Môn học Kinh tế vỉ mô cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về kinh tế học ở cấp độ vi mô, bao gồm: Cung cầu hàng hóa và giá cả thị trường; Lý thuyết về hành vi của người tiêu dù
Trang 1TS LÊ THỊ KIM HOA(Chũ biên) ThS NGUYỄN THỊ NGÂN, ThS NGUYỄN THỊ NGỌC TRÂM
ThS NGUYỄN ÁI MINH PHƯƠNG
Trang 2TS LÊ THỊ KIM HOA (Chủ biên)
ThS NGUYỄN THỊ NGÂN ThS NGUYỄN THỊ NGỌC TRÂM
ThS NGUYỄN ÁI MINH PHƯƠNG
Trang 3LỜI NÓI ĐÀU
Kinh tế học là một môn khoa học xã hội nghiên cứu sự vận động của nền kinh tế và cách thức hoạt động của nền kinh tế nói chung, cách thức ứng xử của từng chủ thể tham gia vào nền kinh tế nói riêng nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm của nền kinh tế - đây là một vấn đề mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng phải đối mặt
Kỉnh tế học gồm Kỉnh tế vi mô và kinh tế vĩ mô là môn cơ sở ngành
và chuyên ngành dành cho tất cả học sinh sinh viên thuộc khối ngành Kinh tế
Nhằm phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và tham khảo của học sinh sinh viên, giúp người học nắm vững những vấn đề cơ bản của môn
Kinh tế vi mô, chúng tôi biên soạn giáo trình “KINH TÊ VI MÔ” trên cơ
sở tham khảo nhiều tài liệu trong và ngoài nước cùng kinh nghiệm giảng dạy trong nhiều năm
Môn học Kinh tế vỉ mô cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về kinh tế học ở cấp độ vi mô, bao gồm: Cung cầu hàng hóa và giá cả thị trường; Lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng; Lý thuyết về hành vi của doanh nghiệp; cấu trúc của các thị trường; Cơ chế vận hành của các thị trường; Vai trò của Chính phủ trong việc điều tiết thị trường Kinh tế
vi mô phân tích nguyên lý sự lựa chọn của tất cả mọi thành viên trong xã hội, đồng thời làm nền tảng cho việc đưa ra những quyết định của tất cả mọi người
Dựa trên những kiến thức cơ bản về kinh tế vi mô, người học có thể tiếp thu tốt hơn những kiến thức chuyên sâu trong từng chuyên ngành cụ thể
Giáo trình Kinh tế vi mô gồm 7 chương:
Chương 1: Tổng quan về kinh tế học;
Chương 2: Cung cầu hàng hóa và giá cả thị trường;
Chương 3: Lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng;
Chương 4: Lý thuyết về hành vi của doanh nghiệp;
Trang 4Chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn toàn;
Chương 6: Thị trường độc quyền hoàn toàn;
Chương 7: Thị trường cạnh tranh không hoàn toàn
Mặc dù có nhiều cố gắng song cuốn giáo trình có thể còn có những hạn chế nhất định Nhóm tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến xây dựng của độc giả để cuốn giáo trình Kinh tế vi mô ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 5MỤC LỤC
Trang CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC
1.1 KINH TẾ HỌC VÀ CÁC KHÁI NIỆM cơ BÀN 11
1.1.1 Kinh tế học là gì? 11
1.1.2 Phương pháp nghiên cứu môn học 23
1.1.3 Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô 24
1.1.4 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc 25
1.2 KHÁI QUÁT VỀ TÍNH CHẤT CỦA MỘT NỀN KINH TẾ 26
1.2.1 Các khái niệm thị trường 26
1.2.2 Phân loại thị trường 27
1.2.3 Các vấn đề kinh tế cơ bản 28
1.2.4 Các hệ thống kinh tế 29
1.2.5 Sơ đồ chu chuyển kinh tế 33
CÂU HỎI ÓN TẬP 37
CHƯƠNG 2 CƯNG CẦU HÀNG HÓA VÀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG 2.1 Sự VẬN HÀNH CỦA THỊ TRƯỜNG 38
2.1.1 Cầu hàng hóa (Demand-D) 39
2.1.2 Cung hàng hóa (Supply-S) 51
2.1.3 Cân bằng thị trường 61
2.2 HỆ SỐ CO GIÃN CỦA CƯNG VÀ CẦU 73
2.2.1 Hệ số co giãn của cầu 73
2.2.2 Hệ số co giãn của cung theo giá (Es) 82
2.3 VẬN DỤNG CUNG VÀ CẦU 85
2.3.1 Biện pháp can thiệp gián tiếp 85
2.3.2 Biện pháp can thiệp trực tiếp 91
2.4 THẶNG DƯ TIÊU DÙNG VÀ THẶNG DƯ SẢN XUẤT 94
2.4.1 Thặng dư tiêu dùng 94
2.4.2 Thặng dư sản xuất 96
CÂU HỎI ÔN TẬP 102
BÀI TẬP 105
Trang 6CHƯƠNG 3 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 3.1 GIẢI THÍCH CÂN BẰNG TIÊU DÙNG BẰNG THUYẾT
HỮU DỤNG 113
3.1.1 Thuyết hữu dụng 113
3.1.2 Hữu dụng, tổng hữu dụng và hữu dụng biên 114
3.2 CÂN BẰNG TIÊU DÙNG 120
3.3 GIẢI THÍCH QUY LUẬT CẦU BẰNG THUYẾT HỮU DỤNG VÀ CÂN BẰNG TIÊU DÙNG 124
3.4 GIẢI THÍCH CÂN BẰNG TIÊU DÙNG BẰNG ĐỒ THỊ 127
3.4.1 Sở thích của người tiêu dùng 127
3.4.2 Đường đẳng ích và tỷ lệ thay thế biên 128
3.5 ĐƯỜNG NGÂN SÁCH 135
3.5.1 Khái niệm 135
3.5.2 Đặc điểm của đường ngân sách 138
3.5.3 Phương trình đường ngân sách 138
3.5.4 Sự dịch chuyển của đường ngân sách 139
3.6 Sự LựA CHỌN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 140
3.7 GIAI THÍCH Sự HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CẦU BẰNG ĐỒ THỊ CÂN BẰNG TIÊU DÙNG 142
CÂU HỎI ÔN TẬP 145
BÀI TẬP 146
CHƯƠNG 4 LÝ THUYẾT VÈ HÀNH VI CỦA DOANH NGHIỆP PHẦN A: LÝ THUYẾT VỀ SẢN XUẤT 4.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 150
4.2 HAM Sản xuất trong ngắn hạn Q = f(L) 153
4.2.1 Năng suất trung bình (Average Product -AP) 154
4.2.2 Năng suất biên (Margianal Product-MP) và quy luật năng suất biên giảm dần 155
4.3 HÀM SẢN XUẤT TRONG DÀI HẠN Q = f (K, L) 160
4.3.1 Phối hợp các yếu tố sản xuất với chi phí tối thiểu 160
4.3.2 Đường mở rộng sản xuất của doanh nghiệp 171
4.3.3 Năng suất theo quy mô 172
PHẦN B: LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ 4.4 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 175
Trang 74.5 PHÂN TÍCH CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG NGÂN HẠN 177
4.5.1 Các loại chi phí tổng 177
4.5.2 Các loại chi phí đơn vị 181
4.5.3 Chi phí trung bình (Average Cost-AC) 183
4.5.4 Chi phí biên (Marginal Cost - MC) 184
4.5.5 Mối quan hệ giữa MC với AC và AVC 185
4.5.6 Mức sản lượng tối ưu 186
4.6 PHÂN TÍCH CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DÀI HẠN 186
4.6.1 Tổng chi phí dài hạn 187
4.6.2 Chi phí trung bình dài hạn 188
4.6.3 Chi phí biên dài hạn 189
4.6.4 Quy mô sản xuất tối ưu trong dài hạn 190
4.6.5 Tính kinh tế và phi kinh tế theo quy mô 191
CÂU HỎI ỒN TẬP 195
BÀI TẬP 196
CHƯƠNG 5 THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN TOÀN 5.1 MỘT SỐ VAN ĐỀ cơ BẢN 207
5.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn toàn 207
5.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn toàn 208
5.2 TỐI ĐA HÓA LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP CẠNH TRANH HOÀN TOÀN 213
5.3 ĐƯỜNG CUNG CỦA DOANH NGHIỆP VÀ THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN TOÀN TRONG NGẮN HẠN 218
5.3.1 Đường cung ngắn hạn của Doanh nghiệp 218
5.3.2 Đường cung ngắn hạn của thị trường 221
5.4 PHÂN TICH TRONG NGẰN HẠN 223
5.4.1 Cân bằng thị trường trong ngắn hạn 223
5.4.2 Sự thay đổi của cầu thị trường trong ngắn hạn 223
5.4.3 Đo lường lợi nhuận trên đồ thị của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn toàn trong ngắn hạn 224
5.5 PHÂN TÍCH TRONG DÀI HẠN 226
5.5.1 Quyết định của doanh nghiệp trong dài hạn 226
5.5.2 Gia nhập và rút lui khỏi thị trường 226
5.5.3 Thay đổi quy mô sản xuất 229
Trang 85.5.4 Cân bằng thị trường trong dài hạn 231
CÂU HỎI ỒN TẬP 233
BÀI TẬP 234
CHƯƠNG 6 THỊ TRƯỜNG Độc QUYỀN HOÀN TOÀN 6.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ Cơ BẢN 242
6.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thị trường độc quyền hoàn toàn 242
6.1.2 Giới hạn của sức mạnh độc quyền 245
6.2 QUYẾT ĐỊNH GIÁ VÀ QUYẾT ĐỊNH SẢN LƯỢNG TRONG THỊ TRƯỜNG Độc QUYỀN HOÀN TOÀN 248
6.2.1 Đường cầu (D) 248
6.2.2 Đường doanh thu bình quân (AR) 249
6.2.3 Đường tổng doanh thu (TR) 249
6.2.4 Đường doanh thu cận biên (MR) 249
6.2.5 Mối liên hệ giữa doanh thu biên (MR) và tổng doanh thu (TR) 251
6.2.6 Đường cung (S) 252
6.2.7 Mức sản lượng và mức giá tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp độc quyền 252
6.2.8 Sức mạnh của độc quyền 254
6.3 ĐỘC QUYỀN Tự NHIÊN 255
6.4 CHIẾN LƯỢC PHÂN BIỆT GIÁ 257
6.4.1 Phân biệt giá cấp 1 (Phân biệt giá hoàn hảo) 258
6.4.2 Phân biệt giá cấp 2 258
6.4.3 Phân biệt giá cấp 3 259
6.4.4 Phân biệt giá theo thời kỳ và định giá lúc cao điểm 259
6.4.5 Định giá hai phần 260
6.4.6 Giá gộp 260
6.4.7 Giá ràng buộc 260
6.5 CHI PHÍ XA HỘI CỦA ĐỘC QUYỀN HOÀN TOÀN 260
6.5.1 Tác hại do độc quyền gây ra 261
6.5.2 Biện pháp quản lý và điều tiết của Chính phủ 262
CÂU HỎI ÔN TẬP 268
BÀI TẬP 270
Trang 9CHƯƠNG 7 THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH KHÔNG HOÀN TOÀN
7.1 THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN NHÓM 281
7.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thị trường độc quyền nhóm 281
7.1.2 Phân loại thị trường 282
7.1.3 Đường cầu gãy 283
7.1.4 Cân bằng trong thị trường độc quyền nhóm 284
7.1.5 Cartel ? ' 285
7.2 THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH ĐỘC QUYỀN 287
7.2.1 Khái niệm, đặc điểm của thị trường cạnh tranh độc quyền 287
7.2.2 Cân bằng trong thị trường cạnh tranh độc quyền 290
CÂU HỎI ÔN TẬP ' 294
BÀI TẬP 296
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 298
TÀI LIỆU THAM KHẢO 328
Trang 105 Giải thích các mô hình kinh tế căn cứ từ ba vấn đề kinh tế cơ bản.
6 Giải thích sơ đồ chu chuyển kinh tế
1.1 KINH TẾ HỌC VÀ CÁC KHÁI NIỆM cơ BẢN
1.1.1 Kinh tế học ỉà gì?
Trong xã hội, nhu cầu và mong muốn của con người hầu như không
có giới hạn Theo Philip Kotler và Gary Armstrong [1], nhu cầu là trạng
thải con người cảm thấy thiếu thốn một cái gì đó và cần được thỏa mãn
Chúng bao gồm nhu cầu vật chất cơ bản, nhu cầu xã hội và nhu cầu thể hiện bản thân Mong muốn là dạng nhu cầu của con người vì chúng được định hình bởi văn hóa và tính cách cá nhân
Mong muốn của con người rất nhiều và đa dạng, về mặt sinh học,
cơ bản con người chỉ cần không khí, nước, thực phẩm, quần áo và chỗ ở Nhưng xã hội phát triển, mong muốn của con người cũng được nâng cao hơn vì vậy mỗi cá nhân trong xã hội luôn muốn sở hữu những hàng hóa và dịch vụ tốt hơn nhằm giúp cuộc sống của họ được tiện nghi và sung túc
Ngày nay, chúng ta không những uống nước đóng chai mà chúng ta muốn uống các loại nước hoa quả với thành phần tự nhiên để tốt cho sức
Trang 11khoẻ, chúng ta mua thực phâm và hướng đên thực phâm sạch, thực phâm hữu cơ với nguồn gốc thiên nhiên Thuật ngữ Kinh tế xanh được nhắc đến thường xuyên với sự chuyển đổi mạnh mẽ của các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm hay dịch vụ thân thiện với môi trường, điều mà cách đây vài thập
kỷ hầu như không được nhắc đến Chúng ta đang sống trong một thế giới luôn vận động và phát triển không ngừng với vô số sản phẩm được cải tiến hoặc sự xuất hiện của các sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu vô hạn của con người
Thế nhưng các nguồn lực sản xuất để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu vô hạn của con người, như: nguồn lao động, máy móc thiết bị và tài nguyên thiên nhiên dường như ngày càng cạn kiệt dần
do sự khai thác và sử dụng không hiệu quả của con người Các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu và cả Chính phủ trong vai trò định hướng, hoạch định chính sách vẫn luôn nỗ lực để tìm kiếm và sản xuất những nguyên liệu thay thế, các thiết bị sản xuất hiện đại hơn và cả nâng cao năng suất lao động nhằm tăng nguồn lực sản xuất để đáp ứng nhu cầu Tuy nhiên phải thừa nhận một thực tế rằng dù ở góc độ cá nhân, gia đình hay phạm
vi một nền kinh tế thì mỗi người, mỗi nhà hay mỗi quốc gia luôn luôn phải đưa ra các quyết định lựa chọn vì phải đối mặt với vấn đề “khan hiếm”
bất chấp sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế Chúng ta có thể gọi
đó là vấn đề nghiên cứu cơ bản của kinh tế học [2], hay gần gũi hơn thì đó chính là mâu thuẫn mà tất cả các cá nhân trong nền kinh tế đều phải đối mặt buộc họ phải đi đến những quyết định lựa chọn
• Đất đai (Land): hiểu theo nghĩa rộng là tài nguyên thiên nhiên, đại diện cho sự ban tặng của thiên nhiên được sử dụng trong quá trình sản xuất Bao gồm rừng, mỏ khoáng sản và dầu mỏ, tài nguyên nước, năng lượng gió, ánh sáng mặt trời và đất trồng trọt
Trang 12• Lao động (Labour): là toàn bộ năng lực của con người về hoạt động thể chất và hoạt động tinh thần được vận dụng trong việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
• Vốn (Capital): là toàn bộ tư liệu sản xuất như các cơ sở nhà máy, kho chứa, phương tiện vận chuyển và phân phối, cũng như các công
cụ và máy móc được sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ và phân phối chúng đến người tiêu dùng "Vốn" ở đây được hiểu không phải để chỉ tiền mà là công cụ, máy móc và thiết bị sản xuất khác Vì tiền không thể đưa trực tiếp vào sản xuất mà tiền (hay
tư bản tiền tệ hoặc vốn tài chính) chỉ đơn giản là một phương tiện
để mua hàng hóa và dịch vụ, bao gồm cả tư liệu sản xuất
• Trong quá trình kết hợp các nguồn lực đất đai, lao động và vốn để sản xuất hàng hóa và dịch vụ, chúng ta cần có một nguồn lực đặc biệt, gọi là năng lực kinh doanh (Entrepreneurial Ability) Đó là năng lực kinh doanh của những người có khả năng kết hợp các nguồn lực khác để thực hiện một số chức năng kinh tế quan trọng góp phần định hướng, đổi mới, thúc đẩy sản xuất để tạo ra hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu và nâng cao mức sống của xã hội Bởi vì đất đai, lao động, vốn và năng lực kinh doanh được kết hợp
để tạo ra hàng hóa và dịch vụ nên chúng được gọi là các yếu tố sản xuất, hay đơn giản gọi là là “các yếu tố đầu vào”
1.1.1.2 Sự khan• hiếm
Các nguồn lực sản xuất cần thiết để tạo ra hàng hóa và dịch vụ thường có tính chất hữu hạn Trong khi nhu cầu của con người về hàng hóa và dịch vụ là vô hạn, con người mong muốn có thể thỏa mãn từ những nhu cầu cơ bản thiết yếu đến những nhu cầu ngày càng cao hơn như có được cái ăn cái mặc đầy đủ, cuộc sống tiện nghi vật chất, sự an toàn, sự thoải mái tinh thần và kiến thức Chúng ta luôn không có khả năng đáp ứng mọi mong muốn và nhu cầu của mình Không ai cảm thấy thỏa mãn trọn vẹn về sức khỏe và tuổi thọ, cũng không ai có đủ thời gian dành cho tất cả các hoạt động như thể thao, du lịch, giải trí, phim ảnh, đọc sách báo
và các hoạt động giải trí khác mà họ theo đuổi
Nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của con người nói chung lớn hơn khả năng đáp ứng chúng Theo Mankiw và Mark p Taylor [3], khan hiếm
có nghĩa là xã hội có nguồn lực hạn chế và do đó không thế sản xuất tất
Trang 13cả các hàng hóa và dịch vụ mà con người yêu cầu Mỗi cá nhân không thể
có tất cả mọi thứ mà họ mong muốn Mỗi một gia đình không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu của của các thành viên gia đình Một quốc gia không thể đáp ứng mức sống cao nhất cho người dân của mình Không có xã hội nào đạt đến mức không tưởng về khả năng vô hạn Với mong muốn không giới hạn, điều quan trọng là một nền kinh tế bao gồm các hộ gia đình và doanh nghiệp phải đưa ra quyết định phân bổ các nguồn lực khan hiếm của mình một cách có hiệu quả và hợp lý để có thể đáp ứng mong muốn và nhu cầu của mọi thành viên ở mức độ phù hợp
Đối mặt với sự khan hiếm buộc chúng ta luôn phải đứng trước những
sự lựa chọn
I.I.I.3 Sự • • •lựa chọn
Trong cuộc sống của con người luôn đứng trước nhiều sự lựa chọn khác nhau, bởi vì chúng ta “không thể có tất cả”, chúng ta phải quyết định những gì chúng ta sẽ có và những gì chúng ta phải từ bỏ
Theo McConnell, Brue và Flynn [4], sự lựa chọn là sự so sánh của các yếu tổ khác nhau đế đưa ra quyết định những gì chúng ta sẽ có và những gì chủng ta phải từ bỏ.
Một người lao động với tiền lương kiếm được, anh ta sẽ quyết định tiêu dùng thế nào Anh ta có thể chọn tiêu dùng hết toàn bộ số tiền kiếm được cho thực phẩm, quần áo, vui chơi, giải trí ở hiện tại thì anh ta sẽ không có tiền tiết kiệm dự phòng những lúc ốm đau hay về già Nếu anh
ta tiết kiệm một phần tiền tiêu dùng hiện tại thì anh ta sẽ có thêm một phần tiền dự phòng cho tương lai Đó là sự lựa chọn
Một doanh nghiệp sẽ quyết định dùng nguồn lực của mình để đầu tư vào việc nâng cấp dây chuyền sản xuất tự động giúp tăng năng suất, giảm chi phí, tăng chất lượng, tối ưu trong sản xuất hay đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin giúp thay thế các thao tác thủ công, giúp dữ liệu an toàn, cải thiện thông tin liên lạc nội bộ và khách hàng, đồng thời giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh với đối thủ Cả hai đều mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và doanh nghiệp phải có sự lựa chọn bởi vì nguồn lực có giới hạn
Sự lựa chọn giúp mang lại hiệu quả về kinh tế và xã hội, đặc biệt là mang lại hiệu quả cao nhất từ nguồn lực sẵn có Sự lựa chọn liên quan đến
Trang 14sự đánh đổi Khi lựa chọn một quyết định này bỏ qua một quyết định khác, chúng ta phải cân nhắc sự đánh đổi giữa những lợi ích thu được từ quyết định này với những lợi ích mất đi từ quyết định khác.
1.1.1.4 Phân tích biên
Một khái niệm quan trọng được sử dụng để phân tích các lựa chọn
là khái niệm phân tích biên
Trong nghiên cứu của McConnell, Brue và Flynn [4], “biên” trong
kinh tế học có nghĩa là “bể sung” hoặc “thay đồi”.
Theo Karl và cộng sự [5], phân tích biên ỉà quả trình phân tích các chi phỉ, ỉợi ích bổ sung hoặc gia tăng, phát sinh từ một lựa chọn hoặc quyết định.
Do nguồn lực khan hiếm nên cần phải cân nhắc chi phí biên và mỗi lựa chọn đều liên quan đến lợi ích biên Để đưa ra các lựa chọn một cách hợp lý, người ra quyết định phải so sánh lợi ích biên và chi phí biên
Ví dụ, trên trang web viettelservice.com [6] nêu quy định giảm 30% giá cước dịch vụ điện thoại cố định giờ thấp điểm từ 23 giờ hôm trước đến
7 giờ sáng ngày hôm sau các ngày trong tuần Quy định này liên quan đến phân tích lợi ích biên và chi phí biên Neu doanh nghiệp giảm giá cước dịch vụ điện thoại cố định giờ thấp điểm sẽ khuyến khích nhiều người thực hiện các cuộc gọi điện thoại vào thời điểm này Lúc này, doanh nghiệp sẽ
có doanh thu tăng thêm (lợi ích biên) mà doanh nghiệp không phải trả thêm tiền cho cho các chi phí tăng thêm (chi phí biên) trong khoảng thời gian thấp điểm, vì nếu không có các cuộc gọi điện thoại vào giờ thấp điểm doanh nghiệp vẫn tốn các khoản chi phí về máy móc, thiết bị, tổng đài, nhân viên, đường truyền Vậy, lợi ích biên lớn hơn rất nhiều so với chi phí biên giúp lợi nhuận của doanh nghiệp tăng thêm khi thực hiện quy định giảm giá cước dịch vụ điện thoại vào giờ thấp điểm
So sánh chi phí biên với lợi ích biên sẽ cho chúng ta biết cách nên điều chỉnh quyết định của mình sao cho tốt nhất có thể Quy tắc khi ra một quyết định hợp lý trong phân tích biên là lợi ích biên của một quyết định lớn hơn chi phí biên của quyết định đó
1.1.1.5 Những khuyến khích
Khuyến khích là một cái gì đó (chẳng hạn như viễn cảnh về một hình phạt hoặc một phần thưởng) khiến một người hành động Bởi vì những
Trang 15người lý trí đưa ra quyết định bằng cách so sảnh chi phí và lợi ích, họ phản ứng với các biện pháp khuyến khích [7],
Những thay đổi trong các biện pháp khuyến khích khiến mọi người thay đổi hành vi của họ theo những cách có thể dự đoán được
Ví dụ, tính đến đầu năm 2018, theo thống kê từ Liên đoàn Đường bộ
Na Uy (OFV), Na Uy chứng kiến doanh số xe bán ra thị trường kỷ lục, trong đó 52% tổng số phưong tiện bán ra là xe điện, tăng mạnh so với mức 40% trong năm 2016 Trong tưong lai, nước này đặt mục tiêu toàn bộ xe mới bán ra tính đến năm 2025 phải là xe không phát thải Đe đạt được bước tiến này, trong nhiều năm qua, Na Uy đã đưa ra rất nhiều trợ cấp và chưong trình khuyến khích người mua xe ô tô điện; miễn gần như tất cả các loại thuế; miễn thu các loại phí trong thành phố; miễn phí đỗ xe; miễn phí sạc; miễn phí đi qua phà hoặc hầm với giá trị ước tính lên tới hàng nghìn ƯSD/năm
Mọi người luôn phản ứng với các biện pháp khuyến khích để phân
bổ các nguồn lực khan hiếm theo những cách mang lại lợi nhuận cao nhất
Theo Karl và cộng sự [2], đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)
là đường thể hiện sự kết hợp tối đa số lượng hàng hóa và dịch vụ có thể sản xuất được nếu tất cả các nguồn lực của nền kình tế được sử dụng một cách hiệu quả.
Để làm rõ đường giới hạn khả năng sản xuất và để giải thích sự khan hiếm của nguồn lực, cũng như đưa ra các quyết định cho sự lựa chọn, chúng ta xem xét ví dụ với một số giả định về nền kinh tế của một quốc gia như sau:
• Tất cả các nguồn lực sẵn có của nền kinh tế đều được sử dụng và
sử dụng hiệu quả
Trang 16• số lượng và chất lượng của các nguồn lực sản xuất là cố định trong một năm.
• Nen kinh tế của một quốc gia chỉ sản xuất hai loại hàng hóa là xe máy và gạo (để dễ dàng minh họa bằng hệ trục tọa độ hai chiều)
Số liệu được thể hiện trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Lượng gạo và xe máy được sản xuất ra trong một nền kỉnh tế
Kết hợp Xe máy (nghìn chiếc) Gạo (nghìn tấn)
Từ bảng 1.1 chúng ta có thể thiết lập đồ thị biểu diễn đường giới hạn khả năng sản xuất với số lượng gạo được biểu diễn trên trục hoành và
số lượng xe máy được biểu diễn trên trục tung như sau:
Hình 1.1: Đường giới hạn kha nàng sản xuât (PPF) - —
■ TRƯỞNG BAI HỌC CONG NGHIỆP TP.HCM
( ) 500 1000 1500 2000 2500 3000
Gạo
Trang 17Dựa vào đồ thị và bảng, theo giả định chúng ta có thể hiểu rằng, nếu nền kinh tế chọn sản xuất tại điểm A (hay gọi là kết hợp A), nghĩa là nền kinh tế đã sử dụng toàn bộ nguồn lực để sản xuất toàn bộ gạo và không sản xuất xe máy trong suốt một năm, thì số lượng gạo tối đa có thể tạo ra
là 2.500 nghìn tấn, số xe máy tạo ra bằng 0 Điểm A là điểm giới hạn khả năng sản xuất trong nền kinh tế đó
Khi nền kinh tế của quốc gia đó muốn sản xuất một số xe máy thì nguồn lực sản xuất của nền kinh tế không thể nào giữ nguyên số lượng gạo được sản xuất như cũ, mà buộc phải hy sinh một số lượng gạo nhất định
để có thể sản xuất thêm số xe máy như mong muốn Chẳng hạn tại điểm
B, khi nền kinh tế muốn có thể sản xuất 300 nghìn chiếc xe máy, thì quốc gia này buộc phải giảm sản xuất đi 500 nghìn tấn gạo số lượng gạo có thể sản xuất tối đa lúc này là 2.000 nghìn tấn trong một năm
Nếu quốc gia này muốn sản xuất 400 nghìn chiếc xe máy, thì số lượng gạo tối đa có thể tạo ra sẽ là 1.700 nghìn tấn, tương ứng với điểm c trong hình 1.1
Tương tự, khi nền kinh tế muốn tạo ra 500 nghìn hoặc 600 nghìn chiếc xe máy, thì số lượng gạo tối đa có thể tạo ra tương ứng là 1.200 nghìn tấn và 800 nghìn tấn, tương ứng với điểm D và điểm E trong hình 1.1
Khi quốc gia này muốn sản xuất 700 nghìn chiếc xe máy, đồng nghĩa với việc số lượng gạo tạo ra sẽ bằng 0 (chính là điểm F trong hình 1.1) • • •
Như vậy, các điểm A, B, c, D, E, F chính là những điểm thể hiện các kết hợp sản xuất tối đa mà nền kinh tế của quốc gia này có thể đạt được khi tất cả các nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả Đường biểu diễn
đi qua các điểm này gọi là đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)
Vì nguồn lực khan hiếm, không phải mọi sự kết hợp mong muốn sản xuất đều có thế thực hiện được Neu quốc gia này muốn sản xuất 1.500 nghìn tấn gạo và 600 nghìn chiếc xe máy (tương ứng với điểm N) thì không thể thực hiện được vì nguồn lực không đủ để đảm bảo sản xuất mức sản lượng đó
Như vậy, với nguồn lực có sẵn và cố định, nền kinh tế có thể sản xuất được ở bất kỳ sự kết hợp nào bên trên hoặc bên trong đường giới hạn
Trang 18khả năng sản xuất, nhưng nền kinh tế không thể sản xuất được bất kỳ sự kết hợp nào nằm ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất.
Điểm M thể hiện nền kinh tế sản xuất không hiệu quả, có thể do tình trạng thất nghiệp tăng, nguồn lực sử dụng lãng phí, nền kinh tế sản xuất với sản lượng 300 nghìn chiếc xe máy và 800 nghìn tấn gạo ít hơn so với khả năng của nó Neu loại bỏ sự kém hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực, nền kinh tế có thể sản xuất tại điểm c thay vì điểm M với sản lượng gạo có thể tăng thêm 900 nghìn tấn và sản lượng xe máy tăng thêm
- Những điểm nằm trên đường PPF như các điểm A, B, c, D, E, F thể hiện nền kinh tế đã sử dụng hết năng lực sản xuất của mình để sản xuất sản lượng tối đa Nghĩa là, xã hội đã sử dụng tốt các nguồn lực hiện có, nền kinh tế đạt hiệu quả tối đa Cho nên các điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ là những lựa chọn tối ưu, hiệu quả
- Những điểm nằm trong đường PPF như điểm M thể hiện nền kinh
tế sản xuất không hiệu quả vì lãng phí nguồn lực
! - Những điểm nằm ngoài đường PPF như điểm N thể hiện nền kinh
i tế không đủ khả năng để thực hiện
! Việc lựa chọn sản xuất tại điểm A, B, c, D, E hay F trên đường
ị giới hạn khả năng sản xuất tùy thuộc vào nhu cầu của xã hội và đặc điểm
ị của nền kinh tế
I Ớ Việt Nam, một số năm đầu đổi mới nền kinh tế (năm 1986) gặp nhiều khó khăn, Việt Nam đã đưa ra mục tiêu nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, lương thực là trọng điểm số một Bên cạnh đó, giai đoạn này công nghiệp chưa phát triển, tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm trong nước (GDP) còn thấp Việc lựa chọn sản xuất hướng đến nông nghiệp là phù hợp hơn ở giai đoạn này
Trang 19Sau thời kỳ đổi mới nền kinh tế với chiến lược phát triển nền kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, cơ cấu các ngành kinh tế Việt Nam đã có sự dịch chuyển tích cực Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của 10 năm 1990 - 2000 đạt 7,5%, giai đoạn 2011 - 2020 GDP bình quân đạt 6,4% Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP giảm dần từ 38,06% năm 1986 xuống còn 18,9% nàm 2010 và 14,8% năm 2020 Trong khi đó tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ mức 28,8% năm 1986 lên 32,7% năm 2016 và 33,7% năm 2020 [8] Lựa chọn sản xuất hướng đến công nghiệp là yếu tố tác động mạnh tới tăng trưởng kinh tế, góp phần nâng cao chất lượng đời sống nhân dân là phù hợp ở giai đoạn này
Đường giới hạn khả năng sản xuất cho thấy sự kết hợp tối đa số lượng hàng hóa và dịch vụ trong một thời điểm nhất định, theo thời gian đường giới hạn khả năng sản xuất có thể dịch chuyển hướng ra ngoài khi nguồn lực của nền kinh tế tăng lên
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), Việt Nam sẽ đứng
vị trí thứ 3 trong xuất khẩu gạo toàn cầu năm 2022 với lượng xuất khẩu 6,3 triệu tấn sau 2 năm liền đứng ở vị trí thứ hai về xuất khẩu gạo toàn cầu Năng suất lúa của Việt Nam đã tăng đáng kể từ 42,43 tạ/ha năm 2000 lên 53,42 tạ/ha năm 2010 và tiếp tục tăng đến 58,7 tạ/ha năm 2020 [9] Theo Tổng cục Thống kê, năng suất lúa tăng cao qua các năm là nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gieo cấy loại giống lúa chất lượng cao thay thế giống lúa truyền thống và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu nên năng suất lúa tăng qua các năm Bên cạnh đó, ngành công nghiệp sản xuất xe máy với sự áp dụng công nghệ và dây chuyển sản xuất hiện đại đã làm tăng lượng xe máy được sản xuất ra trên một lao động trong một thời điểm nhất định
Vì vậy, nền kinh tế có thể dịch chuyển sản xuất từ điểm D đến điểm
N Ket quả đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ dịch chuyển hướng ra ngoài như hình 1.2
Trang 20Hình 1.2: Sự dịch chuyển của đường giới hạn khả năng sản xuất
Đường giới hạn khả năng sản xuất là nền tảng để đưa ra quyết định lựa chọn sản xuất hiệu quả Ngoài ra, chúng ta còn có thể đưa ra quyết định lựa chọn căn cứ vào chi phí cơ hội
L1.L7 Chi phỉ cơ hội
Khái niệm về chi phí cơ hội có thể được minh họa bằng đường PPF Giả sử quốc gia quyết định tăng sản lượng sản xuất gạo từ 1.200 nghìn tấn
ở D lên 1.700 nghìn tấn ở c Trong kinh tế học, để xác định chi phí cơ hội
có thể xem xét ở góc độ tác động thực sự của các quyết định thay thế Ở cấp độ cơ bản nhất chi phí cơ hội của quyết định có thêm 500 nghìn tấn gạo là 100 nghìn chiếc xe máy phải từ bỏ sản xuất
Theo Mankiw và Mark p Taylor [3], chi phỉ cơ hội là giá trị tốt nhất của một quyết định tiếp theo phải từ bỏ khi một quyết định này được thực hiện.
Ví dụ, giả sử chính quyền của một tỉnh quyết định mở một khu khai thác quặng gần khu rừng nguyên sinh quốc gia Nam Cát Tiên Các nhà
Trang 21quản trị cho rằng, việc khai thác quặng không ảnh hưởng nhiều đến doanh thu du lịch của Nam Cát Tiên Nhưng với quan điểm của các nhà kinh tế học, nếu khu khai thác quặng hoạt động, giá trị của nguồn tài nguyên bị suy giảm, ô nhiễm nước, không khí và suy giảm các giá trị cho cộng đồng Như vậy, chi phí cơ hội lớn nhất của việc mở một khu khai thác quặng là
sự hy sinh những giá trị tài nguyên của xã hội chứ không phải là sự sụt giảm doanh thu du lịch
Mọi sự lựa chọn đều có chi phí cơ hội và chi phí cơ hội luôn tồn tại xung quanh cuộc sống chúng ta
1.1.1.8. Quy luật chi phí cơ hội tăng dần
Để làm rõ điều này, chúng ta cần phân tích chi phí cơ hội có thể tìm thấy trong đường giới hạn khả năng sản xuất
Trong ví dụ giải thích về đường giới hạn khả năng sản xuất, giả định nền kinh tế của quốc gia chọn sản xuất tại điểm B (khả năng sản xuất 2.000 nghìn tấn gạo và 300 nghìn chiếc xe máy) Khi nhu cầu xã hội thay đổi, cần nhiều xe máy hơn, nên lúc này khả năng quốc gia sẽ chọn sản xuất
ở những điểm có nhiều xe máy hơn (ví dụ như điểm D, hoặc E, hoặc F) Nếu chọn điểm c (khả năng sản xuất 1.700 nghìn tấn gạo và 400 nghìn chiếc xe máy), có nghĩa là khi muốn sản xuất tăng thêm 100 nghìn chiếc
xe máy buộc phải hy sinh 300 nghìn tấn gạo thì mới có thể thực hiện được
Nếu nền kinh tế chọn điểm D để thực hiện (khả năng sản xuất 1.200 nghìn tấn gạo và 500 nghìn chiếc xe máy) thì chi phí cơ hội lúc này còn lớn hơn, chính là từ bỏ thêm 800 nghìn tấn gạo Do đó, muốn tăng thêm số lượng sản xuất xe máy càng nhiều, thì số lượng gạo từ bỏ cũng lớn hơn, tức là chi phí cơ hội càng lớn
Sự biến thiên có tính quy luật trên gọi là quy luật chi phí cơ hội
tăng dần.
McConnell, Brue và Flynn [4] đã phát biểu, quy luật chỉ phí cơ hội tăng dần nghĩa ỉà khi sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa này, thì chi phí
cơ hội của việc sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa khác sẽ tăng lên.
Chi phí cơ hội được thể hiện trên đồ thị đó chính là độ dốc của
đường giới hạn khả năng sản xuất Do với một nguồn lực nhất định, nếu
Trang 22muốn gia tăng sản xuất hàng hóa này thì buộc phải hy sinh số luợng hàng hóa kia nhiều hơn.
Quy luật chi phí cơ hội tăng dần được phản ánh trong hình dạng của đường giới hạn khả năng sản xuất, đó là đường cong lồi ra khỏi gốc tọa độ
1.1.1.9 Khái niệm về kinh tế học
Từ những phân tích trên chúng ta thấy rằng để đáp ứng nhu cầu vô hạn của mọi thành viên trong xã hội với nguồn lực khan hiếm, buộc nền kinh tế phải đưa ra các quyết định lựa chọn Đây là nền tảng của khái niệm kinh tế học với nhiều tác giả khác nhau nghiên cứu về nó
Theo N Gregory Mankiw [7], kỉnh tế học là nghiên cứu về cách xã
hội đưa ra lựa chọn trong việc quản lỷ các nguồn lực khan hiếm.
Theo Samuelson và Nordhaus [10], kinh tế học là nghiên cứu về cách xã hội sử dụng các nguồn lực khan hiếm đế sản xuất hàng hóa và dịch vụ có giá trị và phần phổi chủng giữa các cá nhân khác nhau.
Theo Karl E Case, Ray c Fair và Sharon M Oster [5], kinh tế học
là một môn khoa học, xã hội, nghiên cứu về cách các cá nhân và xã hội lựa chọn để sử dụng nguồn lực khan hiếm mà thiên nhiên và các thế hệ trước đã tạo ra.
Như vậy, đối tượng chúng ta đề cập trong môn học này chính là vấn đề khan hiếm, đây là vấn đề cơ bản khi nghiên cứu kinh tế học
1.1.2 Phương pháp nghiên cứu môn học
Khác với khoa học tự nhiên, khi nghiên cứu các hiện tượng kinh tế người ta thường áp dụng phương pháp nghiên cứu quan sát Điều đó do hiện tượng kinh tế hết sức phức tạp, thường xuyên biến động và chịu nhiều yếu tố tác động Khi nghiên cứu cần phải thu thập các số liệu Sau khi đã
có số liệu, phải tiến hành phân tích bằng các phương pháp phân tích thích hợp
Các nhà kinh tế học sử dụng phương pháp tiếp cận khoa học để hiểu các vấn đề kinh tế thông qua việc quan sát các vấn đề kinh tế, dựa trên
số liệu thống kê và hồ sơ lịch sử Phương pháp này đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu vì chúng có cái nhìn sâu sắc về nền kinh tế của quá khứ
Trang 23và quan trọng hơn, đó là chúng cho phép minh họa và đánh giá các lý thuyết kinh tế của hiện tại Như vậy, phương pháp nghiên cứu kinh tế học
là đưa ra lý thuyết, quan sát và thu thập dữ liệu sau đó phân tích những dữ liệu này nhằm xác minh hoặc điều chỉnh lý thuyết
1.1.3 Kinh tế vỉ mô và kinh tế vĩ mô
Kinh tế học nghiên cứu nền kinh tế ở nhiều khía cạnh khác nhau,
có thể nghiên cứu hành vi ra quyết định kinh tế riêng lẻ của các doanh nghiệp và hộ gia đình hay nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tổng thể của một nền kinh tế
Kinh tế học được chia thành hai lĩnh vực chính đó là kinh tế vi mô • • •(microeconomics) và kinh tế vĩ mô (macroeconomics)
Kỉnh tế vi mô nghiên cứu việc ra quyết định của các cả nhân, người lao động, hộ gia đình và các doanh nghiệp cũng như cách họ tưcmg tác nhau trong một thị trường cụ thế [4].
Kinh tế vi mô nghiên cứu nền kinh tế ở góc độ chi tiết, riêng lẻ, nghiên cứu cách thức mà các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân ra quyết định tác động lẫn nhau trong một thời hạn nào đó như các vấn đề cung cầu, giá cả thị trường, thái độ người tiêu dùng và người sản xuất trong các quyết định kinh tế,
Kinh tế vi mô ngày nay nghiên cứu về độc quyền, vai trò của thương mại quốc tế, tài chính và nhiều chủ đề quan trọng khác
Kỉnh tế học vĩ mô nghiên cứu các hoạt động và hành vỉ của tống thể nền kinh tế nói chung Nó tập trung nghiên cứu các vấn đề thu nhập quổc dân, lạm phát, thất nghiệp, tăng trưởng kỉnh tế, chu kỳ kỉnh doanh
và hành vi của các tổng thể kỉnh tế chính như Chỉnh phủ, hộ gia đình và các khu vực kỉnh doanh [4].
Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu nhiều lĩnh vực, như cách xác định tổng đầu tư và tiêu dùng, cách Ngân hàng Trung ương ổn định tiền tệ và lãi suất, nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế và nghiên cứu tại sao một số quốc gia tăng trưởng nhanh chóng trong khi những quốc gia khác đình trệ, những chính sách cần thực hiện để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia
Trang 24Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô tuy khác nhau về cách tiếp cận nhưng đều là những nội dung quan trọng của kinh tế học, không thể chia cắt nhau mà còn bổ sung cho nhau, tạo thành hệ thống kiến thức của kinh
tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
Khi nghiên cứu kinh tế vi mô hoặc trong nhiều trường hợp phân tích vi mô phải dựa trên các mô hình phân tích vĩ mô và ngược lại Ví dụ, vấn đề thất nghiệp được coi là chủ đề kinh tế vĩ mô, nhưng trong việc xác định tỷ lệ thất nghiệp thì các quyết định của từng người lao động về thời gian tìm kiếm việc làm và cách thị trường lao động khuyến khích hoặc cản trở tuyển dụng được coi là yếu tố thuộc vi mô
Do kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô giải quyết những vấn đề khác nhau nên phải tách riêng để nghiên cứu
Ví dụ, giá dầu tăng liên tục vượt ngưỡng 100 USD/thùng trên thị trường thế giới trong những tháng của quý 1 năm 2022 [11] Đây là phát biểu thực chứng, nhà kinh tế học thực chứng sẽ thu thập số liệu để mô tả diễn biến giá dầu, sử dụng các mô hình kinh tế để dự báo xu hướng tăng giá dầu như thế nào? Giải thích nguyên nhân và hậu quả của việc tăng giá dầu
Trong phát biểu thực chứng, các nhà kinh tế cố gắng hoạt động như những nhà khoa học tách biệt, bất kể sự khác nhau về quan điểm chính trị, quy tắc đạo đức hay lý tưởng cá nhân
Trang 25Kỉnh tế học chuấn tắc đưa ra các phán đoán giá trị về nền kinh tế nên như thế nào hoặc các chỉnh sách cụ thể nào nên được khuyến nghị để đạt mục tiêu mong muốn [4].
Kinh tế học thực chứng mang nặng quan điểm cá nhân, chủ quan đối với một vấn đề kinh tế khách quan nhưng nó có rất nhiều quan điểm chủ quan khác nhau để lý giải chúng và có nhiều phương pháp khác nhau
để giải quyết chúng
Ví dụ, để ổn định thị trường bất động sản thì Chính phủ cần xây dựng chính sách thu thuế bất động sản (Bộ tài chính đề xuất lấy ý kiến) [12], một số quan điểm cho rằng việc đánh thuế với nhà và tài sản sẽ chống đầu cơ nhà đất và giảm giá bất động sản trên thị trường, nhưng cũng có quan điểm cho rằng nếu thêm loại thuế này sẽ đẩy giá nhà ở tăng cao, cơ hội sở hữu nhà của dân sẽ khó Như vậy, các nhận định chuẩn tắc luôn dựa trên cách nhìn nhận, phán đoán cá nhân Những phán đoán đó khác nhau tùy thuộc vào quan điểm đạo đức, triết lý chính trị, thế giới quan của mỗi người
Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc có mối quan hệ lẫn nhau, các kết luận thông qua các bằng chứng khoa học của thực chứng ảnh hưởng đến các phát biểu chuẩn tắc Trong một nền kinh tế cần có những phân tích thực chứng để giúp hiểu hơn về thế giới xung quanh nhưng cũng cần có những phát biểu chuẩn tắc khác nhau để giúp hoạt động của nền kinh tế tốt hơn
1.2 KHÁI QUÁT VỀ TÍNH CHẤT CỦA MỘT NÈN KINH TÉ
1.2.1 Các khái niệm thị trường
Có nhiều khái niệm khác nhau về thị trường:
Theo N Gregory Mankiw [7], thị trường là một tập hợp người mua
và người bản trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thế Những người mua với tư cách là một nhóm xác định nhu cầu đối với sản phấm và những người bán với tư cách là một nhóm xác định nguồn cung sản phẩm.
Theo Samuelson và Nordhaus [10], thị trường là nơi người mua và người bản tương tác, trao đối hàng hóa và dịch vụ nhằm xác định giá cả
và sản lượng.
Trang 26Thị trường là một tố chức hoặc cơ chế đưa người mua (“người yêu cầu ”) và người bản (“nhà cung cấp ”) tiếp xúc với nhau Hệ thống thị trường truyền đạt các quyết định của người mua và người bán sản phẩm, dịch vụ [4].
Còn theo Philip Kotler và Gary Armstrong [1], thuật ngữ thị trường
là chỉ nơi người mua và người bản tụ tập để trao đổi hàng hóa của họ Các nhà kinh tế học sử dụng thuật ngữ này đế chỉ một tập hợp những người mua và người bản giao dịch trong một loại sản phẩm cụ thể, như trong thị trường nhà ở hoặc thị trường ngũ cốc.
Như vậy, thị trường không nhất thiết phải là một địa điểm cụ thể
mà nó là một hệ thống mà nhà sản xuất, người sử dụng, người bán sỉ, bán
lẻ, người môi giới, cùng thực hiện việc mua và bán sản phẩm Ví dụ như thị trường dầu thế giới là hệ thống gồm những nhà sản xuất dầu, những người sử dụng dầu, những nhà bán sỉ, nhà môi giới, thực hiện việc mua
và bán dầu Trong thị trường dầu thế giới, những người đưa ra quyết định mua bán không nhất thiết phải gặp nhau trực tiếp mà họ có thể tiến hành các thỏa thuận mua bán với nhau thông qua điện thoại, fax, internet,
1.2.2 Phân loại thị trường
Có nhiều cách phân loại:
- Phân loại theo mục đích sử dụng bao gồm: thị trường tiêu dùng
và thị trường các yếu tố sản xuất
Thị trường tiêu dùng bao gồm các cá nhân, hộ gia đình hay nhóm người mua sắm hàng hóa hay dịch vụ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng như thị trường xăng dầu, thị trường gạo, thị trường hồ tiêu, thị trường xe máy, thị trường nhà ở,
Thị trường yếu tố sản xuất bao gồm các đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất và bán sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp như thị trường đất đai, thị trường lao động, thị trường vốn,
- Phân loại theo không gian và địa lý thị trường bao gồm: thị trường trong nước và thị trường quốc tế
Trang 27Thị trường trong nước có thể chia thị trường theo miền: thị trường miền Bắc, thị trường miền Trung, thị trường miền Nam; hay chia thị trường nông thôn, thị trường thành thị,
Thị trường quốc tế có thể chia thị trường theo quốc gia, khu vực như: thị trường Mỹ, thị trường Đức, thị trường Trung Quốc, thị trường Châu Âu,
- Đối với môn kinh tế học chủ yếu phân loại thị trường theo góc độ cạnh tranh hay độc quyền bao gồm bốn loại:
Thị trường cạnh tranh hoàn toàn
Thị trường độc quyền hoàn toàn
Thị trường cạnh tranh độc quyền
Thị trường độc quyền nhóm
Cách thức phân loại trên dựa theo tiêu thức sau:
• Số lượng người bán
• Đặc điểm sản phẩm
• Sức mạnh chi phối giá của người bán - người mua
• Các trở ngại gia nhập thị trường
Bảng 1.2: Phân loại thị trường theo góc độ cạnh tranh hay độc quyền
Loại thị
trường
Số lượng người bán
Đặc điểm sản phẩm
Rào cản gia nhập, rút lui
Sức mạnh chi phối giá
nhóm
Một số Đồng nhất
hay phân biệt
Có rào cản Có
Độc quyền
hoàn toàn
Một Duy nhất Rào cản cao Có
1.2.3 Các vấn đề kinh tế cơ bản của nền kinh tế
Mỗi nền kinh tế đều có nguồn lực đất đai, lao động, máy móc, khoa học kỹ thuật hạn chế Để đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng cao của con
Trang 28người dù đó là quốc gia phát triển, kém phát triển hay các bộ lạc biệt lập trên thế giới đều phải đương đầu giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản:
vấn đề 1: Nên sản xuất hàng hóa gì và vởi sản lượng bao nhiêu?
Mỗi nền kinh tế sẽ phải xác định xem nó sẽ tạo ra hàng hóa dịch vụ gì trong số các hàng hóa dịch vụ có thể sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường với chất lượng và số lượng là bao nhiêu, chẳng hạn nên sản xuất hàng công nghiệp hay hàng nông nghiệp, nên sản xuất hàng tiêu dùng hay hàng tư bản, hàng thiết yếu hay hàng xa xỉ và với sản lượng bao nhiêu?
Vấn đề 2: Sản xuất hàng hóa như thế nào với trình độ kỹ thuật hiện hấnh? Trả lời cho câu hỏi này sẽ xác định những nguồn lực và phương thức được sử dụng để sản xuất ra những hàng hóa và dịch vụ Đó chính là vấn đề về công nghệ trong một nền sản xuất Chẳng hạn sử dụng nhiều người hơn hay nhiều máy móc hơn để sản xuất hàng hóa? Các nhà máy sản xuất được vận hành bởi robot tự động hóa, trí tuệ nhân tạo AI hay bởi con người là chủ yếu?
Vấn đề 3: Sản xuất hàng hóa này cho ai? Nói một cách khác mỗi một người sẽ được nhận bao nhiêu hàng hóa và dịch vụ với số lượng bao nhiêu Tổng sản phẩm quốc dân được phân chia như thế nào? Sự phân chia
đó có công bằng và bình đẳng không? Người nghèo được nhận trợ cấp để
có mức tiêu dùng tối thiểu hay không? Đó chính là vấn đề phân phối trong một nền kinh tế
1.2.4 Các hệ thống kỉnh tế
Hệ thống kinh tế là một tập hợp các thể chế cụ thể và cơ chế điều phối để ứng phó với các vấn đề kinh tế mà mỗi xã hội khác nhau cần lựa chọn Hệ thống kinh tế phải xác định những hàng hóa gì cần được sản xuất, sản xuất với công nghệ như thế nào, hàng hóa được phân phối ra sao Mỗi
hệ thống kinh tế sẽ có cách giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản khác nhau
Trong lịch sử phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới đã xuất hiện bốn hệ thống kinh tế đó là kinh tế truyền thống, kinh tế thị trường tự
do, kinh tế mệnh lệnh và kinh tế hỗn hợp
1.2.4.1 Kinh tế truyền thống
Đây là hệ thống kinh tế lâu đời nhất, hệ thống kinh tế này nền kinh
tế vận hành theo cách thức lặp lại tính chất sản suất như cũ, tức là nền kinh
Trang 29tế sản xuất theo cách giống như tổ tiên của họ từng làm nhiều năm trước Hầu hết các gia đình là nông dân trồng các loại cây mà họ luôn trồng theo phương pháp truyền thống Những gì họ sản xuất là những gì họ nhận được
1.2.4.2 Kinh tế thị trường tự do
Hệ thống kinh tế thị trường tự do vận hành theo cơ chế thị trường, tức là ba vấn đề cơ bản được giải quyết thông qua quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và hệ thống giá cả thị trường
Theo nhà kinh tế học Adam Smith [3], giá cả thị trường được dẫn dắt bởi “bàn tay vô hình” thông qua sự tương tác của người mua và người bán Hành vi của người mua và người bán trong nền kinh tế thị trường tự
do quyết định những gì cần được sản xuất, cách thức sản xuất như thế nào
và ai nhận được nó mà không có sự can thiệp của Chính phủ Trong thị trường tự do không bị kiểm soát, các doanh nghiệp sẽ quyết định sản xuất sản phẩm gì mang lại lợi nhuận cao nhất với phương thức sản xuất hiệu quả và tiết kiệm nhất, người tiêu dùng sẽ quyết định chi tiêu dựa trên sở thích, thị hiếu và thu nhập của họ
Ưu điểm:
- Phát huy được tính năng động, sáng tạo của các chủ thể kinh tế
- Đáp ứng kịp thời những nhu cầu luôn luôn thay đổi của thị trường
- Đào thải những mặt yếu kém, chỉ những ai sản xuất những hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường cả về mặt chất cũng như mặt lượng thì mới có thể tồn tại, phát triển và ngược lại
- Đảm bảo nhà sản xuất kinh doanh tự do lựa chọn và quyết định việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của mình
Nhược đỉêm:
Trang 30- Tạo sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng sâu sắc, người giàu, người nắm nhiều nguồn lực ngày càng giàu thêm trong khi người nghèo lại càng nghèo đi.
- Gây ra hiện tượng chu kỳ kinh doanh, từ đó gây ra lạm phát cao kéo theo là sự rối loạn lưu thông tiền tệ, nền kinh tế rơi vào khủng hoảng Những cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra có tính chu kỳ và có sức tàn phá lớn Theo ước tính bình quân cứ mỗi mười năm xảy ra một đợt khủng hoảng kinh tế Song song với các cuộc khủng hoảng kinh tế là nạn thất nghiệp trầm trọng, phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc
- Tác động ngoại vi có hại như vấn đề ô nhiễm môi trường không được quan tâm, do các doanh nghiệp chỉ tập trung vào mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận
mà không quan tâm đến các vấn đề môi trường do chính họ gây ra
- Thiếu hàng hóa công cộng trầm trọng, lĩnh vực hàng hóa công thiếu sự quan tâm, đầu tư, cung cấp từ doanh nghiệp Nguyên nhân do việc đầu tư vào các mặt hàng này không mang về nhiều lợi nhuận so với những mặt hàng khác, nên doanh nghiệp bỏ rơi hàng hóa công, không đầu tư
- Tình trạng độc quyền, chủ yếu là độc quyền tự nhiên ngày càng lớn trong nền kinh tế, mà tính độc quyền gây thiệt hại rất lớn cho người tiêu dùng
- Sự bất cân xứng thông tin giữa người bán và người mua, do chỉ chạy theo lợi nhuận nên nhiều doanh nghiệp cung cấp những thông tin không đúng về sản phẩm, gây thiệt hại cho người tiêu dùng khi họ quảng cáo không đúng về chất lượng sản phẩm, cung cấp những thông tin sai lệch
về sản phẩm của doanh nghiệp mình
1.2.4.3 Kinh tế hàng hóa tập trung
Karl Marx cho rằng trong cơ chế thị trường tự do, xã hội chắc chắn
sẽ tự phân chia thành hai giai cấp giàu và nghèo Những người giàu sở hữu hầu như các tư liệu sản xuất như máy móc, tài sản và cơ sở hạ tầng được
sử dụng để sản xuất ra mọi thứ điều đó tạo ra sự bất công trong xã hội Theo Karl Marx, nhà nước phải tham gia để kiểm soát nền kinh tế và phân phối nguồn lực đồng đều và tạo ra một xã hội công bằng hơn
Như vậy, đối lập hệ thống kinh tế thị trường tự do là hệ thống kinh
tế hàng hóa tập trung hay còn có tên gọi khác như hệ thống kinh tế chỉ huy,
Trang 31hệ thống kinh tế mệnh lệnh hay hệ thống kinh tế bao cấp Trong đó, Chính phủ sở hữu hầu hết các tư liệu sản xuất và việc ra các quyết định kinh tế được thực hiện thông qua ủy ban kinh tế kế hoạch tập trung do Chính phủ lập ra và thực thi.
ủy ban kinh tế kế hoạch tập trung sẽ đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến việc sử dụng nguồn lực, tổ chức sản xuất cũng như phân phối sản lượng
ưu điểm:
- Quản lý tập trung thống nhất nên giải quyết được những vấn đề mất cân đối lớn của nền kinh tế
- Giải quyết được những nhu cầu công cộng xã hội
- Hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội
Trang 32giải pháp can thiệp độc đáo Và Keynes lập luận rằng chỉ có Chính phủ mới có đủ nguồn lực để chi tiêu số tiền mà người tiêu dùng và doanh nghiệp
cá nhân không thể, và đưa ra những chính sách để phá vỡ chu kỳ kinh doanh Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát hoạt động của thị trường, Chính phủ thông qua luật để điều chỉnh hoạt động sản xuất, giáo dục, môi trường, an ninh
Sự kết hợp giữa kinh tế thị trường tự do có sự điều tiết của Chính phủ gọi là hệ thống kinh tế hỗn hợp
Hiện nay trên thế giới hầu như quốc gia nào cũng áp dụng hệ thống kinh tế hỗn hợp để vận hành nền kinh tế nước mình Có thể nói đây là mô hình hiện đại phù hợp với thời đại ngày nay Tuy nhiên ở mỗi quốc gia có
sự vận dụng khác nhau Sự khác nhau thể hiện ở chỗ mức độ can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế thị trường ít hay nhiều
1.2.5 Sơ đồ chu chuyển kinh tế
Nen kinh tế thị trường năng động tạo ra các luồng di chuyển hàng hóa và dịch vụ; nguồn lực và dòng tiền liên tục, lặp đi lặp lại Xuyên suốt cuốn sách này, chúng ta thảo luận và phân tích hành vi của hai đơn vị ra quyết định cơ bản: doanh nghiệp - đơn vị sản xuất chính trong nền kinh tế
và hộ gia đình - đơn vị tiêu dùng trong nền kinh tế Doanh nghiệp và hộ gia đình bao gồm những người thực hiện các chức năng khác nhau và đóng các vai trò khác nhau Kinh tế học quan tâm đến cách mà các hộ gia đình
và doanh nghiệp hành xử và tương tác với nhau
Các hộ gia đình và doanh nghiệp tương tác trong hai loại thị trường
cơ bản: thị trường sản phẩm và thị trường nguồn lực
Trong thị trường sản phẩm, các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ Các hộ gia đình có nhu cầu tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ đó
Trong thị trường nguồn lực, các hộ gia đình cung cấp các yếu tố sản xuất bao gồm đất đai, lao động, vốn Doanh nghiệp mua nguồn lực phục
vụ cho việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ
Sơ đồ chu chuyển kinh tế trong hình 1.3 minh họa những dòng chảy
đó cho một nền kinh tế đơn giản hóa, trong đó không có chính phủ nhằm khái quát một cách dễ hiểu hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường
Trang 33Hình 1.3: Sơ đồ chu chuyến kỉnh tế
Hình 1.3, vòng mũi tên bên trong của sơ đồ ngược chiều kim đồng
hồ biểu thị luồng di chuyển hàng hóa và dịch vụ của hộ gia đình và doanh nghiệp Trong thị trường nguồn lực, các hộ gia đình bán sức lao động, cho thuê đất đai và các tư liệu sản xuất như kho chứa, nhà xưởng cho các doanh nghiệp để tạo thu nhập, các doanh nghiệp mua nguồn lực này để sản xuất hàng hóa và dịch vụ Sau đó, doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực này để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ bán lại cho các hộ gia đình trong thị trường sản phẩm
Vòng mũi tên bên ngoài của sơ đồ cùng chiều kim đồng hồ biểu thị luồng di chuyển của dòng tiền Các hộ gia đình sử dụng thu nhập của mình
từ tiền lương, tiền cho thuê, tiền lãi và lợi nhuận (hộ gia đình cũng là thành viên của doanh nghiệp) để chi mua hàng hóa và dịch vụ trong thị trường sản phẩm Khoản chi tiêu của người tiêu dùng chính là doanh thu của doanh nghiệp, doanh nghiệp sử dụng một phần doanh thu để chi mua các nguồn lực phục vụ cho việc sản xuất, khoản chi này được gọi là chi phí của doanh nghiệp
Tóm lại, sơ đồ chu chuyển kinh tế mô tả sự tương tác giữa các chủ thể cơ bản trong nền kinh tế, trong đó các doanh nghiệp và hộ gia đình đều
là người mua và người bán Doanh nghiệp mua nguồn lực và bán sản phẩm Các hộ gia đình mua sản phẩm và bán nguồn lực
Trang 34TÓM TẤT
Kinh tế học là nghiên cứu về cách xã hội sử dụng các nguồn lực khan hiếm để sản xuất hàng hóa, dịch vụ có giá trị và phân phối chúng giữa các cá nhân khác nhau
Khan hiếm có nghĩa là xã hội có nguồn lực hạn chế và do đó không thể sản xuất tất cả các hàng hóa và dịch vụ mà con người yêu cầu Với mong muốn không giới hạn, điều quan trọng là một nền kinh tế bao gồm các hộ gia đình và doanh nghiệp phải đưa ra quyết định phân bổ các nguồn lực khan hiếm của mình một cách có hiệu quả để đáp ứng mong muốn và nhu cầu của mọi thành viên
Với nguồn lực có giới hạn, việc lựa chọn sản xuất giữa hai loại hàng hóa có thể được tóm tắt thông qua đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) Đường PPF cho thấy việc sản xuất một hàng hóa này sẽ được đánh đổi bởi một hàng hóa khác Giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ bị bỏ qua là chi phí cơ hội của nó
Kinh tế học vi mô liên quan đến hành vi của các thực thể riêng lẻ như thị trường, doanh nghiệp và hộ gia đình Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu hoạt động của một nền kinh tế nói chung
Mọi nền kinh tế phải trả lời ba câu hỏi cơ bản: Sản xuất cái gì, sản xuất bằng cách nào và sản xuất cho ai? Mỗi nền kinh tế trả lời những câu hỏi này theo những cách khác nhau Các hình thức tổ chức kinh tế đặc trưng là hệ thống kinh tế chỉ huy và hệ thống kinh tế thị trường tự do Hệ thống kinh tế chỉ huy được chỉ đạo bởi sự kiểm soát tập trung của Chính phủ; hệ thống kinh tế thị trường tự do được dẫn dắt bởi một hệ thống giá
cả và lợi nhuận phi chính thức, trong đó hầu hết các quyết định được đưa
ra bởi các cá nhân và doanh nghiệp tư nhân Hầu hết các nền kinh tế trên thế giới hiện nay đều có những sự kết họp khác nhau giữa hệ thống kinh
tế chỉ huy và hệ thống kinh tế thị trường tự do, đó được gọi là hệ thống kinh tế hỗn hợp
Sơ đồ chu chuyển kinh tế mô tả sự tương tác giữa các chủ thể cơ bản trong nền kinh tế, trong đó các doanh nghiệp và hộ gia đình đều là người mua và người bán Doanh nghiệp mua nguồn lực và bán sản phẩm Các hộ gia đình mua sản phẩm và bán nguồn lực
Trang 35Traditional economic system
Command economic system
Market economic system
Mixed economy system
Kinh tế học
Sự khan hiếmChi phí cơ hộiQuy luật chi phí cơ hội tăng dầnGiới hạn khả năng sản xuấtKinh tế học vi mô
Kinh tế học vĩ môKinh tế học thực chứngKinh tế học chuẩn tắcThị trường
Trang 36CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Phân tích khái niệm kinh tế học?
2 Phân biệt kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô? Cho ví dụ mỗi loại
3 Phân biệt kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc? Cho ví dụmỗi loại
4 Hãy nêu các mô hình kinh tế? Việt Nam hiện nay đang áp dụng mô hình kinh tế nào? Vì sao?
5 Trình bày các ưu điểm và khuyết điểm của mô hình kinh tế thị trường
tự do
6 Trình bày các ưu điểm và khuyết điểm của mô hình kinh tế mệnh lệnh
7 Trong kinh tế học, phân loại thị trường theo góc độ nào? Trình bày tóm tắt sự khác biệt giữa các loại thị trường
8 Ba vấn đề cơ bản của một nền kinh tế là gì? Các vấn đề kinh tế cơ bản được giải quyết như thế nào trong mỗi mô hình kinh tế?
9 Giả sử bạn đang sống một mình trên đảo Bạn hãy cho biết:
a Những vấn đề nào bạn không cần giải quyết trong ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế?
b Các vấn đề đó được giải quyết như thế nào trong gia đình của bạn?
10 Hãy định nghĩa sự khan hiếm và chi phí cơ hội Hai khái niệm này đóng vai trò gì trong việc đưa ra quyết định quản trị?
11 Nguồn lực kinh tế là gì? Các nhà kinh tế học đã phân loại nguồn lực như thế nào? Tại sao nguồn lực còn được gọi là yếu tố sản xuất?
12 Tại sao tiền không được coi là nguồn lực trong kinh tế học? Tại sao năng lực kinh doanh được coi là một yếu tố của nguồn lực kinh tế, nó khác với nguồn lực lao động như thế nào?
13 Nếu bạn là lãnh đạo của một quốc gia, bạn sẽ quan tâm hơn đến quan điểm thực chứng của các cố vấn kinh tế hay quan điểm chuẩn tắc của họ? Tại sao?
Trang 373 Giải thích được sự thay đổi giá cả và sản lượng của hàng hóa bằng
sự thay đổi trạng thái cân bằng cung cầu
4 Tính toán được các loại hệ số co giãn của cung và cầu
5 Hiểu rõ sự tác động của chính sách thuế và trợ cấp đối với giá cả hàng hóa trên thị trường
6 Hiểu rõ sự tác động của chính sách giá trần và chính sách giá sàn đối với giá cả hàng hóa trên thị trường
7 Hiểu rõ khái niệm thặng dư tiêu dùng, thặng dư sản xuất và cách xác định trên đồ thị
2.1 Sự VẬN HÀNH CỦA THỊ TRƯỜNG
Trong chương 1 chúng ta đã trình bày khái niệm thị trường, theo
N Gregory Mankiw [7], thị trường là một tập hợp người mua và người bản trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể Những người mua với tư cách
là một nhóm xác định nhu cầu đối với sản phẩm và những người bán với
tư cách là một nhóm xác định nguồn cung sản phẩm
Trong chương học này chúng ta sẽ xem xét các yếu tố cung và cầu Quy luật cung cầu là một trong những quy luật quan trọng của nền kinh tế Phân tích cung cầu là một trong những phương pháp phân tích kinh tế vi
mô cơ bản Những khái niệm về cung cầu là một trong những kiến thức nền tảng kinh tế rất quan trọng, rất cần thiết cho doanh nghiệp, nhà quản
lý và người tiêu dùng để đưa ra quyết định đúng đắn
Trang 382.1.1 Cầu hàng hóa (Demand - D)
2.1.1.1 Khái niệm
McConnell, Brue và Flynn [4] cho rằng: cầu hàng hóa là so lượng hàng hóa hay dịch vụ khác nhau mà người mua sẵn sàng mua và có khả năng mua tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian xác định, giả định các yếu tố khác không thay đổi.
- Sự khác biệt giữa cầu, lượng cầu, nhu cầu.
Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua sẵn sàng mua
và có khả năng mua điều đó có nghĩa là sự sẵn sàng đó phải được hỗ trợ bởi một số tiền cần thiết
Theo Jeffrey M Perloff [13], lượng cầu (Quantity Demanded -
Q d ) là sổ lượng một loại hàng hóa hay dịch vụ mà người mua săn sàng mua và có khả năng mua tại một mức giá xác định trong một khoảng thời gian nhất định.
Lượng cầu ở mỗi mức giá phải được tính trên mỗi đơn vị thời gian
cụ thể, một ngày, một tuần, một tháng hay một năm Ví dụ, tại một mức giá cà phê cụ thể, nếu một người tiêu thụ một tách cà phê một ngày thì lượng cầu về cà phê của người đó có thể là một tách cà phê một ngày hoặc
7 tách cà phê một tuần hay 365 tách cà phê một năm Neu không xác định thời gian, khó xác định chính xác lượng cầu hàng hóa đó lớn hay nhỏ
Theo Philip Kotler và Gary Armstrong [1], nhu cầu là trạng thái
con người cảm thấy thiếu thốn một cải gì đó và cần được thỏa mãn Chủng bao gồm nhu cầu vật chất cơ bản, nhu cầu xã hội và nhu cầu thế hiện bản thân.
2.1.1.2 Biểu cầu, đường cầu và hàm so cầu
Biểu cầu
Nói đến lượng cầu ta không chỉ xác định một lượng cầu đối với hàng hóa hay dịch vụ tại một mức giá cụ thể mà ta còn có thể xác định được một điểm trên đường cầu Biểu cầu sẽ liệt kê tất cả các lượng cầu của hàng hóa hay dịch vụ tương ứng với các mức giá khác nhau
Vậy, biểu cầu là một bảng số trình bày số lượng hàng hóa hoặc dịch
vụ mà người mua sẵn sàng mua tương ứng với các mức giá khác nhau [4]
Trang 39Ví dụ 1: Giả sử có số liệu về lượng cầu thịt heo tại Thành phố Hồ Chí Minh trong một năm tương ứng với các mức giá khác nhau được thể hiện qua biểu cầu sau:
Bảng 2.1: Biểu cầu về thịt heo tại Thành phố Hồ Chí Minh trong một năm
Giá (P) (nghìn đồng/kg)
Lượng cầu thịt heo (Qd)
Trang 40Hình 2.1: Đồ thị đường cầu
Tương ứng với từng mức giá khác nhau là các lượng cầu khác nhau Đường thẳng đi qua các điểm A B c D E thể hiện các lượng cầu tương ứng với các mức giá được gọi là đường cầu, ký hiệu là (D) Trong hình 2.1, đường cầu (D) đi qua 5 điểm với giá và lượng thịt heo tương ứng với bảng 2.1
Đường cầu có thể diễn tả mối quan hệ giữa lượng cầu và giá của một hàng hóa, trong khi các yếu tố khác như thu nhập của người tiêu dùng, giá cả mặt hàng liên quan, không đổi
Dựa vào đồ thị trong hình 2.1 cho thấy, ở mức giá 100 nghìn đồng/kg thịt heo thì người tiêu dùng sẵn sàng mua với số lượng là 5 nghìn
kg Nhưng khi mức giá giảm xuống 80 nghìn đồng/kg thì lượng cầu của người tiêu dùng là 15 nghìn kg Ta nhận thấy, khi giá càng giảm thì lượng cầu càng tăng, và ngược lại, nếu giá càng tăng thì lượng cầu càng giảm Vì thế đường cầu luôn dốc xuống Nghĩa là, giữa giá và lượng cầu có mối quan hệ nghịch biến Mối quan hệ nghịch biến đó chính là quy luật cầu
Quy luật cầu
Colander, David c [14] đã kết luận: Lượng cầu về hàng hóa hay
dịch vụ có mối quan hệ ngược chiều với giả cả Nếu giá hàng hóa hoặc dịch vụ tăng, các yếu tố khác không đổi, thì lượng cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ sẽ giảm Và ngược lại, nếu giả hàng hóa hoặc dịch vụ giảm, các yếu tố khác không đổi, thì lượng cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ đó sẽ tăng