1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tl tâm lý học tuyên truyền ý nghĩa của việc nắm vững đặc điểm tâm lý công nhân hiện nay trong công tác tuyên truyền

26 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý nghĩa của việc nắm vững đặc điểm tâm lý công nhân hiện nay trong công tác tuyên truyền
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 38,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Sau 30 năm đổi mới, giai cấp công nhân nước ta có sự phát triển rất nhanh cả về số lượng và chất lượng, vị trí và vai trò của giai cấp công nhân được khẳng định Hàng[.]

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau 30 năm đổi mới, giai cấp công nhân nước ta có sự phát triển rấtnhanh cả về số lượng và chất lượng, vị trí và vai trò của giai cấp công nhânđược khẳng định Hàng năm đóng góp của giai cấp công nhân Việt Nam lêntới 60% tổng sản phẩm trong nước và 70% ngân sách nhà nước Tuy vậy,trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc

tế ngày càng sâu rộng hiện nay, giai cấp công nhân nước ta còn nhiều hạnchế, yếu kém Thực tế đó đặt ra nhiệm vụ quan trọng là phát triển giai cấpcông nhân Về điều này, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Quan tâmgiáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng vàchất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹnăng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động của công nhân”

Hiện nay,không ít công nhân còn chưa nhận thức đầy đủ về sứ mệnhlịch sử của giai cấp mình; ý chí phấn đấu, ý thức tổ chức kỷ luật, tính tiênphong gương mẫu của một bộ phận công nhân giảm sút Chủ nghĩa cá nhân,thực dụng, cơ hội có điều kiện phát triển nhanh chóng Một bộ phận côngnhân trẻ còn bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn xã hội, sống buông thả, phai nhạt lýtưởng, suy thoái về đạo đức, lối sống, xa rời bản chất tốt đẹp của giai cấpcông nhân, gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp và hình ảnh người công nhânViệt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế

Nhiều công nhân coi công việc tại nhà máy, xí nghiệp như là một cáchmưu sinh, chưa coi đó là một nghề nghiệp, là sự nghiệp của bản thân Không

ít công nhân quan niệm làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài là đi làm thuê nên chỉ chú trọng làm trọn phận sự, ít quan tâm đến cácvấn đề chính trị, xã hội Dẫn đến “một bộ phận công nhân chưa thiết tha phấnđấu vào Đảng và tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội”

Trang 2

Công nhân đóng một vai trò to lớn là lực lượng nòng cốt trong việc xâydựng và phát triển đất nước Ta cần quan tâm đặc biệt phát triển giai cấp côngnhân để có thể phát triển được thì ta cần phải hiểu rõ được những thực trạngtình hình về giai cấp công nhân , cũng như đi sâu vào làm rõ phân tích các đặcđiểm tâm lý của công nhân hiện nay ; hiểu được ý nghĩa của việc nắm vữngđặc điểm tâm lý công nhân hiện nay trong công tác tuyên truyền Với những lí

do trên, em đã chọn đề tài: “Ý nghĩa của việc nắm vững đặc điểm tâm lý côngnhân hiện nay trong công tác tuyên truyền.” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích

Tiểu luận nghiên cứu để đưa ra những đặc điểm tâm lý đặc trưng củacông nhân Việt Nam hiện nay Từ đó đưa ra những kinh nghiệm để việc tuyêntruyền cho công nhân dễ dàng hơn

- Nhiệm vụ

Tiểu luận làm rõ một số thông tin về tâm lý học tuyên truyền và đi vàophân tích đặc điểm của công nhân Việt Nam hiện nay, cuối cùng nêu lên ýnghĩa của việc nắm vững đặc điểm của tâm lý nhân công nhân trong công táctuyên truyền

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: đặc điểm tâm lý của công nhân Việt Nam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: trong thời gian những năm gần đây dựa trên cáccông trình nghiên cứu, khảo sát của nhiều nhà nghiên cứu trước đó

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các phương pháp phân tích tài liệu văn bản, phương pháp phântích và tổng kết kinh nghiệm, phương pháp quan sát, phương pháp điều tra

5 Kết cấu

Trang 3

Tiểu luận gồm có 3 chương:

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÂM

LÝ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CÔNG NHÂN Ở NƯỚC TAHIỆN NAY

CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA CỦA VIỆC NẮM VỮNG ĐẶC ĐIỂM TÂM

LÝ CÔNG NHÂN HIỆN NAY TRONG HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÂM LÝ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

1.1 Một số khái niệm về tâm lý học tuyên truyền

*Tâm lý học

Sở dĩ nói tâm lý học là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu và

có phương pháp luận nghiên cứu đặc thù riêng

Tâm lý học là khoa học nghiên cứu các hiện tượng tâm lý Nó nghiêncứu các quy luật nảy sinh vận hành và phát triển của các hiện tượng tâm lýtrong hoạt động đa dạng diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của mỗi conngười Sự ra đời của tâm lý học với tư cách là một khoa học độc lập là kết quảphát triển lâu dài của những tư tưởng triết học, những quan điểm tâm lý họctrong trường kỳ lịch sử và phát triển của nhiều lĩnh vực khoa học khác

*Tâm lý học tuyên truyền

Trước tiên ta cần định nghĩa thế nào là tuyên truyền:

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Tuyên truyền là đem mộtviệc gì đó nói cho dân hiểu dân nhớ, dân theo, dân làm”

Theo từ điển Tiếng Việt thì tuyên truyền là “ giải thích rộng rãi đểthuyết phục, vận động mọi người làm theo”

Dưới góc nhìn của tâm lý học ta có thể khái quát tâm lý học tuyêntruyền là một khoa học nghiên cứu sự xuất hiện và vận hành của các hiệntượng các trạng thái, các quy luật tâm lý và ảnh hưởng của chúng đến hiệu

quả tuyên truyền

1.2 Khái niệm giai cấp công nhân (giai cấp vô sản):

Cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, giai cấp công nhân là con đẻ của

Trang 5

luôn phát triển với những biểu hiện và đặc trưng mới trong từng giai đoạnnhất định.

Dưới chủ nghĩa tư bản, C Mác và Ph Ăngghen đã định nghĩa rằng,

“Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất hết tưliệu sản xuất của bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình để sống”

Dù giai cấp công nhân có bao gồm những công nhân làm những côngviệc khác nhau như thế nào đi nữa, thì theo C Mác và Ph Ăngghen, họ vẫnchỉ có hai tiêu chí cơ bản để xác định, phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xãhội khác

- Một là, về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là nhữngngười lao động trong nền sản xuất công nghiệp Có thể họ là người lao độngtrực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệpngày càng hiện đại và xã hội hóa cao Đã là công nhân hiện đại thì phải gắnvới nền đại công nghiệp, bởi vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp Giaicấp công nhân hiện đại là hạt nhân, bộ phận cơ bản của mọi tầng lớp côngnhân

- Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng

ta phải xem xét trong hai trường hợp sau:

+ Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là những người

vô sản hiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sứclao động cho nhà tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột Chính căn cứvào tiêu chí này mà những người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi

là giai cấp vô sản

+ Sau cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giaicấp cầm quyền Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làmchủ những tư liệu sản xuất chủ yếu đã công hữu hóa Như vậy họ không còn

Trang 6

là những người vô sản như trước và sản phẩm thặng dư do họ tạo ra là nguồngốc cho sự giàu có và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa.

Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giaicấp công nhân như sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định,hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệphiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóangày càng cao, là lực lượng lao động cơ bản trực tiếp hoặc tham gia vào quátrình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội;đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thờiđại ngày nay

1.3 Sự hình thành và phát triển của giai cấp công nhân

a) Điều kiện kinh tế- xã hội

Vào cuối thế kỷ thứ XIX, sau khi cơ bản hoàn thành quá trình xâm lượcnước ta thực dân Pháp tiến hành thực hiện kế hoạch khai thác thuộc địa ở ViệtNam, dưới tác động của những cuộc khai thác thuộc địa giai cấp công nhân ởnước ta ra đời Công nhân là những nhân dân bị bần cùng hóa hình thành vàphát triển trên cơ sở kinh tế nghèo nàn, lạc hậu

Một bộ phận công nhân nhận thức và tư duy theo kiểu bao cấp: ỷ lại,thiếu sáng tạo, xâm phạm của công

Quá trình hình thành gắn với công nghệ trình độ lạc hậu , tác phôngcông nghiệp kém

b) Điều kiện làm việc và môi trường sống

· Điều kiện làm việc

Môi trường lao động độc hại

Nhìn chung, điều kiện làm việc của công nhân chưa được bảo đảm.Nhiều công nhân phải làm việc trong môi trường bị ô nhiễm nặng như nóng,

Trang 7

bụi, tiếng ồn, độ rung vượt tiêu chuẩn cho phép Điều đó đã tác động xấu đếnsức khoẻ người lao động, gây ra các bệnh nghề nghiệp.

Các loại thiết bị, máy móc cũ kỹ

Các cơ sở trang bị thêm đèn chiếu sáng, thiết bị che chắn, quạt thoángkhí, một mặt để phục vụ sản xuất, mặt khác để phục vụ cho chính bản thânsức khỏe và an toàn của người lao động còn hạn chế

Các loại máy móc thiết bị, công cụ sản xuất không đảm bảo có nhiều,

từ việc không có che chắn hoặc có che chắn nhưng không đảm bảo an toàn;máy móc cũ kỹ, hỏng ,rò rỉ; máy móc có công nghệ lạc hậu;máy móc không

có bảng hướng dẫn…

Trình độ khoa học công nghệ hạn chế

Trình độ học vấn của công nhân trong tất cả các khu vực kinh tế có xuhướng được nâng lên Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa và so với trình độ công nhân ở các nước trong khu vực vàthế giới tì trình độ học vấn của công nhân nước ta còn thấp Mặt khác, lựclượng công nhân có trình độ học vấn cao phân bố không đều, thường tậptrung ở một số thành phố lớn và một số ngành kinh tế mũi nhọn Do vậy khảnăng tiếp thu kiến thức về khoa học công nghệ còn hạn chế

Trình độ nghề nghiệp của công nhân được nâng cao nhưng nhìn chungchưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu laođộng kỹ thuật khá lớn Nhiều doanh nghiệp có thiết bị công nghệ cao nhưnglại thiếu công nhân lành nghề

Tai nạn lao động, tại nạn nghề nghiệp tăng lên

Do người sử dụng lao động thiếu quan tâm, đầu tư cải thiện điều kiệnlao động cũng như do người lao động ở đây là công nhân trình độ văn hóachưa cao, chưa có tác phong công nghiệp, không được huấn luyện về

Trang 8

ATVSLĐ nên tình hình tai nạn lao động diễn biến phức tạp và có xu hướnggia tăng.

Theo Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội thông báo năm 2018:

Số người bị thương nặng: 1.939 người (trong đó, khu vực có quan hệlao động: 1.684 người, tăng 0,18% so với năm 2017; khu vực người lao độnglàm việc không theo hợp động lao động: 255 người, tăng 8,97% so với năm2017);

- Số vụ TNLĐ có hai người bị nạn trở lên: 112 vụ (trong đó, khu vực cóquan hệ lao động: 76 vụ, tăng 8,57% so với năm 2017; khu vực người laođộng làm việc không theo hợp động lao động: 36 vụ, tăng 16% so với năm2017)

· Đời sống, việc làm của công nhân Việt Nam

Việc làm cho người lao động

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, giảipháp đầu tư phát triển sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động Tuynhiên, do quy mô nền kinh tế nhỏ, trình độ phát triển, sức cạnh tranh của nềnkinh tế nước ta còn yếu so với khu vực và thế giới nên tỷ lệ thất nghiệp còn ởmức cao Theo số liệu của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, năm 2009, cảnước có 83% số công nhân có việc làm thường xuyên ổn định, còn 12% việclàm không ổn định và 2,7% thường xuyên thiếu việc làm Chỉ có khoảng 21%doanh nghiệp ngoài nhà nước đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho côngnhân và trích nộp kinh phí công đoàn

Thu nhập của người lao động

Mức lương của người lao động hiện nay về cơ bản không đáp ứngđược nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của bản thân, chứ chưa nói đến việc tích lũyhay chăm lo cho con cái Nhà nước đã từng bước thực hiện lộ trình tănglương tối thiểu, thậm chí có quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với

Trang 9

người lao động làm ở các loại hình doanh nghiệp (Nghị định số CP) Tuy nhiên, mức tăng thường không theo kịp tốc độ tăng giá của thịtrường Chẳng hạn, năm 2010, tiền lương của người lao động trong các loạihình doanh nghiệp tăng 10,3% so với năm 2009 nhưng chỉ số giá sinh hoạttăng 11,75%, nên việc tăng lương không có tác dụng nhiều trong việc cảithiện đời sống công nhân, đặc biệt là công nhân ở các KCN, KCX Trong khi

70/2011/NĐ-đó, phần lớn các chủ doanh nghiệp vẫn đang lấy mức lương tối thiểu để trảlương cho người lao động, chưa thật sự quan tâm đến việc xây dựng thang,bảng lương Ngoài ra, các chủ doanh nghiệp còn bớt một phần lương củangười lao động chi cho các khoản phụ cấp như ăn trưa, tiền hỗ trợ đi lại,thưởng

Nhà ở của người lao động

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, hầu hết các tỉnh, thành phố lớn, cácKCN, KCX không xây nhà lưu trú cho công nhân Số người lao động trongcác KCN khoảng 1,6 triệu người, trong đó, chỉ có 20% số người có chỗ ở ổnđịnh(8) Đa số người lao động ngoại tỉnh làm việc tại các KCN đều phải thuênhà trọ, với điều kiện vệ sinh, môi trường không bảo đảm

Trong quy hoạch phát triển các KCN, KCX, phần lớn chưa tính tới nhucầu về chỗ ở, nhà trẻ, trường học cho gia đình người lao động Một số nơi xâynhà ở cho người lao động thì lại thiếu đồng bộ với việc xây dựng kết cấu hạtầng xã hội Do vậy, gây khó khăn không nhỏ đối với người lao động trongsinh hoạt, làm việc

Đời sống văn hóa của công nhân

Những năm gần đây, các doanh nghiệp đã từng bước đáp ứng nhu cầuvăn hóa tinh thần của người lao động Tuy nhiên, ở hầu hết các KCN, KCXchưa tạo ra những điều kiện bảo đảm sinh hoạt văn hóa cho công nhân Theokết quả điều tra xã hội học tại Bình Dương, có đến 71,8% công nhân không

có điều kiện để đến rạp chiếu phim, 88,2% không đi xem ca nhạc, 84,7%

Trang 10

không đi xem thi đấu thể thao, 95,3% chưa từng đến sinh hoạt tại các câu lạc

bộ, 91,8% không bao giờ đến các nhà văn hóa tham gia các hoạt động vuichơi giải trí, văn hóa tinh thần, 89% giải trí bằng tivi, 82,4% bằng nghe đài,chỉ có 1,2% sử dụng internet Nguyên nhân của tình trạng trên là do côngnhân không có thời gian, kinh phí và các KCN cũng không có cơ sở vật chất

để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần của họ

c) Ảnh hưởng của quá trình CNH-HĐH

Trong những năm đổi mới, GCCN nước ta đã có những bước phát triểntích cực, mạnh mẽ, đang tăng nhanh về số lượng, ngày càng đa dạng về cơcấu, đồng thời chất lượng đội ngũ được nâng lên, đã xuất hiện bộ phận côngnhân trí thức Cùng với các giai cấp, giai tầng xã hội khác trong khối đại đoànkết toàn dân tộc, GCCN đã có đóng góp to lớn vào quá trình phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước Cùng với sự phát triển một số ngành nghề chất lượngcủa đội ngũ công nhân cũng phát triển rõ rệt

Sự phát triển của giai cấp công nhân cũng chưa đáp ứng được yêu cầu

về số lượng, về cơ cấu và trình độ học vấn, về chuyên môn, kỹ năng nghềnghiệp cho sự nghiệp CNH, HÐH và hội nhập kinh tế quốc tế Chúng ta cầnđào tạo xây dựng đội ngũ chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi; công nhânlành nghề tác phong công nghiệp cao và kỷ luật lao động giỏi; cần có quản lývững vàng ; cần có đội ngũ kỹ sư giỏi, trình độ hiện đại

d) Sự phát triển và biến động của đội ngũ công nhân

Sự biến đổi về số lượng và cơ cấu

Trước đổi mới với nền kinh tế khép kín, vận hành theo cơ chế kế hoạchhoá tập trung, bao cấp, cơ cấu giai cấp công nhân nước ta tương đối thuầnnhất Cùng với quá trình đổi mới thì mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càngđược đẩy mạnh, đã tác động đến sự chuyển đổi thể chế và cơ cấu nền kinh tế.Quá trình đó tác động làm cho giai cấp công nhân nước ta có sự phát triển

Trang 11

nhanh về số lượng và đa dạng về cơ cấu Từ sự đa dạng về cơ cấu thành phần

và ngành nghề trong nền kinh tế thị trường, nó đang tạo nên sự đa dạng cơcấu xã hội giai cấp công nhân nước ta, mà ở đó vị thế, vai trò và lợi ích củamột bộ phận công nhân chưa được phát huy đầy đủ

Sự biến đổi về chất lượng

Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế Việt Nam đã tiếp nhậnnhững thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến của thế giới, đổi mới dâychuyền sản xuất hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hànghoá Theo đó, lẽ tất yếu - giai cấp công nhân - lực lượng vận hành dây chuyềnsản xuất ấy cũng phải có trình độ khoa học tương ứng Điều này đang làm chogiai cấp công nhân nước ta được nâng cao về trình độ học vấn, chuyên mônnghề nghiệp, hình thành tác phong và kỷ luật lao động hiện đại Tuy nhiên,mặt trái của hội nhập cũng chứa đựng những tác động khó lường làm giảmtính tích cực chính trị của một bộ phận công nhân, ảnh hưởng đến vai trò tiênphong của giai cấp công nhân nước ta

Sự biến đổi việc làm và đời

Hội nhập quốc tế các rào cản pháp lý về di chuyển pháp nhân, thể nhânđược nới lỏng, các quan hệ kinh tế, đối ngoại, lao động được thiết lập, tạođiều kiện cho lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, góp phần nângcao thu nhập, ổn định cuộc sống Ngược lại, cũng có những lao động nướcngoài đến Việt Nam làm việc Vì vậy, hội nhập sẽ tạo ra nhiều cơ hội việclàm, nâng cao thu nhập, đời sống giai cấp công nhân ngày càng được cảithiện, nhưng đồng thời cũng không ít khó khăn, thách thức đặt ra đối với côngnhân nước ta Những lao động trẻ, khỏe, trình độ cao có nhiều cơ hội việclàm, thu nhập cao; ngược lại, những lao động lớn tuổi, không có trình độ, taynghề thấp đứng trước nguy cơ thất nghiệp, làm cho sự phân hóa giàu nghèotrong nội bộ giai cấp công nhân ngày càng doãng ra

Trang 13

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CÔNG NHÂN Ở NƯỚC TA HIỆN

NAY 2.1 Một số đặc điểm về nhận thức của công nhân

- Ưu điểm:

Hiện nay, công nhân nước ta năng động trong công việc, nhanh chóngtiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại và đã bắt đầu hìnhthành ý thức về giá trị của bản thân thông qua lao động Vị thế giữa côngnhân lao động trong doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nướckhông còn cách biệt nhiều Tâm lý lấy lợi ích làm động lực là nét mới đangdần trở thành phổ biến trong công nhân Sự quan tâm hàng đầu của công nhân

là việc làm, thu nhập tương xứng với lao động Mong muốn có được sứckhoẻ, đất nước ổn định và phát triển, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộiđược bảo đảm, dân chủ, công bằng xã hội được thực hiện, doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh thuận lợi, có đủ việc làm Mong muốn được học tập, nângcao trình độ học vấn, chuyên môn, được bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp,chính đáng

Nhìn chung, công nhân Việt Nam rất thông minh, có khả năng sángtạo,nhạy cảm với cái mới,thích ứng và tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹthuật, cần cù, chịu khó, ham lao động, tiết kiệm, luôn say mê hứng thú vớinghề nghiệp, gắn bó với nhà máy, doanh nghiệp, có tinh thần trách nhiệm và

ý chí vươn lên; họ có tư duy năng động, linh hoạt và nhạy bén, có khả năngphát hiện vấn đề và xử lý được những tình huống phức tạp trong cuộc sống

Đa số công nhân Việt Nam là những người có ý thức chính trị cao, cóquan điểm và lập trường chính trị rõ ràng Họ luôn nhận thức được vai trò tiênphong, gương mẫu và sứ mệnh lịch sử của mình đối với dân tộc và đất nước

Ngày nay, giai cấp công nhân Việt Nam đang có sự biến đổi về chất.Trình độ văn hóa, tay nghề chuyên môn của công nhân ngày càng được nâng

Ngày đăng: 18/03/2023, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w