1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Một số đặc diểm dịch tễ học bệnh nấm da tại bệnh viện da liễu và bệnh phong hà nam (9

4 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh nấm da tại bệnh viện da liễu và bệnh phong Hà Nam (9-2009 đến 10-2010)
Tác giả Phạm Hoàng Khâm, Nguyễn Văn Thế Tẩm
Trường học Bệnh viện Da liễu và Bệnh Phong Hà Nam
Chuyên ngành Bệnh Da liễu
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2009-2010
Thành phố Hà Nam
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 4,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số khú khăn bất cập - Tổ chức mạng lưới CSCSSKTT tuyến tỉnh hiện đang chưa thống nhất và đồng bộ về mụ hỡnh tổ chức, do đú khụng tận dụng và huy động được kịp thời cỏc nguồn lực đầu

Trang 1

Y học thực hành (765) - số 5/2011 86

- DA được triển khai thống nhất vầ đồng bộ từ TW

đến xó/phường với tổ chức mạng lưới ngày càng được

kiện toàn, nhõn lực ngày càng được tăng cường cả về

số lượng và chất lượng

- DA bước đầu đó thu hỳt được sự quan tõm ủng

hộ và hưởng ứng thực hiện của CB lónh đạo quản lý

cỏc cấp, cỏc ban ngành, đoàn thể, tổ chức xó hội, nhõn

viờn y tế… tại nhiều địa phương trong cả nước phự hợp

với xu thế chung trờn toàn cầu cũng như sự biến đổi về

mụ hỡnh bệnh tật trong thực tế ở Việt Nam

- DA được triển khai tại tất cả cỏc tỉnh/thành trong

cả nước với 70% số xó được hưởng lợi với những hỗ

trợ trực tiếp cho BN & gia đỡnh họ ngay tại cộng đồng đó

đem lại nhiều lợi ớch thiết thớch cho người dõn đặc biệt

là ở vựng sõu, vựng xa

- Gúp phần nõng cao chất lượng cung cấp dịch vụ

của hệ thống y tế thụng qua việc giỳp giảm tải cho BV

tuyến tỉnh (nếu cú) & BVTW

3.2 Một số khú khăn bất cập

- Tổ chức mạng lưới CSCSSKTT tuyến tỉnh hiện

đang chưa thống nhất và đồng bộ về mụ hỡnh tổ chức,

do đú khụng tận dụng và huy động được kịp thời cỏc

nguồn lực đầu tư…

- Nhõn lực cũn thiếu về số lượng và thiếu nhõn lực

được đào tạo về cỏc chuyờn ngành hỗ trợ điều trị

- Chớnh sỏch đói ngộ chưa thỏa đỏng dẫn đến khú

khăn trong thu hỳt và duy trỡ ổn định đội ngũ cỏn bộ

chương trỡnh từ trung ương đến thụn bản

- Mụ hỡnh chuyờn mụn của DA kết hợp QL BN

TTPL, động kinh & trầm cảm như hiện nay là chưa phự

hợp Độ bao phủ của CT đối với cỏc bệnh TT chưa theo

kịp diễn biến về mụ hỡnh cỏc bệnh TT trong thực tế

- Kinh phớ cũn hạn chế, chỉ đỏp ứng từ 50 – 60%

nhu cầu thực tế, đầu tư kinh phớ cũn dàn trải, phõn bổ

khụng hợp lý:

- Sổ sỏch của DA tại tuyến xó cũn phức tạp và

trựng lặp, biểu mẫu bỏo cỏo chưa đầy đủ, chưa đỏp ứng

thụng tin phục vụ quản lý

- Hoạt động phối hợp liờn ngành cũn nhiều hạn chế

KHUYẾN NGHỊ

- Xõy dựng & trỡnh Thủ tướng Chớnh phủ ban hành Chiến lược quốc gia về BVSKTTCĐ đến năm 2020 và tầm nhỡn 2030 tạo cơ sở phỏp lý để huy động cỏc nguồn lực từ TW đến địa phương cũng như của cỏc tổ chức quốc tế nhằm mở rộng & nõng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của DA

- Kiện toàn tổ chức mạng lưới cỏc cơ sở CSSKTT trong cả nước

- Phỏt triển nguồn nhõn lực CSSKTT trong cả nước cả về số lượng và năng lực chuyờn mụn nhằm đỏp ứng nhu cầu CSSKTT ngày càng cao của cộng đồng

- Mở rộng độ bao phủ của DA đến với cỏc loại bệnh tõm thần khỏc đang xuất hiện ngày càng phổ biến trong thực tiễn: loạn thần do rượu, lo õu trầm cảm, tự kỷ…

- Điều chỉnh những bất cập về thuốc điều trị

- Tăng cường hơn nữa chất lượng của hoạt động giỏm sỏt:

- Tăng cường đầu tư kinh phớ & cơ chế phõn bổ hợp lý giữa cỏc lĩnh vực hoạt động của DA

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Thủ tướng chớnh phủ (1998), Quyết định số 196/1998/QĐ-TTg ngày 10/10/1998 của Thủ tướng Chớnh phủ về việc phờ duyệt Chương trỡnh mục tiờu Quốc gia thanh toỏn một số bệnh xó hội và bệnh dịch nguy hiểm

2 Thủ tướng chớnh phủ (2007), Quyết định số 108/2007/QĐ-TTg ngày 17/07/2007 của Thủ tướng Chớnh phủ phờ duyệt chương trỡnh mục tiờu quốc gia phũng, chống một số bệnh xó hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS giai đoạn 2006 – 2010

MộT Số ĐặC ĐIểM DịCH Tễ HọC BệNH NấM DA TạI BệNH VIệN DA LIễU Và BệNH PHONG Hà NAM ( 9-2009 ĐếN 10- 2010 )

PHẠM HOÀNG KHÂM, NGUYỄN VĂN THẾ TểM TẮT

Từ tháng 9/2009 đến tháng 10/2010, 70 bệnh nhân nấm

da được điều trị tại bệnh viện Da liễu và bệnh Phong Hà

Nam Kết quả cho thấy: Tỉ lệ mắc bệnh ở nam (55,43%) và

nữ (44.57%) Bệnh nấm da chủ yếu xảy ra ở độ tuổi từ 0-9

là 26,7%, từ 10- 19 là 21,72%, từ 20-29 là 25,34%, ở tuổi

> 60 tỉ lệ mắc bệnh thấp nhất Bệnh xảy ra chủ yếu vào

mùa hè 39,34%, thấp nhất vào mùa đông 12,12% Nuôi

cấy nấm tỉ lệ mọc là 60% Chủng nấm hay gây bệnh là T

rubrum 42,86%, T mentagrophytes 28,57%, C albicans

26,19%, T tosurans 2,38%

Từ khoá: Bệnh Da liễu, Bệnh Nấm da

SUMMARY

From september 2009 to october 2010, 70

patients of Dermatomycoses were treated at Hanam

skin and Leprosy hospital Results showed that: The rate of male: (55.43%) and female: (44.57%) Tinea mainly occurs at ages from 0 to 9: 26.7%, from 10 to

19 là: 21.72%, from 20 to 29: 25.34%, 60-year-old people hardly get tinea Tinea mainly appears in summer: 39.34%, the lowest diseased rate in winter: 12.12% The growth rate of fungal culture: 60% Pathogenic fungi strains including T rubrum: 42.86%,

T mentagrophytes: 28.57%, C albicans: 26.19%, and T tosurans: 2.38%

Keywords: Skin diseases; Dermatomycoses

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nấm da là một bệnh Da tương đối phổ biến trên thế giới, đặc biệt các nước nhiệt đới Việt Nam ở trong

Trang 2

Y học thực hành (765) - số 5/2011 87

vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Trong nhân

dân, tỉ lệ bệnh đứng hàng thứ hai sau bệnh chàm

Trong Quân đội, nấm da chiếm tỉ lệ cao nhất trong

các bệnh da, từ 7 đến 10%, có thể tăng cao tới 40% ở

một số đơn vị Tỉ lệ bệnh tăng cao vào mùa hè, điều

kiện luyện tập chiến đấu, lao động vất vả [1] [3] Bệnh

nấm da gây ngứa, khó chịu, ảnh hưởng nhiều tới sinh

hoạt, học tập và công tác của bộ đội [2] Vì vậy việc

phòng chống nấm da là một trong những nhiệm vụ

trọng tâm của quân y các tuyến đơn vị [4] Để góp

phần cho công tác chẩn đoán và phòng bệnh nấm da

đạt hiệu quả cao hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài nhằm mục tiêu: Khảo sát một số đặc điểm dịch tễ

học bệnh nấm da trên 70 bệnh nhân nấm da điều trị tại

bệnh viện Da liễu và bệnh Phong Hà Nam từ tháng

9/2009 đến tháng 10/2010

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

70 bệnh nhân nấm da được khám và điều trị tại

khoa khám bệnh Bệnh viện Da liễu và bệnh Phong

Hà Nam Từ tháng 9/2009 đến tháng 10/2010

2 Phương pháp nghiên cứu

Tiến cứu mô tả cắt ngang

* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:

Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán nấm da với

các tiêu chuẩn:

+ Lâm sàng: là những dát đỏ hoặc hồng, hình tròn

hay bầu dục, ranh giới rõ Có bờ viền rõ rệt, trên bờ

viền có mụn nước Có xu hướng lành giữa Có ít vảy

da vụn trên bề mặt tổn thương Ngứa nhiều tại tổn

thương và tăng lên khi ra mồ hôi

+ Xét nghiệm: soi tươi từ vảy da tại tổn thương có

sợi nấm

+ Thời gian bị bệnh: <3 tháng, 3-6 tháng, > 6

tháng

+ Số lần mắc bệnh: 1 lần, 2 lần, > 2 lần

Các xét nghiệm soi tươi được tiến hành tại phòng

xét nghiệm Bệnh viện da liễu và bệnh phong tỉnh Hà

Nam Các xét nghiệm cấy và định loại chủng nấm

được tiến hành tại Labo nấm Bệnh viện 103

- Soi tươi tìm nấm:

+ Kết quả dương tính: Sợi nấm hay đoạn sợi nấm

mềm mại, thành tế bào hơi đậm hơn, bào tương đục

hơn

+ Kết quả âm tính: Khi soi ít nhất 30 vi trường

không thấy sợi nấm hoặc bào tử nấm

- Nuôi cấy:

+ Môi trường nuôi cấy Sabourand

+ Phương pháp cấy nấm: dùng que cấy lấy bệnh

phẩm đặt vào 2- 3 điểm trong ống nghiệm để

nghiêng, sau đó để trong tủ ấm trong 2 tuần

+ Định loại nấm để xác định chủng nấm

Xử lý số liệu: Phương pháp thống kê Y học và

được xử lý theo chương trình phần mềm EPI-INFO

6.04

KẾT QUẢ NGHIấN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Bảng 1 Tỷ lệ mắc bệnh nấm da theo giới tính (n=

442)

< 0.05

Tỷ lệ mắc bệnh nấm da của nam (55,43%) cao hơn của nữ (44.57%) Sự khác nhau có ý nghĩa thống

kê với P< 0,05 Có lẽ tính chất công việc của nam giới

đi lại nhiều hơn nữ, công việc cũng nặng nhọc vất vả

và có tính chất giao lưu rộng rãi hơn nữ giới Trong nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhân là trẻ 0-9 tuổi cũng chiếm tỷ lệ gần 1/3 số bệnh nhân nấm da, mà trẻ nam nghịch và chạy nhẩy, kém vệ sinh hơn nhiều

so với trẻ nữ Vì vậy, rẻ nam cũng dễ bị lây bệnh nấm

da hơn nữ Còn một điều nữa, thực tế vì tổn thương của bệnh nấm da hay có ở các vùng kín như bẹn, mông nên các bệnh nhân thường ngại đi đến viên khám bệnh mà thường tự đi mua các thuốc bôi ở các hiệu thuốc hay chỉ hỏi và khám bệnh ở những thấy thuốc tư nhân cùng giới và quen thân Vỉ vậy tỷ lệ bệnh nhân nấm da đến bệnh viện khám và điều trị là nam giới cao hơn nữ giới Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả của Hoàng Văn Minh[7]

Bảng 2 Tỷ lệ bệnh nấm da theo tuổi (n= 442)

Độ tuổi mắc nấm da cao nhất là từ 0- 9 tuổi: 26.70%, tuổi từ 20- 29: 25,34% Từ 10-29: 21.72%,

từ 30-39: 9.50% Tỷ lệ thấp nhất là trên 60 tuổi: 3.67% Số bệnh nhân ở lứa tuổi từ 0- 9 tuổi chiếm tỷ

lệ cao nhất (26.7%), có lẽ lả do đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào ở trẻ em đối với kháng nguyên nấm và sự ghi nhớ đối với tế bào lympho T với các kháng nguyên nấm chưa đầy đủ, nên nấm phát triển

dễ dàng hơn Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh nấm da ở lứa tuổi ≥60 là thấp nhất (3.67%) Kết quả này tương

đương với Trần Liên Hương): 11.84% [6] và của Đoàn Văn Hùng: 11.0% [5]

Bảng 3 Tỷ lệ mắc bệnh nấm da theo mùa (n= 442)

Bệnh gặp nhiều nhất vào mùa hè: 39.34% và mùa thu: 30.09% Bệnh giảm về mùa xuân: 18.33% và mùa đông: 12.22% Sự khác biệt có ý nghiã thống kê giữa mùa hè, thu so với mùa đông, xuân (p< 0.05)

Điều này phù hợp với y văn kinh điển Vào mùa hè,

Trang 3

Y học thực hành (765) - số 5/2011 88

thu nhiệt độ và độ ẩm tăng làm cho nấm dễ phát

triển, đồng thời cơ thể tiết ra nhiều mồ hôi làm giảm

sức đề kháng của lớp sừng, tạo điều kiện cho nấm

phát triển.Kết quả của trên cũng phù hợp với kết quả

của Trần Liên Hương [6] và Đoàn Văn Hùng [5]

Bảng 4 Số lần mắc bệnh (n= 70)

Số bệnh nhân mắc bệnh lần thứ nhất chiếm tỷ lệ

cao nhất với 82.86%, tiếp theo là số bệnh nhân mắc

bệnh lần thứ 2 với 17.14% Kết quả của chúng tôi

tương tự với Nguyễn thị Kim Dung (2007) số bệnh

nhân mắc bệnh lần đầu là 93.8%%, lần 2 là 6.2% So

với tác giả Đoàn Văn Hùng (2002) nghiên cứu ở Viện

da liễu quốc gia, số bệnh nhân mắc bệnh lần đầu là

40%, lần 2 là 26%, lần thứ 3 là 34% thì tỉ lệ bệnh

nhân mắc bệnh lần đầu của chúng tôi thấp hơn[5] Sự

khác biệt này là do nghiên cứu của chúng tôi tại cơ sở

khám chữa các bệnh chuyên khoa da liễu duy nhất

của cả tỉnh nên đây vừa là nơi khám chữa bệnh ban

đầu vừa là nơi khám chữa bệnh chuyên khoa da liễu,

còn trong nghiên cứu của Đoàn Văn Hùng thì tiến

hành ở Viện da liễu quốc gia, là nơi có nhiều bệnh

nhân đã từng điều trị hoặc điều trị thất bại ở các cơ sở

khác trước khi đến Viện da liễu quốc gia khám và

điều trị Do vậy tỷ lệ bệnh nhân đến khám và điều trị

lần đầu ít hơn của chúng tôi, nhưng số bệnh nhân đã

bị bệnh nhiều lần thì cao hơn của chúng tôi Trong số

đó có lẽ bao gồm cả các bệnh nhân bị tái phát bệnh

do các lần điều trị trước đó không triệt để[2] [5]

Bảng 5 Kết quả cấy nấm(n= 70)

Kết quả nuôi cấy nấm của chúng tôi đạt tỷ lệ

dương tính là 60% Các bệnh nhân của chúng tôi

100% đều có soi nấm dương tính Vì soi nấm dương

tính là tiêu chẩn chẩn đoán xác định để chon bệnh

nhân vào nghiên cứu của chúng tôi Tỷ lệ cấy nấm

dương tính 60% cũng phù hợp với kết quả cấy nấm

của nhiều tác giả khác, và phù hợp với các tài liệu

kinh điển[1,3] Vì đặc điểm khí hậu và môi trường ở

nước ta nên khi lấy mẫu bệnh phẩm để cấy rất dễ bị

tạp nấm xâm nhập, nên tỷ lệ các ống nghiệm nuôi

cấy bị tạp nấm còn cao Vì vậy, tỷ lệ kết quả cấy nấm

dương tính của các chủng nấm da trong nghiên cứu

cũng phù hợp với Và kết quả nghiên cứu của nhiều

tác giả Nguyễn Cảnh Cầu 1993, Nguyễn Văn Sơn

1995 [1]

Bảng 6 Tỷ lệ các chủng nấm gây bệnh(n= 42)

Chủng nấm gây bệnh cao nhất mà chúng tôi nuôi cấy được là T.rubrum với tỷ lệ 42.86% Đây là chủng nấm hay gặp nhất ở nước ta cũng như ở các nước nhiệt đới gió mùa Chủng nấm T.rubrum cũng là chủng nấm có độc tính cao nhất trong các chủng nấm gây bệnh ở da Tiếp theo là T.mentagrophytes, C.albrican, chiếm tỷ lệ thấp nhất là chủng

T.tonsurans với 2.38% Kết quả này tương đương với

kết quả của tác giả Phạm Hoàng Khâm (1997) là 47.37%, của Agarwalla và cộng sự (2001) 45.71%

So với kết quả của Đoàn Văn Hùng(2002) là 89.4% kết quả của chúng tôi thấp hơn Kết quả này cũng phù hợp với các tài liệu kinh điển, chủng nấm T.rubrum gặp nhiều nhất ở nước ta Chủng nấm T.mentagrophytes chiếm 28.57%, kết quả này tương

đương với nghiên cứu của Phạm Hoàng Khâm (1997)

là 26.32% Tỷ lệ C.albicans là 26.19%, trong khi các tác giả khác ít gặp chủng này, trên lâm sàng những bệnh nhân trẻ <10 tuổi và các trường hợp nấm bẹn rất hay gặp chủng này Vì trẻ nnỏ tuổi mẫu giáo và tuổi nhi đồng rất hiếu động, không biết và không quan tâm đến giữ vệ sinh cơ thể Đó cũng chính là những

điều kiện thuận lợi để bệnh nấm da phát triển và các chủng C.albicans có cơ hội gây bệnh gây bệnh Vì bệnh nhân nấm da của chúng tôi gặp ở độ tuổi từ 0 -

9 là 26.7%, nên tỷ lệ C albicans của chúng tôi cao hơn[1] [5]

KẾT LUẬN

Từ tháng 9/2009 đến tháng 10/2010, nghiên cứu một số đặc điểm Dịch tễ học trên 442 bệnh nhân nấm

da điều trị tại bệnh viện Da liễu và bệnh Phong Hà Nam Chúng tôi thu được kết quả như sau:

Tỉ lệ mắc bệnh ở nam (55,43%) và nữ (44.57%) Bệnh nấm da chủ yếu gặp ở độ tuổi từ 0-9 là 26.7%,

từ 10- 19 là 21.72%, từ 20-29 là 25.34%, ít gặp nhất ở

độ tuổi > 60 Bệnh xảy ra quanh năm nhưng gặp nhiều về mùa hè 39.34% và mùa thu: 30,09% Số bệnh nhân mắc bệnh lần thứ nhất chiếm tỷ lệ cao nhất với 82.86%, tiếp theo là số bệnh nhân mắc bệnh lần thứ 2 với 17.14% Nuôi cấy tỷ lệ nấm mọc là 60% Chủng nấm hay gây bệnh là T rubrum: 42.86%, T mentagrophytes 28.57%, C albicans :26.19% và T Tosurans: 2.38%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Cảnh Cầu, Nguyễn Ngọc Thụy (1993), Nghiên cứu thuốc chống nấm ngoài da (TCN) nhằm thay thế chế phẩm BSI + Benzosali, Đề tài cấp Bộ

2 Nguyễn Cảnh Cầu (1989), Nghiên cứu thuốc chống nấm, thuốc phòng nấm và thực hiện mô hình vệ sinh tại một số

đơn vị để phòng chống nấm da, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ

3 Nguyễn Xuân Hiền, Trương Mộc Lợi (1991), Bệnh ngoài

da và hoa liễu, Nhà xuất bản Y học, tr 84- 95

4 Học viện Quân Y (2005), Bộ môn da liễu, “Bệnh da và hoa liễu”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr 90-

98

5 Đoàn Văn Hùng (2002), “Tình hình, dặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị nấm da bằng Ketoconazol

Trang 4

Y học thực hành (765) - số 5/2011 89

(Nizoral) tại viện da liễu (10/2001 9/2002)”, Luận văn thạc sỹ

khoa học Y dược, Trường Đại học Y hà Nội

6 Trần Liên Hương (1988), “Góp phần nghiên cứu hệ nấm

gây bệnh ở da, ở đường sinh dục nữ và tìm hiểu tác dụng diệt

nấm của một số loài thực vật”, Luận án PTS khoa học, Trường

Đại học Tổng hợp Hà Nội

Ngày đăng: 18/03/2023, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w