (Nigeria,1988) tỉ lệ là 2,1%, theo Himmetoglu O (Thổ Nhĩ Kỳ,1996) tỉ
lệ là 1,11%, theo Shi LM (Singapore,1998) tỉ lệ là 1,39%
ở Việt Nam, theo Nguyễn Khắc Liêu (1960) tỉ lệ DTBS là 0,9%;
Đào Thị Chút (Hải Phòng) tỉ lệ DTBS là 0,4%; Phạm Thị Thanh Mai (1995-1998, Bệnh viện Phụ sản TW) tỉ lệ là 0,96% ở miền Nam,
Trang 7nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Chi (1994, Sông Bé) có tỉ lệ DTBS là 2,4% Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Phượng (1990) cho thấy tỉ lệ DTBS là 3,6% Tại Thừa Thiên – Huế, tỉ lệ DTBS là 0,51% theo Lương Thị Kim Thanh (1996)
1.3 Nguyên nhân gây ra DTBS ở người: nguyên nhân gây ra
DTBS ở người được chia thành 3 nhóm, đó là nhóm nguyên nhân do yếu tố di truyền (14-20%) gồm đột biến NST và khuyết tật đơn gen; nhóm nguyên nhân do yếu tố môi trường (7-10%) và nhóm nguyên nhân di truyền đa nhân tố (20-25%) Ngoài ra còn có tới 50-54% các trường hợp DTBS chưa biết rõ nguyên nhân
1.4 Thời gian có thể gây bất thường phôi thai: Thời kỳ phôi là
thời kỳ chủ yếu quyết định các dị tật về hình thái của thai nhi
1.5 Phân loại dị tật bẩm sinh ở người: Phân loại dị DTBS ở người
theo hình thái lâm sàng, theo thời kỳ phát triển của phôi, theo sinh bệnh học và theo hệ thống cơ quan của Tổ chức y tế thế giới
1.6 Siêu âm chẩn đoán: Siêu âm là phương pháp rất hiệu quả để
phát hiện các dị tật, được ứng dụng trong sản khoa trên 25 năm, ngày càng có nhiều tiến bộ về công nghệ đã giúp cho chẩn đoán dễ dàng hơn như siêu âm 3 chiều, 4 chiều, Doppler mầu Siêu âm có thể chẩn đoán sớm các dị tật các cơ quan bộ phận trong cơ thể thai nhi và vô hại
1.7 Các phương pháp chẩn đoán di truyền các DTBS trong ba tháng giữa của thời kỳ thai nghén
1.7.1 Sàng lọc trước sinh bằng test sàng lọc bộ ba (tripple test: AFP, βhCG, uE3) và inhibin-A, PAPP-A, siêu âm, tuổi mẹ…Có thể phối hợp các phương pháp để tăng độ chính xác sàng lọc trước sinh
1.7.2 Chẩn đoán trước sinh
Các phương pháp lấy tế bào thai trực tiếp gồm có chọc hút dịch ối
Trang 8và chọc hút tua rau ở tuổi thai 15 - 18 tuần và 9 - 12 tuần
Chẩn đoán trước sinh theo phương pháp di truyền tế bào (nuôi cấy
tế bào ối, nuôi cấy tế bào mô thai, nuôi cấy bạch cầu lympho sau đó
phân tích NST tế bào nuôi cấy) hoặc theo phương pháp di truyền phân
tử (FISH, PCR ) để chẩn đoán các dị tật của gen Nhược điểm của phương pháp di truyền phân tử là giá thành cao
Chương 2
đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 17.921 thai phụ có thai từ 13 đến 26
tuần và được chia thành 3 nhóm
2.1.1 Nhóm sàng lọc trước sinh bằng test bộ ba (triple test): 168
thai phụ khám thai trong ba tháng giữa và được chia thành hai nhóm nhỏ:
- Nhóm nguy cơ cao: 61 thai phụ có các yếu tố nguy cơ về tuổi
(trên 35 hoặc dưới 19 tuổi khi thai đủ tháng), đã sinh con bị DTBS, thai chết lưu liên tiếp hoặc họ hàng hai bên trong vòng 3 đời có con bị bất thường NST hoặc dị tật ống thần kinh, sẩy thai tự nhiên ≥ 2 lần
Lần có thai hiện tại bị nhiễm vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng Vợ hoặc
chồng tiếp xúc các tác nhân gây đột biến có nguy cơ thai bị DTBS Số lượng mẫu huyết thanh xét nghiệm test sàng lọc bộ ba là 181 mẫu, nhóm nguy cơ cao xét nghiệm 62 mẫu/61 thai phụ, nhóm nguy cơ thấp xét nhiệm 119 mẫu/107 thai phụ
- Nhóm nguy cơ thấp: 107 thai phụ, không có các yếu tố nguy cơ 2.1.2 Nhóm chẩn đoán các DTBS của thai nhi bằng siêu âm:
17.921 thai phụ, khám thai trong giai đoạn từ 13 đến 26 tuần trong
đó có các trường hợp test sàng lọc trước sinh có kết quả dương tính
Trang 92.1.3 Nhóm chẩn đoán trước sinh: 109 thai phụ được chọc hút dịch
ối và xét nghiệm karyotyp để chẩn đoán bất thường NST Đây là các thai phụ có kết quả siêu âm chẩn đoán thai nhi có một hoặc nhiều DTBS lớn, các thai phụ có kết quả test sàng lọc trước sinh dương tính
và các thai phụ có tiền sử gia đình đã có người bị DTBS hoặc bản thân
đã sinh ra một người con có DTBS
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: phương pháp mô tả cắt ngang
2 2 / 1
.
e
q p
n: cỡ mẫu nhỏ nhất phải đạt được, cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu Z:
độ tin cậy ở mức xác suất 95% =1,96 p: tần suất DTBS =0,01 (1%) theo Trịnh Văn Bảo, Ngô Gia Thạch q: tỉ lệ không mắc dị tật = 1- p = 0,99 (99%) α: mức ý nghĩa thống kê, lấy giá trị= 0,05 e: khoảng sai lệch cho phép giữa tần suất thu được từ mẫu và tần suất của quần thể,
được tính bằng 20% của p, như vậy e = 0,002 Theo công thức này thì
n = 9.508 Nếu lấy hệ số ảnh hưởng thiết kế DE (design effect) = 1,8,
ta tính được n của mẫu N=1,8 ì 9508 = 17.114 thai phụ Cỡ mẫu của chúng tôi là 17.921 thai phụ, như vậy phù hợp với cỡ mẫu của nghiên cứu
2.2.3 Chọn mẫu: Chọn tất cả các thai phụ có tuổi thai từ 13 đến 26
tuần đến khám tại khoa Phụ-Sản, bệnh viện Bạch Mai cho đến khi đủ 17.114 thai phụ
2.2.4 Thu thập số liệu: Hỏi bệnh, tiền sử bệnh theo mẫu thu thập số
liệu, khám lâm sàng (toàn thân và khám thai); định lượng AFP, βhCG, uE3 trong huyết thanh tại phòng xét nghiệm trung tâm Trường ĐHY
Trang 10Hà Nội Xác định nồng độ AFP, βhCG, uE3 theo IU/ml hoặc ng/ml (ng/ml x 0,83 = IU/ml) và theo MoM (bội số giá trị trung vị)
Siêu âm sản khoa tại khoa Phụ - Sản Bệnh viện Bạch Mai, máy siêu
âm 2 chiều ALOKA- SSD-1100 Flexus và máy ALOKA - SSD-3500
Prosound Plus Xác định các DTBS của đầu, cột sống, mặt, cổ, ngực,
bụng, các hệ cơ quan của thai nhi và phần phụ của thai Tất cả các bất
thường đều phải dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán siêu âm
Chọc hút dịch ối Chọc hút dịch ối trong các trường hợp test sàng
lọc bộ ba(+); các trường hợp siêu âm phát hiện DTBS hình thể của thai nhi; các trường hợp có tiền sử đẻ con bị hội chứng Down, thai chết lưu, sẩy thai liên tiếp; mẹ lớn tuổi (≥ 35 tuổi) Chọc hút dịch ối dưới sự hướng dẫn của siêu âm Nuôi cấy tế bào dịch ối theo phương pháp của Rooney (1992) có cải tiến
2.2.5 Biến số của nghiên cứu
2.2.5.1 Biến số phụ thuộc: là DTBS của thai nhi dựa trên thăm
khám lâm sàng, siêu âm sản khoa, xét nghiệm test sàng lọc bộ ba máu
mẹ chọc hút dịch ối và xét nghiệm dịch ối, nuôi cấy tế bào ối
2.2.5.2 Biến số độc lập: số lần có thai, sẩy thai, thai chết lưu, số con đã bị DTBS, loại DTBS đã mắc phải.Tiền sử gia đình hai bên nội ngoại về các bệnh di truyền, bệnh có tính chất gia đình, các DTBS đã mắc phải Các đặc trưng cá nhân, địa dư sinh sống
2.2.6 Tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn: Phân chia lứa tuổi thai
phụ theo các nhóm tuổi ≤ 19, 20 - 24, 25 - 29, 30-34, 35 - 39, 40 - 44
và ≥ 45 tuổi Phân loại nghề nghiệp của thai phụ theo các nhóm cán
bộ, công chức; công nhân; nông dân; nội trợ và các nghề khác.Trình
độ học vấn của thai phụ được chia thành các nhóm tiểu học; trung học; cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp và sau đại học
=
Trang 112.2.7 Đình chỉ thai nghén: 83 trường hợp thai có DTBS lớn được
đình chỉ thai nghén có kết quả bằng Cytotec (75 trường hợp) với liều
thai (2 trường hợp) và mổ lấy thai (4 trường hợp)
2.2.8 Xử lý số liệu: Xử lý số liệu theo chương trình Epi-Info 6.04
và chương trình SPSS 10.05 Để đánh giá giá trị của test sàng lọc và
các phương pháp chẩn đoán DTBS, chúng tôi sử dụng các chỉ số độ nhạy và độ đặc hiệu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Tần suất dị tật bẩm sinh: Từ 01.01.1999 đến 30.9.2005
chúng tôi đã siêu âm cho 17.921 thai phụ và phát hiện được 91 trường hợp thai nhị bị DTBS Tần suất DTBS theo chẩn đoán siêu âm là 0,51%±0,10 Tần suất DTBS nhóm thai phụ ≤ 19 tuổi là 2,89% (4/138 thai phụ), nhóm thai phụ lứa tuổi 20 – 24 có tần suất là 0,61% (17/2796 thai phụ), nhóm thai phụ lứa tuổi 25-29 có tần suất là 0,52% (46/8794 thai phụ), nhóm thai phụ lứa tuổi 30-34 có tần suất là 0,28% (13/4623 thai phụ), nhóm thai phụ lứa tuổi 35-39 có tần suất là 0,59% (7/1189 thai phụ), nhóm thai phụ lứa tuổi 40 - 44 có tần suất là 1,13%
(4/354 thai phụ), nhóm thai phụ lứa tuổi ≥ 45 không có trường hợp nào có thai bị DTBS
3.2 Mô hình DTBS và đặc điểm của các thai phụ có thai bị DTBS
3.2.1 Mô hình dị tật bẩm sinh của thai nhi: 91 thai nhi bị DTBS
được chẩn đoán trên siêu âm có 154 dị tật Các dị tật này được xếp theo hệ cơ quan, theo phân loại DTBS của WHO Mô hình DTBS được sắp xếp theo ICD – 10 như sau: DTBS của hệ thần kinh là 44, chiếm tỉ
Trang 12lệ 28,57%; DTBS của hệ cơ xương là 27 dị tật, chiếm tỉ lệ là 17,52%; DTBS của mắt, mặt, tai, cổ có 23/154 dị tật, chiếm tỉ lệ là 14,94%; DTBS của hệ tuần hoàn có 20 dị tật, chiếm tỉ lệ 12,98%; DTBS của hệ hô hấp có 13 dị tật, chiếm tỉ lệ 8,44%; DTBS của hệ tiết niệu có 8 dị tật, chiếm tỉ lệ 5,20%; DTBS khác cũng có 8 dị tật, chiếm tỉ lệ 5,20%; DTBS của hệ tiêu hóa có 7 dị tật, chiếm tỉ lệ 4,55% và khe hở môi, vòm miệng có 4 dị tật, chiếm tỉ lệ 2,60%
3.2.2 Đặc điểm của các thai phụ
Nhóm sản phụ trình độ học vấn phổ thông có thai bị DTBS cao hơn (54,95%) nhóm thai phụ có trình độ học vấn đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp (43,96%) nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Về nghề nghiệp, nhóm sản phụ là nông dân có thai bị DTBS có tần suất cao nhất (1,04%), thứ hai là nhóm thai phụ có nghề nghiệp là công nhân (0,50%), thứ ba là nhóm thai phụ có nghề nghiệp là cán bộ, công chức (0,41%) (p<0,05) Có 35 thai phụ tiếp xúc với tác nhân có thể gây đột biến chiếm tỉ lệ là 38,46%, trong đó chủ yếu tiếp xúc với thuốc trừ sâu Chỉ có 2,2% các thai phụ bị mắc các bệnh trong thời gian trước khi có thai và có tới 97,8% các thai phụ đều khoẻ mạnh
3.2.4 Tình trạng thai nghén lần này
- 28 thai phụ mắc bệnh trong tổng số 91 thai phụ có thai bị DTBS trong lần có thai này, tỉ lệ là 30,77% 64,1% các thai phụ trong số các thai phụ mắc bệnh trong khi có thai lần này bị cúm và có 14,3% các thai phụ bị dọa sảy thai
- 2,89% thai phụ ≤ 19 tuổi và 1,72% thai phụ ≥ 35 tuổi, 38,46% thai phụ tiếp xúc với hoá chất trong khi có thai Về tiền sử, có 21 thai phụ sẩy thai ≥ 2 lần và chỉ có 1 thai phụ có tiền sử có người thân trong gia
đình bị DTBS 20 thai phụ bị nhiễm cúm trong khi có thai lần này
Trang 133.3 Kết quả chẩn đoán DTBS bằng siêu âm
3.3.1 Số lượng DTBS trên một thai nhi được chẩn đoán trên siêu
âm Số thai nhi có ≥ 2 DTBS (50) nhiều hơn số thai nhi có 1 DTBS (41), p > 0,05 Đây chỉ là các DTBS lớn được phát hiện bằng siêu âm
3.3.2 Tuổi thai trung bình khi phát hiện DTBS
Tuổi thai trung bình khi được chẩn đoán có DTBS là 20,54 ± 0,50 tuần, thai nhỏ nhất là 13 tuần, thai lớn nhất là 26 tuần, tỷ lệ phát hiện nhiều nhất vào tuổi thai 26 tuần
3.3.3 Các yếu tố kết hợp trong một số DTBS thường gặp
3.3.3.1 Các yếu tố kết hợp trong DTBS thai vô sọ
Có 16 trường hợp thai vô sọ, trong đó thai phụ trẻ nhất là 18, cao tuổi nhất là 34 Lứa tuổi thai phụ ≤ 19 có tần suất cao nhất là 2,17%, lứa tuổi 30-34 có tần suất thấp nhất là 0,02% (p < 0,05) Con so gặp nhiều hơn con rạ (12/16) chiếm 75% 1 trường hợp kết hợp với dị tật thông liên thất của tim thai nhi
3.3.3.2.Các yếu tố kết hợp trong DTBS não úng thuỷ
Có 14 trường hợp thai nhi bị não úng thuỷ, mẹ trẻ nhất là 20 tuổi và nhiều nhất là 37 Não úng thủy kèm dị tật phối hợp gặp nhiều hơn não úng thủy đơn thuần (8/6), tỷ lệ là 57,14% Dị tật kèm theo là tràn dịch các màng, thoát vị màng não, rốn Bất thường NST có 1 hội chứng Patau trong 3 trường hợp được xét nghiệm karyotyp
3.3.3.3 Các yếu tố kết hợp trong DTBS nang bạch huyết vùng cổ
Có 12 trường hợp nang bạch huyết vùng cổ Tuổi thai phụ trẻ nhất là 20, nhiều tuổi nhất là 35 Lứa tuổi hay gặp nhất là 20 - 24, tần suất là 0,11%, lứa tuổi 30-34 có tần suất thấp nhất là 0,04%, p < 0,05 Tuổi thai phát hiện sớm nhất 14 tuần, muộn nhất là 21 tuần Tuổi thai trung bình là 16,75 tuần 2/3 số nang bạch huyết vùng cổ có các dị tật