Một số khú khăn bất cập - Tổ chức mạng lưới CSCSSKTT tuyến tỉnh hiện đang chưa thống nhất và đồng bộ về mụ hỡnh tổ chức, do đú khụng tận dụng và huy động được kịp thời cỏc nguồn lực đầu
Trang 1Y học thực hành (765) - số 5/2011 86
- DA được triển khai thống nhất vầ đồng bộ từ TW
đến xó/phường với tổ chức mạng lưới ngày càng được
kiện toàn, nhõn lực ngày càng được tăng cường cả về
số lượng và chất lượng
- DA bước đầu đó thu hỳt được sự quan tõm ủng
hộ và hưởng ứng thực hiện của CB lónh đạo quản lý
cỏc cấp, cỏc ban ngành, đoàn thể, tổ chức xó hội, nhõn
viờn y tế… tại nhiều địa phương trong cả nước phự hợp
với xu thế chung trờn toàn cầu cũng như sự biến đổi về
mụ hỡnh bệnh tật trong thực tế ở Việt Nam
- DA được triển khai tại tất cả cỏc tỉnh/thành trong
cả nước với 70% số xó được hưởng lợi với những hỗ
trợ trực tiếp cho BN & gia đỡnh họ ngay tại cộng đồng đó
đem lại nhiều lợi ớch thiết thớch cho người dõn đặc biệt
là ở vựng sõu, vựng xa
- Gúp phần nõng cao chất lượng cung cấp dịch vụ
của hệ thống y tế thụng qua việc giỳp giảm tải cho BV
tuyến tỉnh (nếu cú) & BVTW
3.2 Một số khú khăn bất cập
- Tổ chức mạng lưới CSCSSKTT tuyến tỉnh hiện
đang chưa thống nhất và đồng bộ về mụ hỡnh tổ chức,
do đú khụng tận dụng và huy động được kịp thời cỏc
nguồn lực đầu tư…
- Nhõn lực cũn thiếu về số lượng và thiếu nhõn lực
được đào tạo về cỏc chuyờn ngành hỗ trợ điều trị
- Chớnh sỏch đói ngộ chưa thỏa đỏng dẫn đến khú
khăn trong thu hỳt và duy trỡ ổn định đội ngũ cỏn bộ
chương trỡnh từ trung ương đến thụn bản
- Mụ hỡnh chuyờn mụn của DA kết hợp QL BN
TTPL, động kinh & trầm cảm như hiện nay là chưa phự
hợp Độ bao phủ của CT đối với cỏc bệnh TT chưa theo
kịp diễn biến về mụ hỡnh cỏc bệnh TT trong thực tế
- Kinh phớ cũn hạn chế, chỉ đỏp ứng từ 50 – 60%
nhu cầu thực tế, đầu tư kinh phớ cũn dàn trải, phõn bổ
khụng hợp lý:
- Sổ sỏch của DA tại tuyến xó cũn phức tạp và
trựng lặp, biểu mẫu bỏo cỏo chưa đầy đủ, chưa đỏp ứng
thụng tin phục vụ quản lý
- Hoạt động phối hợp liờn ngành cũn nhiều hạn chế
KHUYẾN NGHỊ
- Xõy dựng & trỡnh Thủ tướng Chớnh phủ ban hành Chiến lược quốc gia về BVSKTTCĐ đến năm 2020 và tầm nhỡn 2030 tạo cơ sở phỏp lý để huy động cỏc nguồn lực từ TW đến địa phương cũng như của cỏc tổ chức quốc tế nhằm mở rộng & nõng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của DA
- Kiện toàn tổ chức mạng lưới cỏc cơ sở CSSKTT trong cả nước
- Phỏt triển nguồn nhõn lực CSSKTT trong cả nước cả về số lượng và năng lực chuyờn mụn nhằm đỏp ứng nhu cầu CSSKTT ngày càng cao của cộng đồng
- Mở rộng độ bao phủ của DA đến với cỏc loại bệnh tõm thần khỏc đang xuất hiện ngày càng phổ biến trong thực tiễn: loạn thần do rượu, lo õu trầm cảm, tự kỷ…
- Điều chỉnh những bất cập về thuốc điều trị
- Tăng cường hơn nữa chất lượng của hoạt động giỏm sỏt:
- Tăng cường đầu tư kinh phớ & cơ chế phõn bổ hợp lý giữa cỏc lĩnh vực hoạt động của DA
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Thủ tướng chớnh phủ (1998), Quyết định số 196/1998/QĐ-TTg ngày 10/10/1998 của Thủ tướng Chớnh phủ về việc phờ duyệt Chương trỡnh mục tiờu Quốc gia thanh toỏn một số bệnh xó hội và bệnh dịch nguy hiểm
2 Thủ tướng chớnh phủ (2007), Quyết định số 108/2007/QĐ-TTg ngày 17/07/2007 của Thủ tướng Chớnh phủ phờ duyệt chương trỡnh mục tiờu quốc gia phũng, chống một số bệnh xó hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS giai đoạn 2006 – 2010
MộT Số ĐặC ĐIểM DịCH Tễ HọC BệNH NấM DA TạI BệNH VIệN DA LIễU Và BệNH PHONG Hà NAM ( 9-2009 ĐếN 10- 2010 )
PHẠM HOÀNG KHÂM, NGUYỄN VĂN THẾ TểM TẮT
Từ tháng 9/2009 đến tháng 10/2010, 70 bệnh nhân nấm
da được điều trị tại bệnh viện Da liễu và bệnh Phong Hà
Nam Kết quả cho thấy: Tỉ lệ mắc bệnh ở nam (55,43%) và
nữ (44.57%) Bệnh nấm da chủ yếu xảy ra ở độ tuổi từ 0-9
là 26,7%, từ 10- 19 là 21,72%, từ 20-29 là 25,34%, ở tuổi
> 60 tỉ lệ mắc bệnh thấp nhất Bệnh xảy ra chủ yếu vào
mùa hè 39,34%, thấp nhất vào mùa đông 12,12% Nuôi
cấy nấm tỉ lệ mọc là 60% Chủng nấm hay gây bệnh là T
rubrum 42,86%, T mentagrophytes 28,57%, C albicans
26,19%, T tosurans 2,38%
Từ khoá: Bệnh Da liễu, Bệnh Nấm da
SUMMARY
From september 2009 to october 2010, 70
patients of Dermatomycoses were treated at Hanam
skin and Leprosy hospital Results showed that: The rate of male: (55.43%) and female: (44.57%) Tinea mainly occurs at ages from 0 to 9: 26.7%, from 10 to
19 là: 21.72%, from 20 to 29: 25.34%, 60-year-old people hardly get tinea Tinea mainly appears in summer: 39.34%, the lowest diseased rate in winter: 12.12% The growth rate of fungal culture: 60% Pathogenic fungi strains including T rubrum: 42.86%,
T mentagrophytes: 28.57%, C albicans: 26.19%, and T tosurans: 2.38%
Keywords: Skin diseases; Dermatomycoses
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nấm da là một bệnh Da tương đối phổ biến trên thế giới, đặc biệt các nước nhiệt đới Việt Nam ở trong
Trang 2Y học thực hành (765) - số 5/2011 87
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Trong nhân
dân, tỉ lệ bệnh đứng hàng thứ hai sau bệnh chàm
Trong Quân đội, nấm da chiếm tỉ lệ cao nhất trong
các bệnh da, từ 7 đến 10%, có thể tăng cao tới 40% ở
một số đơn vị Tỉ lệ bệnh tăng cao vào mùa hè, điều
kiện luyện tập chiến đấu, lao động vất vả [1] [3] Bệnh
nấm da gây ngứa, khó chịu, ảnh hưởng nhiều tới sinh
hoạt, học tập và công tác của bộ đội [2] Vì vậy việc
phòng chống nấm da là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của quân y các tuyến đơn vị [4] Để góp
phần cho công tác chẩn đoán và phòng bệnh nấm da
đạt hiệu quả cao hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài nhằm mục tiêu: Khảo sát một số đặc điểm dịch tễ
học bệnh nấm da trên 70 bệnh nhân nấm da điều trị tại
bệnh viện Da liễu và bệnh Phong Hà Nam từ tháng
9/2009 đến tháng 10/2010
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
70 bệnh nhân nấm da được khám và điều trị tại
khoa khám bệnh Bệnh viện Da liễu và bệnh Phong
Hà Nam Từ tháng 9/2009 đến tháng 10/2010
2 Phương pháp nghiên cứu
Tiến cứu mô tả cắt ngang
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán nấm da với
các tiêu chuẩn:
+ Lâm sàng: là những dát đỏ hoặc hồng, hình tròn
hay bầu dục, ranh giới rõ Có bờ viền rõ rệt, trên bờ
viền có mụn nước Có xu hướng lành giữa Có ít vảy
da vụn trên bề mặt tổn thương Ngứa nhiều tại tổn
thương và tăng lên khi ra mồ hôi
+ Xét nghiệm: soi tươi từ vảy da tại tổn thương có
sợi nấm
+ Thời gian bị bệnh: <3 tháng, 3-6 tháng, > 6
tháng
+ Số lần mắc bệnh: 1 lần, 2 lần, > 2 lần
Các xét nghiệm soi tươi được tiến hành tại phòng
xét nghiệm Bệnh viện da liễu và bệnh phong tỉnh Hà
Nam Các xét nghiệm cấy và định loại chủng nấm
được tiến hành tại Labo nấm Bệnh viện 103
- Soi tươi tìm nấm:
+ Kết quả dương tính: Sợi nấm hay đoạn sợi nấm
mềm mại, thành tế bào hơi đậm hơn, bào tương đục
hơn
+ Kết quả âm tính: Khi soi ít nhất 30 vi trường
không thấy sợi nấm hoặc bào tử nấm
- Nuôi cấy:
+ Môi trường nuôi cấy Sabourand
+ Phương pháp cấy nấm: dùng que cấy lấy bệnh
phẩm đặt vào 2- 3 điểm trong ống nghiệm để
nghiêng, sau đó để trong tủ ấm trong 2 tuần
+ Định loại nấm để xác định chủng nấm
Xử lý số liệu: Phương pháp thống kê Y học và
được xử lý theo chương trình phần mềm EPI-INFO
6.04
KẾT QUẢ NGHIấN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Bảng 1 Tỷ lệ mắc bệnh nấm da theo giới tính (n=
442)
< 0.05
Tỷ lệ mắc bệnh nấm da của nam (55,43%) cao hơn của nữ (44.57%) Sự khác nhau có ý nghĩa thống
kê với P< 0,05 Có lẽ tính chất công việc của nam giới
đi lại nhiều hơn nữ, công việc cũng nặng nhọc vất vả
và có tính chất giao lưu rộng rãi hơn nữ giới Trong nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhân là trẻ 0-9 tuổi cũng chiếm tỷ lệ gần 1/3 số bệnh nhân nấm da, mà trẻ nam nghịch và chạy nhẩy, kém vệ sinh hơn nhiều
so với trẻ nữ Vì vậy, rẻ nam cũng dễ bị lây bệnh nấm
da hơn nữ Còn một điều nữa, thực tế vì tổn thương của bệnh nấm da hay có ở các vùng kín như bẹn, mông nên các bệnh nhân thường ngại đi đến viên khám bệnh mà thường tự đi mua các thuốc bôi ở các hiệu thuốc hay chỉ hỏi và khám bệnh ở những thấy thuốc tư nhân cùng giới và quen thân Vỉ vậy tỷ lệ bệnh nhân nấm da đến bệnh viện khám và điều trị là nam giới cao hơn nữ giới Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả của Hoàng Văn Minh[7]
Bảng 2 Tỷ lệ bệnh nấm da theo tuổi (n= 442)
Độ tuổi mắc nấm da cao nhất là từ 0- 9 tuổi: 26.70%, tuổi từ 20- 29: 25,34% Từ 10-29: 21.72%,
từ 30-39: 9.50% Tỷ lệ thấp nhất là trên 60 tuổi: 3.67% Số bệnh nhân ở lứa tuổi từ 0- 9 tuổi chiếm tỷ
lệ cao nhất (26.7%), có lẽ lả do đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào ở trẻ em đối với kháng nguyên nấm và sự ghi nhớ đối với tế bào lympho T với các kháng nguyên nấm chưa đầy đủ, nên nấm phát triển
dễ dàng hơn Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh nấm da ở lứa tuổi ≥60 là thấp nhất (3.67%) Kết quả này tương
đương với Trần Liên Hương): 11.84% [6] và của Đoàn Văn Hùng: 11.0% [5]
Bảng 3 Tỷ lệ mắc bệnh nấm da theo mùa (n= 442)
Bệnh gặp nhiều nhất vào mùa hè: 39.34% và mùa thu: 30.09% Bệnh giảm về mùa xuân: 18.33% và mùa đông: 12.22% Sự khác biệt có ý nghiã thống kê giữa mùa hè, thu so với mùa đông, xuân (p< 0.05)
Điều này phù hợp với y văn kinh điển Vào mùa hè,
Trang 3Y học thực hành (765) - số 5/2011 88
thu nhiệt độ và độ ẩm tăng làm cho nấm dễ phát
triển, đồng thời cơ thể tiết ra nhiều mồ hôi làm giảm
sức đề kháng của lớp sừng, tạo điều kiện cho nấm
phát triển.Kết quả của trên cũng phù hợp với kết quả
của Trần Liên Hương [6] và Đoàn Văn Hùng [5]
Bảng 4 Số lần mắc bệnh (n= 70)
Số bệnh nhân mắc bệnh lần thứ nhất chiếm tỷ lệ
cao nhất với 82.86%, tiếp theo là số bệnh nhân mắc
bệnh lần thứ 2 với 17.14% Kết quả của chúng tôi
tương tự với Nguyễn thị Kim Dung (2007) số bệnh
nhân mắc bệnh lần đầu là 93.8%%, lần 2 là 6.2% So
với tác giả Đoàn Văn Hùng (2002) nghiên cứu ở Viện
da liễu quốc gia, số bệnh nhân mắc bệnh lần đầu là
40%, lần 2 là 26%, lần thứ 3 là 34% thì tỉ lệ bệnh
nhân mắc bệnh lần đầu của chúng tôi thấp hơn[5] Sự
khác biệt này là do nghiên cứu của chúng tôi tại cơ sở
khám chữa các bệnh chuyên khoa da liễu duy nhất
của cả tỉnh nên đây vừa là nơi khám chữa bệnh ban
đầu vừa là nơi khám chữa bệnh chuyên khoa da liễu,
còn trong nghiên cứu của Đoàn Văn Hùng thì tiến
hành ở Viện da liễu quốc gia, là nơi có nhiều bệnh
nhân đã từng điều trị hoặc điều trị thất bại ở các cơ sở
khác trước khi đến Viện da liễu quốc gia khám và
điều trị Do vậy tỷ lệ bệnh nhân đến khám và điều trị
lần đầu ít hơn của chúng tôi, nhưng số bệnh nhân đã
bị bệnh nhiều lần thì cao hơn của chúng tôi Trong số
đó có lẽ bao gồm cả các bệnh nhân bị tái phát bệnh
do các lần điều trị trước đó không triệt để[2] [5]
Bảng 5 Kết quả cấy nấm(n= 70)
Kết quả nuôi cấy nấm của chúng tôi đạt tỷ lệ
dương tính là 60% Các bệnh nhân của chúng tôi
100% đều có soi nấm dương tính Vì soi nấm dương
tính là tiêu chẩn chẩn đoán xác định để chon bệnh
nhân vào nghiên cứu của chúng tôi Tỷ lệ cấy nấm
dương tính 60% cũng phù hợp với kết quả cấy nấm
của nhiều tác giả khác, và phù hợp với các tài liệu
kinh điển[1,3] Vì đặc điểm khí hậu và môi trường ở
nước ta nên khi lấy mẫu bệnh phẩm để cấy rất dễ bị
tạp nấm xâm nhập, nên tỷ lệ các ống nghiệm nuôi
cấy bị tạp nấm còn cao Vì vậy, tỷ lệ kết quả cấy nấm
dương tính của các chủng nấm da trong nghiên cứu
cũng phù hợp với Và kết quả nghiên cứu của nhiều
tác giả Nguyễn Cảnh Cầu 1993, Nguyễn Văn Sơn
1995 [1]
Bảng 6 Tỷ lệ các chủng nấm gây bệnh(n= 42)
Chủng nấm gây bệnh cao nhất mà chúng tôi nuôi cấy được là T.rubrum với tỷ lệ 42.86% Đây là chủng nấm hay gặp nhất ở nước ta cũng như ở các nước nhiệt đới gió mùa Chủng nấm T.rubrum cũng là chủng nấm có độc tính cao nhất trong các chủng nấm gây bệnh ở da Tiếp theo là T.mentagrophytes, C.albrican, chiếm tỷ lệ thấp nhất là chủng
T.tonsurans với 2.38% Kết quả này tương đương với
kết quả của tác giả Phạm Hoàng Khâm (1997) là 47.37%, của Agarwalla và cộng sự (2001) 45.71%
So với kết quả của Đoàn Văn Hùng(2002) là 89.4% kết quả của chúng tôi thấp hơn Kết quả này cũng phù hợp với các tài liệu kinh điển, chủng nấm T.rubrum gặp nhiều nhất ở nước ta Chủng nấm T.mentagrophytes chiếm 28.57%, kết quả này tương
đương với nghiên cứu của Phạm Hoàng Khâm (1997)
là 26.32% Tỷ lệ C.albicans là 26.19%, trong khi các tác giả khác ít gặp chủng này, trên lâm sàng những bệnh nhân trẻ <10 tuổi và các trường hợp nấm bẹn rất hay gặp chủng này Vì trẻ nnỏ tuổi mẫu giáo và tuổi nhi đồng rất hiếu động, không biết và không quan tâm đến giữ vệ sinh cơ thể Đó cũng chính là những
điều kiện thuận lợi để bệnh nấm da phát triển và các chủng C.albicans có cơ hội gây bệnh gây bệnh Vì bệnh nhân nấm da của chúng tôi gặp ở độ tuổi từ 0 -
9 là 26.7%, nên tỷ lệ C albicans của chúng tôi cao hơn[1] [5]
KẾT LUẬN
Từ tháng 9/2009 đến tháng 10/2010, nghiên cứu một số đặc điểm Dịch tễ học trên 442 bệnh nhân nấm
da điều trị tại bệnh viện Da liễu và bệnh Phong Hà Nam Chúng tôi thu được kết quả như sau:
Tỉ lệ mắc bệnh ở nam (55,43%) và nữ (44.57%) Bệnh nấm da chủ yếu gặp ở độ tuổi từ 0-9 là 26.7%,
từ 10- 19 là 21.72%, từ 20-29 là 25.34%, ít gặp nhất ở
độ tuổi > 60 Bệnh xảy ra quanh năm nhưng gặp nhiều về mùa hè 39.34% và mùa thu: 30,09% Số bệnh nhân mắc bệnh lần thứ nhất chiếm tỷ lệ cao nhất với 82.86%, tiếp theo là số bệnh nhân mắc bệnh lần thứ 2 với 17.14% Nuôi cấy tỷ lệ nấm mọc là 60% Chủng nấm hay gây bệnh là T rubrum: 42.86%, T mentagrophytes 28.57%, C albicans :26.19% và T Tosurans: 2.38%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Cảnh Cầu, Nguyễn Ngọc Thụy (1993), Nghiên cứu thuốc chống nấm ngoài da (TCN) nhằm thay thế chế phẩm BSI + Benzosali, Đề tài cấp Bộ
2 Nguyễn Cảnh Cầu (1989), Nghiên cứu thuốc chống nấm, thuốc phòng nấm và thực hiện mô hình vệ sinh tại một số
đơn vị để phòng chống nấm da, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ
3 Nguyễn Xuân Hiền, Trương Mộc Lợi (1991), Bệnh ngoài
da và hoa liễu, Nhà xuất bản Y học, tr 84- 95
4 Học viện Quân Y (2005), Bộ môn da liễu, “Bệnh da và hoa liễu”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr 90-
98
5 Đoàn Văn Hùng (2002), “Tình hình, dặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị nấm da bằng Ketoconazol
Trang 4Y học thực hành (765) - số 5/2011 89
(Nizoral) tại viện da liễu (10/2001 9/2002)”, Luận văn thạc sỹ
khoa học Y dược, Trường Đại học Y hà Nội
6 Trần Liên Hương (1988), “Góp phần nghiên cứu hệ nấm
gây bệnh ở da, ở đường sinh dục nữ và tìm hiểu tác dụng diệt
nấm của một số loài thực vật”, Luận án PTS khoa học, Trường
Đại học Tổng hợp Hà Nội