Tài liệu tổng hợp và trình bày một cách khoa học những kiến thức cốt lõi của môn học Cơ sở văn hoá Việt Nam, hỗ trợ rút ngắn thời gian học tập cho các bạn sinh viên các ngành ngôn ngữ và Đông Phương học.
KHÁI QUÁT VỀ VĂN HOÁ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Khái niệm văn hoá
- Tiếng Latin Culture/ Cultus: Cultus Agri - gieo trồng ruộng đất, Cultus Animi – gieo trồng tinh thần
- Văn hoá: “văn” – các nét hoá văn đan xen, “hoá” – làm thay đổi, biến đổi => dĩ văn hoá nhân
Văn hoá là tập hợp các đặc điểm tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc nhóm xã hội, phản ánh bản sắc và nét đặc trưng của cộng đồng UNESCO nhấn mạnh rằng văn hoá không chỉ giới hạn trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật, mà còn bao gồm phong cách sống, phương thức sinh hoạt, hệ giá trị, truyền thống và niềm tin của cộng đồng Điều này cho thấy vai trò quan trọng của văn hoá trong việc hình thành và duy trì bản sắc văn hóa, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội.
- Văn hoá là tổng thế nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
- Văn hoá là chìa khoá của sự phát triển
- Những di sản văn hoá hữu thể/ hữu hình, những di sản văn hoá vô hình gắn bó hữu cơ với nhau
Con người là chủ thể sáng tạo và là sản phẩm của văn hóa, đồng thời là đại diện mang giá trị văn hóa do chính họ tạo ra Họ vừa là chủ thể vừa là khách thể của văn hóa, sống trong hai thế giới: thế giới thực và thế giới biểu tượng, điều này làm nên mối quan hệ gắn bó và đa chiều giữa con người và văn hóa.
- Trong tiếng Việt, “văn hoá là từ đa nghĩa”
- Đời sống tinh thần của con người
- Tri thức khoa học, trình độ học vấn
- Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh
- Nền văn hoá một thời kỳ lịch sử cổ xưa, xác định nhờ tổng thể các di vật tìm được có những điểm chung (văn hoá Đông Sơn)
1.3 Văn hoá và các khái niệm liên quan
Văn hoá Văn minh Văn hiến Văn vật
Hệ thống các giá trị vật chất, tinh thần
Civita “đô thị, thành phố, thị dân, công dân”
Trình độ phát triển đạt đến một trình độ nhất định của xã hội loài người, có nền văn hoá mang đặc trưng riêng
Truyền thống văn hoá lâu đời và tốt đẹp
Truyền thống văn hoá tốt đẹp, biểu hiện ở việc có nhiều nhân tài trong lịch sử, nhiều di tích lịch sử
Có bề dày của lịch sử/ quá khứ
Lát cắt của đồng đại
Truyền thống văn hoá tốt đẹp
Cả vật chất và tinh thần
Biểu hiện ở việc có nhiều nhân tài trong lịch sử, nhiều di tích lịch sử
Mang tính siêu dân tộc, quốc tế
Văn hoá và môi trường tự nhiên
2.1 Tự nhiên và con người
- Tự nhiên: cái có trước
Con người tồn tại hòa hợp và phát triển cùng tự nhiên, có mối quan hệ gắn bó mật thiết và sống nhờ vào môi trường tự nhiên Tuy nhiên, trong quá trình cải tạo tự nhiên, nhiều lần con người đã tác động thô bạo, gây hậu quả tiêu cực cho chính cuộc sống của chính mình.
Trong quan niệm phương Đông, tự nhiên được xem là một yếu tố cần hòa hợp và tôn trọng, góp phần duy trì sự cân bằng trong cuộc sống Ngược lại, ở phương Tây, tự nhiên thường bị coi là đối tượng để chinh phục, thống trị và biến đổi theo ý muốn của con người, đặc biệt trong văn hóa công nghiệp, nơi con người coi mình có thể can thiệp thô bạo và cải tạo thiên nhiên để khai thác tối đa nguồn lực, nhưng điều này lại tiềm ẩn nhiều hậu quả có hại cho chính mình và môi trường.
- Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là mối quan hệ nhiều chiều, thích nghi, biến đổi tự nhiên, xã hội và chính mình.
2.2 Văn hoá Việt Nam với tự nhiên
500 nghìn năm là hoà nhập Xuất hiện lửa: dấu hiệu về chất thay đối mối quan hệ con người – tự nhiên
12 nghìn năm, thuần hoá súc vật, cây trồng, sống định cư Làm thay đổi tự nhiên: biến đổi bề mặt trái đất, thảm cỏ tự nhiên
5 nghìn năm, thay đổi tổ chức và lối sống Đô thị và lối sống đô thị thay đổi cơ cấu thức ăn, chuyên môn hoá lao động
Gia tăng sử dụng năng lượng, thế cân bằng sinh thái bị phá vỡ
Con người tìm đến chiến lược thích nghiMỗi cộng đồng có cách thích nghi riêng
Bản sắc văn hoá mỗi cộng đồng rõ nét: bản sắc văn hoá VN
Văn hóa Việt Nam đa dạng, nổi bật với các đặc trưng truyền thống như sông nước và thực vật, trong đó lúa nước là biểu tượng đậm nét của văn hóa đất nước Bữa ăn truyền thống gồm cơm, rau, cá phản ánh cuộc sống mộc mạc qua các món ăn như cơm tẻ mẹ ruột, rau cháu qua ngày Trong nông nghiệp, các hoạt động trồng trọt như cấy mạ, làm lúa, xay xát gạo, trấu, rơm rạ và các sản phẩm từ gạo như bánh có vai trò quan trọng trong đời sống người Việt Chăn nuôi gắn liền với hoạt động trồng trọt, tạo nên nền kinh tế nông nghiệp đặc trưng của đất nước Các kiểu nhà truyền thống như nhà sàn, nhà mái thuyền, nhà lợp bằng thân cây lúa đều phản ánh đặc điểm sống dựa vào sông nước và địa hình phù hợp Người Việt sinh sống ven sông, ven suối qua các khu cư trỳ, dùng thuyền đi lại, tổ chức các hoạt động cộng đồng như đua thuyền, bơi chải, và tôn kính các thủy thần như rắn và thủy thần trong tín ngưỡng Các hình thức nghệ thuật dân gian như chọi, tuồng, rối nước, hũ, lớ thể hiện sự phong phú của văn hoá truyền thống Các dịp lễ Tết mang ý nghĩa cộng đồng, kết hợp các hoạt động như múa rối, đua thuyền và các phong trào chống thiên tai Các hoạt động sinh hoạt sông nước diễn ra ở các vùng làng ven sông như canh tác, đánh bắt cá, và xây dựng các công trình như ao, kênh, rạch để phù hợp với cuộc sống gắn kết với thiên nhiên.
Tâm lí ứng xử: mềm mại như nước, uyển chuyển
Văn hoá và môi trường xã hội
- Con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội
- Con người sống cùng nhau tạo mối quan hệ người - người: đa dạng, phức tạp
- Môi trường tự nhiên và xã hội là điều kiện để hình thành nền môi trường văn hoá của con người
- Môi trường văn hoá tạo ra cách ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội
Quan hệ xã hội bao gồm các mối quan hệ giữa các nhân và xã hội, đóng vai trò quan trọng trong quá trình xã hội hóa cá nhân và nhập thân văn hóa Xã hội là tổng thể các nhóm người, tổ chức, lĩnh vực hoạt động và yếu tố cấu thành một hệ thống được điều chỉnh bởi thể chế cụ thể Gia đình được xem là tế bào của xã hội, mang tính ổn định và thay đổi qua các hình thức như tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường, và ngũ đại mai thần chủ, phản ánh vai trò nền tảng trong cấu trúc xã hội.
Xã hội Việt Nam chủ yếu là xã hội nông nghiệp, mang đậm đặc trưng của văn hóa nông nghiệp truyền thống Trong nền văn hóa này, giá trị cá nhân luôn hòa quyện vào cộng đồng, thể hiện qua những thành ngữ như "áo gấm đi đêm, áo gấm về làng" hoặc "một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp," nhấn mạnh sự gắn bó và sẻ chia trong cộng đồng Đồng thời, phương Đông chú trọng vào giá trị cộng đồng và tập thể, trong khi phương Tây lại quan tâm nhiều hơn đến quyền lợi và cá nhân riêng biệt.
Các nguyên lý hình thành xã hội bắt nguồn từ mối quan hệ theo dòng máu hoặc huyết thống, bắt đầu từ gia đình và phát triển thành gia tộc, tộc người Ngoài ra, xã hội còn hình thành dựa trên yếu tố địa lý, như nơi cư trú (xóm làng, khu phố), và các lợi ích chung như tầng lớp, giai cấp, nghề nghiệp hoặc giới tính Những yếu tố này cùng nhau góp phần xây dựng các cộng đồng xã hội đa dạng và phức hợp.
Xã hội hoá cá nhân và nhập thân văn hoá đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành bản sắc con người Di truyền sinh học và di truyền văn hoá đều góp phần truyền tải những đặc điểm về thể chất và giá trị văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác Việc truyền đạt văn hoá qua giáo dục trong và ngoài nhà trường giúp hình thành nhận thức và hành vi của cá thể trong cộng đồng Gia đình là môi trường văn hoá đầu tiên, nơi con người tiếp nhận những giá trị và niềm tin của cộng đồng, bắt đầu từ thời kỳ mang thai qua các hoạt động như kiêng cữ, nhằm tạo ra một môi trường phát triển văn hoá trong sáng Giáo dục gia đình là nền tảng quan trọng để hình thành nhân cách, thể hiện rõ qua câu hát dân gian “dạy con từ thuở còn thơ,” phản ánh vai trò của mẹ và bà trong việc giáo dục đạo đức và lối sống cho thế hệ trẻ.
Việt Nam có vị trí địa chính trị đắc địa, là điểm giao thoa giữa các nền văn hoá lớn và cầu nối quan trọng tới Đông Nam Á Lịch sử Việt Nam nổi bật với quá trình chống xâm lược từ phong kiến phương Bắc và mở rộng bờ cõi về phía Nam, góp phần hình thành quốc gia thống nhất và đa dân tộc Nền văn hoá Việt Nam thể hiện sự thống nhất trong sự đa dạng, đặc trưng bởi truyền thống văn hoá nông nghiệp đậm đà, góp phần định hình cấu trúc xã hội và đặc điểm gia đình đặc trưng của người Việt.
3.2 Mô hình văn hoá VN o Cá nhân – gia đình – họ hàng – làng xóm – vùng miền – đất nước o Nhà - họ - làng nước
Gia đình là tập hợp các cá nhân có quan hệ hôn nhân và huyết thống trong cùng một mái ấm, mở rộng liên quan đến dòng họ Gia đình hạt nhân gồm vợ chồng một cặp, trong khi gia đình mở rộng gồm nhiều thế hệ cùng sinh sống Các hình thức gia đình có thể là gia đình truyền thống hoặc hiện đại, với các chức năng chính như truyền sinh, giáo dục, phân phối lao động, chăm lo kinh tế và thực hiện các hoạt động tôn giáo như thờ cúng Gia đình còn là môi trường văn hoá đặc trưng của từng vùng miền và dân tộc, phản ánh trong tiếng Việt qua các tên gọi, thành ngữ, tục ngữ, ca dao Trong đời sống của người Việt Nam truyền thống, gia đình còn được gọi là "gia đỡnh" hoặc "nhà," thể hiện vai trò là nơi gìn giữ nét văn hoá và truyền thống dân tộc.
Làng o Đơn vị cộng cư, có vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, được tổ chức theo mô hình xã hội nông nghiệp tự cung tự cấp, hình thành từ các cội nguồn cùng chỗ Làng là đơn vị tổ chức có sức sống mãnh liệt, không bất biến mà luôn thay đổi, đồng thời còn là cơ sở hình thành các nét văn hoá đặc trưng của vùng miền và dân tộc, gắn liền với các yếu tố như làng đến nước Đây là đơn vị cơ sở và là không gian sinh hoạt văn hoá chính yếu của người Việt, thể hiện qua các yếu tố như tiếng Việt, luỹ tre, sân đình, bến nước, gốc đa, cùng với văn hoá cây tre biểu tượng cho sự uyển chuyển, cố kết và mạnh mẽ Tên gọi của làng thường gồm các thành phần như thôn, xóm, làng, hương, lí, bon, sóc, giáp, quê, phản ánh rõ nét đặc trưng văn hoá và địa phương của cộng đồng.
Đô thị thường phát triển ở nơi đông dân cư và tập trung hoạt động buôn bán như ở thành phố hoặc thị xã, trong khi các đô thị truyền thống của Việt Nam xuất hiện chậm và ít hơn, chủ yếu hoạt động như trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá Trong thế kỷ 15-16, Đại Việt Thăng Long được coi là "kẻ chợ" với vị trí chính trị vững chắc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Sau thế kỷ 16, một số đô thị mới hình thành liên quan đến ngoại thương như Phố Hiến và Thanh Hà, phản ánh sự mở rộng và đa dạng trong hoạt động đô thị của Việt Nam.
Hà Nội, Hội An, Nước Mặn và Sài Gòn thể hiện sự hòa quyện giữa thành phố và nông thôn nhờ vào quá trình phân công lao động đa dạng Đô thị hóa đã hình thành tư duy mới, thúc đẩy thích nghi giữa nông nghiệp truyền thống và cuộc sống đô thị hiện đại Tư duy nông nghiệp và căn tính của người nông dân ảnh hưởng rõ rệt tới cộng đồng cư dân đô thị tại Việt Nam Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý và xây dựng nếp sống đô thị văn minh, bền vững.
Đặc trưng, chức năng của văn hoá
4.1 Tính hệ thống và chức năng tổ chức xã hội
- Tính hệ thống: mọi sự kiện, hiện tượng thuộc một nền văn hoá đều có liên quan mật thiết với nhau
4.2 Hệ thống giáo dục không thể độc lập mà tồn tại, phát triển cùng với các hệ thống khác o Chùa (vật chất) thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng (tinh thần) của con người
Chức năng tổ chức xã hội của văn hóa dựa trên tính hệ thống, giúp văn hóa bao trùm mọi hoạt động của xã hội và thực hiện vai trò tổ chức xã hội hiệu quả Nhờ vào đặc điểm này, văn hóa góp phần tăng tính ổn định cho xã hội, đồng thời cung cấp các phương tiện cần thiết để xã hội thích nghi và đối phó với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội thay đổi liên tục.
4.3 Tính giá trị và chức năng điều chỉnh xã hội
Tính giá trị phản ánh mức độ nhân bản của xã hội và con người dựa trên các tiêu chí khác nhau Theo mục đích, giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, phù hợp với các mục đích sử dụng khác nhau Theo ý nghĩa, chúng ta phân biệt giá trị sử dụng, giá trị đạo đức như cứu trợ và từ thiện, cùng với giá trị thẩm mỹ trong âm nhạc và tranh vẽ Ngoài ra, theo thời gian, các giá trị có thể là vĩnh cửu như trong giáo dục và hội họa, hoặc nhất thời như thời trang và quan niệm xã hội nhất thời.
Chức năng điều chỉnh xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng động của xã hội Nó giúp xã hội không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng linh hoạt với những biến đổi của môi trường cũng như các yếu tố xã hội Nhờ đó, xã hội luôn duy trì sự ổn định và phát triển bền vững trong quá trình biến đổi liên tục.
4.4 Tính nhân sinh và chức năng giao tiếp
Tính nhân sinh trong văn hoá phản ánh giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nhằm phục vụ cuộc sống hàng ngày Văn hoá là sản phẩm của con người, không chỉ phục vụ đời sống vật chất mà còn góp phần nâng cao đời sống tinh thần Đồng thời, văn hoá là những hình thức tự nhiên được biến đổi dưới tác động của con người, thể hiện qua các hoạt động như đặt tên hay truyền thuyết về các cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng, ví dụ như Ngũ Hành Sơn hay Vịnh Hạ Long, góp phần khẳng định bản sắc văn hoá đặc trưng của dân tộc.
Chức năng giao tiếp văn hóa đóng vai trò như sợi dây kết nối con người với con người, giúp truyền đạt kiến thức, tư tưởng và tình cảm một cách hiệu quả Giao tiếp không chỉ là phương tiện thông báo thông tin mà còn xây dựng các mối quan hệ xã hội, thúc đẩy sự hiểu biết và hợp tác giữa các cá nhân Nhờ đó, văn hóa góp phần củng cố các giá trị cộng đồng và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Ngôn ngữ đóng vai trò chính trong chức năng giao tiếp, giúp truyền tải thông tin rõ ràng và hiệu quả Bên cạnh đó, văn hóa cũng là nội dung quan trọng trong quá trình giao tiếp, phản ánh các lĩnh vực như giáo dục, khoa học, tôn giáo và luật pháp Nhờ đó, ngôn ngữ và văn hóa liên kết mọi người lại với nhau, tạo ra sự hiểu biết và gắn kết trong cộng đồng.
4.5 Tính lịch sử và chức năng giáo dục
Tính lịch sử và văn hóa là sản phẩm của quá trình sáng tạo dài lâu, được tích lũy qua nhiều thế hệ Văn minh thể hiện trình độ phát triển của mỗi giai đoạn lịch sử, qua đó phản ánh sự tiến bộ của xã hội Tính lịch sử được duy trì bền vững thông qua truyền thống văn hóa, gồm những giá trị tương đối ổn định như ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lễ nghi và luật pháp Những yếu tố này góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc và phát triển bền vững của cộng đồng qua thời gian.
Chức năng giáo dục quan trọng trong việc phổ biến những giá trị văn hóa đã ổn định và đang hình thành, giúp bảo đảm tính kế thừa của lịch sử và phát triển văn hóa bền vững Ngoài ra, giáo dục đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con người, góp phần xây dựng thế hệ tương lai có đạo đức và trách nhiệm.
CẤU TRÚC, CHỨC NĂNG, THÀNH TỐ CỦA VĂN HOÁ VÀ CỦA VĂN HOÁ VIỆT NAM 12 1 Đặc điểm chung
Nhân tố
Ngôn ngữ là công cụ truyền tải và lưu giữ văn hóa quan trọng của một dân tộc, phản ánh các giá trị, nghi thức giao tiếp và phong tục tập quán của cộng đồng Các thành ngữ trong tiếng Việt không chỉ gắn liền với đời sống hàng ngày như "mong như mong mẹ về chợ", "bán anh em xa mua láng giềng gần", mà còn thể hiện nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam qua các hình ảnh và câu chuyện truyền thống Thành ngữ còn mượn từ các nền văn hóa khác như Trung Quốc, như "binh quý thần tốc", "danh chính ngôn thuận", giúp phong phú và đa dạng hơn trong việc truyền đạt ý nghĩa, tuy nhiên cũng có thể làm mờ đi bản sắc văn hóa riêng của dân tộc nếu lạm dụng Vì vậy, ngôn ngữ và thành ngữ không chỉ thể hiện bản sắc mà còn là phương tiện duy trì và phát huy giá trị văn hóa của cộng đồng qua từng thế hệ.
Ngôn ngữ là công cụ truyền tải văn hoá đặc trưng của mỗi dân tộc, phản ánh qua cách chào hỏi, lịch sự và cách thể hiện các khái niệm Mặc dù cùng một ý nghĩa như "gạo" trong tiếng Việt, nhưng các ngôn ngữ khác lại biểu hiện khác nhau, ví dụ như "gạo nếp" và "gạo tẻ" đều liên quan đến gạo nhưng được phân biệt rõ ràng Trong tiếng Phần Lan, từ vựng về tuyết phong phú và đa dạng, như "Viti" chỉ tuyết mịn như bột vừa mới rơi, "nietos" để mô tả đống tuyết to, đông cứng, và "pyry" dùng để chỉ mưa tuyết, phản ánh rõ nét đặc điểm tự nhiên của mỗi nền văn hoá qua ngôn ngữ.
Từ “tuyết” trong tiếng Việt là mượn từ tiếng Hán, liên quan đến các từ mô tả màu đen như ỏi – mõy, ỏm – búng tối, ảm – khung gian, đài – bồ hóng, hắc – khói, nha – quạ, ô – ngựa, huyền – màu tím đen, tri/truy – màu đen của lụa, và mặc – mực Các từ này phản ánh những sắc thái khác nhau của màu đen trong văn hóa và ngôn ngữ Trung Quốc và Việt Nam Việc hiểu rõ các từ liên quan giúp mở rộng vốn từ về màu sắc đặc biệt trong các lĩnh vực như mỹ thuật, thiết kế, và văn hóa truyền thống.
- Văn hoá không chỉ là phương tiện thể hiện mà còn lưu giữ, trao đổi văn hoá. Tiếp nhận ngôn ngữ là tiếp nhận văn hoá
- Ngôn ngữ biến đổi chậm hơn văn hoá, sự biến đổi nhanh của văn hoá dẫn đến sự hoàn thiện của ngôn ngữ
Có những cộng đồng ngôn ngữ có chung nền văn hóa như Anh, Mỹ, nhưng sự khác biệt về điều kiện kinh tế, chính trị và địa lý khiến cho một ngôn ngữ chung không thể duy trì một nền văn hóa chung trên toàn bộ lãnh thổ (Corder)
Ví dụ: Anh: ground floor, first floor – Mĩ: first, second floor
Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin của con người vào hệ thống quan niệm và hoạt động gồm đối tượng thờ cúng, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức, theo luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 Tôn giáo không chỉ có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố văn hóa khác mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến chúng Các tôn giáo phổ biến tại Việt Nam bao gồm: Hồi giáo, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và Kito giáo.
Nho giáo, còn gọi là đạo Khổng được sáng lập bởi Khổng Tử và các nhân vật kế tục nổi bật như Mạnh Tử, là một trong những tôn giáo lớn của Trung Quốc cổ đại Khổng Tử, còn gọi là Khổng Khou hoặc Trọng Ni, sống vào thời Xuân Thu, theo đuổi tư tưởng về đạo đức cá nhân, tập thể và chính quyền, nhấn mạnh đến tính đúng đắn, sự công bằng, lòng nhân ái và chân thành trong các mối quan hệ xã hội Ví dụ điển hình là quan hệ giữa thần và quần chúng, hay việc giúp người khác lập thân để tự lập thân mình Mạnh Tử, người tên thật là Mạnh Kha, triết gia Nho giáo nổi bật, nhấn mạnh tư tưởng "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" và coi trọng tính thiện của con người, tin rằng "Nhân chi sơ tính bản thiện", trái ngược với quan điểm của Tuân Tử về bản chất con người là ác và dựa vào mệnh trời.
Nho giáo đã được truyền vào Giao Châu từ rất sớm và phát triển qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam Trong thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo phát triển theo hai hướng: phía Bắc nhằm Hán hóa, trong khi người Việt phản đối việc Hán hóa Sau thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại như Ngụ, Đinh, và Tiền Lê đã chưa chú trọng phát triển Nho giáo, nhưng vào đời Lý, nhà nước trọng Phật giáo đồng thời vẫn dựa vào Nho giáo để quản lý, lập quốc qua các hoạt động như xây dựng Văn Miếu, thi cử Nho học Đến đời Trần, Nho học bắt đầu phát triển mạnh mẽ hơn Sau chiến tranh chống quân Minh, nhà Lý chú trọng biện pháp quân công và thi cử, đến năm 1442, hệ thống khoa cử trở nên ổn định Vào thế kỷ 16-17, chính quyền dựa trên tư tưởng Nho giáo để xây dựng và quản lý xã hội, đồng thời nó ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Việt Nam, trở thành yếu tố cố kết trong giới nho sĩ Từ thế kỷ 15 trở đi, tầng lớp trí thức nhà nho ngày càng mở rộng, những tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn mang đậm dấu ấn của truyền thống Nho giáo trong tư duy và cách mạng của họ.
Tiếp nhận có chọn lọc
Dùng Nho giáo để quản lí o Đạo giáo: ã Lóo Tử: viết Đạo đức kinh, là Khai tổ Đạo giỏo, tư tưởng: khụng tiếp nhận nhiều tư tưởng Khổng – Mạnh, triết lí thuận theo, hoà hợp với thiên nhiên, tạo hoá, tuân theo quy luật của thiên nhiên, tu luyện để sống lâu và gần với Đạo (人人人人人人人人人人人人人人人人) ã Trang Tử: tỏc phẩm đều gọi Trang Tử, tư tưởng: đề cao sự thực hành bằng chính bản thân cuộc sống theo đạo hơn là suy ngẫm triết lí thâm trầm về đạo 人人人人人人人人, nói đến mối quan hệ giữa môi trường và con người (phân biệt, đối lập và hoà hợp) ã Từ tỏc phẩm của Trang Tử rỳt ra 473 thành ngữ hiện dụng: hổ khẩu đào sinh – thoát khỏi hang hùm, tỉnh để chi oa, tỉnh để chi kiến, toạ tỉnh quan thiên - ếch ngồi đáy giếng, đắc ngư vong thuyên – được chim quên ná, được cá quên nơm o Phật giáo: ã Là tụn giỏo là hệ thồng triết học, gồm cỏc giỏo lý, tư tưởng triết học, tư tưởng và tư duy về nhân sinh quan, vũ trụ quan, thế giới quan, giải thích hiện tượng tự nhiên, tâm linh xã hội, bản chất sự vật và sự việc. ã Buddha – Bụt (trực tiếp), - Phật (qua tiếng Hỏn) ã Buddha: giỏc ngộ ã Con đường truyền giỏo: ã Phật giỏo Nam truyền (Nam tụng): từ Nam Ấn đến Sri Lanka, theo đường biển truyền đến Đông Nam Á. ã Phật giỏo Bắc Truyền (Bắc Tụng): từ Bắc Trung A, theo con đường tơ lụa truyền đế Trung Quốc, sang Nhật, Triều Tiên và Việt Nam. ã Phật giỏo Mật truyền (Mật tụng): cũng được truyền qua Trung Á, qua con đường tơ lụa đến Tây Tạng, sau đó lan sang Mông Cổ, Nepal.
Tại Việt Nam, từ thế kỷ thứ 2, các sư tăng Ấn Độ và Trung Quốc truyền đạo Phật, hình thành trung tâm Phật giáo lớn như Luy Lâu Phật giáo Việt Nam tồn tại cả Đại thừa và Tiểu thừa, đặc biệt trong cộng đồng người Khmer Nam Bộ, ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa và đời sống tinh thần của người Việt qua các khái niệm về ức, thiện, duyên, kết, số, phận và phù hộ Ngoài ra, Kitô giáo (còn gọi Cơ đốc giáo hoặc Thiên chúa giáo) cũng là một trong các tôn giáo bắt nguồn từ Abraham, dựa trên các giáo huấn về cái chết trên giá thập tự và sự tái sinh của Chúa Jesu, đã góp phần đa dạng hóa đời sống tôn giáo tại Việt Nam.
Kito giáo ở Việt Nam được gọi là Thiên Chúa giáo, bắt đầu truyền đạo từ đầu thế kỷ 16 Alexandre de Rhodes là người có vai trò quan trọng trong việc truyền bá đạo Công giáo tại đất nước này Ông quan niệm rằng để truyền đạo thành công, cần có ngôn ngữ viết tốt và viết chữ tốt, do đó ông đã đi đến các vùng đất khác nhau để tạo ra chữ viết phù hợp với ngôn ngữ địa phương Việc này giúp lan tỏa đạo Kito giáo hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đạo Công giáo tại Việt Nam.
Ảnh hưởng lớn nhất của Kito giáo là chữ Quốc ngữ
- Là niềm tin của con người thể hiện qua lễ nghi gắn với phong tục tập quán địa phương
Niềm tin đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích thế giới và vũ trụ, giúp con người tìm kiếm sự hiểu biết sâu sắc về cuộc sống Nó gắn kết cộng đồng, tạo nền tảng cho sự thịnh vượng, bình yên và hạnh phúc bền vững Niềm tin không chỉ là niềm hy vọng, mà còn là động lực thúc đẩy chúng ta vượt qua thử thách và hướng tới một cuộc sống thanh cao, viên mãn Việc xây dựng niềm tin vững chắc sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần tạo nên một xã hội hòa bình, phát triển và hạnh phúc.
Niềm tin của con người tồn tại trong hệ thống quan niệm và hoạt động tín ngưỡng, bao gồm việc đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức tôn giáo.
Tổ chức không chặt chẽ, tách lẻ và rời rạc
Hệ thống điều hành và tổ chức chặt chẽ
Nghi lễ mang tính dân tộc và dân gian, gắn liền với sinh hoạt văn hoá truyền thống của cộng đồng Trong đó, có sự hòa quyện giữa thế giới thần linh và con người, phản ánh niềm tin tâm linh sâu sắc của người dân Các nơi thờ cúng và nghi lễ thường phân tán và chưa được tổ chức thành một hệ thống chặt chẽ, thể hiện nét đặc trưng của phong tục tập quán địa phương.
Giáo lí, giáo luật chung, có hệ thống giáo lý, kinh điển, được truyền thụ qua giảng dạy và học tập
Chung đề cập đến niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào các yếu tố siêu nhiên và thiêng liêng, những gì đối lập hoàn toàn với thế giới trần tục và thực thể mà con người có thể cảm nhận, sờ mó hoặc quan sát Niềm tin này phản ánh lòng ngưỡng mộ và hy vọng vào những điều vượt ngoài giới hạn của thực tại vật chất, góp phần hình thành các giá trị tinh thần và tín ngưỡng trong đời sống con người.
Tín ngưỡng phồn thực là niềm tin tôn vinh sự sinh sôi nảy nở, tồn tại và phát triển của vạn vật qua biểu tượng âm dương, đất trời và non nước Bản chất của tín ngưỡng này nhằm thờ cúng hành vi giao cấu, các bộ phận sinh dục nam nữ, như là biểu hiện của sự sinh sôi nảy nở trong đời sống hàng ngày Các lễ hội mùa xuân, mùa sinh sủi thể hiện rõ nét mong muốn của cộng đồng về sự sinh trưởng mạnh mẽ Các điệu múa và trò chơi dân gian như đấu vật, với sân đình hình vuông hoặc tròn tượng trưng cho đất và trời, dương và âm, biểu trưng cho sự hài hòa và cân bằng trong cuộc sống Ngoài ra, những vật dụng hàng ngày như chày, cối cũng mang ý nghĩa cầu mong điều tốt đẹp, thể hiện sự kết nối và lòng thành kính đối với tín ngưỡng phồn thực.
Cơ tầng văn hoá ĐNÁ
Canh tác Chăn nuôi (thuần dưỡng gia Kim khí (đồng, súc)
Vị trí của người phụ sắt) nữ
Cái riêng của Việt Nam
Trồng trọt (lúa nước, dâu => tơ Chăn nuôi (trâu tằm)
Kim khí (đồ đồng => văn hoá bò) Đông Sơn)
Thời kỳ đầu: văn hoá
Pháp (cưỡng bức, tự nguyện)
Khởi đầu thời kì văn hoá VN hội nhập với vhtg
Trang phục, ẩm thực, giá trị
Nhận thức Tư duy phân tích + tổng hợp
Văn hoá cá nhân + văn hoá cộng đồng
Văn hoá bằng kinh tế
Hoà nhập mà không hoà tan Đậm đà bản sắc dân tộc
Từ mượn Hán, Hán Việt
Tạo chữ Nôm Đạo Nho (tri thức, chính quyền)
VĂN HOÁ VIỆT NAM: TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠ
Những vấn đề chung
1.1 Tiến trình văn hoá có nhiều yếu tố nội sinh (vốn có) và ngoại sinh
Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa đa dạng và phong phú, hình thành trên nền tảng vững chắc của văn hóa truyền thống Trong quá trình tiếp xúc, du nhập và tiếp nhận các yếu tố văn hóa ngoại sinh, văn hóa Việt Nam thể hiện sự khoan hòa, không chối bỏ những giá trị mới mà hấp thụ một cách linh hoạt, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc.
Tiếp xúc văn hoá: là đặc điểm chung của mọi nền văn hoá, không có nền văn hoá tự cấp tự túc
Giao lưu văn hoá: trao đổi – tự trao đổi – tiếp nhận có chọn lọc – tiếp biến có sự đồng hoá (nội sinh => ngoại sinh)
Văn hoá Việt Nam: Cơ tầng (bản chất) văn hoá Đông Nam Á
- Lớp văn hoá bản địa Việt Nam được hình thành qua hai giai đoạn o Giai đoạn văn hoá tiền sử o Giai đoạn văn hoá Văn Lang – Âu Lạc
2.1 Giai đoạn văn hoá tiền sử
- Đông Nam Á là một trong những trung tâm phát sinh nông nghiệp sớm nhất
- Vị trí địa lí: rộng lớn hơn ngày nay o Bắc: sông Dương Tử o Nam o Đông o Tây
Văn hóa của cư dân cổ sở hữu những đặc điểm riêng biệt, thể hiện qua các hoạt động như trồng trọt, đặc biệt là trồng củ và trồng lúa từ năm 500-300 TCN, cùng với chăn nuôi trâu bò để làm sức kéo Họ còn phát triển nghề luyện kim với chủ yếu là đồng và sắt để chế tạo vũ khí, công cụ và dụng cụ phục vụ đời sống cũng như nghi lễ Gia đình theo kiểu mẫu hệ, nơi vai trò của người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong xã hội Trong các thời kỳ cúng, họ thờ cúng các thần, đất đai, thần nước, thần lúa, mặt trời, cây cối, đá, hổ và cá sấu, thể hiện niềm tin tâm linh sâu sắc Ngoài ra, cư dân còn có kỹ năng đi biển thành thạo, góp phần mở rộng hoạt động sinh nhai và giao lưu văn hóa.
Văn hóa bản địa Việt Nam có những nét chung đặc trưng như người Việt là chủ thể của nền văn hóa, với truyền thống làm ruộng nước và khai phá châu thổ sông Hồng, phát triển kỹ thuật trồng lúa truyền thống Ngoài ra, người Việt còn nổi bật với nghề trồng dâu nuôi tằm để sản xuất tơ lụa, được thế giới công nhận như một nền lịch sử tơ lụa lâu đời hàng nghìn năm Một số vùng như Cố Đô, Vạn Phúc – Hà Nội, và Cổ Chất – Nam Định vẫn duy trì nghề trồng dâu nuôi tằm, góp phần giữ gìn nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam.
Chinh phụ ngâm thể hiện nỗi lòng chia ly và nỗi buồn sâu sắc qua hình ảnh những cành dâu xanh ngắt, tượng trưng cho sự mong nhớ và nỗi cô đơn của người phụ nữ Câu thơ “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy” thể hiện sự đợi chờ mòn mỏi, trong khi hình ảnh “Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu” gợi nhắc về vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng cũng ẩn chứa nỗi buồn chia xa Những cành dâu xanh tươi biểu tượng cho sự thủy chung, bền bỉ trong tình cảm, đồng thời phản ánh tâm trạng của nhân vật về nỗi niềm u sầu, như lời tự sự về sự mong đợi một người thân yêu nhưng lại trông thấy sự vắng mặt Nội dung bài thơ truyền tải cảm xúc sâu sắc của người phụ nữ trong hoàn cảnh mất mát, giúp người đọc cảm nhận rõ nét tâm trạng lưu luyến, buồn thương và niềm hy vọng mong manh trong tình yêu.
Cuộc bể dâu – Thương hải tang điền
Già kén kẹn hom – kén chọn quá thì tình duyên lỡ làng
“Một nong tằm là năm nong kén Một nong kén là chín nén tơ Quản bao tháng đởi năm chờ
Ai ơi dứt mối lìa tơ sao đành”
“xuân tàm đáo tử ti phương tận” – con tằm đến thác vẫn còn vương tơ – cống hiến đện tận giây phút cuối cùng của cuộc đời o Tục uống chè/ trà
Tiền Hán Việt Hán Việt Hậu Hán Việt Đọc theo âm địa phương Trung Quốc Chè
Chè, trà Mồ Gần Biên, ven, viền, mép,
Vằn thắn là một phần quan trọng trong đời sống người Việt cổ, thể hiện qua việc làm nhà sàn để ở, tránh thú dữ và bảo vệ an toàn Người xưa còn thuần dưỡng gia súc như trâu và gà để đảm bảo nguồn thực phẩm ổn định Họ sử dụng các cây thuốc dân gian để chữa bệnh, phản ánh kiến thức y học cổ truyền dân tộc Các khám phá khảo cổ cho thấy dấu tích của bào tử phấn lúa, vỏ trấu, gạo cháy hay mảnh chõ xôi có niên đại hàng nghìn năm trước công nguyên, chứng minh nền văn minh sớm của người Hỏn định cư tại bờ sụng Hoàng Hà, với các hoạt động trồng trọt như lúa, kờ, mạch, đậu của người Việt cổ.
2.2 Giai đoạn văn hoá Văn Lang – Âu Lạc
- Sau trồng lúa nước – luyện kim đồng
- Nghề luyện kim đồng thau ra đời
- Đồ đồng Đông Sơn có sức ảnh hưởng lớn
Chữ Khoa đẩu 人人 /nòng nọc/ là một dấu vết văn tự cổ xuất hiện từ thời Hán và thời Đường, từ khoảng 3-2 nghìn năm TCN đến vài trăm năm TCN, thể hiện sự phát triển rực rỡ trong lịch sử văn hóa dân tộc Những dấu tích này đã góp phần tạo nên đỉnh cao văn hóa, có ảnh hưởng lớn đến toàn khu vực Đông Á.
3 Văn hoá Việt Nam tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến với văn hoá Trung (NHO HỌC)
Lưu ý: ranh giới của văn hoá Trung Hoa không trùng với địa giới Trung Hoa hiện tại
Văn hoá bản địa Việt Nam tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến với văn hoá Trung (NHO HỌC)
- Làng là đơn vị cơ sở và không gian sinh hoạt văn hoá chính yếu của người Việt (các dân tộc nói tiếng Tày, Thái, Mèo, Dao, Môn Khmer)
3.2 Quá trình rất dài, ảnh hưởng lớn 2 hướng: cưỡng bức – không cưỡng bức
- Xâm lược => đồng hoá dân tộc, đồng hoá văn hoá: 1000 năm Bắc thuộc – cưỡng bức
- Tiếp nhận văn hoá Hán: sau thế kỷ X – nước Đại Việt độc lập
- Đặc trưng chung: song song tồn tại 2 xu hướng: Hán hoá và chống Hán hoá o Giai đoạn 1000 năm Bắc thuộc: Hán hoá và tiêu diệt văn hoá Việt ã Đời Tần: chiếm cả thiờn hạ, cướp đất ã Sĩ Nhiếp thế kỷ II ra sức mở trường học để truyền bỏ văn hoỏ Trung Hoa, thủ tiêu văn tự ngôn ngữ Việt ã Tụ Định, Mó Viện ra sức thiết lập nền phỏp chế hà khắc bằng gươm giáo, đồng hoá người Việt, chia VN thành 9 quận, đặt ra thứ sử quận Gaio Chỉ ã Chế độ khoa cử thời Tuỳ Đường ở vựng đất Giao Chỉ làm tăng mức độ tiếp xúc và ảnh hưởng ngôn ngữ văn hoá Hán với văn hoá Việt ã Suốt thời kỳ Bắc thuộc, chữ Hỏn được dựng trong nhà trường, chựa, thờ cúng tổ tiên, sáng tác văn học, ghi chép giấy tờ ã í thức phản khỏng bất khuất ã Cỏc cuộc khởi nghĩa đến đỉnh cao là khởi nghĩa Ngụ Quyền 938 ã Nhờ nền múng vững vàng, cơ tầng văn hoỏ ổn định tạo nờn từ đỉnh cao rực rỡ trong lớp văn hoá bản địa, tinh thần Văn Lang – Âu Lạc vẫn tồn tại như một mạch ngầm trong suốt thời Bắc thuộc
Tiếng Việt, văn hoá Việt không bị mất đi, giữ được hồn cốt
Cơ tầng ngôn ngữ: vốn từ cơ bản (mây, mưa, gió, bão, trời, đất, )
=> từ Hán Việt trở thành từ văn hoá (có thể thay đổi ngữ nghĩa, phân biệt rành rọt ngữ cảnh sử dụng)
- Tính khoan dung của văn hoá Việt: o o Tạo ra các mô hình tổ chức xã hội vừa giống và khác với mô hình xã hội của giai cấp Trung Quốc, Nho giáo Vn khác Nho giáo TQ o Dưới thời Lý, Trần, Nho giáo được vận dụng ã 1227: mở khoa thi Tam Giỏo ã 1232: Mở khoa thi Thỏi học sinh đầu tiờn (Tiến sĩ), từ 1246 tổ chức quy củ, 7 năm 1 kỳ ã Trường học: Do nhà nước quản lớ, cú 1 số trường dõn lập o Nhà Trần o Nhà Hồ, Tây Sơn ã Vua Quang Trung sử dụng chữ Nụm làm văn tự chớnh thức trong các chiếu chỉ, có kế hoạch giao cho La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp tổ chức dịch sách kinh điển từ Hán sang Nôm
4 Văn hoá Việt Nam tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến và tiếp biến với văn hoá Ấn (PHẬT GIÁO)
- Ấn Độ không tiếp giáp trực tiếp với VN nhưng ảnh hưởng tới văn hoá VN
- Trước CN: người Ấn thông thương, buôn bán với cư dân Đông Nam Á (vàng)
Văn hoá Việt Nam tiếp xúc, giao lưu, tiếp biến và tiếp biến với văn hoá Ấn Độ (PHẬT GIÁO).23 5 Văn hoá Việt Nam tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến và tiếp biến với văn hoá phương Tây
- Châu thổ Bắc Bộ: vừa trực tiếp vừa gián tiếp
- Đầu Công Nguyên, châu thổ Bắc Bộ là địa bàn trung chuyển của văn hoá Ấn (tôn giáo)
- Các nhà sư đi qua Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) để lên phương Bắc truyền đạo
- Ảnh hưởng của văn hoá Ấn chỉ diễn ra trong tầng lớp dân chúng nhưng có sự phát triển rất lớn
- Giao Châu thành trung tâm Phật giáo lớn nhất Đông Nam Á
- Người Việt tiếp nhận Phật giáo Đại thừa (tự bổ sung thông tin)
Việt Nam tiếp nhận văn hoá Phật giáo qua 2 con đường Trung - Ấn
Quá trình hình thành từ Phật Buddho => Đông Hán: Phù Đồ, Tây Vực: Pat/Pud Phật, Phật Đà, => cuối cùng: Phật
Oxy: o Vào thẳng tiếng Việt: Ô xi o Qua Hán: dưỡng khí
5 Văn hoá Việt Nam tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến và tiếp biến với văn hoá phương Tây
- Âu Hoá: thực dân Pháp có ý thức dùng văn hoá như công cụ cai trị
- Chống Âu hoá, Việt Nam hoá các ảnh hưởng phương Tây (tiếp nhận tự nguyện)
- Văn hoá Đại Nam o Thời Minh Mạng, o o
Quá trình thâm nhập và sự tiếp nhận văn hóa phương Tây vào Việt Nam bắt đầu từ thời kỳ văn hóa Việt Nam hội nhập vào văn hóa nhân loại, đối mặt với sự phản kháng của người Việt chống lại ảnh hưởng Pháp qua các nhân vật như Nguyễn Đình Chiểu, Trương Công Định và Nguyễn Trung Trực Tuy nhiên, quá trình tiếp nhận này diễn ra theo chiều hướng cưỡng bức tự nguyện, điển hình là việc Việt hóa các bộ phận của xe đạp và câu nói “Phụ quý bất quy cố hương, như cẩm y dạ hành,” phản ánh sự thay đổi trong văn hóa Việt Nam Hệ quả của quá trình này là những hoạt động giải trí mang tính đổi mới, góp phần tạo ra những thay đổi trong văn hóa Việt Nam như việc nâng cao ý thức về vai trò cá nhân và mở rộng tư duy phân tích theo phương Tây, bổ sung cho lối tư duy truyền thống Đặc biệt, chữ Quốc ngữ chuyển từ một chữ viết mang tính tôn giáo thành ngôn ngữ của một nền văn hóa hiện đại, cùng với sự xuất hiện của các phương tiện văn hóa như nhà in, nhà xuất bản, thể loại nghệ thuật mới như thơ mới, tiểu thuyết, điện ảnh, kịch ngày càng phổ biến Văn hóa phương Tây còn đem lại sự phát triển trong lĩnh vực khoa học – công nghệ như xe cộ, đường sắt, kiến trúc, đồng thời ảnh hưởng đến đời sống qua trang phục, phong cách sống và ẩm thực, tất cả đều là những hoạt động giải trí góp phần làm phong phú đời sống xã hội Việt Nam.
- Thế kỷ 16: mục đích truyền đạo
- Các nhà truyền đạo đến Vn thời Trịnh – Nguyễn phân tranh
- Muốn truyền đạo, giảng đạo => biết tiếng bản xứ => dùng chữ
Latin để ghi lại vầ giảng nghĩa những chữ đó bằng tiếng của học
- 17,18: viết liền nhau, chưa dấu thanh
- 22/2/1869: Bắt buộc dùng chữ QN trong các công văn ở Nam Kỳ
- 1879: giáo dục chữ QN ở Nam Kỳ
- 2/9/1945: quốc gia độc lập, tiếng Việt là ngôn ngữ Quốc gia, chữQuốc ngữ là văn tự chính thức, duy nhất của tiếng Việt
Văn hoá Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Cách mạng tháng 8, bước ngoặt vĩ đại => nước VN độc lập
- 2/9/1945: Tuyên ngôn độc lập bằng tiếng Việt, nhắc đến quốc kỳ, quốc ca, quốc ngữ => ba chỉ tố của một quốc gia độc lập
Ngày 8/3 đã có tác động mạnh mẽ đến văn hóa Việt Nam, thúc đẩy xã hội của những người xuất thân từ nông dân và công nhân trở thành những chủ nhân thực sự của cuộc đời mình Sự kiện này đã góp phần xây dựng xã hội dựa trên tinh thần tự lập, bình đẳng và đổi mới, thúc đẩy những thay đổi thực sự về chất trong các lĩnh vực đời sống và xã hội.
- Phương pháp lãnh đạo: kết hợp nguyên tắc cách mạng và truyền thống dân tộc
- Đề cương VHVN của Đảng (1943): dân tộc hoá, đại chúng hoá, khoa học hoá o Phát triển văn hoá nghệ thuật chuyên nghiệp o
Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất năm 1946 do Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc "phải biết tiếp thu những kinh nghiệm quý báu của nền văn hoá xưa và nay" để phát triển nền văn hoá dân tộc Hội nghị tập trung thúc đẩy giao lưu văn hoá mở rộng nhằm tạo dựng cầu nối giữa các nền văn hoá và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau Đồng thời, việc tiếp thu tinh hoa của các nền văn hoá giúp xây dựng nền văn hoá mới, giàu bản sắc, phù hợp với yêu cầu của thời kỳ kháng chiến và xây dựng đất nước.
Trong thời kỳ đổi mới hội nhập, giữ vững bản sắc dân tộc là điều quan trọng để phát triển bền vững mà không bị hòa tan Hội nghị văn hoá toàn quốc ngày 24/11/2021 nhấn mạnh vai trò hết sức quan trọng của văn hoá như nền tảng tinh thần và động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Trải qua hàng nghìn năm, nền văn hoá Việt Nam đã trở thành kết tinh của quá trình lao động sáng tạo, đấu tranh chống thiên tai, dịch bệnh, thể hiện đậm nét tâm hồn cốt cách dân tộc qua trình độ và nghệ thuật ứng xử sâu sắc với tự nhiên và xã hội Chính nhờ vào nền văn hoá thấm đẫm bản sắc dân tộc, dân tộc ta đã vượt qua mọi thử thách, cam go và không ngừng tiến lên trong dòng chảy của lịch sử.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nhấn mạnh sự phát triển toàn diện và đồng bộ của đất nước, đồng thời phát huy các giá trị tốt đẹp của dân tộc để giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống Hội nghị cũng đề cao việc tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá nhân loại, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
Mục tiêu của xây dựng nền văn hóa Việt Nam là đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị và xã hội, nhằm phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Quá trình này hướng tới xây dựng một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, phản ánh các đặc trưng dân tộc, văn hóa và khoa học Nội dung cốt lõi là phát triển văn hóa dựa trên sự hoàn thiện nhân cách, xây dựng con người và phát triển văn hóa toàn diện Đồng thời, cần xây dựng cơ sở vật chất của môi trường văn hóa, chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng trong phát triển hài hòa kinh tế và văn hóa Quá trình này đặc biệt quan tâm đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế, coi đó là sự nghiệp toàn dân, dưới sự chỉ đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và vai trò chủ thể sáng tạo của nhân dân Nhân tố trí thức giữ vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
VĂN HOÁ CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ PHÂN VÙNG VĂN HOÁ VIỆT NAM
1 Những vấn đề chung về các dân tộc ở Việt Nam và văn hoá các dân tộc ở Việt Nam
- Việt Nam là một quốc gia thống nhất đa dân tộc và đa ngôn ngữ
- 54 dân tộc, 53 dân tộc thiểu số
Trong năm 2019, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất với 85,3% dân số Ngoài ra, có sáu dân tộc lớn, mỗi dân tộc trên một triệu người, gồm Tày, Thái, Mường, Mông, Khmer và Nùng Bên cạnh đó, còn có năm dân tộc nhỏ hơn, dưới 1.000 người, như Si La, Pu Péo, Mơ Răm, Brau và Ơ Đu, nhiều dân tộc trong số đó đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng do ngôn ngữ và truyền thống đang bị đe dọa.
Trong hệ thống ngôn ngữ, có năm bậc ngôn ngữ quan trọng phản ánh mức độ tồn tại và nguy cấp của các ngôn ngữ trên thế giới Đầu tiên là ngôn ngữ trường tồn, bao gồm các ngôn ngữ quốc gia có sức sống lâu dài và phổ biến rộng rãi Thứ hai là ngôn ngữ trường tồn nhưng nhỏ, thường là của các dân tộc ít người sống trong cộng đồng tập trung, giữ gìn bản sắc riêng Tiếp theo là ngôn ngữ bị đe doạ, nằm trong tình trạng nguy cấp do số lượng người sử dụng giảm sút hoặc bị tác động bởi yếu tố ngoại lai Ngôn ngữ bên bờ tuyệt chủng là các ngôn ngữ đã gần như mất đi khả năng truyền lại cho thế hệ sau, đứng trên bờ vực tuyệt chủng Cuối cùng là ngôn ngữ bị tiêu vong hoàn toàn, đã chính thức tuyệt chủng và không còn bất kỳ người nào sử dụng hoặc biết đến.
- Dân tộc Kinh trải dài khắp cả nước
Dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa trên khắp cả nước, trừ người Hoa Người Hoa di cư sang Việt Nam qua nhiều đợt khác nhau trong suốt chiều dài lịch sử và chủ yếu sinh sống tại các thành phố lớn, làm nghề buôn bán và thương mại, không tập trung nhiều ở các khu dân cư của các dân tộc thiểu số.
- Phía Bắc o Vùng thấp: Tày Nùng – tả ngạn, Thái Mường – hữu ngạn, o Người Dao 700 – 1000m, người Mông - >1000m
- Người Hoa sống chủ yếu ở đô thị (Tp Hồ Chí Minh)
Hiện nay, phân bố dân tộc đang có những thay đổi đáng kể, trong đó dân tộc thiểu số miền Bắc đã di cư vào khu vực trung và nam bộ Đồng thời, người Kinh ngày càng xuất hiện nhiều tại các khu vực truyền thống của các dân tộc thiểu số, phản ánh xu hướng mở rộng và dịch chuyển dân cư trong cả nước.
- Một dân tộc có thể có nhiều tên gọi
- Chia thành nhiều nhánh, khu vực
- Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hoá riêng
- Bản sắc văn hoá thể hiện trong mọi mặt đời sống: cộng đồng, kinh tế, gia đình
- Là kết quả của quá trình sinh tồn, tích luỹ và phát triển
Văn hóa riêng của mỗi quốc gia thể hiện qua nhiều yếu tố đặc trưng như trang phục truyền thống phản ánh bản sắc dân tộc, cùng với cách cư trú và xây dựng nhà ở phù hợp với điều kiện địa lý và tập quán địa phương Ẩm thực phong phú, đa dạng góp phần thể hiện bản sắc văn hóa qua các món ăn truyền thống đặc trưng Các quan hệ xã hội được duy trì qua cách chào hỏi, hành xử lễ phép và lời nói phù hợp với phong tục tập quán của từng cộng đồng Văn hoá còn thể hiện qua các phong tục tập quán như cưới xin, ma chay, lễ cúng, lễ Tết, lịch sử, âm nhạc, vui chơi và các lễ hội truyền thống Tiếng nói và chữ viết chính là những yếu tố quan trọng giúp truyền tải và bảo tồn giá trị văn hóa của mỗi dân tộc.
Các giá trị văn hóa do cộng đồng dân tộc thiểu số sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn và phát triển là những yếu tố làm nên nét đặc sắc và giá trị riêng biệt của mỗi cộng đồng.
- Ví dụ (phong tục) o Hoa văn trong cạp váy của người Mường: t’loốk vvăt (trốc): nghệ thuật tạo hình, nhìn hoa văn biết gia cảnh, o Người Mường đội khăn trắng: biểu hiện của sự thuỷ chung o Văn hoá “tằng cẩu” – búi tóc khi kết hôn, trước khi ra mắt họ hàng của người phụ nữ Thái đen o ? tại sao có Ms và Mrs mà ko chia Mr thành 2 loại o Văn hoá thổi khèn của người Mông o Văn hoá ché của người Ê đê: thể hiện sự sung túc, sức mạnh dòng tộc, ủ rượu cần + vật gia bảo (làm sính lễ, đền bù khi xử phạt, làm quà biếu tặng, )
Tiếng Việt chữ Quốc ngữ vừa là tiếng mẹ đẻ vừa đóng vai trò là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam Ngoài tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp chính, mỗi dân tộc thiểu số đều sở hữu ngôn ngữ riêng biệt là tiếng mẹ đẻ của họ Trong số 53 ngôn ngữ dân tộc thiểu số, có 29 ngôn ngữ đã có chữ viết, trong khi 24 ngôn ngữ vẫn chưa có hệ thống chữ viết riêng Trước đây, chữ Hán được sử dụng rộng rãi, sau đó phát triển thành chữ Nôm (Nôm Việt – Nôm Tày) để viết các ngôn ngữ dân tộc.
Trong quá trình toàn cầu hoá, sự giao lưu và tiếp xúc văn hoá dân tộc diễn ra mạnh mẽ, góp phần làm thay đổi nhiều nét đặc trưng của các nền văn hoá truyền thống Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra nguy cơ khiến văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số có nguy cơ mai một hoặc biến mất nếu không được bảo tồn và phát huy đúng cách.
Chủ trương, chính sách của Đảng: bảo tồn, phát huy văn hoá các dân tộc thiểu số.
2 Những vấn đề chung về vùng văn hoá và phân vùng văn hoá ViệtNam
- Văn hoá vùng là một dạng thức của không gian văn hoá, giao lưu văn hoá lâu đời giữa các tộc người, tạo nên sắc thái văn hoá chung
Văn hóa là một dạng thức đặc trưng của cộng đồng người, hình thành trong không gian địa lý xác định, nơi các cộng đồng cùng sinh sống và phát triển trong môi trường tự nhiên nhất định Các cộng đồng này chia sẻ những giá trị văn hóa, truyền thống và phong tục tập quán do cùng trải qua những điều kiện phát triển xã hội tương đồng Chính sự tương đồng về môi trường và điều kiện xã hội đã tạo nên sự thống nhất và đặc trưng riêng của các cộng đồng văn hóa.
- Có các mối quan hệ giao lưu văn hoá sống động, trong quá trình lịch sử lâu dài đã hình thành những đặc trưng văn hoá chung
- Văn hoá vùng là một dạng thức liên văn hoá (人)
Vùng lãnh thổ văn hóa được hiểu là một khu vực có các đặc điểm tự nhiên và dân cư tương đồng, thể hiện qua sự hình thành lâu dài dựa trên các mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử Khu vực này còn có sự giao lưu, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cộng đồng, tạo nên những nét đặc trưng chung riêng, phân biệt rõ ràng với các vùng văn hóa khác.
Đồng bằng Bắc Bộ, Việt Bắc, Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ, Duyên hải Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung và Nam Trung Bộ, Trường Sơn – Tây Nguyên, và Nam Bộ là các vùng địa lý quan trọng của Việt Nam, mỗi khu vực có đặc điểm tự nhiên và văn hóa riêng biệt Các phân vùng này giúp phân biệt các đặc điểm khí hậu, địa hình, và sự phát triển kinh tế xã hội trong từng khu vực, từ đồng bằng phì nhiêu đến miền núi hiểm trở Phân loại các vùng này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển bền vững đất nước, đồng thời thể hiện sự đa dạng và phong phú của tự nhiên cũng như nền văn hóa của Việt Nam.
- Tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế, 2 trục Tây Đông, Bắc Nam
- Địa hình núi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng thấp, bằng phẳng
- Khí hậu 4 mùa tương đối rõ rệt
- Hệ thống sông ngòi: sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã
- Dân cư đông đúc: trồng lúa nước, làm nông nghiệp thuần tuý (khai thác hải sản – nghề phụ)
- Sống quần tụ thành làng
Văn hóa đặc trưng của người Việt thể hiện qua 7 điểm nổi bật, bắt nguồn từ vùng đất lúa nước - cái nôi hình thành dân tộc Việt, Đông Sơn, Đại Việt Người Việt có truyền thống chinh phục thiên nhiên qua việc đắp đê và xây dựng các công trình bảo vệ mùa màng Văn hóa làng đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng, với những bữa cơm điển hình gồm cơm, rau và cá nước ngọt, thể hiện sự giản dị, gần gũi Trang phục của người Việt thích ứng với thiên nhiên, chủ yếu là màu nâu, trong đó phụ nữ hay mặc áo dài mớ ba mớ bảy và đàn ông mặc quần trắng, áo dài the, chít khăn đen Việt Nam còn sở hữu nhiều di tích văn hóa cổ kính và phong phú, đồng thời có kho tàng văn học dân gian đa dạng gồm thần thoại và truyền thuyết Tín ngưỡng của cư dân trồng lúa nước thể hiện rõ nét trong các phong tục, nghi lễ và đời sống tinh thần của người dân.
Các vùng văn hóa quan trọng của Việt Nam bao gồm Đất Tổ - Phú Thọ (xứ Đoài), Kinh Bắc (xứ Bắc), Thăng Long Hà Nội, Duyên Hải Đông Bắc (xứ Đông) và Sơn Nam (xứ Sơn Nam) Mỗi tiểu vùng này có đặc trưng văn hóa riêng biệt, góp phần tạo nên bản sắc đa dạng và phong phú của nền văn hóa Việt Nam Việc phân chia thành các tiểu vùng giúp hiểu rõ hơn về lịch sử, phong tục tập quán và con người từng khu vực Những vùng này đều giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa dân tộc, đồng thời thu hút sự quan tâm của du khách và nhà nghiên cứu văn hóa.
2.2 Vùng văn hoá Việt Bắc
- Địa bn: còn tranh cãi, cơ bản có Cao Bắc Lạng Thái Tuyên Hà
- Cửa ngõ giữa Bắc Bộ và Trung Quốc
- Cư dân: Tày (lâu đời), Nùng, Mông, Dao, Hoa
Nghề nông nghiệp của người Tày, Nùng chủ yếu dựa vào ruộng nước ở thung lung, nương rẫy du canh, và các hoạt động thủ công, góp phần thúc đẩy giao thương phát triển Người Tày và Nùng có truyền thống trồng cấy và khai thác các cây đặc sản mang giá trị kinh tế cao như hồi, trẩu, sở, thuốc, giúp nâng cao đời sống cộng đồng Ngoài ra, vùng đất này còn được xem như "phên dậu" của Đại Việt, giữ gìn đất nước trước mưu đồ thôn tính và đồng hoá của phong kiến phương Bắc Hành lang giao lưu văn hoá giữa nước ta và phía Bắc cũng hết sức sôi động, thể hiện qua sự tiếp thu văn hoá Hán, cùng với sự mở rộng của các chợ phố ngày càng phát triển, góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần và kinh tế của vùng đất này.