1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nồng độ acid uric ở bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện đa khoa trung tâm an giang năm 2017

6 7 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nồng độ acid uric ở bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện đa khoa trung tâm an giang năm 2017
Tác giả Trương Văn Lõm
Trường học Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang
Chuyên ngành Y học
Thể loại nghiên cứu bệnh chứng
Năm xuất bản 2017
Thành phố Long Xuyên
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 511,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỒNG ĐỘ ACID URIC Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG NĂM 2017 Trương Văn Lâm Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang *Email bslambvdk@gmail com TÓM TẮT Đặt vấn đề Acid ur[.]

Trang 1

NỒNG ĐỘ ACID URIC Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG NĂM 2017

Trương Văn Lâm

Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang

*Email: bslambvdk@gmail.com

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Acid uric được sản xuất từ chuyển hóa purin Mục tiêu: Khảo sát nồng độ acid uric

và mối liên quan đến bệnh đái tháo đường ở bệnh nhân đái tháo đường và không đái tháo đường Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu bệnh chứng thực hiện trên 456 bệnh nhân chia thành 2 nhóm: nhóm

bệnh (228 bệnh nhân mắc đái tháo đường và nhóm chứng gồm 228 bệnh nhân không mắc đái tháo đường Thực hiện đo nồng độ acid Uric trên 2 nhóm, ghi nhân kết quả và phân tích mối liên quan với bệnh đái tháo

đường Kết quả: nồng độ acid uric tăng cao ở nhóm có đái tháo đường so với nhóm chứng Phân chia các

giá trị acid uric của mẫu nghiên cứu theo tứ phân vị từ thấp đến cao, nồng độ acid uric cao, tứ phân vị thứ

3 và thứ 4, có giá trị dự đoán đái tháo đường với OR và khoảng tin cậy 95% lần lượt là 1,68 (1,1-2,55)

(p=0,01) và 1,71 (1,58 – 2,59) (p=0,004) Kết luận: kết quả của nghiên cứu cho thấy nồng độ acid uric là yếu tố nguy cơ mạnh và độc lập liên quan đến mắc bệnh đái tháo đường

Từ khóa: acid uric, đái tháo đường

ABSTRACT

THE URIC ACID LEVELS IN DIABETES

AT AN GIANG CENTRAL GENERAL HOSPITAL IN 2017

Truong Van Lam

An Giang Central General Hospital

Background: Uric acid is produced by purin metabolism.Objectives: Determination of uric acid levels and risk of diabetes in patients with diabetes and non-diabetic patients Materials and methol: a

cross-sectional descriptive study with analysis was conducted on 456 patients, who were divided into 2

group: 228 patient with the diabetes and control group 228 patient Results: the level of uric acid increased

in the group with diabetes compared controls Dividing the sample by quartiles and values acid uric from low to high, high levels of acid uric, quartile 3 and 4, with the value predicted metabolic syndrome with

OR and 95% respectively 1.68 (1.1 to 2.55) (p = 0,01) and 1.71 (1.58 to 2.59) (p = 0.004) Conclusions:

the result of this population base study that serum uric acid is a trong and independent risk factor for diabetes

Keywords: uric acide, diabete

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Acid uric được sản xuất từ chuyển hóa purin Đã có báo cáo cho thấy rằng mức độ tăng acid uric là yếu tố dự đoán hội chứng chuyển hóa, xơ vữa mạch [7] Những năm gần đây, trên thế giới nhiều báo cáo cho thấy mối liên quan giữa acid uric và đái tháo đường có liên quan [1],[2] Ở Việt Nam, hiện nay ít có báo cáo nào đề cập đến mối liên quan giữa acid uric và đái tháo đường,

do đó chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu:

Khảo sát nồng độ acid uric và mối liên quan của tăng acid uric đến bệnh đái tháo đường ở

2 nhóm bệnh nhân đái tháo đường và không đái tháo đường

Trang 2

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân > 40 tuổi, tại khoa khám bệnh – Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang từ tháng 2-2017 đến tháng 10- năm 2017 Gồm 2 nhóm đối tượng

+ Bệnh nhân đái tháo đường

+ Bệnh nhân không đái tháo đường

- Tiêu chuẩn chọn mẫu:

Nhóm1: (Nhóm bệnh) 228 bệnh nhân có đái tháo đường (ĐTĐ): bệnh nhân  40 tuổi được chẩn đoán đái tháo đường tại khoa khám bệnh – Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang

Nhóm 2: (Nhóm chứng) 228 không có đái tháo đường: bệnh nhân  40 tuổi đến khám tổng quát không đái tháo đường và không mắc bệnh gây tăng acid uric tại khoa khám bệnh, Bệnh viện

Đa khoa trung tâm An Giang

- Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân

+ Không đồng ý nghiên cứu

+ Đang điều trị tăng acid uric

+ Bệnh Gout

+ Suy thận mạn

+ Thiếu máu tán huyết

+ Suy tim, Tăng huyết áp

+ Dùng thuốc tăng acid uric: aspirin, lợi tiểu kéo dài

+ Cường giáp

2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh chứng

- Cỡ mẫu:

` 1

1 1

1

c

p p

p p

Z q q Z

Với:

+ C= (p1-p2)2

+ α: mức sai số loại I: 0,05 thì Z 1- α =1,96

+ ß: mức sai số loại II: 0,1 thì Z 1- ß =1,28

+ p 1 là tỉ lệ tăng acid uric (p1 = 21,67%) nhóm bệnh nhân không đái tháo đường,

+ p 2 là tỉ lệ tăng acid uric (p2=34%) nhóm bệnh nhân đái tháo đường (tác giả Wu K và cộng sự) [8]

 Từ đó, p = (p1+p2)/2= 0,25, do đó q = 1-p = 0,75

- Thế vào công thức trên tính được n= 228; Vậy, cần 228 đối tượng cho mỗi nhóm nghiên cứu

- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện (những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn trong thời gian nghiên cứu)

+ Nhóm 1 là bệnh nhân đái tháo đường đủ điều kiện nghiên cứu

Trang 3

+ Nhóm 2 là bệnh nhân không đái tháo đường đủ điều kiện nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu và cách đánh giá các biến số nghiên cứu:

+ Acid uric: acid uric tăng khi acid uric > 420 mmol/l

+ Đái tháo đường: theo ADA (2015), đái tháo đường khi

Đường huyết lúc đói ≥ 126 mg/dl (≥7 mmol/l) Hoặc Đường huyết bất kỳ ≥ 200 mg/dl (11,1 mmol/l) Hoặc HbA1C ≥ 6,5% hoặc

Nghiệm pháp dung nạp glucose ≥ 200 mg/dl (11,1 mmol/l)

+ Béo phì, theo WHO áp dụng cho người Châu Á năm 2000

BMI < 23 bình thường

BMI ≥ 23 (thừa cân)

BMI ≥ 25 béo phì độ 1

BMI ≥ 30 béo phì độ 2

BMI ≥ 35 béo phì độ 3

+ Rối loạn lipid máu: theo hội Tim mạch Việt Nam

Cholesterol ≥5,7 mmol/l Triglycerid ≥1,7 mmol/l LDL ≥3,4 mmol/l HDL ≤1 mmol/l

- Kỹ thuật thu thập số liệu:

+ Lâm sàng: Người nghiên cứu trực tiếp hỏi bệnh nhân bằng bộ câu hỏi soạn sẵn, khám

lâm sàng và thu thập thông tin cần thiết ghi vào phiếu thu thập số liệu

+ Xét nghiệm máu: Xét nghiệm bằng máy sinh hóa Cobas 6000, bệnh nhân được thực

hiện tại khoa xét nghiệm - Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang

- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Xử lý thống kê bằng phần mền SPSS phiên bản 22.0

+ Các biến số định tính dùng phép kiểm t-test

+ Các biến định lượng dùng phép kiểm Chi square

+ Dùng phép kiểm hồi quy tuyến tính đơn biến

+ Dùng phép phân tích hồi qui logistic phân tích đơn biến và đa biến (sau khi đã hiệu chỉnh) để xác định Odds Ratio và khoảng tin cậy 95% của các biến

+ Những biến số có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 được đưa vào phân tích hồi qui logistic đa biến

+ Các test có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung

Trong nghiên cứu chúng tôi có 456 bệnh nhân, tuổi trung bình 50,7 ± 10,1 tuổi thấp nhất

40, tuổi cao nhất 79

Tỷ lệ bệnh nhân nữ 53,5%, nam chiếm 47,12%

Bảng 1 Đặc điểm chung 2 nhóm của đối tượng nghiên cứu

Trang 4

Nhóm đái tháo đường n=228 Nhóm chứng

n=228

P

Giới tính

Nữ

Nam

40,7%

51%

59,3%

49%

0,20

Triglycerid 2,3±0,5 µmol/l 2,2±0,5 µmol/l 0,55

HATT: huyết áp tâm thu, HATTr: huyết áp tâm trương

Nhận xét: Đặc điểm chung của 2 nhóm tương đương nhau, sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Bảng 2 Nồng độ acid uric ở bệnh nhân đái tháo đường và nhóm chứng

Acid uric 450,08±55,6 µmol/ 306,47±40,6 µmol/l <0,001

Nhận xét: Nhóm đái tháo đường có nồng độ acid uric cao hơn nhóm chứng, sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê với p< 0,001

3.2 Các tứ phân vị nồng độ acid uric huyết tương liên quan với ĐTĐ

Bảng 3 Phân tích hồi qui logistic đơn biến các tứ phân vị acid uric liên quan với ĐTĐ

n(tỷ lệ%)

Quartile 1 (<350 µmol/l) 34 (20,5%) 1

Quartile 2 (350-420 µmol/l) 53 (44,8%) 1,4 (0,8-2,49) 0,19 Quartile 3 (421-450µmol/l) 63 (57,7%) 1,9 (1,3-2,9) 0,02 Quartile 4 (> 450µmol/l) 78 (76,9%) 2,8 (1,6 -4,6) 0,001 OR: Odds ratio phân tích đơn biên của tứ phân vị acid uric

Quartile1 (Q1): tứ phân vị thứ nhất, Quartile 2 (Q2): tứ phân vị thứ hai, Quartile 3 (Q3): tứ phân

vị thứ 3, Quartile 4 (Q4): tứ phân vị thứ tư

KTC 95%: Khoảng tin cậy 95%

Nhận xét:

Q2 nguy cơ ĐTĐ cao hơn Q1 là 1,4 lần, sự khác biệt không có ý nghĩa với p>0,05

Q3 có nguy cơ ĐTĐ cao hơn Q1 là 1,9 lần, sự khác biệt có ý nghĩa (p<0,05)

Q4 có nguy cơ ĐTĐ hơn Q1 là 2,8 lần, sự khác biệt có ý nghĩa (p<0,05)

Bảng 4 Phân tích hồi qui logistic đa biến các tứ phân vị acid uric

Quartile 2 (351-420 µmol/l) 1,2 (0,51-2,38) 0,33 Quartile 3 (421-450 µmol/l ) 1,68 (1,1-2,55) 0,01

Trang 5

Quartile 4 (> 450 µmol/l) 1,71 (1,58-2,59) 0,004 OR*: odds ratio có hiệu chỉnh tuổi, giới, BMI, Cholesterol, triglycerid, HDL, LDL

KTC: khoảng tinh cậy 95%

Nhận xét: Phân tích đa biến có hiệu chỉnh theo tuổi giới, Cholesterol, nồng độ Triglycerid, HDL

Q2 có nguy cơ ĐTĐ cao hơn Q1 là 1,2 lần, sự khác biệt không có ý nghĩa với p> 0,05

Q3 có nguy cơ ĐTĐ cao hơn Q1 là 1,68 lần, sự khác biệt có ý nghĩa với p< 0,05

Q4 có nguy cơ ĐTĐ cao hơn Q1 là 1,71 lần, sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05

IV BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ trung bình acid uric trong nhóm ĐTĐ cao hơn nhóm chứng, sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với p<0,05 (bảng 1) Kết quả trên cũng

phù hợp với nghiên cứu Kim T.H và cs nghiên cứu 699 bệnh nhân ở Hàn Quốc năm 2012 [6], theo

tác giả này ghi nhận kết quả nồng độ acid uric trung bình tương ứng là 4,6 ± 1,5 mg/dl so với 3,5± 1,6 mg/dlmột lần nữa cho thấy có sự tăng cao nồng độ acid uric ở nhóm bệnh nhân có ĐTĐ so với nhóm chứng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,05 [4] Nghiên cứu Cook D.G.và cs năm

1986 [3], được thực hiện trên 7735 bệnh nhân ghi nhận kết quả nồng độ acid uric trung bình tương ứng là 369 µmol/l và 359 µmol/l cho thấy có sự tăng cao nồng độ acid uric ở nhóm bệnh nhân có ĐTĐ với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 Kết quả nghiên cứu chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu Qin Li vá cs ở Hàn Quốc năm 2011 cho thấy có sự tăng cao nồng độ acid uric

ở nhóm bệnh nhân có ĐTĐ so với nhóm chứng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001[1], tác giả Caroline Kaercher Kramer va cs [3], nghiên cứu 2009, có 566 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, ghi nhận kết quả nồng độ acid uric trung bình tương ứng acid uric 8,6 ± 1,3mg/dl so với 5,6

±1,2 mg/dl một lần nữa cho thấy có sự tăng cao nồng độ acid uric ở nhóm bệnh nhân có ĐTĐ so với nhóm chứng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Kết quả này tương tự với chúng tôi, tuy nhiên có sự khác biệt ngưỡng giá trị, có lẽ mỗi nghiên cứu thực hiện đo nồng độ acid uric trên mỗi máy xét nghiệm khác nhau, đơn vị khác và đối tượng nghiên cứu khác nhau về chủng tộc cũng như chế độ sinh hoạt ăn uống khác nhau của mỗi vùng miền là khác nhau

Theo nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3), phân tích logistic đa biến (có hiệu chỉnh), so với Q1, các tứ phân vị Q3, Q4 có nguy cơ độc lập mắc ĐTĐ cao hơn, với nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ là

1,68 lần và1,71 lần (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05), kết quả nghiên cứu chúng tôi

cũng tương tự tác giả khác, tác giả Wu K và cs, năm 2007 nghiên cứu 711 bệnh nhân, phân tích

đa biến sau khi đã hiệu chỉnh, nhóm bệnh nhân có acid uric tăng thì nguy cơ mắc ĐTĐ 1,4 lần với p<0,05 [8]., tác giả Francesca Viazzi và cộng sự, nghiên cứu năm 2011 [5], có 758 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, sau khi đã hiệu chỉnh nhóm bệnh nhân có acid uric tăng thì nguy cơ độc lập mắc ĐTĐ 2,78 lần so với nhóm bệnh nhân acid uric bình thường (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê),

tác giả Qin Li và cộng sự [7] nghiên cứu năm 2011, sau khi phân tích đa biến đã hiệu chỉnh cho

thấy rằng nhóm bệnh nhân có acid uric tăng thì nguy cơ mắc ĐTĐ gấp 2,7 lần so với nhóm bệnh nhân acid uric bình thường, tác giả Abbas Dehghan và cộng sự nghiên cứu 4536 bệnh nhân, khi phân tích đa biến (có hiệu chỉnh), so với Q1, các tứ phân vị Q3, Q4 có nguy cơ độc lập mắc ĐTĐ cao hơn, lần lượt là 1,12 lần và 1,68 lần (có ý nghĩa thống kê p<0,05) [1], tác giả Caldona F và cộng sự, nghiên cứu năm 2009, ở Tây Ba Nha, sau khi hiệu chỉnh, nhóm bệnh nhân có acid uric tăng thì nguy cơ mắc ĐTĐ gấp 1,73 lần so với nhóm bệnh nhân acid uric bình thường [2], tác giả Caroline Kaercher Kramer và cộng sự [3] nghiên cứu năm 2009, có 566 bệnh nhân tham gia nghiên

cứu, nhóm có acid uric tăng thì nguy cơ mắc ĐTĐ 1,75 lần, p=0,02

Trang 6

Nguyên nhân acid uric huyết thanh tăng cao ở bệnh nhân đái tháo đường, do nồng độ Acid uric huyết thanh đóng vai trò quan trọng trong hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường Nghi ên cứu gần đây chỉ ra rằng tăng acid uric huyết thanh có thể chịu trách nhiệm một phần cho sự mất cân bằng nội tiết tiền viêm trong các tế bào cơ trơn mạch máu và mô mỡ, là một

cơ chế cơ bản của tình trạng viêm cấp và kháng insulin ở những người có bệnh tim mạch, hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường Ngoài ra, giảm sản xuất acid uric trong người béo phì làm giảm xâm nhập đại thực bào trong các mô mỡ và giảm đề kháng insulin Có thể sự ñề kháng insulin là cơ chế sinh lý bệnh cho mối quan hệ này Hơn nữa, Đái tháo đường type 2 là

do cơ thể đề insulin và đề kháng insulin dẫn đến đường ứ lại trong máu cao thay vì di chuyển vào các tế bào Nhiều nghiên cứu cho thấy, đề kháng insulincó vai trò trong dẫn đến bệnh tăng acid uric trong máu lại làm tình trạng đề kháng insulin nặng hơn [5]

Theo nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với đa số tác giả khác, nhóm bệnh nhân có acid uric tăng cao thì nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường cao hơn so với nhóm có acid uric bình thường

V KẾT LUẬN

Nồng độ acid uric tăng cao ở người có ĐTĐ và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng Phân chia mẫu nghiên cứu theo tứ phân vị các giá trị acid uric từ thấp đến cao, các tứ phân

vị thứ 3 và thứ 4 có nguy cơ độc lập mắc ĐTĐ cao hơn là 1,68 và 1,71

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abbas Dehghan, et al 2008 “ Hight serum uric acid as a novel risk factor for type 2 diabetes”, diabetes care, 31(2), 361-362

2 Caldona F, Rojoo-Martinez G, et al (2009), “ Uric acid predicts type 2 diabetes mellitus in the

general population”, PLoS One Dec 23;8(12), pp.84712

3 Caroline kaercher kramer, et al (2009),“ Serum uric acid levels improve prediction of incident type 2 diabetes in individuals with impaired fasting glucose”, diabetes care, 32(7), pp.1272-1273

4 Cook D G., Shaper A.G., et al (1986) “Serum uric acid, serum glucose an diabetes: relationship in

a population study”, postgraduate medical journal, 62, 1001-1006

5 Francesca Viazzi, et al (2011), “Serum uric acid levels predict new-onset type 2 diabetes in hospitalized patients with primary hypertension: the magic study”,2011, diabetes care, 34(1), pp 126-127

6 Kim TH, Lee SS, Yoo JH, et al (2012), “The relationship between the regional abdominal adipose

tissue distribution and the serum uric acid levels in people with type 2 diabetes mellitus”, Diabetol Metab Syndr, 4(1), PP.3-10

7 Qin Li, Zhen Yang, et al 2011, “Serum uric level and its association with metabolic syndrom and

carotid atherosclerosis in patients with type 2 diabetes”, Cardiovascular Diabetology, 10, 72-79

8 Wu K, Chen XP, Gao Y, Zhang X, Li LX, Wan LY, (2011), “ Predictive value of serum uric acid on

type 2 diabetes mellitus”, Zhonghua Liu Xing Bing Xue Za Zhi,32(11), pp.1153-1157.

(Ngày nhận bài: 01/10/2018- Ngày duyệt đăng: 15/12/2018)

Ngày đăng: 18/03/2023, 16:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm