1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề 2 nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng phát thanh hiện đại miền đông nam bộ hiện nay

32 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề 2 Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng phát thanh hiện đại miền đông nam bộ hiện nay
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM
Chuyên ngành Truyền thông và Báo chí
Thể loại Nghiên cứu đề tài
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 74,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CÔNG CHÚNG BÁO CHÍ VÀ CÔNG CHÚNG PHÁT THANH HIỆN ĐẠI 5 1 1 Công chúng và công chúng báo chí 6 1 2 Công chúng phát thanh và công chúng phát thanh hi[.]

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CÔNG CHÚNG BÁO CHÍ VÀ CÔNG CHÚNG PHÁT THANH HIỆN ĐẠI 5

1.1 Công chúng và công chúng báo chí 6

1.2 Công chúng phát thanh và công chúng phát thanh hiện đại 8

Chương 2 NHU CẦU THÔNG TIN CỦA CÔNG CHÚNG PHÁT THANH HIỆN ĐẠI HIỆN NAY 16

2.1 Nhu cầu và điều kiện xuất hiện nhu cầu 16

2.2 Các nhu cầu thông tin phát thanh chủ yếu của công chúng hiện đại miền Đông Nam Bộ 31

Chương 3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHU CẦU THÔNG TIN CỦA CÔNG CHÚNG PHÁT THANH HIỆN ĐẠI 34

3.1 Các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong và ngoài nước 34

3.2 Các yếu tố thuộc hệ thống truyền thông đại chúng và truyền thông phát thanh 36

KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hòa nhập với công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, báo chí nước ta có nhiều khởi sắc, thu hút một lượng công chúng

đông đảo Công chúng báo chí ngày nay được quan tâm, và họ cũng đòi hỏi ngày càng cao đối với báo chí Trong đó công chúng phát

thanh có những thay đổi đáng để Họ thường xuyên nghe đài và phản hồi những thông tin nhận được, điều này bắt nguồn từ những nỗ

lực của bản thân loại hình báo phát thanh và từ những chuyển động khách quan của xã hội Tìm hiểu công chúng nói chung và và từng

nhóm đối tượng nói riêng để đáp ứng nhu cầu cụ thể, nâng cao chất lượng chương trình và các sản phẩm báo chí, nâng cao năng lực

nghiên cứu, dự báo, giám sát xã hội của báo chí

Trong xã hội hiện đại, người dân tiếp cận thông tin báo chí ngày càng tăng, tuy nhiên mức độ tiếp nhận thông tin từng nhóm

đối tượng trên từng địa bàn có sự khác biệt rất lớn Báo chí tồn tại và phát triển trong mối quan hệ của công chúng Việc ra đời và phát

triển các loại hình báo chí, nâng cao hiệu quả tác động của báo chí đều phải dựa trên việc xác định rõ công chúng của từng loại hình,

cụ thể hơn là xác định rõ nhóm đối tượng trên các địa bàn cụ thể

Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, công nghiệp phát triển mạnh và năng động, trong những năm qua, các tỉnh

miền Đông Nam Bộ đã có những đóng góp to lớn, thể hiện vai trò vùng kinh tế động lực của cả nước Đây cũng là cũng là vùng có

trình độ dân trí và mức thu nhập bình quân đầu người vào loại khá trong cả nước

Hơn 300 năm hình thành và phát triển, Đông Nam Bộ cũng là vùng văn hóa với nhiều nét đặc trưng góp phần tạo nên bản

sắc Văn hóa Việt Nam Do là vùng đất hội tụ của cư dân nhiều vùng miền của đất nước từ thời mở cõi, trải qua quá trình phát triển, cho

đến hôm nay, nên văn hóa đời sống, trong đó có đời sống báo chí cũng hết sức đa dạng và phong phú

Miền Đông Nam Bộ là nơi ra đời của nhiều cơ quan báo chí và hoạt động báo chí sôi động Các giai đoạn phát triển báo chí

và các nhà báo tên tuổi đều khởi nghiệp và hành nghề tại các tòa soạn báo ở Sài Gòn trước đây, nay là thành phố Hồ Chí Minh và các

tỉnh vùng Đông Nam Bộ

Trong thời kỳ đổi mới, báo chí cả nước, khu vực và địa phương cũng đã tìm thấy nhiều đề tài báo chí trên vùng đất năng

động và phát triển Đông Nam Bộ Người miền Đông từ bao đời nay có thói quen đọc báo, nghe đài như nét văn hóa đẹp trong đời sống

văn hóa tinh thần

Những đặc điểm nổi bật về địa chính trị, văn hóa là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của báo chí vùng Đông Nam Bộ,

trong đó có báo phát thanh của các tỉnh trong vùng, tạo ra đời sống báo chí phong phú, sôi động, góp phần nâng cao đời sống văn hóa

tinh thần cho nhân dân

Trang 3

Mạng lưới phát thanh ở nước ta rất phong phú và rộng khắp Tuy nhiên, việc xác định đối tượng nghe đài và từng nhóm

đối tượng có nhu cầu tiếp nhận thông tin gì, điều kiện tiếp nhận của họ như thế nào còn gây ra nhiều tranh cãi Nhiều khi việc xác

định nhu cầu tiếp nhận của từng nhóm đối tượng còn mang tính chủ quan dựa trên phán đoán của người xây dựng chương trình

Tình trạng này dẫn đến hoạt động và nhiều sản phẩm của phát thanh không mang lại hiệu quả

Tìm hiểu nhu cầu tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng là một phần quan trọng trong công tác nghiên cứu công

chúng báo chí nói chung và công chúng phát thanh nói riêng Thông qua sự nghiên cứu đó có thể đánh giá nhu cầu và điều kiện

tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng miền Đông Nam Bộ và dần dần hình thành nhu cầu, xác lập các điều kiện mới trong

việc tiếp nhận thông tin nhằm nâng cao chất lượng chương trình phát thanh, đưa ra các đề xuất chủ yếu và giải pháp chủ yếu tạo

lập các điều kiện để phát triển và đáp ứng nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng hiện đại miền Đông Nam bộ

2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Mục đích: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng hiện đại và

nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng phát thanh hiện đại miền Đông Nam Bộ hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích trên, trong phạm vi chuyên đề này, cần thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về công chúng, công chúng báo chí và công chúng phát thanh

- Làm rõ nhu cầu thông tin của công chúng phát thanh hiện đại miền Đông Nam Bộ

- Phân tích những yếu tố tác động đến nhu cầu thông tin của công chúng phát thanh hiện đại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Chuyên đề nghiên cứu những vấn đề lý luận về nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng 3.2 Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu về nhu cầu thông tin công chúng khi tiếp nhận thông tin phát thanh

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Để nghiên cứu chuyên đề này, tác giả dựa vào những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về

báo chí Đặc biệt là những quan điểm về công chúng báo chí của Hồ Chí Minh

Chuyên đề cũng được thực hiện dựa trên việc vận dụng kết hợp những cơ sở lý thuyết chính là: lý thuyết truyền thông, lý

thuyết xã hội học báo chí và lý thuyết tâm lý học báo chí

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện chuyên đề này, tác giả sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành:

+ Nghiên cứu lý thuyết:

Trang 4

Tìm hiểu các quan điểm, tư tưởng, các khuynh hướng nghiên cứu công chúng, công chúng phát thanh từ các văn bản tài liệu

sẵn có

Sử dụng các kết quả nghiên cứu sẵn có của xã hội học, của các cơ quan nghiên cứu về báo chí để xem xét, so sánh, đối phát

với kết quả khảo sát của chuyên đề

+ Phương pháp thu thập thông tin

Tiến hành khảo sát bằng phương pháp điều tra xã hội học kết hợp phỏng vấn định lượng và phỏng vấn sâu

Địa bàn khảo tập trung vào công chúng ở vùng Đông Nam Bộ

5.Đóng góp mới về khoa học

Chuyên đề đưa ra khái niệm về công chúng, công chúng báo chí, công chúng phát thanh, nhu cầu, thông tin phát thanh và

nhu cầu thông tin của công chúng đặc biệt là công chúng phát thanh hiện đại ở miền Đông Nam Bộ

Qua việc nghiên cứu về công chúng phát thanh hiện đại ở Việt Nam, chuyên đề cũng sẽ cung cấp những cơ sở dữ liệu tin

cậy cho việc đổi mới, nâng cao hiệu quả tác động của các chương trình phát thanh đối với thính giả trong cả nước

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Qua việc nghiên cứu về nhu cầu thông tin của công chúng phát thanh hiện đại ở miền Đông nam bộ, chuyên đề sẽ cung cấp

những cơ sở dữ liệu tin cậy cho việc đổi mới, nâng cao hiệu quả tác động của các chương trình phát thanh đối với nhu cầu của người

nghe đài trong thời ký mới, bối cảnh mới

Từ chuyên đề này, sẽ làm cơ sở để nghiên cứu những vấn đề tiếp theo về công chúng phát thanh hiện đại ở miền Đông nam

bộ như thực trạng, những biến đổi và và phương thức làm tăng hiệu quả tác động tới công chúng của các chương trình phát thanh của

các tỉnh miền Đông Nam Bộ Từ đó nghiên cứu và đưa ra các đề xuất có tính khả thi để điều chỉnh chiến lược phát triển của phát thanh

Việt Nam nhằm thích ứng với đặc điểm của công chúng và nâng cao chất lượng chương trình phù hợp với các đòi hỏi của xã hội

7 Kết cấu của chuyên đề

Chuyên đề được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết, cùng với mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CÔNG CHÚNG BÁO CHÍ

VÀ CÔNG CHÚNG PHÁT THANH HIỆN ĐẠI 1.1 Công chúng và công chúng báo chí

1.1.1 Công chúng

Công chúng theo tiếng Latinh là: Auditorium; Audire có nghĩa là nghe, Auditor là người nghe, đó là cộng đồng ngươi,

những người mà phương tiện truyền thông đại chúng hướng tới, chịu ảnh hưởng của truyền thông đại chúng

Ở đây có thể hiểu truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội bao gồm các yếu tố cấu thành cơ bản là: Chủ thể, người

làm công tác truyền thông; Thông điệp truyền thông; Kênh truyền thông và Công chúng

Đây chính là quá trình truyền bá thông tin tới đông đảo công chúng Theo Từ điển Tiếng Việt, công chúng là “đông đảo

những người đọc, nghe, nghe, trong quan hệ với tác giả, diễn viên” Còn trong chuyên đề tiến sĩ chuyên nghành Xã hội học “Truyền

thông đại chúng và công chúng - trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh” tác giả Trần Hữu Quang khi đề cập đến khái niệm truyền thông

đại chúng, cũng cho rằng: “Công chúng là các tầng lớp đại chúng” Cũng trong phần này, tác giả cho rằng: “Đại chúng, hiểu như là

công chúng, đối tượng mà các phương tiện truyền thông đại chúng muốn nhằm đến” Ở đây có thể hiểu truyền thông đại chúng bao

gồm các hoạt động báo chí, phát thanh, phát thanh, điện ảnh, xuất bản, quảng cáo, âm nhạc Như vậy công chúng được hiểu là một

đối tượng đông đảo dân chúng Tuy nhiên theo các nhà Xã hội học, đây là một khái niệm khá mơ hồ và khó định nghĩa chính xác, kể

cả về số lượng và tính chất Chẳng hạn, rất khó hiểu và không xác định được phải có bao nhiêu người mới được gọi là đại chúng

Tuy nhiên, có thể thấy rằng khi coi đại chúng (hay công chúng) là những cá nhân rời rạc, phân tán thì chỉ đúng về mặt

không gian, còn về phương diện xã hội, công chúng luôn luôn có quan hệ với nhau Những mối quan hệ này có trong cuộc sống hàng

ngày với tất cả sự tương tác, va đập, ràng buộc với nhau mà thành Như vậy, có thể hiểu khái niệm công chúng ở trong chuyên đề này

bao gồm các tầng lớp và các cộng đồng dân cư khác nhau về vị trí xã hội trong cơ cấu xã hội, khác nhau về các điều kiện vật chất và

tinh thần trong môi trường xã hội Đặc biệt là khi trở thành công chúng của truyền thông thì những quan niệm này có thể sẽ trở nên sai

lầm vì công chúng của các phương tiện truyền thông có mối liên hệ với nhau từ chính các phương tiện này ở không gian rộng, hàng

chục triệu người cùng nghe một chương trình phát thanh, cùng nghe một chương trình phát thanh hoặc cùng là độc giả của một tờ báo

ở một không gian hẹp người ta vẫn cùng nghe trên một chiếc máy thu thanh, cùng nghe từ một chiếc radio hay truyền tay nhau đọc một

tờ báo; cùng chịu ảnh hưởng của những thông tin do phương tiện truyền thông đại chúng mang lại Bên cạnh đó, các mối liên hệ xã hội

vẫn ràng buộc các cá nhân lại với nhau trong một ý thức cộng đồng, làm cho họ không thoát ra được để trở thành cá nhân độc lập hoàn

toàn

Trang 6

1.1.2. Công chúng báo chí

Công chúng báo chí được đề cập đến ở đây là công chúng của các loại hình báo chí cơ bản và phổ biến hiện nay gồm Báo

in, Phát thanh, Truyền hình và báo Mạng điện tử Đây là loại hình báo chí đang rất phổ biến, có đông đảo công chúng Như đã trình

bày, công chúng bao gồm các tầng lớp người, các cộng đồng dân cư khác nhau, họ trở thành công chúng báo chí khi tiếp xúc thường

xuyên với báo chí, tiếp nhận các thông tin, chịu ảnh hưởng của nó… Tuy công chúng vẫn là cộng đồng dân cư rời rạc, không đồng

nhất, nhưng họ trở thành công chúng báo chi do ý chí của mình, độc lập lựa chọn cac nguồn thông tin khác nhau từ các loại hình báo

chí để có được một sự tiếp xúc hoặc là thường xuyên, hoặc là ngẫu nhiên Công chúng sẽ vẫn là công chúng báo chí khi họ còn thấy

các loại hình báo chí đem đến cho họ những thông tin có ý nghĩa về phương diện chủ quan và thỏa mãn những nhu cầu của họ Ở đây

thông tin báo chí được hiểu theo nghĩa nó cung cấp thông tin không chú ý đến đối tượng và hiệu quả tiếp nhận Tuy nhiên sau khi tiếp

nhận, công chúng báo chí bắt đầu hình thành thái độ của mình, khi đó họ trở thanh một bộ phận trong hoạt động báo chí

Theo nghiên cứu của nhiều chuyên gia thì vai trò của báo chí được xem xét như một loại hình hoạt động của con người Báo

chí có vai trò to lớn trong nhận thức thế giới xung quanh, trong khám phá và định hướng xã hội, xã hội hóa nhân cách, giáo dục và đào

tạo, truyền bá văn hóa Báo chí còn tham gia điều tiết và kiểm soát trong quá trình quản lý xã hội, bảo vệ xã hội, con người và cung cấp

cho các cá nhân những tin tức có lợi Không những vậy, sự tham gia của báo chí còn ở trong việc điều tiết tâm lý, có tác động để điều

hòa hoạt động căng thẳn, vậy ý nghĩa giải trí của nó là rất lớn Tuy nhiên có một trong những điều kiện tiên quyết của tác động thông

tin báo chí là phải giao tiếp và tổ chức giao tiếp được với công chúng Sự giao tiếp này chỉ bền vững khi công chúng tin tưởng vào cơ

quan báo chí, vào tờ báo, coi nó là than thiết và không thể thiếu được Khi đó công chúng xuất hiện và tồn tại như một khâu hoạt động

của báo chí Như vậy, có thể hiểu công chúng báo chí trong xã hội tiếp nhận thông tin báo chí, chịu ảnh hưởng từ những thông tin ấy

và tác động trở lại với báo chí

1.2. Công chúng phát thanh và công chúng phát thanh hiện đại

1.2.1 Báo phát thanh và thông tin phát thanh

1.2.1.1 Báo phát thanh

Báo phát thanh (theo quan điểm truyền thống): là loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh

để truyền đến đối tượng ngôn ngữ âm thanh trực tiếp tác động vào thính giác

Thính giả tiếp nhận thông tin qua phát thanh không có khả năng nhìn được bằng mắt như trong trường hợp truyền thông

trực tiếp Người nghe không thể nhìn thấy những dấu hiệu khác thường khi giao tiếp bằng lời nói như khi biểu đạt bằng nét mặt, sử

dụng tay để minh họa Các hình thức giao tiếp bằng mắt, ngôn ngữ cử chỉ không thể được sử dụng để chuyển tải ý nghĩa thông điệp

Bởi vậy, nếu những điều phát ra càng ngắn gọn, dễ hiểu thì sẽ càng tạo được sự cuốn hút đối với họ Phương thức tác động hiệu quả

Trang 7

Công nghệ thông tin phát triển đã mở đường cho phát thanh hiện tại phát triển nhanh chóng Nhờ ứng dụng những tiến bộ

về kỹ thuật và công nghệ mới đã chuyển đổi công nghệ phát thanh sang kỹ thuật số Công nghệ này sẽ cải tiến tới mứt tốt nhất từng

dây chuyền trong việc sản xuất chương trình Nhờ những ứng dụng đó, ưu thế của phát thanh ngày càng được khẳng định, tạo điều kiên

cho nó có thể thực hiện các chức năng của mình và quản lý xã hội một cách hiệu quả

Phát thanh hiện đại đang có sự phát triển đa dạng và phong phú như: phát thanh có hình, phát thanh trên mạng Internet, phát

thanh nhìn trên điện thoại di động Như vậy, ngoài phát thanh truyền thống nghe thông tin, công chúng hiện nay có thể nghe, xem phát

thanh trên truyền hình, nghe phát thanh trên mạng Intenet, nghe, đọc tin tức trên điện thoại di động với cách xây dựng nội dung phù

hợp với phương tiện chuyển tải

Một chương trình phát thanh hiện đại cần phải có một nội dung mới, sự kiện nóng hổi, kết hợp hài hòa giữa thông tin và

yếu tố giải trí, đồng thời có định hướng dư luận và định hướng thẩm mỹ; được phát sóng trong chương trình và (như phát thanh

trực tiếp); ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, diễn đạt phổ thông; giọng đọc phù hợp với chương trình và thính giả; khai thác, sử dụng

tốt các yếu tố bổ trợ cho giọng nói (âm nhạc, tiếng động) một cách hiệu quả

Như vậy, có thể hiểu phát thanh hiện đại là loại hình báo chí sử dụng các phương tiện truyền thông như radio, truyền hình,

mạng Internet, điện thoại di động để chuyển tải đến đối tượng ngôn ngữ âm thanh, hình ảnh, chữ viết trực tiếp tác động vào mọi giác

quan

1.2.1.2 Thông tin phát thanh:

Là những tin tức, sự kiện, thông báo về mọi mặt trong đời sống xã hội ở phạm vi trong nước và quốc tế được truyền đạt

trên phương tiện truyền thông radio Việc tiếp nhận thông tin qua radio thoải mái và tiện lợi chính là một trong những ưu thế của báo

phát thanh Thính giả của các chương trình phát thanh có thể vừa nghe đài vừa làm công việc khác Trong thực tế có những lúc con

người chỉ có thể tiếp nhận thông tin qua phát thanh như đang đi ô tô trên đường, hay đi tàu trên biển

Truyền thông radio muốn có kết quả trước hết phải thu hút sự chú ý của người nghe, phải làm cho đối tượng hiểu được ý nghĩa của

những thông điệp được phát ra Hiệu quả của sự tác động này phụ thuộc vào tất cả các yếu tố của quá trình truyền thông Muốn thực hiện

thông điệp tốt, phải trình bày thông điệp tốt, xác định được nội dung thông tin phù hợp với đối tượng và điều quan trọng hơn nữa là tất cả

những nội dung thông báo phải xuất phát từ quyền lợi chính đáng của người truyền thông không chỉ nhằm truyền đạt thôn tin mà còn tạo ra sự

tương tác nhằm tiến tới sự điều chỉnh, thay đổi hành vi của thính giả trong thực tiễn Nó tạo ra dư luận và cải biến dư luận bằng phương thức

tác động vào tâm lý, tình cảm chứ không thuần túy tác động vào lý trí

1.2.2.Công chúng phát thanh và công chúng phát thanh hiện đại

1.2.2.1 Công chúng phát thanh

Trang 8

Có thể hiểu, công chúng phát thanh là những người được nghe phát thanh, tiếp nhận thông tin và chịu ảnh hưởng từ các

thông tin mà phát thanh mang lại Cũng như tất cả các phương tiện đại chúng khác, khái niệm công chúng phát thanh được biết đến kể

từ khi phát thanh xuất hiện Tuy nhiên qua một quá trình phát triển không ngừng của khoa học công nghệ khiến cho công nghệ sản

xuất các chương trình phát thanh cũng biến đổi không ngừng để phù hợp với những đòi hỏi mới của lớp công chúng phát thanh hiện

đại

Cuộc cách mạng công nghệ khiến cho việc tiếp cận thông tin qua đài phát thanh của công chúng thay đổi Trước hết nói về

phương thức nghe đài  Một con số trong Báo cáo cuộc Tổng điều tra dân số và  nhà ở công bố 21/7/2010 cho thấy: “Nếu năm 1999, cả

nước  có 45,6% hộ có sử dụng đài thì đến nay con số này đã giảm đi hơn một nửa, chỉ còn 22,5% Mức độ giảm của khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn đôi chút, tương ứng là 56,1% và 26,7% so với 42,2% và 20,7% ” Nếu nhìn vào con số này, chắc hẳn nhiều

người cho rằng, số người nghe đài hiện nay đã giảm đến mức đáng báo động Nhưng, cũng trong Báo cáo này lại đưa ra những con

khác Đó là: “Số lượng thuê bao điện thoại ở VN đến tháng 6/12010 là 151.000.000 (trong đó 80% là thuê bao di động) Số người truy

cập Internet hàng ngày là 3.000.000 người chiếm chiếm khoảng 28% tổng dân số   Số lượng ô tô ở VN đến tháng 5/2010 là 1.400.000 chiếc”

Cũng trong năm 2010, một kết quả điều tra thính giả mà Ban Thư ký biên tập và Thính giả tiến hành với hơn 3000 phiếu

điều tra cho biết:  Lượng thính giả nghe đài bằng rađio hiện nay chủ yếu ở khu vực trung du miền núi và nông thôn (chiếm tới 80%). 

Nhưng ở các thành phố như Hồ Chí Minh, Hà Nội lượng người nghe đài bằng điện thoại di động khá cao tới 52% Số lượng người nghe đài qua Internet khoảng 14,8%.  Và một số lượng lớn nghe đài khi ngồi trên ô tô”.

Qua những con số trên, chúng ta thấy một thực tế cũng như nhiều nước trên thế giới, phương thức nghe đài hiện nay của

công chúng ở Việt Nam đã thay đổi Ngoài số người nghe đài ngồi trước máy thu thanh hàng giờ, thì có một lượng khá lớn người nghe

đài trong trạng thái di chuyển và đặc biệt là nhiều người  “vừa nghe đài vừa lướt web”, …

Một kết quả nghiên cứu nữa cũng rất đáng quan tâm, đó là sự thay đổi về độ tuổi người nghe đài Nếu như cách đây 10 năm,

một kết quả nghiên cứu của Đài TNVN cho thấy nhóm người nghe đài nhiều nhất ở Việt Nam là ở độ tuổi 45 đến trên 60, thì kết quả

nghiên cứu năm 2010 khẳng định: Số lượng người nghe đài ở Việt Nam hiện nay đã được trẻ hoá có tới 41,5% số người nghe đài nhiều

nhất hiện nay là ở trong tuổi từ 15 đến 30  Và kết quả này cũng cho thấy hiện nay những nhà lãnh đạo, doanh nhân, cán bộ công chức,

nhân viên văn phòng và học sinh, sinh viên nghe đài đông đảo hơn những lần điều tra trước  

Cách chọn giờ nghe đài của công chúng cũng đã khác trước Có tới 50% số người được hỏi cho biết họ nghe đài vào bất cứ lúc

nào thuận lợi với họ mà không có thời gian chờ đợi, lựa chọn chương trình yêu thích như trước đây

Trang 9

Những con số thống kê và kết quả nghiên cứu vừa nêu cho thấy phát thanh Việt Nam đang đứng trước một cơ hội rất lớn

nhưng cũng không ít thách thức Điều này buộc những người làm phát thanh phải “đốt cháy” thời gian để có thể ứng dụng các tiến bộ

mới của công nghệ vào các khâu sản xuất và truyền phát thông tin

1.2.2.2 Công chúng phát thanh hiện đại

Báo phát thanh là một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm thanh phong phú,

sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để truyền tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ truyền thanh, tác động vào

thính giác (tai nghe) của công chúng Nhờ sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc mà báo phát thanh có những ưu điểm đặc biệt và

những hạn chế cố hữu

Báo phát thanh có khả năng tác động rất rộng rãi, người tiếp nhận không cần biết chữ miễn có khả năng nghe và hiểu được

ngôn ngữ được truyền tải trên sóng phát thanh

Thông điệp trên sóng phát thanh có thể len lỏi vào mọi tầng lớp dân cư, khắp mọi nơi đặc biệt là đối với những dân tộc ít

người chỉ có tiếng nói mà chưa có văn tự Dó đó, báo phát thanh có thể cứu sống, nuôi dưỡng hàng ngàn ngôn ngữ không có ký tự trên

thế giới đang có nguy cơ diệt vong

Do truyền tải thông điệp nhờ sóng điện tử cho nên báo phát thanh có tính tức thì và tính tỏa khắp Tức là ngay lập tức, thông

điệp có thể tác động đến hàng triệu người trên khắp hành tinh, vượt qua mọi rào cản về biên giới quốc gia…

Có thể nói, so với báo in, phát thanh có thế mạnh của sự nhanh nhạy, linh hoạt và phương thức thông tin sinh động bằng lời

nói Còn so với phát thanh, phát thanh vẫn là loại hình chiếm ưu thế trong việc đưa tin nhanh nhất, kịp thời nhất, giúp thính giả tiếp cận

sớm nhất với những sự việc, sự kiện xảy ra hằng ngày, hàng giờ trong cuộc sống xung quanh Với khả năng truyền đạt ngay tức khắc

những sự việc, sự kiện đang xảy ra, báo phát thanh cho đến nay vẫn luôn giữ vai trò là loại hình báo chí có khả năng thông tin thời sự

nhanh nhất, nhạy bén nhất Người ta đã đưa ra một sự so sánh đầy hình ảnh: Khi một sự kiện xảy ra, phát thanh đưa tin, phát thanh

diễn tả và báo in phân tích diễn giải… Điều đó còn cho thấy sự nhanh chóng, tức thời là một yếu tố quan trọng có thể giúp phát thanh

cạnh tranh với các loại hình báo chí khác trong bối cảnh của đời sống hiện đại

Phát thanh hiện đại không tự nảy sinh mà là sự kế thừa và phát triển của phát thanh truyền thống Đó là sự thay đổi phương

thức trong sản xuất các chương trình phát thanh cho phù hợp với tình hình mới và đáp ứng nhu cầu của công chúng Sự thay đổi của

phương thức sản xuất không chỉ dựa trên nền tảng của công nghệ, kỹ thuật mới mà còn đòi hỏi kỹ năng mới để tạo ra được chất lượng

nội dung và hình thức mới và qua đó có thể hình thành công chúng mới… Trong phương thức sản xuất các chương trình phát thanh hiện đại, những ưu điểm của phát thanh truyền thống (như: có đối tượng thính giả rộng rãi; tính tức thời và tỏa khắp; ưu thế chiếm

lĩnh không gian toàn bộ thời gian trong ngày; tính giao tiếp cá nhân; thông điệp len lỏi khắp nơi và có khả     năng tác động nhanh; dễ tác động vào tình cảm; sinh động trong cách thể hiện; sự thuyết phục, lôi kéo của lời nói tác động vào thính giác; kích thích trí tưởng

Trang 10

tượng, buộc thính giả phải tự hình dung, liên tưởng; thiết bị rẻ tiền, đơn giản, dễ phổ biến …) vẫn tiếp tục được phát huy mạnh mẽ và

lại được sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ mới nên càng trở nên hấp dẫn hơn, hiệu quả hơn

Phát thanh hiện đại phải dựa trên nền tảng kỹ thuật cao Đây là yếu tố quan trọng tác động đến sự xuất hiện và phát triển của

phương thức sản xuất chương trình phát thanh theo kiểu hiện đại Dù có muốn sản xuất theo phương thức mới nhưng nếu không có yếu

tố kỹ thuật hỗ trợ thì phát thanh hiện đại cũng khó mà phát triển Các yếu tố kỹ thuật ở đây được khai thác sử dụng một cách toàn diện

không chỉ trong quá trình sản xuất các chương trình (các thiết bị kỹ thuật số, phần mềm biên tập âm thanh…) mà còn cả trong quá trình

truyền dẫn thông tin (vệ tinh, mạng interrnet…) mà còn qua các thiết bị thu phát đầu cuối (radio, điện thoại di động, máy tính, iphone

v.v.)

Trong phát thanh hiện đại, sự xuất hiện của các phóng viên, biên tập viên và người dẫn làm cho chương trình có nhiều màu

sắc, sinh động, gần gũi, hấp dẫn công chúng hơn Việc sử dụng nhiều giọng nói và âm thanh phong phú - trong đó có nhiều tiếng nói

của người dân và việc sử dụng phương thức nói với ngôn ngữ đời sống bình dị có thể tạo ra cảm giác gần gũi, thân mật cho thính

giả.  Bên cạnh đó, việc xây dựng các dạng chương trình mở, trong đó thính giả có thể tham gia trực tiếp vào chương trình (ở những

mức độ khác nhau) cũng là những ưu thế của phương thức sản xuất các chương trình phát thanh hiện đại

Thực tế cho thấy: trên nền tảng của công nghệ kỹ thuật số, loại hình báo phát thanh đã có những bước phát triển mới, nhảy

vọt. Có thể nói kỹ thuật số đã góp phần quan trọng để thúc đẩy phát thanh truyền thống bước sang thời kỳ hiện đại Phát thanh kỹ thuật

số có chất lượng âm thanh tốt như đĩa CD, tín hiệu không còn bị nhiễu hay bị cản trở bởi các yếu tố tự nhiên

Trong thực tế thì không chỉ riêng  phát thanh mà báo in và phát thanh cũng đang tận dụng tối đa công nghệ và kỹ thuật mới

(kỹ thuật số, mạng interrnet…) để hiện đại hóa chính mình nhằm tiếp tục thích ứng và phát huy sức mạnh trong bối cảnh mới Riêng

với loại hình phát thanh, các phương thức sản xuất chương trình hiện đại, mới mẻ như phát thanh có hình, phát thanh trên mạng, phát

thanh tương tác, phát thanh thực tế… thực sự là một cuộc cách mạng giúp cho nó đổi mới toàn diện trong nỗ lực thích ứng để tồn tại,

phát triển

Phương thức sản xuất các chương trình phát thanh hiện đại cũng hạn chế được những nhược điểm, hạn chế của phát thanh

truyền thống (như: công chúng chỉ tiếp nhận thông tin qua duy nhất một giác quan là tai nghe; nặng tính độc thoại; khó diễn tả được

những hình ảnh phức tạp; độ xác thực của thông tin không cao; thính giả khó nhớ được toàn bộ thông tin do tính chất hình tuyến; nghe càng nhiều, độ ghi nhớ càng giảm ).

Công chúng của phát thanh hiện đại không chỉ nghe mà còn có thể nhìn (phát thanh có hình), không chỉ nghe một lần một

cách bị động mà có thể nghe nhiều lần một cách chủ động (phát thanh trên mạng); không chỉ tiếp nhận thông tin một chiều mà có thể trực tiếp tham gia vào các chương trình đang phát sóng (phát thanh tương tác, phát thanh thực tế) v.v.

Trang 11

Theo xu hướng biến đổi của ngôn ngữ truyền thông, ngôn ngữ đa giọng của phát thanh hiện đại phù hợp với tâm lý và nhu

cầu hưởng thụ thông tin của công chúng báo chí nhiều hơn Trong cuộc sống hiện đại, tác phong công nghiệp tạo ra áp lực rất lớn về

công việc và thời gian cho con người, báo phát thanh sẽ tạo ra sự thư giãn giải trí cũng như tiếp nhận thông tin tiện lợi bất cứ ở đâu và

bất cứ lúc nào, kể cả khi đang nghỉ ngơi cũng như đang làm việc mà các loại hình báo chí khác không thể có được Với thế mạnh riêng

của mình, báo phát thanh sẽ không ngừng củng cố vị trí của mình trong hệ thống báo chí, truyền thông

Từ những vấn đề nêu trên, có thể dự đoán trong thế kỷ XXI, báo phát thanh nói chung và phát thanh ở Việt Nam sẽ lấy lại

vị thế trước đây trong hệ thống các phương tiện báo chí, truyền thông đại chúng và sẽ có bước phát triển mạnh cả về bề rộng và chiều

sâu trong xu thế đa phương tiện

Trang 12

Chương 2 NHU CẦU THÔNG TIN CỦA CÔNG CHÚNG PHÁT THANH HIỆN ĐẠI HIỆN NAY 2.1 Nhu cầu và điều kiện xuất hiện nhu cầu

2.1.1 Các quan niệm về nhu cầu

Nhu cầu là một hiện tượng xã hội phổ biến, cũng là phạm trù của khoa học xã hội và nhân văn "Nhu cầu" là một phạm trù

rất rộng Các cá thể trong giới sinh vật tồn tại bao giờ cũng gắn với nhu cầu sinh tồn và phát triển nhất định của chúng Nhu cầu bắt

nguồn từ nguyên lý của tồn tại vì mình và vì cái khác của nó trong mọi sự vật, hiện tượng - sự tồn tại với sự vật khác trong môi trường

như là một quan hệ, một quá trình cần có nhau Nhu cầu như một thuộc tính của giới sinh vật, đặc biệt là loài người Với con người,

nhu cầu luôn luôn được nảy sinh, mở rộng và được thỏa mãn ngày càng cao

Có thể nói, sự phát triển con người và xã hội là sự mở rộng, nâng cao chất lượng của các nhu cầu và đáp ứng các nhu cầu đó

một cách đúng đắn, ngày càng dân chủ, công bằng, nhân đạo và khoa học

Từ trước đến nay có nhiều khái niệm và sự phân tích khác nhau về nhu cầu

Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên "Nhu cầu là điều đòi hỏi của đời sống tự nhiên và xã hội ” [53; tr.719]

"Nhu cầu là những đòi hỏi của con người, của từng cá nhân, của từng nhóm xã hội khác nhau hay của toàn bộ xã hội muốn

có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển [64;tr.31]

"Nhu cầu là sự cần đến hay sự thiếu một cái gì đó cần thiết để duy trì hoạt động đời sống của cơ thể, của con người cá nhân,

của một tập đoàn xã hội, của toàn bộ xã hội [37;tr.3]

Các nhà kinh điển Mác - Lê Nin phân biệt 2 loại nhu cầu: nhu cầu tự nhiên và nhu cầu do xã hội tạo ra C.Mác thường

xuyên nhấn mạnh tính chất xã hội chung của các dạng nhu cầu cá nhân và xã hội [37;tr.9]

Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng Có thể nói là vô tận Cần phân loại nhu cầu để hiểu rõ hơn sự đa dạng của

các nhu cầu, mối quan hệ nội tại giữa các nhu cầu, nhằm tìm ra nguyên tắc, căn cứ định hướng hoạt động của con người Và thực tế có

nhiều cách phân loại nhu cầu khác nhau

Theo nhà khoa học Maslow về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản ( basic

needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)

Tháp nhu cầu của Maslow

5 Nhu cầu hiện thực

hóa bản thân 5

Trang 13

(Địa vị xã hội) 4

3 Nhu cầu được chấp nhận (Được là thành viên) 3

2 Nhu cầu về an toàn

Của cá nhân 2

1 Nhu cầu sinh lý 1

(Nhu cầu căn bản)

Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy

sinh và mong muốn được thỏa mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ

Năm tầng trong tháp nhu cầu của Mascow có thể hiểu như sau:

Tầng thứ nhất: nhu cầu sinh học bao gồm nhu cầu về thức ăn, nước uống, không khí Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thế

kỷ" (physiololgical)

Tầng thức hai: Nhu cầu an toàn (safety)- cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản

đảm bảo, được bảo vệ khỏi sự nguy hiểm, khỏi mối đe dọa bị tước đoạt nhu cầu cơ bản

Tầng thức ba: nhu cầu xã hội, con người không thể tồn tại đơn lẻ nên không thể không tham gia vào các quan hệ xã hội và

thực hiện các hoạt động xã hội Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging)-muốn được trong một nhóm cộng

đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy

Tầng thứ tư: nhu cầu được kính trọng, khi tham gia vào các hoạt động xã hội, con người muốn thành công, có uy tín, được

xã hội tôn trọng (esteem)- cần có cảm giác được tôn trọng, được tin tưởng.

Tầng thứ năm: nhu cầu tự hoàn thiện, con người tự ý thức để điều chỉnh hành vi với mục đích hoàn thiện nhân cách, tự

học hỏi khám phá, tìm hiểu để nâng cao kiến thức (self-actualizatinon) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân,

trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt

Sau Maslow, có nhiều người đã phát triển thêm tháp này như thêm các tầng khác, thí dụ:

Tầng Aesthetic: Nhu cầu về thẩm mỹ- có sự yên bình, ham muốn hiểu biết về những gì thuộc nội tại

Tầng Self-transcendence: Nhu cầu về sự tôn bản giã- một trạng thái siêu vị kỷ hướng đến trực giác siêu nhiên, lòng vị tha,

hòa hợp bác ái

Mỗi xã hội mỗi thời kỳ, mỗi con người do những điều kiện lịch sử quy định và trình độ phát triển của xã hội cũng như con

người, các nhu cầu cuộc sống là hết sức cụ thể Người hiện đại có nhu cầu khác người nguyên thủy, trẻ con có nhu cầu khác với người

lớn, nhu cầu của tuổi thanh niên khác với những người nhiều tuổi, hoặc nhu cầu giới nữ khác với giới nam Con người trong mỗi giai

tầng xã hội cũng có những nhu cầu cụ thể khác nhau, như nhu cầu của người trí thức, nhu cầu của người công nhân lao động Nhu cầu

Trang 14

của con người ở các vùng, các miền do điều kiện phát triển khác nhau mà mức độ của các nhu cầu cũng khác nhau Tất nhiên, có

những nhu cầu phổ biến cho tất cả mọi người trong cuộc sống tồn tại và phát triển Và cũng có nhu cầu đặc thù hoặc khác nhau về mức

độ giữa những con người và cộng động người (chẳng hạn nhu cầu về niềm tin tôn giáo hoặc không tôn giáo )

Nhu cầu của con người không phải là cái bất di bất dịch mà nó rất năng động, biến đổi thường xuyên song sự vận động và

biến đổi của nhu cầu cũng tuân theo một số quy luật nhất định

Hầu hết mỗi người có một hệ thống nhu cầu Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu khác trở nên bứt thiết và cấp bách

hơn (trước đó có thể là thứ yếu) Con người không bao giờ thỏa mãn được cùng một lúc mọi nhu cầu Khi những điều mong ước trước

đây đã được giải quyết thì những điều mong ước mới sẽ phát sinh Nhu cầu mong ước của con người là vô tận Muốn điều khiển hành

vi của con người cần xác định thời điểm đó nhu cầu nào đang nổi lên, đang trở nên cấp bách nhất đối với con người đó để có những tác

động thích hợp thông qua việc đáp ứng nhu cầu

Khi nghiên cứu hệ thống nhu cầu ở một người hoặc một nhóm, mọi tầng lớp cần phải nghiên cứu điều kiện xã hội, điều kiện

kinh tế, phong tục tập quán, đặc điểm tâm lý của họ Chính những điểm đó quy định hệ thống nhu cầu của con người Thường thì con

người thực hiện một hành vi nào đó là để thỏa mãn một hệ thống nhu cầu Trong hệ thống nhu cầu đó có những nhu cầu cấp thiết hơn

nó thúc đẩy mạnh mẽ con người tới thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu và ta gọi những nhu cầu đó là nhu cầu nổi trội

Có thể khai quát, nhu cầu là hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi mong muốn, nguyện vọng của con người về vật

chất, tinh thần để tồn tại, phát triển Tùy trình độ, nhận thức, môi trường sống, đặc điểm tâm lý, mỗi người có một loạt nhu cầu khác

nhau Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hành động kiểm soát được nhu cầu có thể kiểm soát được cá nhân Nhu cầu chi phối mạnh

mẽ đến đời sống tâm lý nói chung và vì con người nói riêng, được nghiên cứu, quan tâm, sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau

Qua phân tích trên ta thấy việc nghiên cứu nhu cầu ở con người với tư cách là một hiện tượng tâm lý có một ý nghĩa rất lớn

lao đối với việc điều khiển hành vi của con người nên trong công tác thông tin tuyên truyền, trong công tác quản lý cần phải có những

kiến thức về nhu cầu của con người, phải biết phương pháp xác định và nắm bắt nhu cầu của con người, phải biết được ý nghĩa của

từng nhu cầu đối với từng con người cụ thể trong những hoàn cảnh xác định

Từ những khái niệm về nhu cầu nói trên, có thể hiểu về khái niệm nhu cầu thông tin là những đòi hỏi, mong muốn, nguyện

vọng của con người về các luồng thông tin của mọi mặt đời sống được cung cấp từ các phương tiện truyền thông khác nhau để thêm

hiểu biết, tri thức và thỏa mãn những mong muốn của mỗi người

Hiện nay, nhu cầu thông tin của người dân càng ngày càng tăng nhanh Lượt người truy cập và vebsite tin tức tăng chóng

mặt cùng với số lượng người sử dụng Internet và các thiết bị truyền tải tin tức ngày càng đông đảo Nhu cầu thông tin của công chúng

ngày nay quá lớn, đó vừa là động lực - cơ hội, vừa là áp lực - thách thức đối với truyền thông nói chung và phát thanh nói riêng Nắm

Trang 15

Như vậy, nhu cầu là khái niệm rộng, là đối tượng nghiên cứu của triết học, sinh vật học, tâm lý học, kinh tế học, xã hội

học Trong chuyên đề này, khái niệm nhu cầu được xem xét như là đối tượng nghiên cứu liên ngành của các lĩnh vực báo chí học, xã

hội học, tâm lý học Khái niệm nhu cầu tiếp nhận sử dụng trong chuyên đề được hiểu thuộc loại nhu cầu báo chí, nhu cầu xã hội, nhu

cầu tâm lý Chuyên đề tập trung vào các bình diện nhu cầu và mục đích của nhu cầu, sử dụng trong quá trình nghiên cứu Các bình

diện nhu cầu gồm: nhu cầu đã được đáp ứng, nhu cầu chưa được đáp ứng, nhu cầu tiếp nhận để phát thông tin

2.1.2 Nhu cầu: khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm, phân loại

Nhu cầu là một khái niệm khoa học, là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều lĩnh vực khoa học Tùy theo

mục đích, điều kiện và góc độ tiếp cận, mỗi người có những quan niệm khác nhau về nhu cầu Nhiều nhà khoa học Việt Nam quan tâm

nghiên cứu nhu cầu của con người và đưa ra những khái niệm khác nhau Theo Lê Hữu Thắng: “Nhu cầu là những đòi hỏi của con

người, của từng cá nhân, của từng nhóm xã hội khác nhau hay của toàn bộ xã hội muốn có những điều kiện nhất định đề tồn tại và phát

triển” [98,tr.31] Khi nói về nhu cầu là nói về một nội dung cụ thể, có chức năng hướng dẫn sự gặp gỡ giữa chủ thể và khách thể Nhu

cầu là thành tố quan trọng tạo nên nhân cách của cá nhân, cùng với các thành tố khác nhu hứng thú, niềm tin, thế giới quan, lý tưởng

Nhu cầu là sự bộc lộ ra bên ngoài của xu hướng

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện xem nhu cầu là “điều cần thiết để đảm bảo tồn tại và phát triển Được thỏa mãn thì dễ

chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức Có nhu cầu của cá nhân, có nhu cầu của chung của tập thể, khi hòa hợp, khi mâu thuẫn;

có nhu cầu cơ bản, có nhu cầu thứ yếu, giả tạo Nhu cầu do trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi” [116,tr.267]

Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, “Nhu cầu là sự phản ánh một cách khách quan các đòi hỏi về vật chất, tinh thần và xã

hội của đời sống con người phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ”

Nhu cầu của con người và nhu cầu xã hội là một hệ thống đa dạng, phong phú trong từng hoàn cảnh cụ thể, bao gồm nhu

cầu tồn tại (ăn uống, duy trì nòi giống, tự vệ…) nhu cầu phát triển (học tập, giáo dục, văn hóa…), nhu cầu chính trị, tôn giáo… Nhu

cầu của con người xuất hiện như những đòi hỏi khách quan của xã hội, do xã hội quy định, đồng thời nhu cầu mang tính cá nhân với

những biểu hiện phong phú và đa dạng Nhu cầu là hình thức tồn tại của con người, thể hiện mối quan hệ giữa cơ thể sống với thế giới

xung quanh, là cội nguồn của sự phát triển Nhu cầu là trạng thái cảm nhận được sự cần thiết của đối tượng đối với sự tồn tại và phát

triển của mình Khi nhu cầu được đáp ứng thì con người hoặc xã hội phát triển và nhu cầu mới ở trình độ cao hơn tiếp tục nảy sinh

Nhu cầu là yếu tố, động lực bên trong kích thích, thúc đẩy con người hoạt động; là tiền đề và là kết quả của hoạt động, của sự phát

triển

Trong luận án này, chúng tôi hiểu nhu cầu là một thuộc tính tâm lý con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con

người về vật chất, tinh thần để tồn tại, phát triển; là yếu tố, là động lực bên trọng kích thích, thúc đảy con người hành động Việc chỉ ra

đặc điểm cơ bản của nhu cầu là rất quan trọng để xác định những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập LLCT

Trang 16

Nhu cầu có những đặc điểm cơ bản như sau:

Tính đối tượng: khi hiểu “nhu cầu là một thuộc tính tâm lý con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người

về vật chất, tinh thần”, có nghĩa “nhu cầu” luôn cần có đối tượng A.N Leônchiep khẳng định “nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải là

nhu cầu về một cái gì đó” Đối tượng của nhu cầu nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu Trần Thị

Minh Ngọc cho rằng: “Bản thân đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không tự bộc lộ ra khi chủ thể có cảm

giác thiếu hụt hay đòi hỏi, Đối tượng đáp ứng nhu cầu chỉ bộc lộ khi chủ thể tiến hành hoạt động, nhờ vậy mà nhu cầu có tính đối

tượng” Tìm ra được đối tượng của nhu cầu là yếu tố có ý nghĩa quyết định để thỏa mãn nhu cầu Tính đối tượng khẳng định nhu cầu

góp phần hình thành động cơ và thúc đẩy hoạt động của con người chiếm lĩnh đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu

Tính khách quan: nhu cầu của con người chịu sự quy định của những điều kiện kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch

sử nhất định; nó xuất hiện từ những đòi hỏi của xã hội, của điều kiện vật chất trong giai đoạn đó Khi điều kiện kinh tế - xã hội thay

đổi, yêu cầu xã hội đối với các cá nhân cũng thay đổi, nhu cầu của cá nhân và nhu cầu xã hội cũng sẽ thay đổi

Tính chủ quan: nhu cầu xuất hiện do tác động của điều kiện, hoàn cảnh bên ngoài nhưng còn do trạng thái bên trong của

chủ thể Cá nhân con người không bao giờ thỏa mãn cùng một lúc mọi nhu cầu, mà những nhu cầu luôn tăng lên, hoàn thiện hơn,

hướng tới những giá trị chân - thiện - mỹ Bởi vậy, nhu cầu luôn mang tính chủ quan

Tính lịch sử - xã hội: bên cạnh việc chịu những tác động chung của xã hội, nhu cầu còn bị chi phối bởi những tác động

riêng như điều kiện sinh sống, yếu tố gia đình, trình độ, khả năng nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý… Tính lịch sử - xã hội vừa mang

đặc điểm chung vừa mang sắc thái cá nhân

Phân loại nhu cầu

Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng Có nhiều cách phân loại nhu cầu dựa trên những đặc điểm hay tiêu chí

khác nhau

Theo JônTm, con người có những loại nhu cầu cơ bản và ông chia thành 3 nhóm Nhóm thứ nhất, gồm các loại nhu cầu: ăn,

uống, tình dục, chạy trốn, tự vệ; nhóm thứ hai, gồm các loại nhu cầu: thống trị người khác, học tập, hiểu biết, quyến rũ; nhóm thứ ba, là

nhóm nhu cầu cho và nhận, nhu cầu thành đạt; đây là nhóm thuộc nhóm lực xung động thứ phát Các nhu cầu thuộc nhóm thứ hai và

nhóm thứ ba xuất hiện trong các mối quan hệ xã hội, bằng con đường học tập, mang tính mục đích

Boris M.Gkin chia nhu cầu thành 2 nhóm: nhu cầu tồn tại (sinh lý, an toàn và tham dự); nhu cầu đạt mục đích sống (giàu có

vật chất, quyền lực và danh vọng, kiến thức và sáng tạo, hoàn thiện tinh thần)

Năm 1954, nhà tâm lý học người Mỹ A.Maslow đã đưa ra luận thuyết thứ bậc về nhu cầu - động cơ và ông chia nhu cầu

thành năm thứ bậc: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn; nhu cầu thương yêu; nhu cầu tôn trọng; nhu cầu tự thực hiện Đây cũng chính là

những đặc trưng của nhân cách lý tưởng theo trường phái tâm lý học nhân văn A.Maslow cho rằng hệ thống thứ bậc nhu cầu của con

Ngày đăng: 18/03/2023, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w