MỤC LỤC Mở đầu 1 Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH XUNG ĐỘT ĐỘT QUỐC TẾ 2 1 1 Khái niệm xung đột quốc tế 2 1 2 Nguyên nhân và phân loại xung đột quốc tế 3 Chương 2 PHÂN TÍCH XUNG ĐỘT NHẬT BẢN BẮT GI[.]
Trang 1MỤC LỤC
Mở đầu 1Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH XUNG ĐỘT ĐỘT QUỐCTẾ 21.1 Khái niệm xung đột quốc tế 21.2 Nguyên nhân và phân loại xung đột quốc tế 3Chương 2 PHÂN TÍCH XUNG ĐỘT NHẬT BẢN BẮT GIỮ TÀU CÁTRUNG QUỐC TẠI QUẦN ĐẢO SENKAKU THÁNG 9/2010 162.1 Khái quát xung đột biển đảo giữa Nhật Bản và Trung Quốc tại Quần đảoSenkaku 162.2 Phân tích xung đột Nhật Bản bắt giữ tàu cá Trung Quốc tại Quần đảoSenkaku tháng 9/2010 192.3 Quan điểm của các nước liên quan đến cuộc xung đột này 26Chương 3 BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TRONG XỬ LÝ TÌNH HUỐNGXUNG ĐỘT CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO 273.1 Các biện pháp hòa bình giải quyết xung đột chủ quyền biển đảo 273.2 Một số biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo ởkhu vực Biển Đông 29Danh mục tài liệu tham khảo 40
Trang 2Mở đầu
Quần đảo Senkaku (tiếng Nhật) hay còn có tên Điếu Ngư (tiếng Trung)
là nhóm đảo không có người ở do Nhật Bản quản lý nhưng bị Mỹ chiếm đóng
từ năm 1945 đến 1972 Sau đó, vào 20/5/1972 cả Nhật Bản và Trung Quốcđều thể hiện quan điểm của mình về chủ quyền tại quần đảo này lên Hội đồngBảo an Liên Hiệp Quốc, nhằm tìm kiếm sự tiếp quản quần đảo từ Hoa Kỳ
Có sự tranh chấp này bởi, việc sở hữu hòn đảo trên sẽ mang đến chocác quốc gia này những quyền lợi về khai thác dầu khí, khoáng sản và đánhbắt cá ở các vùng biển xung quanh Chưa kể, các hòn đảo thuộc quần đảo đều
có ý nghĩa trong Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật và quân đội Hoa Kỳ thể theohiệp ước sẽ bảo vệ những hòn đảo trên nếu có sự xâm lược
Theo đó, mối quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc tất yếu tụt dốc vàrơi xuống đáy vực sau sự kiện Nhật Bản quốc hữu hóa một hòn đảo thuộcquyền sở hữu tư nhân nằm trong quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển HoaĐông vào năm 2012 Mặc dù, căng thẳng Nhật – Trung thời gian gần đây códấu hiệu lắng dịu, nhưng tàu thuyền của quân đội và lực lượng hải cảnh hainước vẫn thường xuyên bám đuôi nhau khi hoạt động gần quần đảoSenkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông
Trong suốt quá trình diễn ra xung đột này, có một sự kiện nổi lên vớiđầy đủ tình huống xung đột quốc tế giúp chúng ta phân tích, vận dụng quytrình giải quyết vào trong các tình huống mang tính chất quốc tế sau này Đóchính là sự kiện Nhật Bản bắt giữ tàu cá Trung Quốc tại quần Đảo Senkakutháng 9/2010 Nhận thức được sức nóng của vấn đề cùng sự đúng đắn củaviệc vận dụng lý luận phân tích vào giải quyết tình huống xung đột Em xin
lựa chọn đề tài: “Phân tích xung đột Nhật Bản bắt giữ tàu cá Trung Quốc tại quần Đảo Senkaku tháng 9/2010” làm tiểu luận kết thúc môn học Quan
hệ quốc tế
Trang 4Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH XUNG ĐỘT ĐỘT QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm xung đột quốc tế
Xung đột là một trong những tính chất quan trọng của quan hệ quốc tế
Đó là một trong hai quá trình cơ bản của quan hệ quốc tế - xung đột và hợptác Trong quá trình hợp tác quốc tế có thể nảy sinh xung đột, và ngay trongkhi xung đột đến có thể có sự hợp tác nhất định Xung đột và hợp tác được coi
là những yếu Á quan trọng nhất của hoạt động quốc tế và nó quyết định sự ổnđịnh của hệ thống quốc tế Tuy nhiên, có nhiều cách hiểu khác nhau về xungđột quốc tế
Nhà nghiên cứu nổi tiếng của Mỹ L.Coser đã định nghĩa xung đột xã hội nói chung và xung đột quốc tế nói riêng là sự va chạm giữa các nhóm người về các giá trị, vai trò, quyền lực hoặc những nguồn lực, trong đó mỗi bên đều có gắng làm trung hoà, làm suy yếu hoặc triệt tiêu đối thủ của mình.
Ông cho rằng, xung đột mang tính khánh quan
Theo quan điểm của K.Boulding, xung đột quốc tế là tình huống cạnhtranh, khi mỗi bên đều nhận thức được sự không hoà đồng các quan điểm vàđều cố gắng giữ quan điểm không hoà đồng với phía bên kia Nói cách khác
đi, đó là sự đối lập về lợi ích mà các bên tham gia quan hệ quốc tế không thểcùng thực hiện được do tính chất khách quan của chúng
Ngược lại, theo quan điểm của J.Burton, xung đột quốc tế thường mang
tính chủ quan Xung đột dường như được gắn liền với sự mâu thuẫn khách quan về lợi ích Xung đột đó có thể có những kết quả tích cực cho cả hai phía nếu họ biết “đánh giá lại” và cùng nhau hợp tác trên cơ sở sử dụng chung những tài nguyên đang tranh chấp
Hiện nay các nhà nghiên cứu đang cố gắng kết hợp ưu thế của các cáchnhìn nhận về xung đột quốc tế thuộc các trường phái khác nhau để đưa ra mộtkhái niệm mang tính tổng quát Có thể đồng ý với quan điểm của nhà nghiên
Trang 5cứu Ted Robert Gurr khi Pug định nghĩa về xung đột quốc tế: đó là sự tương tác có tính cưỡng bức, được hiện rõ giữa các cộng đồng đối kháng với nhau.
Đây là định nghĩa tương đối động để có thể bao quát tất cả tất cả các mối đedọa lớn nhỏ giữa các quốc gia và các cộng đồng trên thế giới
Ông đồng thời cũng đưa ra 4 đặc trưng cơ bản của xung đột quốc tế:
1) Có hai hoặc nhiều bên tham gia
2) Họ bị lôi cuốn vào các hoạt động đối kháng
3) Họ có những hành động cưỡng bức nhằm làm tổn hại, gián đoạn, tiêu diệt hoặc điều khiển theo cách khác đối thủ
4) Sự tương tác (hay mối quan hệ đó) của họ được biểu lộ, rằng do vậy những người ngoài dễ dàng nhận thấy sự xuất hiện của nó
Nhìn nhận dưới góc độ này, xung đột quốc tế có thể biểu hiện rất nhưbạo động chính trị, khởi nghĩa, cách mạng và chiến tranh giữa các dân, haycác hình thức như đe doạ, cấm vận và các hình thức đối đầu khác có thể dễđến cuộc chiến tranh trực tiếp
1.2 Nguyên nhân và phân loại xung đột quốc tế
1.2.1 Nguyên nhân gây xung đột quốc tế
Xung đột nói chung và xung đột quốc tế nói riêng gắn liền với chế độ
tự hữu vì nó là phương tiện tồn tại và phát triển của chế độ tư hữu Một khichế độ tư hữu về tư liệu sản xuất còn tồn tại thì xung đột vẫn còn nguy cơ xảy
ra Bên cạnh nguồn gốc sâu xa đó, xung đột quốc tế vẫn thường xuyên diễn ra
vì những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chúng hết sức phức tạp và khó giải
quyết Có thể chia nguyên nhân dẫn đến xung đột quốc tế làm hai nhóm nguyên nhân bên ngoài và nguyên nhân bên trong
-a) Nguyên nhân bên ngoài
Nguyên nhân bên ngoài liên quan đến cấu trúc hệ thống chính trị thếgiới, bối cảnh quốc tế và khu vực cũng như những vấn đề nảy sinh trong quátrình quan hệ giữa các quốc gia, các chủ thể của quan hệ quốc tế
Trang 6Nguyên nhân bên ngoài dẫn đến xung đột quốc tế trước hết xuất phát từ
đặc điểm cấu trúc hệ thống chính trị thế giới, bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay Đa số các cuộc xung đột quốc tế hiện nay đều liên quan đến sự thay
đổi trật tự thế giới, sự phân bố lực lượng và các trung tâm quyền lực trên thếgiới Năm 1991 với sự tan rã của Liên Xô trật tự thế giới hai cực chấm dứt.Thế giới bước vào giai đoạn mới - giai đoạn hình thành trật tự thế giới mới.Tham vọng của Mỹ muốn thiết lập một trật tự thế giới một cực do mình lãnhđạo đang vấp phải sự phản ứng quyết liệt của các nước, nhất là các nước cómong muốn thiết lập trật tự thế giới đa cực Quá trình hình thành trật tự thếgiới mới luôn đi kèm với quá trình chia tách và tập hợp lực lượng Nhiều liênkết bị tan rã hoặc thay đổi hình thức hoạt động, đồng thời nhiều liên kết mớiđược hình thành Sự tan rã của Liên bang Nam Tư, sự thành lập các quốc giamới, sự mở rộng Liên minh Châu Âu, mở rộng phạm vi hoạt động củaNATO, sự ra đời liên minh an ninh, phòng thủ tập thể của các nước trongkhông gian Liên Xô trước đây, sự ra đời Tổ chức hợp tác Thượng Hải, sựcủng cố ASEAN với sự kiện quan trọng gần đây là việc thông qua lênChương ASEAN à những bằng chứng cho quá trình này Tuy nhiên, quátrình này cũng luôn đi kèm với những bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên vànhiều trường hợp kết thúc bằng các cuộc xung đột trên thế giới Điều nàyđược thể hiện qua sự chia rẽ giữa các nước liên quan đến cuộc chiến tranh ởIrắc, những bất đồng xoay quanh chương trình hạt nhân của Iran, việc triểnkhai chương trình phòng thủ tên lửa của Mỹ ở Châu Âu
Bên cạnh đó, quá trình hình thành trật tự thế giới mới cũng là dịp đểcác quốc gia nhìn nhận, xem xét, đánh giá lại vị trí, vai trò của mình trong hệthống thế giới và trong khu vực Việc cạnh tranh ảnh hưởng giữa Trung Quốc
và Nhật Bản, việc nhóm các nước Nhật Bản, Ấn Độ, Đức, Brazil vận độngthay đổi cơ cấu của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc thể hiện mong muốnthay đổi vị trí của mình trên thế thế giới và khu vực Các nhà nghiên cứu quan
hệ quốc tế đã chứng minh rằng, khi có sự mất cân bằng các chuẩn mực để
Trang 7xem xét vị trí của một quốc gia trong hệ thống chính trị quốc tế, khi một quốcgia có thể có vị trí cao trong hệ thống chuẩn mực này, nhưng lại có vị trí yếuhơn hoặc thấp hơn trong hệ thống chuẩn mực khác cũng là lúc xung đột quốc
tế có thể xảy ra Nguyên nhân của xung đột quốc tế cũng xuất phát từ sự mấtcân bằng cấu trúc trong hệ thống thế giới, do sự xuất hiện của các quốc giamuốn thay đổi” Sức mạnh của các quốc gia này lớn mạnh lên đến mức gầnbằng các cường quốc có vai trò chủ đạo trên thế giới, tuy nhiên ảnh hưởngchính trị của họ lại bị hạn chế Ngoài ra, đối với các quốc gia vừa và nhỏ, bốicảnh dễ xảy ra xung đột nhất là khi sụp đổ hoặc có sự biến đổi lớn trongtương quan lực lượng quốc tế Trong các trường hợp đó, các quốc gia này bịmất sự định vị rõ rằng về vị trí của mình trong cấu trúc quan hệ quốc tế, trongviệc xác định các định hướng quan hệ, tập hợp lực lượng quốc tế và có xuhướng kết thúc sự tình trạng đó Đây là ngòi nổ cho các cuộc xung đột quốc
tế Tiêu biểu là trường hợp của Ucraina, Grudia và một số nước Đông Âutrong quan hệ giữa Nga và Mỹ
b) Nguyên nhân bên trong
Nguyên nhân bên trong là những nguyên nhân xuất hiện trong đời sốngchính trị của mỗi quốc gia
Xung đột quốc tế còn do các nguyên nhân nảy sinh trong quá trình hoạtđộng giữa các chủ thể của quan hệ quốc tế, trước hết là giữa các quốc gia, cáccộng đồng dân tộc, tôn giáo Trong đó có những nguyên nhân cơ bản như:
- Nguyên nhân lãnh thổ: biểu hiện qua các tranh cãi về biên giới, lãnh
thổ; các cuộc xâm chiếm lãnh thổ Đó là cuộc chiến tranh do Mỹ phát động ởIrắc, cuộc xung đột giữa Ixraen và Paletxtin, Ân Độ và Pakistan (vùngKasimia), Nhật Bản và Hàn Quốc ( đào Đốc Đô ), tranh chấp chủ quyền cácđào ở Biển Đông Đây là nguyên nhân phổ biến và khó giải quyết nhất hiệnnay trên thế giới, bởi lãnh thổ, biên giới quốc gia liên quan đến không giansinh tồn và phát triển của đất nước và là yếu tố quan trọng nhất đối với mọi
Trang 8quốc gia , với mọi quốc gia Đó cũng là lịch sử lâu dài, phức tạp trong quan
hệ giữa các nước, các cộng đồng dân tộc
- Nguyên nhân chính trị: biểu hiện qua các cuộc xung đột liên quan đến
ở sự khác biệt về hệ tư tưởng qua sự hỗ trợ, can thiệp trực tiếp hay gián tiếpvào công việc nội bộ của nước khác, phá hoại, xuyên tạc tình hình của cácnước khác; ủng hộ, giúp đỡ các nhóm đối lập; tiến hành lật đổ chính quyền,xây dựng các chính phủ bù nhìn Sự chống phá của các thế lực thù địch đốivới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và các nước XHCN, cáccuộc cách mạng sắc mầu, các cuộc bạo loạn, đảo chính chính trị là những dẫnchứng tiêu biểu cho các xung đột có nguyên nhân chính trị
- Nguyên nhân tôn giáo: thể hiện qua sự xung đột giữa các cộng đồng
tôn giáo; sự va chạm giữa các giá trị tôn giáo; theo dõi vì tín ngưỡng, phânbiệt, ngược đãi tín ngưỡng Tiêu biểu là xung đột giữa các nhóm Đạo Hồi ởIrắc, giữa các nước Ả Rập (Hồi giáo) và Ixraen (Do thái giáo), xung đột ởmiền nam Thái Lan (Đại Hồi - Đạo Phật), Phillipin (Đạo Hồi – Thiên Chúagiáo), xung đột quốc tế liên quan đến việc đăng tải các bức biếm họa Đấngtiên tri Mohamét trên báo chí Châu Âu Ngoài ra, nhiều tổ chức vũ trang,khủng bố hiện nay đang có xu hướng núp bóng dưới vỏ bọc tôn giáo, lợi dụngcác vấn đề tôn giáo để thực hiện các hoạt động của mình Các cuộc xung độttôn giáo cũng rất phức tạp và khó giải quyết do liên quan đến các chuẩn mựcgiá trị, đạo đức của các cộng đồng dân tộc, có lịch sử lâu dài và thường liênquan đến nhiều quốc gia, ở các khu vực khác nhau trên thế giới
- Nguyên nhân kinh tế: biểu hiện qua sự bao vây, cấm vận thương mại
phong toả hàng hoá; thiết lập hàng rào thuế quan, bảo hộ hàng hóa; độc quyềnsản xuất, phương pháp bán hàng Đó là sự bao vây, cấm vận của Mỹ đối với
Cu Ba, Bắc Triều Tiên, các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Lybia,Iran Các cuộc xung đột này cũng thường xuyên xảy ra giữa các trung tâmkinh tế, thương mại thế giới như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc
Trang 9- Nguyên nhân tài nguyên: môi trường biểu hiện qua việc tranh chấp
nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là nguồn lợi hải sản, khai thác dầu lửa, khíđốt thềm lục địa; gây ô nhiễm nguồn nước, xây dựng cầu cống, đập thủy lợi,thủy điện trên các dòng sông; gây ô nhiễm không khí, nạn khói mù; áp dụngcác tiêu chuẩn môi trường khắt khe nhằm vào các hàng hóa nhập khẩu…
Xung đột quốc tế còn có các nguyên nhân và điều kiện phát triển từ ngày trong lòng mỗi quốc gia Các cuộc xung đột này có nguyên nhân bên
trong nhưng sớm hay muộn đều bị quốc tế hóa với sự tham gia, can thiệp trựctiếp hay gián tiếp của các nhân tố quốc tế Trong số các yếu tố trong nước dẫnđến xung đột, đặc biệt cần chú ý đến:
- Sự tồn tại trong mỗi lòng mỗi quốc gia những nhóm dân tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ có sự phân chia ranh giới hành chính tương đối rõ ràng Điều
này thường xảy ra ở các nước theo thể chế liên bang, ở các nước cho phépthành lập các vùng dân tộc tự trị hoặc ở các nước có việc phân chia biên giớihành chính dựa vào các nguyên tắc lãnh thổ dân tộc hoặc ngôn ngữ, tínngưỡng Đó là các trường hợp như nước cộng hòa Checnia (Liên bang Nga),Côxôvô (Sécbia), vùng Quecbec (Canada), vùng Tân Cương (Trung Quốc)
- Sự chênh lệch phát triển giữa các địa phương kết hợp với sự tập trung cao độ ở trung ương Trong đất nước có những vùng khác nhau về tín
ngưỡng, văn hoá, dân tộc, kết hợp với sự phát triển quá chênh lệch nhau dễdẫn đến hậu quả dân chúng ở vùng đó mất đi cảm giác “quốc gia thuần nhất”.Thay thế vào đó chỉ còn cảm giác dân tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ thuần nhất.Những điều này là điều kiện lý tưởng cho sự xuất hiện và phát triển các tưtưởng, các tổ chức chia rẽ, ly khai
- Trong đất nước có sự thay đổi chính trị, kinh tế lớn, dẫn đến sự ra đờicủa các thế lực chính trị, kinh tế mới Trong nhiều trường hợp, sự xuất hiệncủa các thế lực này dẫn đến những bất ổn trong đời sống chính trị, kinh tế cácnước do xu hướng muốn bảo vệ quyền lợi hoặc muốn tạo ra sự thay đổi có lợi
Trang 10cho mình Sự bất ổn về chính trị, kinh tế lại là điều kiện tốt cho các mâu thuẫntrở nên sâu sắc và phát triển thành các xung đột lớn
- Sự yếu kém của bộ máy chính quyền, sự kém phát triển của văn hóahòa giải trong xã hội, của cơ cấu dân chủ có vai trò đảm bảo sự điều phối vàgiải quyết các tình huống mâu thuẫn, xung đột Đặc biệt là sự yếu kém của hệthống luật pháp của cơ cấu trung gian, hòa giải không giải quyết được cácmâu thuẫn, xung đột khi nó mới xuất hiện Mỗi cuộc xung đột quốc tế đều cónhững nguyên nhân của mình Đó có thể chỉ là một vài trong số các nguyênnhân vừa nêu, nhưng cũng có thể là sự kết hợp của rất nhiều nguyên nhânkhác nhau Khi càng có nhiều nguyên nhân xuất hiện cùng lúc, tính chất phứctạp của xung đột càng tăng lên và việc giải quyết xung đột cũng trở nên khókhăn hơn Trong cách nhìn nhận này, mỗi cuộc xung đột, mỗi tình huốngxung đột đều rất điển hình và không lặp lại Việc chỉ ra những nguyên nhânxung đột là điều kiện đầu tiên để đi tới giải quyết các cuộc xung đột hiện nay
Và quan trọng hơn là phòng chống, ngăn chặn và giải quyết kịp thời các xungđột khi nó mới bắt đầu xuất hiện
1.2.2 Phân loại xung đột quốc tế
Sự phân loại xung đột quốc tế là hết sức cần thiết vì bên cạnh việc tìmhiểu nguyên nhân của xung đột, sự phân loại giúp hiểu đúng đắn hơn và chophép tìm ra các phương pháp giải quyết cho mỗi cuộc xung đột cụ thể Dựatrên các cách tiếp cận và tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại xung độtquốc tế
Nhà nghiên cứu Daniel S.Papp phân xung đột quốc tế làm hai nhómtheo cách tiếp cận: cách tiếp cận truyền thống và cách tiếp cận Marxist
1) Theo cách tiếp cận truyền thống, xung đột quốc tế được chia thành:khủng hoảng quốc tế; xung đột cường độ thấp; khủng bố; nội chiến và cáchmạng; chiến tranh thế giới
2) Cách tiếp cận Marxist phân loại xung đột quốc tế thành: chiến tranhthế giới giữa các hệ thống xã hội (CNXH - CNTB); chiến tranh bảo vệ Tổ
Trang 11quốc XHCN; nội chiến; chiến tranh giải phóng dân tộc; chiến tranh giữa cácnhà nước tư bản
Cách phân loại vừa nêu trên của D.S.Papp rất phù hợp với tình hình thếgiới trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến thế giới và trong giai đoạn chiếntranh lạnh, khi sự đối đầu giữa hai cường quốc, hai hệ thống thế giới đang làtiêu điểm trong quan hệ quốc tế Tuy nhiên, do sự thay đổi của hệ thống thếgiới hiện nay, cách nhìn nhận trên không còn phù hợp với thực tiễn
Theo cách phân tích của Donald M.Snow xung đột quốc tế có thể chiathành: 1) nội chiến (bao gồm cả đảo chính, xung đột mức độ thấp và nội chiếntheo kiểu mới); 2) xung đột khu vực; 3) khủng bố
Đáng chú ý là cách xác định thuật ngữ khủng bố của D.M.Snow Theoông, khủng bố có những đặc điểm sau:
1) Khủng bố thường đi kèm theo những hành động tội phạm nhằm đạtmục tiêu chính trị
2) Các hành động khủng bố về bản chất thường là sự lựa chọn ngẫuhứng
3) Các tổ chức khủng bố muốn gây ảnh hưởng đến chính quyền, nhưngkhông có ý định cướp chính quyền
4) Khủng bố là chiến thuận của kẻ yếu
5) Khủng bố có thể được tài trợ bởi chính quyền, các cá nhân hay tổchức tư nhân
6) Nguyên nhân dẫn đến hành động khủng bố có thể khác nhau Có hainhóm nguyên nhân hay được nhắc tới: Thứ nhất, khủng bố xuất hiện donhững điều kiện không thuận lợi về xã hội, kinh tế, chính trị; Thứ hai, khủng
bố có mối quan hệ khăng khít với những đặc điểm về văn hoá, tôn giáo, hệ tưtưởng chính trị
Đây là hai cách phân loại xung đột quốc tế phổ biến nhất trong thời kỳchiến tranh lạnh và sau chiến tranh lạnh Ngoài những cách phân loại trên, tùy
Trang 12thuộc vào mục đích và đối tượng nghiên cứu mà các học giả đưa ra các tiêuchí khác nhau để phân loại.
1.3 Các tiêu chí phân tích xung đột quốc tế
Để phân tích bất kỳ cuộc xung đột nào, cần thiết phải có sơ đồ phântích cuộc xung đột đó Sơ đồ này cần cần phải đáp ứng một số các điều kiện:
- Có khả năng xác định các các đặc trưng cơ bản của cuộc xung đột
- Cho phép tiến hành phân loại xung đột để phân tích một cách chíncuộc xung đột đó thuộc loại nào, lĩnh vực nào, có những dạng mâu thuẫn nàotiến hành so sánh với những cuộc xung đột đã từng xảy ra, tìm ra những điểmchung và riêng
- Mô tả được tiến trình của cuộc xung đột, sự phát sinh, diễn biến, tốc
1.3.1 Thành phần tham gia xung đột
Yếu tố thứ nhất này đòi hỏi phải xác định số lượng, các đặc điểm, lợi ích của các bên tham gia xung đột
Dưới góc độ phân tích thành phần tham gia xung đột, cuộc xung độtquốc tế đơn giản và điển hình nhất là cuộc xung đột giữa hai quốc gia với sựtham gia của toàn bộ cơ cấu chính thức của nhà nước: tổng thống, quốc hội,ngoại giao, lực lượng vũ trang, các chính đảng Đây là cuộc xung đột quốc tếđơn giản nhất với sự tham gia chỉ hai quốc gia Tuy nhiên trong thực tế, trongnội bộ mỗi quốc gia lại có sự khác nhau về quan điểm (giữa các đảng phái),khác nhau về chức năng hoặc cách tiếp cận vấn đề (như giữa bộ ngoại giao và
Trang 13bộ quốc phòng), khác nhau về các đặc điểm của các thành phần tham gia xungđột trong nội bộ mỗi nước
Các cuộc xung đột quốc tế hiện nay thông thường có sự tham gia củanhiều thành phần, do vậy tính chất, diễn biến phức tạp hơn rất nhiều Cácthành phần tham gia xung đột có thể là:
- Quốc gia, nhóm các quốc gia hoặc liên minh không chính thức giữacác quốc gia
- Các thành viên độc lập của các tổ chức hoặc các khối quốc tế
- Các cơ cấu chính thức hoặc không chính thức như các phong trào, các
tổ chức công khai hoặc bí mật, các tổ chức ly khai, khủng bố, tội phạm
Việc xác định số lượng thành phần tham gia xung đột là hết sức cầnthiết Sau khi đã biết các thành phần tham gia xung đột, cần xác định tiếp cácthành phân khúc có liên quan đến xung đột Chẳng hạn, có lực lượng nàođứng sau các thành phân trực tiếp tham gia hay không, nguồn gốc và hoạtđộng của các thành phần tham gia trực tiếp có độc lập hay không, hay chúngcũng chỉ được tạo ra bởi các cường quốc khác và bản thân không có nguồn hỗtrợ độc lập nào
Bên cạnh những điều vừa nêu trên, một vấn đề hết sức quan trọng làcần xác định chính xác các đặc điểm của thành phần tham gia xung đột, chẳnghạn tính pháp lý các bên, quyền hạn và giới hạn thẩm quyền của họ đến đâu
Và cuối cùng là làm rõ hệ thông lợi ích của các bên tham gia xung đột Chỉkhi biết được hệ thống lợi ích của các bên xung đột mới có thể xác định đượccác bước tiếp theo như khả năng xoa dịu sự xung đột, ôn định sự xung đột,các vấn đề cần và có thể đàm phán
Trong môi trường hợp xung đột cần xác định sự thu hút các thành phầntham gia, lợi ích của mỗi bên và khả năng, triển vọng của họ
1.3.2 Cơ cấu xung đột
Đây được coi là phân trọng tâm trong phân tích mọi cuộc xung đột.Phần này đòi hỏi cần phải chỉ ra nội dung bên trong của các cuộc xung đột,
Trang 14tức là làm rõ những gì đã và đang nằm trong trung tâm cuộc xung đột, hệthống các lợi ích và quan điểm của các bên, sự tác động giữa chúng, những gìlàm họ chia rẽ hoặc ngược lại, có thể giúp họ xích lại gần nhau Cần làm rõnhững nội dung:
- Nguyên nhân xung đột, khởi điểm, đặc trưng và quy mô xung đột
- Phương tiện, phương pháp sử dụng trong xung đột
- Mâu thuẫn giữa các bên, mức độ gay gắt của nó, mối quan hệ giữa cácloại lợi ích của họ
1.3.3 Quá trình diễn biến xung đột
Diễn biến xung đột bao gồm quá trình nảy sinh mâu thuẫn, phát triển,kịch phát và ổn định xung đột
Xung đột có thể bắt đầu từ khi mâu thuẫn được bộc phát Ngày nay bêncạnh các xung đột giữa các quốc gia, sự hạn chế lợi ích của một nhóm xã hộihoặc sắc tộc nào đó cũng có thể là nguồn gốc cho xung đột Nếu như trướcđây những xung đột như vậy được coi là công việc nội bộ của một quốc giathì ngày nay thường kéo theo sự tham gia của các quốc gia khác và sự thamgia tích cực của các tổ chức quốc tế
Diễn biến xung đột thường biểu hiện qua hai quá trình đấu tranh vũtrang và đồng thời với nó là quá trình ngoại giao tích cực nhằm ổn định xungđột, giải quyết các vấn đề của xung đột và tạo ra một mạng lưới lợi ích xungquanh xung đột
Giai đoạn kịch phát xung đột có ý nghĩa rất quan trọng trong xung độtquốc tế vì nó hay phát sinh ra khủng hoảng quốc tế với sự tham gia của cáccường quốc và các tổ chức quốc tế lớn như Liên hợp quốc, Liên minh Châu
Âu Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, những xung đột như vậy lập tức trở thànhmột bộ phận của tình trạng đối kháng giữa hai cực của thế giới Xô - Mỹ nhưxung đột ở đảo Síp giữa Hy lan và Thổ nhĩ kỳ, xung đột ở Trung Đông…
Giai đoạn ổn định xung đột cũng rất quan trọng Nó đánh dấu sự chấmdứt xung đột hoặc sự chuyển tiếp từ kịch phát sang giai đoạn ổn định xung
Trang 15đột Trong giai đoạn này điềm đụng độ giữa các bên xung đột được xác địnhvới sự tham gia hoặc không tham gia của lực lượng bên ngoài.
1.3.4 Chiến lược các bên xung đột
Đây là vấn đề quan trọng nhất, nó phản ánh rõ nét mục tiêu, lợi ích, lối
tư duy, phương pháp đạt mục đích và tổ chức quá trình chính trị, cách tiếp cậnđối với vấn đề sử dụng sức mạnh, dàm phán cùng nhiều vấn đề khác Chiếnlược của các bên xung đột được hình thành trong điều kiện có tác động qua lạivới môi trường chính trị bên ngoài, đặc biệt là chiến lược của các cường quốc
Sự tác động về chiến lược của các bên xung đột với các cường quốc bên ngoài
là sự tác động hai chiều, tức là khi xung đột cục bộ, khu vực có thể leo thangthành xung đột quốc tế khi chiến lược của các bên trực tiếp tham gia xung độtđược kết hợp với chiến lược của các cường quốc đang đối địch nhau Ví dụtiêu biểu là xung đột giữa các phe phái ở Afganistan đã leo thang thành xungđột với sự tham gia trực tiếp của Liên Xô và sự hậu thuẫn của Mỹ với các lựclượng đối địch nhau ở Afganistan Bên cạnh đó, các cường quốc cũng có khảnăng dùng ảnh hưởng của mình để gây sức ép, đe doạ, răn đe buộc các bêntham gia xung đột cục bộ hoặc khu vực thay đổi chiến lược của mình Ví dụnhư vai trò của các cường quốc Mỹ, Trung quốc, Nga, Nhật trong giải quyếtxung đột về phát triển vũ khí hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên
1.3.5 Kết quả xung đột
Kết quả xung đột không phải lúc nào cũng được quyết định bởi tươngquan lực lượng về quân sự và tiềm lực kinh tế của các bên tham gia xung đột,cũng như mong muốn, quyết tâm sử dụng sức mạnh quân sự hay ý chí của cácnhà lãnh đạo Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, cuộc chiến tranh củaLiên Xô ở Afganistan đã chứng minh cho điều này Trong chiến tranh lạnh,các điều kiện trên trường quốc tế đã làm cho thắng lợi quân sự tuyệt đối làđiều không thể, ngay cả khi một trong các bên tham gia xung đột có ưu thếquân sự vượt trội
Trang 16Ngay cả khi các hoạt động quân sự trên chiến trường đã kết thúc thìviệc ổn định tình hình sau đó cũng không phải dễ dàng và thường bị nhiều lựclượng bên ngoài can thiệp vào Sự can thiệp này nhằm trói buộc kẻ chiếnthắng, không cho phép nó sử dụng các thành quả của thắng lợi quân sự để bắtđối phương phải khuất phục Tình hình Iraq hiện nay chứng minh rõ nét điềunày, khi quân Mỹ và liên quân vẫn đang cần đến sự ủng hộ của các nước, sựtrợ giúp của các tổ chức quốc tế trong việc ổn định tình hình sau chiến sự.Điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải cân nhắc kỹ trước khi sử dụng sứcđạnh quân sự để giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng trong đời sống chinh trịquốc tế Tuy nhiên hiện nay, niềm tin vào việc sử dụng sức mạnh trong xungđột lại đang được nhiều nước theo đuổi
Một trong những hướng giải quyết xung đột đang được nhiều nước áp
dụng hiện nay là đàm phán giải quyết xung đột.
Vấn đề đàm phán chiếm vị trí tương đối độc lập trong khoa học đột từnhững năm 60 của thế kỷ XX Có hai khuynh hướng đối lập nhau đã ảnhhưởng đến việc đàm phán quốc tế Một mặt, đó là các công trình về vấn đềbình Mặt khác, đó là tư tưởng “đi từ sức mạnh” Nếu khuynh hướng thứ nhấtcho phép hình thành quan niệm coi đàm phán là phương tiện để giải quyếtxung đột quốc tế và thiết lập hoà bình, thì khuynh hướng thứ hai lại thiên vềviệc tìm ra các con đường để đạt được sự có lợi nhất nhất trong quá trình đàmphán Sự kết thúc chiến tranh lạnh và đối đầu toàn cầu đã dẫn đến một hướngmới trong quá trình đàm phán với những đặc điểm sau:
Thứ nhất, đàm phán quốc tế là hình thức chủ yếu nhất trong quan hệ
giữa các quốc gia Nó dẫn đến việc thu nhỏ dần vai trò của các yếu tố quân
sự
Thứ hai, ngày càng tăng số lượng và nội dung đàm phán Có nhiều lĩnh
vực mới trong quan hệ quốc tế trở thành đối tượng của đàm phán (bảo vệ môitrường, các quá trình chính trị, xã hội, hợp tác khoa học, kỹ thuật )
Thứ ba, vai trò của các tổ chức quốc tế trong đàm phán được đề cao
Trang 17Thứ tư, trong lĩnh vực đàm phán ngày càng có nhiều các chuyên gia,
không có kinh nghiệm ngoại giao, nhưng lại có kiến thức rất rõ về lĩnh vựckhoa học kỹ thuật hoặc kinh tế của mình, điều này cần thiết cho việc phân tíchcác lĩnh vực mới cho việc hợp tác giữa các quốc gia
Thứ năm, xem xét lại tận gốc quá trình điều khiển đàm phán: đưa ra các
vấn đề tối quan trọng cho cho các lãnh đạo cao cấp; xác định lĩnh vực giảiquyết thuộc các cấp làm việc khác nhau, thiết lập hệ thống xác định tráchnhiệm; nâng cao vai trò điều phối của các cơ quan ngoại giao
Ngày nay, đàm phán đang trở nên công cụ thuờng xuyên, đa năng trongquan hệ quốc tế Điều này tạo nên sự cần thiết phải đưa ra “chiến lược đàmphán” Theo nhiều nhà chuyên gia, chiến lược này gồm có:
- Xác định đối tượng tham gia
- Liệt kê các đặc điểm của họ trên một tiêu chí phù hợp
- Đưa ra bảng xếp thứ tự các giá trị mà các bên tự đánh giá
- Phân tích sự phù hợp giữa các mục đích cần đạt được và phương tiện
mà mỗi bên có thể đưa ra
Tuy nhiên cho đến nay không có một lý thuyết chung nào về đàm phánquốc tế mà chỉ có những nền tảng lý thuyết cơ bản về phân tích và tiến hànhđàm phán Không phải vì đàm phán không chiếm vị trí độc lập trong giải
quyết các vấn đề quốc tế, mà chủ yếu bởi đàm phán chưa phải là mục đích,
mà chỉ là một trong các phương tiện để đạt được điều đó mà thôi.
Trang 18Chương 2 PHÂN TÍCH XUNG ĐỘT NHẬT BẢN BẮT GIỮ TÀU CÁ TRUNG
QUỐC TẠI QUẦN ĐẢO SENKAKU THÁNG 9/2010
2.1 Khái quát xung đột biển đảo giữa Nhật Bản và Trung Quốc tại Quần đảo Senkaku.
Nhóm đảo tranh chấp nói trên gồm 8 hòn đảo và bãi đá ngầm không cóngười ở thuộc vùng viển Hoa Đông Chúng có tổng diện tích khoảng 7 kmvuông và nằm ở phía đông bắc đảo Đài Loan, phía đông đại lục Trung Quốc
và đông nam vùng lãnh thổ cực nam của Nhật Bản là Okinawa
Các hòn đảo này không có nhiều giá trị về sinh sống, nhưng trở thànhtrung tâm của cuộc tranh chấp giữa hai nước vì chúng nằm sát tuyến đườngbiển quốc tế mang tính chiến lược, nơi có những ngư trường phong phú vàhứa hẹn có trữ lượng dầu mỏ lớn
Hiện nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư do Nhật Bản kiểm soát và căngthẳng mới nhất với Trung Quốc bùng phát hồi tháng 9/2010 vừa qua, khi Nhậtbắt giữ một tàu đánh cá của Trung Quốc sau khi con tàu này va chạm với haitàu tuần tra hàng hải của Nhật tại khu vực gần nhóm đảo
2.1.1 Lập luận của Nhật Bản
Nhật Bản cho biết họ đã tiến hành nghiên cứu tổng quát nhóm đảo trêntrong suốt 10 năm qua và khẳng định chúng đều không có cư dân sinh sống.Tokyo khẳng định chủ quyền với những hòn đảo này bằng sự kiện khi chaông họ dựng một tấm bia chính thức tuyên bố nhóm đảo thuộc lãnh thổ NhậtBản từ ngày 14/1/1895
Kể từ đó, nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư trở thành một phần của quầnđảo Nansei Shoto nay thuộc quận Okinawa Sau Thế chiến II, Nhật Bản từ bỏtuyên bố chủ quyền đối với một số vùng lãnh thổ và hòn đảo, bao gồm đảoĐài Loan, theo Hiệp ước San Francisco năm 1951 Nhưng theo hiệp ước này,quần đảo Nansei Shoto (bao gồm nhóm đảo Senkaku đang tranh chấp với
Trang 19Trung Quốc) được đặt dưới sự ủy thác quản lý của Mỹ và sau đó chúng đượcgiao lại cho Nhật Bản năm 1971 theo thỏa thuận trao trả Okinawa.
Tokyo cũng nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã không hề có ý kiến phảnđối nào đối với Hiệp ước San Francisco năm 1951 liên quan đến chủ quyềnnhóm đảo Senkaku Cũng theo phía Nhật Bản, chỉ đến những năm 70, khi vấn
đề trữ lượng dầu mỏ được đặt ra trong khu vực, cả Trung Quốc và chínhquyền Đài Loan mới bắt đầu tuyên bố đòi chủ quyền đối với nhóm đảo này
2.1.2 Lập luận của Trung Quốc
Trong khi đó, Trung Quốc cho rằng quần đảo mà họ gọi là Điếu Ngư(tức nhóm đảo Senkaku trong tiếng Nhật) là một phần lãnh thổ của họ kể từthời cổ đại, vốn đóng vai trò quan trọng về ngư trường do tỉnh đảo Đài Loanquản lý Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng nhiều lần tuyên bố điều này "đượcchứng minh đầy đủ bằng lịch sử và pháp lý"
Vụ việc càng thêm rắc rối khi chủ quyền nhóm đảo liên quan đến cảđảo Đài Loan Trong lịch sử, Đài Loan đã được nhượng cho phía Nhật Bảntheo Hiệp ước Shimonoseki năm 1895, sau cuộc chiến Trung Nhật cuối thế kỷ
19 Sau khi Đài Loan được Nhật trả lại theo Hiệp ước San Francisco năm
1951, Trung Quốc cho rằng nhóm đảo Điếu Ngư vốn là một phần của ĐàiLoan cũng phải được trả lại cùng Tuy nhiên, Bắc Kinh cho rằng thủ lĩnhQuốc Dân Đảng là Tưởng Giới Thạch nắm quyền quản lý Đài Loan khi đó đãkhông nêu ra vấn đề nhóm đảo Điếu Ngư/Senkaku, ngay cả khi nhóm đảo nàyđược ghi trong thỏa thuận trao trả Okinawa của Mỹ cho Nhật Bản năm 1971,
do Tưởng Giới Thạch đang phải phụ thuộc vào sự hậu thuẫn của Mỹ Do đó,Đài Loan hiện cũng đơn phương đòi chủ quyền đối với nhóm đảo Điếu Ngư
2.1.3 Những vụ đụng độ
BBC dẫn lời Bộ Ngoại giao Trung Quốc nêu quan điểm tranh chấpnhóm đảo với Nhật Bản cần những dàn xếp trong tương lai và hai bên nên nỗlực tránh để vấn đề này thành "nhân tố gây bất ổn" trong quan hệ song
Trang 20phương Tuy nhiên, trên thực tế vẫn xảy ra căng thẳng lẻ tẻ giữa hai nước liênquan đến nhóm đảo tranh chấp này.
Năm 1996, một nhóm người Nhật Bản đã xây dựng một ngọn hải đăngtrên một trong các hòn đảo của nhóm đảo Senkaku Các nhà hoạt động ngườiTrung Quốc sau đó đã đi tàu tới nhóm đảo để phản đối và một trong số này đãrơi xuống biển chết đuối
Kể từ đó, các nhà hoạt động của cả Trung Quốc và Đài Loan vẫn tìmcách đi tàu tới nhóm đảo đang nằm trong sự kiểm soát của Nhật Bản nói trên.Năm 2004, Nhật Bản cũng bắt giữ 7 nhà hoạt động Trung Quốc sau khinhững người này đổ bộ lên hòn đảo chính của nhóm đảo Ngoài ra còn cóhàng loạt các vụ chạm trán giữa các tàu tuần tra của Nhật Bản với tàu đánh cáTrung Quốc hoặc Đài Loan trong khu vực tranh chấp Đặc biệt, năm 2005,khoảng 50 tàu đánh cá Đài Loan đã tiến hành một vụ biểu tình trong khu vựcnhạy cảm này để bày tỏ sự phản đối việc gây khó khăn của các tàu tuần traNhật Bản
Diễn biến căng thẳng và kéo dài nhất liên quan đến tranh chấp nhómđảo Senkaku/Điếu Ngư là việc Nhật Bản bắt giữ một tàu đánh cá của TrungQuốc hôm 7/9/2010 Sự kiện này khiến quan hệ song phương rơi vào căngthẳng Ngay cả khi Nhật thả toàn bộ thành viên của con tàu đánh cá nói trên,căng thẳng liên quan đến nhóm đảo vẫn tiếp diễn Bước sang cuối tháng 10,một loạt cuộc biểu tình đòi chủ quyền đối với nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư
đã nổ ra ở cả Nhật Bản và Trung Quốc Sự kiện này cho thấy tranh chấp vềnhóm đảo sẽ còn là trở ngại kéo dài trong quan hệ hai nước
Chính phủ Nhật Bản hiện vẫn đang dành nhiều quan tâm cho việc xử lýcăng thẳng tại khu vực này Đồng thời tìm kiếm sự ủng hộ từ dư luận quốc tế,đặc biệt là từ phía Mỹ Ngay sau khi truyền thông đưa tin về động thái này,Trung Quốc đã kêu gọi Mỹ ngừng đưa ra các bình luận sai trái về vấn đề chủquyền quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, đồng thời tránh làm vấn đề thêm phứctạp và khiến tình hình khu vực bất ổn
Trang 212.2 Phân tích xung đột Nhật Bản bắt giữ tàu cá Trung Quốc tại Quần đảo Senkaku tháng 9/2010
2.2.1 Sự kiện Nhật Bản bắt giữ tàu cá Trung Quốc tại Quần đảo Senkaku tháng 9/2010
Ngày 7 tháng 9 năm 2010, một tàu cá Trung Quốc đã va chạm với haitàu tuần duyên Nhật Bản tại quần đảo không người ở nhưng nhiều dầu mỏ ởvùng biển Đông Hải – Nhật Bản gọi đó là quần đảo Senkaku (Tiêm Các), cònTrung Quốc gọi là Điếu Ngư Sau vụ va chạm, lực lượng tuần duyên NhậtBản đã bắt giữ các thủy thủ và thuyền trưởng Chiêm Kỳ Hùng, người màbăng ghi hình cho thấy là đã cho tàu đánh cá lao thẳng vào tàu tuần duyên.Tiếp nối sự kiện đó là hàng loạt các cuộc biểu tình bài Nhật được tổ chức ởcác thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Hồng Kông
và Thẩm Dương Các tour du lịch Nhật Bản bị hủy, bốn nhân viên của công tysản xuất phụ tùng xe hơi Nhật Bản Fujita bị bắt ở tỉnh Hà Bắc, và nghiêmtrọng nhất là Trung Quốc đã quyết định ngừng xuất khẩu đất hiếm sang NhậtBản
2.2.2 Phân tích xung đột
a) Thành phần tham gia xung đột
Chính phủ Trung Quốc và chính phủ Nhật Bản Trong đó, toàn hệthống chính phủ Trung Quốc tích cực tham gia phản ứng dữ dội với hànhđộng của Nhật bản Phía Nhật Bản chỉ sử dụng các bộ phận có liên quan trựctiếp đến vụ việc như: Bộ ngoại giao, cảnh sát biển hay đại sứ Nhật tại TrungQuốc…
b) Cơ cấu xung đột
Xung đột xuất phát từ nguyên nhân sâu xa là tranh chấp chủ quyền biểnđảo giữa hai quốc gia đã từ hàng chục năm nay Hành động va chạm Tàu chỉnhư một cách cớ gây xung đột và căng thẳng để hai nước khẳng định chủquyền với nhau và với Thế giới