TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ – SỐ 19/2019 1 ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CÁI BÈ, TIỀN GIANG NĂM 2016 Lê Thành Tài *, Lê Thị Kim Định, Lê Văn Sơn[.]
Trang 1ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI CÁI BÈ, TIỀN GIANG NĂM 2016
Lê Thành Tài * , Lê Thị Kim Định, Lê Văn Sơn
Trường Đại học Y dược Cần Thơ
* Email: lttai@ctump.edu.vn
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tình trạng dinh dưỡng ở nhóm vị thành niên sớm cần được quan tâm vì đây là
giai đoạn mở đầu cơ hội chuẩn bị về dinh dưỡng cho cuộc sống trưởng thành khỏe mạnh và khắc
phục được một số rối loạn dinh dưỡng khởi phát trong giai đoạn đầu đời Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh trung học cơ
sở tại Cái Bè, Tiền Giang Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang
trên 1176 học sinh đang học tại các trường trung học cơ sở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang từ 01/2016 đến 03/2016 Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi soạn sẵn đề thu thập các số liệu về các chỉ số nhân trắc (chiều cao, cân nặng), các thông tin đặc điểm dịch tễ học, chế độ ăn, sinh hoạt và môi trường sống của học sinh Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên 3 thể là thấp còi, gầy còm và thừa cân béo phì theo phần mềm WHO AnthroPlus 2007 Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0
Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi, gầy còm và TCBP tương ứng là 15,9%; 11,1% và
10,6% Thấp còi, gầy còm mức độ nhẹ chiếm 14,2%; 9,2%; trong khi thừa cân chiếm 7,2% và béo phì nhẹ chiếm 3,4% Yếu tố liên quan thấp còi: trẻ nam, kinh tế nghèo, sống nông thôn, cha mẹ là nông dân, thói quen ăn kiêng, dùng hố xí không hợp vệ sinh Liên quan gầy còm: kinh tế nghèo, không tập thể dục, dùng hố xí không hợp vệ sinh Liên quan TCBP: trẻ nam, kinh tế không nghèo,
sống thành thị, học vấn cha mẹ >cấp 2, ngủ sau 22 giờ Kết luận: Sàng lọc và dự phòng sớm SDD
và TCBP thì cần thiết Đặc biệt cần chú ý suy dinh dưỡng thể thấp còi
Từ khóa: thấp còi, suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì
ABSTRACT
NUTRITIONAL STATUS EVALUATION AND RELATED FACTORS OF SECONDARY STUDENTS IN CAI BE DISTRICT, TIEN GIANG PROVINE
IN 2016
Le Thanh Tai, Le Thi Kim Đinh, Le Van Son
Can Tho university of Medicine and Pharmacy
Background: Nutritional status in early adolescent groups should be of interest as this is
the opening phase of the opportunity for nutrition preparation for healthy adult life and overcome
some trophic disorders that began in the early stages of life Objectives: To determine the situation
of malnutrition and overweight, obesity and some related factors in secondary students in Cai Be
district, Tien Giang province Materials and Methods: A cross-sectional study on 1176 secondary
students in Cai Be district, Tien Giang province was conducted from January to March 2016 Data collection was interviewed directly with questionnaires: anthropometric indicators (height, weight), epidemiological characteristics, diet and daily routine and living condition Three types
of nutrition (stunting, wasting and overweight obesity) were determined by WHO AnthroPlus 2007
software SPSS 18.0 software was used to analyze data Results: Prevalence of stunting, wasting
and overweight-obesity were 15.9%, 11.1% and 10.6% respectively Stunting, wasting in the light level were 14.2% and 9.2%; while overweight and obesity with 7.2% and 3.4% Related factors with stunting: boys, poverty economic, living rural, parents with farmers, dietary habits, not use hygienic latrines Factors associated wasting: poverty economic, not exercise, not using hygienic latrines Related overweight and obesity: boys, non-poor economy, living in urbans, parent
Trang 2education (> secondary), sleeping after 10 pm Conclusions: Early screening and prevention of malnutrition and overweight-obesity are necessary Especially, stunting is needed to concern better
Keywords: stunting, malnutrition, overweight and obesity
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Gánh nặng các bệnh mạn tính có liên quan đến dinh dưỡng đang tăng nhanh trên khắp toàn cầu Vị thành niên là giai đoạn mở đầu cơ hội chuẩn bị về dinh dưỡng cho cuộc sống trưởng thành khỏe mạnh và khắc phục những rối loạn dinh dưỡng ở giai đoạn đầu đời [14] Vấn đề nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và thể lực đang được quan tâm ở nước
ta Thực tế ghi nhận kết quả một số nghiên cứu năm 2012 như sau: 10,7% trẻ 6-14 tuổi bị thừa cân béo phì, 9,1% trẻ bị thiếu dinh dưỡng tại Hà Nội; nhóm học sinh trung học cơ sở tại Hồ Chí Minh, có 6,6% bị thấp còi, 7,4% gầy còm và 22,5% bị thừa cân-béo phì; tại Cần Thơ, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm học sinh 11-14 tuổi là 17,3%; thừa cân là 12,2% [3], [4], [8] Tuy nhiên, hầu như vấn đề này chỉ được quan tâm trong phạm vi các thành phố lớn, còn một số tỉnh thành chưa thật sự được chú trọng, đặc biệt là tại Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó, có huyện Cái Bè, Tiền Giang
Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định tỷ lệ, mức độ suy dinh dưỡng và thừa cân béo phì ở học sinh trung học cơ sở tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang năm 2015-2016
Xác định một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng và thừa cân béo phì ở học sinh trung học cơ sở tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh và cha mẹ của học sinh trung học cơ sở tại Cái Bè, Tiền Giang
Tiêu chuẩn chọn:
Học sinh đang học tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang và cha mẹ của học sinh từ 01-3/2016 đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
Học sinh đang mắc bệnh bệnh cấp tính, bệnh phải nằm viện hay học sinh bị gù vẹo cột sống, mất chi, để trả lời chính xác các câu hỏi, vắng mặt cả 3 lần khi thu thập số liệu
Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu: 2
1 / 2 2
d
Với α=0,05; p1= 15,01% và p2=5,2% [6] và d= Ɛp (chọn Ɛ= 0,3) Cỡ mẫu lần lượt là
n1= 242 và n2= 779 Để mẫu đại diện cho quần thể nên chọn cỡ mẫu lớn nhất là 779 Nhân với hiệu ứng thiết kế DE=1,5 và chúng tôi lấy tròn 1170 Cỡ mẫu thực tế là 1176
Phương pháp chọn mẫu: nhiều giai đoạn
Giai đoạn 1: Chọn trường nghiên cứu phương pháp phân tầng Huyện Cái Bè có 23
trường THCS tương ứng 23 thị trấn/xã thuộc 2 nhóm là kinh tế khá (8 xã/thị trấn) và trung bình (15 xã/thị trấn) Bốc thăm ngẫu nhiên chọn 2 trường/nhóm: trường THCS TT Cái Bè, Phan Văn Ba, Mỹ Lương và Thiện Trung
Giai đoạn 2: Chọn lớp nghiên cứu Bốc thăm ngẫu nhiên 2 lớp/khối: chọn được 32 lớp Giai đoạn 3: Chọn đối tượng nghiên cứu Chọn tất cả học sinh thỏa tiêu chuẩn chọn
mẫu trong các lớp được chọn
Trang 3Nội dung nghiên cứu:
Tỷ lệ SDD thể thấp còi, gầy còm, TCBP theo tuổi và giới qua tiêu chuẩn của WHO
2007 bằng phần mềm WHO AnthroPlus
Suy dinh dưỡng thấp còi: Một trẻ được xác định SDD thể thấp còi nhẹ khi chiều cao theo tuổi <–2SD; SDD thấp còi nặng khi chiều cao theo tuổi <-3SD
Suy dinh dưỡng gầy còm: Một trẻ được xác định SDD gầy còm mức độ nhẹ khi BMI theo tuổi <–2SD; SDD gầy còm mức độ nặng khi BMI theo tuổi <-3SD
Thừa cân-béo phì: Một trẻ được xác định thừa cân khi BMI theo tuổi >+1SD; béo phì nhẹ khi BMI theo tuổi >+2SD; béo phì nặng khi BMI theo tuổi >+3SD
Các yếu tố liên quan: đặc điểm chung của gia đình và trẻ, thói quen dinh dưỡng, thói quen hoạt động thể lực, thói quen học tập, môi trường sống và bệnh tật
Phương pháp thu thập số liệu:
Đặc điểm chung và yếu tố liên quan: hướng dẫn tự điền bằng bộ câu hỏi bán cấu trúc
Đo chiều cao, cân nặng: Đo chiều cao đứng (thước đo chiều cao chính xác đến 1mm) Dùng cân điện tử để xác định trọng lượng của trẻ, ghi kết quả bằng kilogram (kg) với một số lẽ
Phân tích số liệu: nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0 và WHO
AnthroPlus
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung
Bảng 1 Phân phối đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới tính
11 134 23,7 148 24,2 282 24,0
12 157 27,8 149 24,4 306 26,0
13 123 21,8 158 25,8 281 23,9
14 132 23,4 151 24,7 283 24,1
Nhận xét: Tỷ lệ trẻ nam và nữ theo nhóm tuổi chênh lệch không cao, trẻ nữ chiếm
tỷ lệ 52,0%; 11-14 tuổi chiếm tỷ lệ sấp xỉ 24-26%, >14 tuổi có tỷ lệ thấp
Bảng 2 Tình hình kinh tế gia đình, địa dư và dân tộc
Kinh tế Nghèo/cận nghèo 152 12,9
Nhận xét: kinh tế nghèo chiếm 12,9%; nông thôn chiếm 28,5% và Kinh chiếm 99,8%
3.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng và thừa cân béo phì ở học sinh trung học cơ sở
Bảng 3 Tỷ lệ SDD thấp còi và mức độ
Trang 4Tình trạng dinh dưỡng Tần số Tỷ lệ (%)
Mức độ thấp còi
Nhận xét: tỷ lệ SDD thấp còi chiếm 15,9% Thấp còi nhẹ chiếm 14,2%
Biểu đồ 1 Tỷ lệ SDD gầy còm và TCBP
Nhận xét: tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm chiếm 11,1%; TCBP là 10,6%
Bảng 4 Phân độ gầy còm và TCBP
Phân độ gầy còm Tần số (%) Phân độ TCBP Tần số (%)
Không 1046 (88,9) Không 1051 (89,4) Nhẹ 108 (9,2) Thừa cân 85 (7,2) Nặng 22 (1,9) Béo phì nhẹ 40 (3,4)
Nhận xét: gầy còm nhẹ chiếm 9,2% và thừa cân chiếm 7,2%
3.3 Một số yếu tố liên quan tình trạng dinh dưỡng
Bảng 5 Liên quan giữa gầy còm và một số yếu tố
Kinh tế Nghèo 26 17,7 121 82,3 1,653
(1,033-2,646) 0,035 Không ghèo 104 11,5 800 88,5
Thể dục thường
xuyên
Không 116 13,3 753 86,7 1,849
(1,036-3,299) 0,035
Có 14 7,7 168 92,3
Hố xí hợp vệ
sinh
Không 66 13,2 434 86,8 1,454
(1,009-2,095) 0,044
Có 64 9,5 612 90,5
Nhận xét: Kinh tế, thể dục và loại hố xí đúng có ảnh hưởng SDD gầy còm, p<0,05
Bảng 6 Liên quan giữa thấp còi và một số yếu tố
Giới Nam 105 18,6 460 81,4 1,473 0,016
0
20
40
60
80
11,1 (n=130)
78,3 (n=921)
10,6 (n=125)
%
Trang 5Nữ 82 13,4 529 86,6 (1,075-2,017) Kinh tế Nghèo 33 21,7 119 78,3 1,567
(1,027-2,389) 0,036 Không ghèo 154 15,0 870 85,0
Địa dư Nông thôn 159 18,9 682 81,1 2,556
(1,673-3,905) <0,001 Thành thị 28 8,4 307 91,6
Nghề cha Nông dận 110 18,5 485 81,5 1,434
(1,045-1,970) 0,025 Khác 77 13,7 504 86,3
Nghề mẹ Nông dân 67 19,9 270 80,1 1,502
(1,078-2,090) 0,016 Khác 120 14,2 719 85,8
Ăn kiêng Có 31 22,3 108 77,7 1,621
(1,050-2,502) 0,028 Không 156 15,0 881 85,0
Hố xí hợp vệ
sinh
Không 97 19,4 403 80,6 1,567
(1,145-2,145) 0,005
Có 90 13,3 586 86,7
Nhận xét: Giới tính, kinh tế, địa dư, nghề nghiệp cha mẹ, thói quen ăn kiêng, loại
hố xí thường dùng có liên quan SDD thấp còi, p<0,05
Bảng 7 Liên quan giữa TCBP và một số yếu tố
Giới Nam 82 16,5 414 83,5 2,335
(1,579-3,453) <0,001
Nữ 43 7,8 507 92,2 Kinh tế Không nghèo 120 13,0 800 87,0 3,630
(1,454-9,061) 0,003 Nghèo 5 4,0 121 96,0
Địa dư Thành thị 81 26,1 229 73,9 5,563
(3,743-8,268) <0,001 Nông thôn 44 6,0 692 94,0
Học vấn
cha
>cấp 2 67 19,9 270 80,1 2,941
(2,000-4,325) <0,001
≤cấp 2 54 7,8 640 92,2 Học vấn
mẹ
>cấp 2 52 22,6 178 77,4 2,949
(1,994-4,363) <0,001
≤cấp 2 73 9,0 737 91,0 Ngủ tối Sau 10 giờ 15 20,0 60 80,0 1,957
(1,074-3,564) 0,026 Trước 10 giờ 110 11,3 861 88,7
TCBP ở
cha
Có 71 17,7 330 82,3 2,496
(1,696-3,672) <0,001 Không 50 7,9 580 92,1
TCBP ở
mẹ
Có 53 18,2 239 81,8 2,079
(1,416-3,053) <0,001 Không 72 9,6 675 90,4
Nhận xét: Giới tính, kinh tế gia đình, địa dư, học vấn cha mẹ, ngủ tối, cha mẹ TCBP có ảnh hưởng đến tỷ lệ TCBP ở trẻ, p<0,05
IV BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ nam và nữ chênh lệch không cao giữa các nhóm tuổi Học sinh nữ chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ nam, tỷ lệ tương ứng là 52,0% và 48,0% Phân bố theo tuổi cho thấy trẻ >14 tuổi chiếm tỷ lệ thấp với 3,3% ở trẻ nam và 0,9% ở trẻ
nữ, tỷ lệ phân bố khá đều ở các nhóm tuổi từ 11-14 tuổi Dân tộc Kinh chiếm 99,8%; theo phân bố địa dư, đa số các trẻ sống ở vùng nông thôn chiếm 71,5%
4.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng và thừa cân béo phì
Trang 6Tỷ lệ SDD thể thấp còi chiếm 15,9% Trong đó, thấp còi mức độ nhẹ chiếm 14,2%; nặng chiếm 1,7% Kết quả phù hợp với kết quả của Trần Thị Minh Hạnh (2002-2004) [3], thấp còi chiếm 14,5%; và Idowu O Senbanjo (17,4%) [14] Thấp hơn Joshi HS
và cộng sự, tỷ lệ thấp còi là 47%, có thể do khác địa bàn nghiên cứu nên kết quả khác nhau [12]
SDD gầy còm chiếm tỷ lệ là 11,1%; gầy còm nhẹ và nặng lần lượt là 9,2% và 1,9% Kết quả gần bằng Trần Thị Minh Hạnh và Trần Thị Xuân Ngọc, tỷ lệ gầy còm là 12,7% [2], [8] Gần bằng kết quả của Kwaw Emmanuel (11,3%) và Mohammad Jamal Hossain (13,3%) [10], [11] Cao hơn Lê Thị Quỳnh Trang [9] (11,1% so với 4,9%); sự khác biệt này hợp lý vì nghiên cứu của Lê Thị Quỳnh Trang khảo sát tại thị trấn, điều kiện kinh tế tốt hơn và mẫu ít hơn
TCBP ở học sinh chiếm 10,6% , trong đó, đa số trẻ bị thừa cân (7,2%); béo phì nhẹ thấp (3,4%); không có trường hợp trẻ béo phì mức độ nặng Phù hợp với kết quả của Trần Thị Xuân Ngọc [8], TCBP chiếm 10,3%; Trần Thị Minh Hạnh (9,4%), Bùi Văn Dũng (9,5%) [1], [2] Cao hơn nghiên cứu của Mai Văn Mãi (5,2%); Võ Thị Diệu Hiền (8,7%) [5], [6] Thấp hơn kết quả của Lê Thị Quỳnh Trang (12,4%), Lê Thị Hồng Ngọc (26,6%), Nguyễn Thị Hiền (12,2%) [4], [7], [9] Kết quả cao hơn Mohammad Jamal Hossain (5,2%) [11] Bởi vì Lê Thị Quỳnh Trang, Lê Thị Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Hiền khảo sát ở thị trấn và thành phố; còn Mohammad Jamal Hossain nghiên cứu trên đối tượng 10-19 tuổi (gồm cả các trẻ vị thành niên đang là công nhân may mặc có điều kiện sống khó khăn) Theo xu hướng chung của quá trình đô thị hóa trong giai đoạn chuyển tiếp dinh dưỡng, vùng có điều kiện kinh tế càng phát triển thì SDD càng giảm và TCBP càng tăng Như vậy, kết quả của chúng tôi phù hợp
4.3 Các yếu tố liên quan
Liên quan thấp còi
Về giới tính, tỷ lệ thấp còi ở trẻ nam cao hơn nữ 1,473 lần, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,016 Phù hợp với kết quả của Trần Thị Minh Hạnh (2009) [2], tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi nam cao hơn nữ 1,03 lần, nhưng chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Các nghiên cứu Mushtaq M.U và Idowu O Senbanjo cũng ghi nhận kết quả tương tự, tỷ lệ thấp còi ở nam cao hơn [13], [14] Có thể thấy, nữ có xu hướng dậy thì sớm hơn nam, nên cơ thể phát triển hơn, đặc biệt là tăng trưởng về chiều cao Vì vậy, ở lứa tuổi này, nữ ít có nguy cơ thấp còi hơn
Về kinh tế và địa dư, trẻ có kinh tế nghèo có nguy cơ thấp còi cao hơn nhóm trẻ còn lại 1,567 lần; sống ở nông thôn có tỷ lệ thấp còi cao hơn 2,556 lần thành thị, tỷ lệ lần lượt 18,9% và 8,4%; giá trị p chứng minh cho kết luận này lần lượt là 0,036 và <0,001 Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều cho thấy điều kiện kinh tế gia đình và địa dư có liên quan đến thấp còi Trần Thị Minh Hạnh ghi nhận kinh tế nghèo/trung bình có tỷ lệ thấp còi là 10,7% cao hơn kinh tế khá/giàu (3,4%) [2]
Trẻ có cha mẹ làm nông dân có nguy cơ thấp còi cao hơn những trẻ khác khoảng 1,5 lần Cụ thể, tỷ lệ thấp còi ở nhóm cha là nông dân là 18,5%; nhóm nghề khác là 13,7%; tỷ lệ này tương ứng là 19,9% và 14,2% ở nhóm nghề của mẹ; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Kết quả cho thấy chỉ ăn kiêng có liên quan đến SDD thấp còi Nhóm trẻ thấp còi ở nhóm ăn kiêng chiếm 22,3%; cao hơn không ăn kiêng 15,0%, p=0,028 Lứa tuổi THCS là lứa tuổi bắt đầu quan tâm đến vẻ ngoài, thích hình dáng mảnh mai nên thường có tâm lý sợ mập, muốn ăn kiêng để giữ dáng mà những trẻ ăn kiêng
Trang 7thường là những trẻ có hay có thói quen nhịn ăn vì sợ bị thừa cân Chính vì ăn kiêng không đúng cách, cơ thể trẻ bị thiếu chất dinh dưỡng trong thời gian dài nên dễ có nguy cơ SDD thấp còi
Khảo sát thực trạng môi trường sống của trẻ ghi nhận thường sử dụng hố xí không hợp vệ sinh có nguy cơ SDD thấp còi cao hơn các trẻ khác, tỷ số chênh OR=1,567, p<0,05
Liên quan gầy còm
Nhóm trẻ có gia cảnh nghèo thì tỷ lệ gầy còm là 17,7%, cao hơn nhóm không nghèo 11,5%, cao hơn 1,653 lần với p=0,035 Phù hợp với Trần Thị Minh Hạnh [2] kinh
tế nghèo/trung bình có nguy cơ gầy còm cao hơn nhóm còn lại 2,32 lần với p<0,001 So với nghiên cứu của Lê Thị Hồng Ngọc, Lê Thị Hiền [4], [7] tại thành phố Cần Thơ, cũng cho thấy nhóm kinh tế nghèo có tỷ lệ SDD cao hơn các nhóm kinh tế còn lại
Về thói quen tập thể dục, không tập thể dục thường xuyên có tỷ lệ gầy còm cao hơn nhóm trẻ có tập 1,849 lần, tương ứng là 13,3% và 7,7% (p=0,035) Tương tự các nghiên cứu khác, Bùi Văn Dũng, Nguyễn Thị Hiền [1], [4]
Kết quả cho thấy tỷ lệ thấp còi cao hơn ở nhóm thường sử dụng hố xí không hợp
vệ sinh, 13,2% so với 9,5% Tỷ số chênh OR=1,454 (1,009-2,095) và p=0,044 chứng minh
cho sự khác biệt này
Liên quan thừa cân, béo phì
Về giới, nam có tỷ lệ TCBP cao hơn nhóm nữ 2,335 lần, sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,001 Tương tự Mai Văn Mãi [6], Trần Thị Minh Hạnh (2009) [2] đều ghi nhận nam có nguy cơ TCBP cao hơn nữ (p<0,05) Có thể thấy, lứa tuổi này xem trọng vẻ bề ngoài, đặc biệt là nữ, nên việc ăn kiêng để kiểm soát cân nặng và giữ vóc dáng cân đối thường được quan tâm Chính vì vậy, nam TCBP cao hơn nữ
Nhóm trẻ có gia cảnh không nghèo thì dễ bị TCBP hơn nhóm trẻ nghèo 3,630 lần, p=0,003 Trẻ sống ở thành thị có nguy cơ TCBP cao hơn trẻ sống nông thôn, tỷ lệ này là 26,1% so với 6,0%; OR=5,563 và p<0,001 Phù hợp với Lê Thị Hồng Ngọc [7] kinh tế không nghèo nguy cơ TCBP cao hơn kinh tế nghèo (p=0,033), Nguyễn Thị Hiền [4], trẻ sống ở thành thị và nông thôn là 17,1% và 6,3% (p<0,01)
Học vấn của cha mẹ > cấp 2 cao hơn nhóm còn lại khoảng 2,9 lần với p<0,001 Có thể thấy rằng, những bậc phụ huynh có trình độ cao thường song hành cùng điều kiện kinh
tế khá giã, điều này dẫn đến trẻ dễ tiếp cận các nguy cơ gây TCBP như: ăn thức ăn nhanh
có nhiều dầu mỡ, thời gian dành cho việc học hành, giải trí tại chỗ như (game, vi tính) nhiều hơn Mai Văn Mãi [6] cũng ghi nhận tỷ lệ TCBP ở nhóm cha mẹ có học vấn trên cấp
2 có tỷ lệ là 35,0% cao hơn nhóm không TCBP (32,4%); Nguyễn Thị Hiền [4] tỷ số nguy
cơ ở nhóm trẻ có cha mẹ học vấn < cấp 3 lần lượt là 3,3 và 2,6 (p<0,01); Võ Thị Diệu Hiền [5], Lê Thị Hồng Ngọc [7] cũng cho thấy cha mẹ học vấn cao thì nguy cơ TCBP cao hơn nhưng chưa ghi nhận ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Khảo sát mối liên quan giữa TCBP và thói quen đi ngủ của trẻ cho thấy, nhóm trẻ
đi ngủ sau 10 giờ tối có nguy cơ TCBP cao hơn nhóm trẻ còn lạ 1,957 lần, tỷ lệ lần lượt là 20,0% và 11,3% với p=0,026 Như vậy, cần cho trẻ di ngủ sớm đề phòng TCBP
V KẾT LUẬN
Tỷ lệ SDD và TCBP: SDD thấp còi: 15,9%; trong đó, 14,2% thấp còi độ nhẹ và
1,7% thấp còi nặng SDD gầy còm: 11,1%; gầy còm độ nhẹ chiếm 9,2%; 1,9% gầy còm nặng TCBP: 10,6% với 7,2% học sinh thừa cân và 3,4% béo phì nhẹ
Trang 8Yếu tố liên quan tình trạng sinh dưỡng: Yếu tố liên quan thấp còi: trẻ nam, kinh
tế nghèo, sống nông thôn, cha mẹ là nông dân, thói quen ăn kiêng, dùng hố xí không hợp
vệ sinh Liên quan gầy còm: kinh tế nghèo, không tập thể dục, dùng hố xí không hợp vệ sinh Liên quan TCBP: trẻ nam, kinh tế không nghèo, sống thành thị, học vấn cha mẹ >cấp
2, ngủ sau 22 giờ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Văn Dũng (2007), Nghiên cứu thực trạng dinh dưỡng của học sinh nhóm tuổi 12-13 tại 2 trường trung học cơ sở ở Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Y học, Học viện quân Y
2 Trần Thị Minh Hạnh, Đỗ Thị Ngọc Diệp và Vũ Quỳnh Hoa (2012), “Tình trạng dinh
dưỡng và sự phát triển của học sinh trung học trong thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí dinh dưỡng và thực phẩm, Tập 8 (3), tr.39-45
3 Trần Thị Minh Hạnh, Lê Kim Huệ và cộng sự (2006), “Tình trạng dinh dưỡng trẻ em tuổi
học đường TPHCM năm 2002-2004”, Tạp chí y học dự phòng, tập 16 (6), trang 43 – 48
4 Nguyễn Thị Hiền (2012), Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn và một số yếu
tố liên quan trẻ 11 – 14 tuổi thành phố Cần Thơ năm 2012, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, trường đại học Y Dược Cần Thơ
5 Võ Thị Diệu Hiền (2007), Nghiên cứu tình hình thừa cân béo phì của học sinh 11-15 tuổi tại một số trường trung học cơ sở thành phố Huế, Luận án chuyên khoa 2, trường Đại học
Y dược Huế
6 Mai Văn Mãi (2010), Nghiên cứu tình hình thừa cân béo phì của học sinh trung học cơ sở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang năm 2009, Luận án chuyên khoa cấp II trường Đại học Y
Hà Nội
7 Lê Thị Hồng Ngọc (2014), Nghiên cứu tình hình dih dưỡng, thể lực và các yếu tố liên quan của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2013, Luận văn
cử nhân y tế công cộng, trường đại học Y Dược Cần Thơ
8 Trần Thị Xuân Ngọc (2012), Thực trạng và hiệu quả can thiệp thừa cân béo phì mô hình truyền thông giáo dục dinh dưỡng ở trẻ 6-14 tuổi tại Hà Nội, Luận án tiến sĩ dinh dưỡng, Viện dinh dưỡng quốc gia
9 Lê Thị Quỳnh Trang (2016), Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của học sinh trung học cơ sở thị trấn Triệu Sơn, Thanh Hóa năm 2016, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ
Y khoa trường đại học y Hà Nội
10 Kwaw Emmanuel and et all (2013), “Assessment of the nutritional status of junior high
school students-evidence from mantseman municipality of Ghana”, Science Journal of
Public Health, Vol 1 (5), pp.222-226
11 Mohammad J.Hossain(2015),“Perception and practice of food habit and nutritional status
of adolescent girls: a comparative study between garment workers and school going girls”
Journal of natural Sciences research, Vol 5 (1),p 88
12 Joshi HS and et all (2011), “Determinants of nutrition status of school children –a cross
sectional study in the Western region of Nepal”, Nutritional Journal in RM, Vol 2 (1),
pp.10-15
13 Mushtaq M.U, Usman Khurshid and et all (2011), “Prevalence and socio-demographic correlates of stunting and thinness among Pakistani primary school children”,
ncbi.nlm.nih.gov/pubmed
14 Idowu O Senbanjo, Olisamedua F Njokanma and et all (2011), “Prevalence of and risk factors for stunting among school children and adolescents in Abeokuta, southwest
Nigeria” Journal of health, population and nutrition, Vol 29 (4), pp 364 – 370
(Ngày nhận bài: 24/07/2019- Ngày duyệt đăng: 24/08/2019)