TẠP CHÍ Y DƯỢC HỌC CẦN THƠ – SỐ 15/2018 1 BIẾN CHỨNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH THỦY ĐẬU TẠI BỆNH VIỆN PHONG DA LIỄU TRUNG ƯƠNG QUY HÒA NĂM 2016 2017 Trần Đình Bình1*, Đinh Thị[.]
Trang 1BIẾN CHỨNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH THỦY ĐẬU TẠI BỆNH VIỆN PHONG DA LIỄU TRUNG ƯƠNG QUY
HÒA NĂM 2016-2017
Trần Đình Bình 1* , Đinh Thị Ái Liên 2
1 Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế
2 Bệnh viện Phong Da liễu Trung ương Quy Hòa
* Email: tdbinh.dhyd@gmail.com
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Nhiều bệnh nhân nhập viện để điều trị bệnh thủy đậu khi có một số
biến chứng mà bệnh gây ra, có thể do điều trị không hợp lý, đến muộn, chăm sóc không
đúng…cần phải khắc phục Mục tiêu: Xác định tỷ lệ các biến chứng của bệnh thủy đậu và
những yếu tố liên quan ở bệnh nhân nhập viện tại bệnh viện Phong Da liễu Trung ương
Quy Hòa năm 2016-2017 Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu ngang mô tả trên 485 bệnh nhân mắc bệnh thủy đậu Kết quả: Số bệnh nhân có biến chứng chiếm tỷ lệ 48,7%
Trong đó, viêm da có mủ chiếm 42,3%, Loét da chiếm 32,0%, Sẹo lõm chiếm 21,2% Bệnh nhân có hai biến chứng chiếm 22,3%, có một biến chứng chiếm 13,8% Một số yếu tố liên quan: Nhóm tuổi: nhóm 16- 20 tuổi và >20 tuổi bị biến chứng nhiều nhất chiếm tỷ lệ lần lượt là 56,8% và 56,4% Bệnh nhân trong vùng dịch tễ có biến chứng nhiều hơn chiếm tỷ lệ 54,2% Thời gian từ khi khởi bệnh đến lúc khám và điều trị >2 ngày có tỷ lệ biến chứng nhiều hơn chiếm 75,3% Xét nghiệm dịch mụn nước không có tế bào Tzanck có tỷ lệ biến
chứng nhiều hơn chiếm 73,3% Kết luận: Tỷ lệ biến chứng do bệnh thủy đậu ở bệnh nhân khá
cao (48,7%) Các yếu tố về tuổi, vùng dịch tễ, không có tế bào Tzanck trong dịch mụn nước có liên quan đến sự xuất hiện biến chứng ở bệnh nhân
Từ khóa: biến chứng, thủy đậu, xét nghiệm tế bào Tzanck
ABSTRACT
THE COMPLICATIONS AND FACTORS RELATED TO CHICKENPOX PATIENTS IN QUY HOA NATIONAL LEPROSY DERMATOLOGY
HOSPITAL OF 2016-2017
Tran Đinh Binh 1 , Dinh Thi Ai Lien 2
1 Hue University of Medicine and Pharmacology
2 Quy Hoa National Leprosy Dermatology Hospital
Background: Many patients are hospitalized for chickenpox when there are some complications what by the disease may have caused, or possibly due to unreasonable treatment, delayed arrival, improper care .which need to be overcome Objectives: To examine
complications of chickenpox and related factors in hospitalized patients at Quy Hoa National
Leprosy Dermatology Hospital in 2016-2017 Subjects and Methods: A horizontal study of 485 patients with chickenpox Results: The number of patients with complications accounted for
48.7% Dermatitis with pus accounted for 42.3%, Skin ulcers accounted for 32.0%, Scoliosis accounted for 21.2% Patients with two complications accounted for 22.3%, a complication rate of 13.8% 16-20 years old group and > 20 years that are the most complications group which accounted for 56.8% and 56.4% In the epidemic region, more patients with complications that accounted for 54.2% The time from onset to hospital and treatment > 2 days of patients who are more complication that was 75.3% Tzanck cell assay that is negative which showed the rate of
complications was 73.3% Conclusion: The complicated rate of chickenpox is rather high
Trang 2(48,7%) Some realted factors have beeb found that was age group, epidemic region and Tzanck cell assay negative
Key words: complication, chickenpox, Tzanck cell assay
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tác nhân gây bệnh thủy đậu là do Varicella zoster virus (VZV) một thành viên trong họ Herpesviridae, chi Varicellovirus VZV thuộc nhóm Alpha Herpes Bản chất của bệnh thủy đậu là một bệnh lành tính nhưng cũng có thể gây nhiều biến chứng trong những trường hợp bị nặng và không được chăm sóc, chữa trị phù hợp [1], [2] Các biến chứng viêm da do bội nhiễm vi khuẩn thì nốt đậu có mưng mủ, khi khỏi bệnh có thể để lại sẹo, đôi khi là sẹo rất xấu, sẹo lõm Ở những bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng nốt đậu có thể hoại tử Biến chứng nặng nhất là viêm nào, viêm màng não hết sức nguy hiểm, có thể tử vong nếu để muộn và cấp cứu không kịp thời [14] Ngoài ra, có thể gặp xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm thận, hội chứng thận hư, hội chứng tán huyết do tăng ure máu, viêm khớp, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, viêm gan, viêm tụy cấp, viêm tinh hoàn
Hàng năm, nhiều bệnh nhân nhập viện để điều trị bệnh thủy đậu và một số biến chứng mà bệnh gây ra, có thể do điều trị không hợp lý, đến muộn, chăm sóc không đúng…Năm 2016, tại bệnh viện Da liễu Trung ương Quy Hòa đã có gần 500 bệnh nhân nhập viện, chúng tôi thực hiện đề tài “Tìm hiểu biến chứng của bệnh thủy đậu và những yếu tố liên quan trên bệnh nhân nhập viện tại bệnh viện Phong Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2016-2017” nhằm mục tiêu:
Xác định tỷ lệ biến chứng ở bệnh nhân mắc bệnh thủy đậu và tìm hiểu một số yếu
tố liên quan đến biến chứng của bệnh thủy đậu ở những bệnh nhân này
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
485 người bệnh được chẩn đoán bệnh thủy đậu đến khám và điều trị từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017, tại bệnh viện Phong -Da liễu Trung ương Quy Hòa
Không mắc các bệnh gan, thận, phổi nặng, nhiễm HIV
Đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu, có địa chỉ liên lạc rõ ràng
Được sự đồng ý của cha mẹ và người giám hộ nếu bệnh nhân dưới 16 tuổi
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu ngang, mô tả
2.2.2 Nội dung nghiên cứu: Tiến hành thu thập các chỉ số nghiên cứu về:
+ Dịch tễ lâm sàng
+ Các biểu hiện lâm sàng, bao gồm bệnh sử và các biểu hiện lâm sàng của bệnh + Xét nghiệm tế bào Tzanck [1]
- Các biến chứng: Bội nhiễm: viêm da mủ, viêm mô tế bào, loét da, sẹo lõm
- Các yếu tố liên quan đến biến chứng bệnh thủy đậu
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Việc thu thập dữ liệu được thực hiện bởi tác giả và các bác sĩ và điều dưỡng trực tiếp khám và điều trị cho bệnh nhân
Các bước tiến hành:
- Hỏi bệnh, Quan sát, Thăm khám: Mô tả tổn thương Chẩn đoán
Trang 3Các thông tin nghiên cứu được thu thập đầy đủ theo mẫu Phiếu thu thập số liệu nghiên cứu đã được thiết kế phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được nhập và xử lý theo thuật toán thống kê trên máy vi tính,
sử dụng phần mềm SPSS Version 16.0 Các test thống kê được kiểm định với sự khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Biến chứng ở bệnh nhân mắc bệnh thủy đậu tại bệnh viện Phong-Da liễu Trung ương Quy hòa năm 2016-2017
Bảng 3.1 Phân bố các loại các biến chứng
Biến chứng chủ yếu là bội nhiễm tổn thương thủy đậu, trong đó nhiều nhất là viêm da
có mủ với số lượt chiếm tỷ lệ 42,5%, loét da với số lượt chiếm tỷ lệ 32,0%, sẹo lõm với số lượt chiếm tỷ lệ 21,2%, viêm mô tế bào chiếm tỷ lệ 0,2% và không có các biến chứng khác Bảng 3.2 Phân bố số biến chứng
Số bệnh nhân không có biến chứng chiếm tỷ lệ 51,5%, số bệnh nhân có một biến chứng chiếm tỷ lệ 14,2%, số bệnh nhân có 2 biến chứng chiếm tỷ lệ 21%, số bệnh nhân có
ba biến chứng chiếm tỷ lệ 13,2%
3.2 Một số yếu tố liên quan đến các biến chứng đã gặp ở bệnh nhân thủy đậu
Bảng 3.3 Liên quan giữa biến chứng với giới tính
Biến chứng
Giới
X 2 , p
0,91 p=0,34
Bệnh nhân nữ có biến chứng chiếm tỷ lệ 50,4% nhiều hơn bệnh nhân nam có biến chứng chiếm tỷ lệ 46,0%
Bảng 3.4 Liên quan giữa biến chứng với nhóm tuổi
Trang 4Nhóm tuổi n % n %
X2= 22,41 p<0,001
Nhóm tuổi 16-20 tuổi và nhóm > 20 tuổi số bệnh nhân có biến chứng chiếm tỷ lệ cao 56,8% và 56,4% Nhóm tuổi 11 - 15 tuổi có biến chứng chiếm tỷ lệ 41,2% Nhóm tuổi
< 6 tuổi có biến chứng chiếm tỷ lệ 37,5% Nhóm tuổi 6- 10 tuổi có biến chứng ít nhất, chiếm tỷ lệ 28,3% Sự khác biệt về tỷ lệ biến chứng ở các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê với p <0,05
Bảng 3.5 Liên quan giữa Biến chứng với nghề nghiệp
Biến chứng Nghề nghiệp
Tổng X 2 , p
Mẫu giáo, học sinh, sinh viên 103 39,9 155 60,1 258
X2=16,14 P<0,001
Nhóm có nghề nghiệp công nhân và nông dân có nhiều biến chứng nhất chiếm tỷ
lệ 60,1% Nhóm có nghề nghiệp mẫu giáo, học sinh, sinh viên có ít biến chứng nhất chiếm
tỷ lệ 39,9%
Bảng 3.6 Liên quan giữa Biến chứng với địa dư sinh sống
Biến chứng
Khu vực
Tổng X 2 , p
X2= 1,52 p=0,22
Khu vực nông thôn số bệnh nhân có biến chứng chiếm tỷ lệ 53,0% nhiều hơn số bệnh nhân ở khu vực thành thị chiếm tỷ lệ 46,7%
Bảng 3.7 Liên quan giữa biến chứng với mùa
Biến chứng
Mùa
Tổng X 2 , p
X 2 =7,90 p=0,048
Vào mùa hạ số bệnh nhân có biến chứng nhiều nhất chiếm tỷ lệ 59,8%, vào mùa thu số bệnh nhân có biến chứng ít nhất chiếm tỷ lệ 37,8%
Bảng 3.8 Liên quan giữa Biến chứng với vùng dịch tễ
Biến chứng Vùng có
bệnh tương tự
Tổng X 2 , p
Trang 5Có 116 53,7 100 46,3 216
X 2 =8,47 p=0,014
Bệnh nhân sống trong vùng có người mắc bệnh thủy đậu bị biến chứng chiếm tỷ lệ 53,7% nhiều hơn bệnh nhân sống trong vùng không có người mắc bệnh thủy đậu chiếm tỷ
lệ 36,3%
Bảng 3.9 Liên quan giữa Biến chứng với thời gian mắc đến khi điều trị
Biến chứng
Thời gian
Tổng X 2 , p
X2= 131,64 p<0,001
Bệnh nhân đến khám và điều trị <= 2 ngày có tỷ lệ biến chứng là 24% ít hơn nhóm bệnh nhân đến khám và điều trị sau 2 ngày chiếm tỷ lệ 76,2%
Bảng 3.10 Liên quan giữa Biến chứng với xét nghiệm tế bào Tzanck
Biến chứng
TB Tzanck
Tổng X 2 , p
X2=7,93 p=0,005
Bệnh nhân xét nghiệm có tế bào Tzanck bị biến chứng chiếm tỷ lệ 46,8% ít hơn bệnh nhân xét nghiệm không có tế bào Tzanck chiếm tỷ lệ 73,3%
IV BÀN LUẬN
4.1 Tỷ lệ biến chứng ở bệnh nhân mắc bệnh thủy đậu
Đặc điểm các biến chứng: Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 3.1 biến chứng chủ
yếu là bội nhiễm tổn thương thủy đậu, trong đó nhiều nhất là viêm da có mủ với số lượt chiếm tỷ lệ 42,5%, loét da với số lượt chiếm tỷ lệ 32,0% sẹo lõm với số lượt chiếm tỷ lệ 21,2%, viêm mô tế bào là ít nhất chiếm tỷ lệ 0,2% và không có các biến chứng khác Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với tác giả Quách Thị Hà Giang nghiên cứu ở Viện Da liễu Trung ương cũng chỉ gặp các biến chứng bội nhiễm tổn thương thủy đậu [4] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Văn Tiến tỷ lệ bệnh nhân thủy đậu có biến chứng bội nhiễm chiếm tỷ lệ 32,3% [14] Theo tác giả Sophie Chien-Hui Wen và cộng sự
tỷ lệ bệnh nhân có biến chứng bội nhiễm chiếm tỷ lệ 65% trong đó nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A chiếm tỷ lệ 59% [12] Theo tác giả Gowin E và cộng sự [5] biến chứng nhiễm trùng da chiếm tỷ lệ 21% Theo tác giả Hiroshi Yamaguchi và cộng sự [8] tỷ lệ biến chứng nhiễm trùng da là 26% Theo tác giả Guldane Koturoglu và cộng sự [7] tỷ lệ biến chứng
Trang 6nhiễm trùng da là 13,48% (24/178) Theo tác giả Christine Ziebold MD và cộng sự tỷ lệ biến chứng bội nhiễm chiếm tỷ lệ 38,6% [3]
Phân bố số lượt các biến chứng: Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 3.2 hay gặp nhất
là bệnh nhân có hai biến chứng chiếm tỷ lệ 21,0%, tiếp theo là bệnh nhân có một biến chứng chiếm tỷ lệ 14,2%, và ít nhất là bệnh nhân có ba biến chứng chiếm tỷ lệ 13,2% Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với tài liệu về bệnh thuỷ đậu và nghiên cứu của những tác giả khác Theo tác giả Sophie Chien-Hui Wen và cộng sự có 77% bệnh nhân mắc nhiều hơn 1 biến chứng [12]
Theo tác giả Judith H Wolleswinkel- van den Bosch và cộng sự có 18% bệnh nhân
có nhiều hơn một biến chứng [9] Theo tác giả Gowin E và cộng sự [5] có 11% bệnh nhân
có nhiều hơn một biến chứng Trên cùng một thời gian và ở bất cứ vùng nào của cơ thể tổn thương thủy đậu có thể ở nhiều giai đoạn khác nhau và vì vậy khi có biến chứng thì cũng sẽ có nhiều loại biến chứng trên cùng một bệnh nhân
Tỷ lệ bệnh nhân có biến chứng: Theo kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 3.1 số bệnh
nhân có biến chứng chiếm tỷ lệ 48,5%, số bệnh nhân không biến chứng chiếm tỷ lệ 51,5%
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Sophie Chien Hui Wen và cộng sự ở New Zealand biến chứng của những trẻ em bị bệnh thủy đậu hay gặp nhất là nhiễm trùng thứ phát chiếm
tỷ lệ 65% [12] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Sophie Blumental và cộng sự [11] tỷ
lệ biến chứng bội nhiễm da chiếm tỷ lệ 59% Các nghiên cứu này có tỷ lệ biến chứng cao hơn nghiên cứu của chúng tôi và có chung loại biến chứng là nhiễm trùng thứ phát ở da Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Christine Ziebold MD và cộng sự tỷ lệ biến chứng là 38,6% [3] Kết quả nghiên cứu của tác giả Dinleyici EC và cộng sự nhiễm khuẩn thứ phát phổ biến nhất chiếm tỷ lệ 23% [6] Kết quả nghiên cứu của tác giả Rafila A và cộng sự tỷ
lệ bệnh nhân có biến chứng nhiễm khuẩn là 16,1% [10] Các nghiên cứu này có tỷ lệ thấp hơn kết quả của chúng tôi
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ có biến chứng cao hơn tác giả Quách Thị
Hà Giang nghiên cứu ở Viện Da Liễu Trung Ương [4] có tỷ lệ biến chứng là 15,3%, có thể
ở nghiên cứu này số lượng bệnh nhân (65BN) ít hơn so với nghiên cứu của chúng tôi (485 BN), mặc khác bệnh viện chúng tôi nghiên cứu có nhiều bệnh nhân nặng từ các huyện và các tỉnh lân cận chuyển đến nên tỷ lệ bệnh nhân có biến chứng cũng nhiều hơn
4.2 Các yếu tố liên quan đến biến chứng của bệnh nhân thủy đậu ở bệnh viện Phong-Da liễu Trung ương Quy hòa năm 2016-2017
Liên quan giữa biến chứng với giới tính: Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi
ở bảng 3.3 bệnh nhân nữ có biến chứng chiếm tỷ lệ 50,4% nhiều hơn bệnh nhân nam có biến chứng chiếm tỷ lệ 46,0% có thể là do số bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn bệnh nhân nam Mặc khác có thể do bệnh nhân nữ còn quan niệm mắc bệnh thủy đậu phải kiêng nước, kiêng gió nhiều hơn bệnh nhân nam nên không tắm rửa vệ sinh tốt sẽ tạo môi trường cho vi khuẩn phát triển Vì vậy dễ bị bội nhiễm và có biến chứng nhiều hơn
Trang 7Liên quan giữa biến chứng với nhóm tuổi: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở
bảng 3.4, nhóm tuổi 16-20 tuổi và nhóm > 20 tuổi số bệnh nhân có biến chứng chiếm tỷ lệ cao 56,8% và 56,4% Nhóm tuổi 6 - 10 tuổi có ít biến chứng nhất, chiếm tỷ lệ 30,0% Điều này có thể là do số bệnh nhân > 20 tuổi chiếm tỷ lệ cao 53,4% mặc khác bệnh nhân lớn tuổi khi mắc bệnh thì diễn biến nặng hơn, nên biến chứng cũng nhiều hơn Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Điều này cũng phù hợp với cơ sở lý thuyết bệnh thủy đậu ở trẻ nhỏ thường nhẹ hơn ở người trưởng thành [15] Theo tác giả Sophie Blumental và cộng sự [13] tỷ
lệ biến chứng ở nhóm tuổi 1- 4 tuổi và 5 - 14 tuổi lần lượt là 78% và 75%, ở nhóm tuổi dưới 1 tuổi chiếm tỷ lệ 51%
Liên quan giữa biến chứng với nghề nghiệp: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở
bảng 3.5 nhóm có nghề nghiệp công nhân và nông dân có nhiều biến chứng hơn chiếm tỷ
lệ 60% Nhóm có nghề nghiệp mẫu giáo, học sinh, sinh viên có ít biến chứng hơn chiếm tỷ
lệ 39,9% Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 Nhóm nghề công nhân và nông dân có nhiều biến chứng hơn có thể là do họ làm việc trong điều kiện vệ sinh kém hơn mặc khác vấn đề ý thức chăm sóc bệnh cũng thấp hơn
Liên quan giữa biến chứng với địa dư sinh sống: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
ở bảng 3.6 khu vực nông thôn số bệnh nhân có biến chứng chiếm tỷ lệ 53,0% nhiều hơn số bệnh nhân ở khu vực thành thị chiếm tỷ lệ 46,7% Điều này có thể là do ở nông thôn theo tập quán của người Việt Nam thường cho rằng khi bị thủy đậu cần phải kiêng nước, kiêng gió và không tiếp xúc với môi trường bên ngoài Vì lẽ đó mà số bệnh nhân ở khu vực nông thôn ít được đi khám bệnh hơn khu vực thành thị Ở khu vực nông thôn điều kiện kinh tế khó khăn, đường xá, phương tiện giao thông đi lại khó khăn hơn nên cũng ít được đi khám bệnh hơn so với khu vực thành thị Do vậy bệnh thường nặng hơn và có nhiều biến chúng hơn
Liên quan giữa biến chứng với mùa: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng
3.7 vào mùa hạ số bệnh nhân có biến chứng nhiều nhất chiếm tỷ lệ 59,8%, vào mùa thu số bệnh nhân có biến chứng ít hơn chiếm tỷ lệ 37,8%
Liên quan giữa biến chứng với vùng dịch tễ: Theo kết quả nghiên cứu ở bảng
3.8 bệnh nhân sống trong vùng có người mắc bệnh thủy đậu bị biến chứng nhiều hơn chiếm tỷ lệ 53,7%, bệnh nhân sống trong vùng không có người mắc bệnh thủy đậu có biến chứng ít hơn chiếm tỷ lệ 36,3% Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 Kết quả này phù hợp với đặc điểm dịch tễ học bệnh thủy đậu là bệnh dễ lây lan và lây mạnh qua đường hô hấp, trong vùng dịch tễ có nhiều người mắc bệnh thủy đậu thì vấn đề nhiễm virus gây bệnh thủy đậu sẽ dễ hơn, nhiều hơn và vì vậy tỷ lệ có biến chứng sẽ nhiều hơn
Liên quan giữa Biến chứng với thời gian từ lúc mắc đến khi khám và điều trị:
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.9 bệnh nhân đến khám và điều trị ≤ 2 ngày có tỷ lệ biến chứng là 25,2% ít hơn nhóm bệnh nhân đến khám và điều trị sau 2 ngày chiếm tỷ lệ 75,3% Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Điều này cũng phù hợp với các tác giả khác và cơ sở lý thuyết, bệnh nhân đến khám sớm được điều trị sớm với các thuốc đặc trị (Acyclovir) diệt virus làm giảm các triệu chứng bệnh, khỏi bệnh nhanh hơn và sẽ hạn chế được biến chứng
Trang 8Liên quan giữa Biến chứng với xét nghiệm tế bào Tzanck: Theo kết quả nghiên
cứu của chúng tôi ở bảng 3.10 bệnh nhân xét nghiệm có tế bào Tzanck bị biến chứng chiếm tỷ lệ 47% ít hơn bệnh nhân xét nghiệm không có tế bào Tzanck chiếm tỷ lệ 73,3% Kết quả này cũng phù hợp với cơ sở lý thuyết vì những bệnh nhân xét nghiệm không có tế bào Tzanck thường là những bệnh nhân đến muộn lúc đó các tế bào đa nhân khổng lồ bắt đầu thoái hóa nên xét nghiệm không tìm thấy [1] Vì bệnh nhân đến muộn chưa được điều trị kịp thời nên diễn biến bệnh nặng hơn, các triệu chứng bệnh nặng hơn, tỷ lệ bội nhiễm nhiều hơn, nên tỷ lệ bị biến chứng cũng nhiều hơn Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với p< 0,05
Tóm lại, thủy đậu tuy là bệnh lành tính nhưng cũng có thể gây nhiều biến chứng trong những trường hợp bị bệnh nặng và không được chăm sóc, điều trị phù hợp Những biến chứng nguy hiểm từ gây sẹo vĩnh viễn cho đến tử vong Nhiều yếu tố có thể liên quan đến nguy cơ biến chứng do thủy đậu như lứa tuổi mắc bệnh, nghề nghiệp, trình độ học vấn, mùa mắc bệnh, vùng dịch tễ bệnh thủy đậu, thời gian từ khi mắc bệnh đến khi khám
và điều trị Cần chú ý để khuyến cáo người bệnh những vấn đề liên quan đến bệnh thủy đậu và biến chứng có thể xảy ra để giảm nhẹ và không xảy ra các biến chứng nghiêm trọng khi mắc bệnh thủy đậu
V KẾT LUẬN
5.1 Tỷ lệ biến chứng của bệnh nhân thủy đậu ở Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hoà năm 2016-2017
+ Số bệnh nhân có biến chứng chiếm tỷ lệ 48,7%, bệnh nhân không biến chứng chiếm tỷ lệ 51,3%
+ Viêm da có mủ chiếm tỷ lệ 42,3%, Loét da chiếm tỷ lệ 32,0%, Sẹo lõm chiếm tỷ
lệ 21,2%, Viêm mô tế bào là ít nhất chiếm tỷ lệ 0,2%
+ Bệnh nhân có hai biến chứng chiếm tỷ lệ 22,3%, có một biến chứng chiếm tỷ lệ 13,8%, và ít nhất là bệnh nhân có ba biến chứng chiếm tỷ lệ 12,6%
5.2 Các yếu tố liên quan đến biến chứng của bệnh nhân thủy đậu ở Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa năm 2016-2017
+ Nhóm tuổi: 16- 20 tuổi và > 20 tuổi bị biến chứng nhiều nhất chiếm tỷ lệ 56,8%
và 56,4%
+ Công nhân và nông dân có biến chứng nhiều nhất chiếm tỷ lệ 62,2%
+ Trong vùng dịch tễ bệnh nhân có biến chứng nhiều hơn chiếm tỷ lệ 54,2%
+ Thời gian từ khi khởi bệnh đến lúc khám và điều trị > 2 ngày tỷ lệ biến chứng nhiều hơn chiếm tỷ lệ 75,3%
+ Xét nghiệm dịch mụn nước không có tế bào Tzanck tỷ lệ biến chứng nhiều hơn chiếm tỷ lệ 73,3%.(Do điều trị muộn)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bệnh viện Phong- Da Liễu Trung ương Quy Hòa (2013), Bệnh học da liễu, NXB Y Học, tr
210-213; 292-293
2 Bộ Y tế (2016), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh Da liễu, Ban hành kèm theo
Quyết định số 75/QĐ-BYT ngày 13/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế, tr 67-71
Trang 93 Christine Ziebold,MD,PhD, Rudiger von Kries MD, Robert Lang MD, Josef Weigl MD, and Heinz J Schmitt, MD (2001).Severe Complications of Varicella in Previously Healthy Children in Germany: A 1- Year Survey Pediatrics Vol.108 No.5 pp1-6
4 Quách Thị Hà Giang (2011), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sang và hiệu quả
điều trị bệnh thủy đậu bằng uống Acyclovir, Luận văn bác sỹ nội trú bệnh viện, Trường
Đại học Y Hà Nội
5 GowinE ,Wysocki J ,Michalak M (2013) Don’t forget how Severe varicella can be – Complication, pp 485-489
6 Guess H.A., Broughton D.D., Melton L.J and Kurland L.T (1986) Population- Based Studies of Varicella Complications Pediatrics;78(suppl):723-727
7 Guldane Koturoglu, Zafer Kurugol, Nuran Cetin, Murat Hizarcloglu (2005) Complications of varicella in healthy children in Izmir, Turkey Pediatrics international, 47,296-299
8 Hiroshi Yamaguchi, Kiyoshi Nagumo, Daisuke Sasaki, Hayato Aoyagi, Hiroaki Kato, Yoshiaki Narita, Takuya Tamura, KiyotakaKosugiyama, Taiji Nakashima and Yohikazu Kinugawa.(2014) Official Journal of the Japan Pediatrics Society pp 618-621
9 Judith H Wolleswinkel- van den Bosch, Anouk M Speets, Hans C Rumke, Pearl D Gumbs and Sander C Fortanier.(2011) The burden of varicella from a parents perspective and its societal impact in The Netherlands: an Internet survey BMC Infectious Diseases,11:320.pp1-9
10 Rafila A, Pitigoi D, Arama A , Stanescu A et al ( 2014) The clinical and epidemiological evolution of varicella in Romania during 2004 and 2013
11 Sophie Blumental, Martine Sabbe, and Philippe Lepage, the Belgian Group for Varicella (2016) Varicella paediatrichospitalisations in Belgium : a 1- year national survey Arch Dis Child, 101(1) pp16-22
12 Sophie ChienHui Wen, Fiona Miles, Brent McSharry and Elizabeth Wilson (2013) Varicella in a Paediatric Intensive Care Unit: 10-year review from Starship Childrens hospital, New Zeland Journal of Paediatrics and Child Health, pp 280-285
13 Stephen R Preblud, MD (1981) Age- Specific Risks of Varicella Complications Pediatrics Vol 68 No 1 July.pp 14-17
14 Trần Văn Tiến và cộng sự (2013) Nghiên cứu tình hình và đặc điểm lâm sàng của bệnh thủy đậu tại bệnh viện Da liễu Trung ương Y học Việt nam, tháng 5- số 2/2013.tr 5-8
15 Nguyễn Văn Thường (2017), “Bệnh học da liễu, tập 2”, NXB Y học, tr 86-87.
(Ngày nhận bài:05 /03/2018 - ngày duyệt đăng: 12/05/2018)