Nhận thức được điều đó, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã xácđịnh rõ công tác PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị tưtưởng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính t
Trang 1Qua thời gian học tập tại trường cùng với thời gian tìm hiểu thực tế tại công ty em
đã từng bước trang bị kiến thức và học hỏi kinh nghiệm cho bản thân để làm việc vững vàng hơn trong chuyên môn nghề nghiệp sau này.
Cuối cùng, với lòng quý trọng và biết ơn sâu sắc em xin kính chúc Cô dồi dào sức khỏe và thành đạt hơn nữa trong sự nghiệp, chúc quý công ty ngày càng phát triển lớn mạnh trong lĩnh vực kinh doanh.
Trang 2BẢNG NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA ĐƠN VỊ TH C TẬP
Trang 3
BẢNG NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Giảng viên hướng dẫn:
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1 Mục đích nghiên cứu: 3
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
4 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA ĐỀ TÀI 5
1 Tổng quan về đề tài 5
2 Nội dung cơ bản của pháp luật về vấn đề lựa chọn 10
2.1 Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật 10
2.2 Chủ thể, đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật 11
2.3.1 Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật 11
2.3.2 Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật 13
CHƯƠNG II: TH C TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA ĐỀ TÀI TẠI UBND XÃ LANG QUÁN 16
1 Tổng quan về Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở 16 2 Khái quát về tình hình hoạt động của UBND xã Lang Quán trong một số năm gần đây (2014-2016) 20
2.1 Khái quát về xã Lang Quán- huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang 20
2.2 Khái quát về tình hình hoạt động quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân xã Lang Quán từ năm 2014 - 2016 21
2.2.1 Về phát triển kinh tế 21
2.2.2 Lĩnh vực đất đai, địa chính môi trường: 22
2.2.3 Xây dựng cơ bản: 22
2.2.4 Giáo dục 23
2.2.5 Chính sách xã hội 24
2.2.6 Văn hóa thông tin- thể thao 25
Trang 52.2.7 Công tác an ninh 25
2.2.8 Công tác quốc phòng 26
2.2.9 Công tác tư pháp, hộ tịch 26
3 Thực tiễn áp dụng pháp luật về Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở của UBND xã Lang Quán 27
3.1 Tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp năm 2013: 27
3.2 Công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật mới do Quốc hội khóa XIII ban hành tại kỳ họp thứ 8, 9, 10, 11 và các văn bản pháp luật khác: 27
3.3 Hình thức tuyên truyền, PBGDPL chủ yếu, thường xuyên, hiệu quả: 28
3.4 Về nguồn lực thực hiện công tác tuyên truyền, PBGDPL: 29
3.5 Công tác tuyên truyền, PBGDPL đến người dân 30
3.6 Công tác sinh hoạt Ngày Pháp luật: 30
3.7 Hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật: 31
3.8 Công tác hòa giải ở cơ sở: 31
3.9 Công tác xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật: 32
CHƯƠNG III KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở CƠ SỞ TẠI UBND XÃ LANG QUÁN 33
1 Đánh giá việc áp dụng pháp luật đối với Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở tại UBND xã Lang Quán 33
1.1.Thành tựu đạt được 33
1.2 Hạn chế, khó khăn của đơn vị 34
2 Kiến nghị 35
2.1.Đối với UBND xã Lang Quán về Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở 35
2.2 Đối với ngành dọc cấp trên (chỉnh sửa, bổ sung luật, phân cấp thẩm quyền quản lý ) 37
KẾT LUẬN 39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) luôn giữ vị trí quan trọng trongđời sống xã hội, là công việc không thể tách rời với quá trình xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật PBGDPL là khâu đầu tiên trong hoạt động thực thipháp luật, là phương tiện để chuyển tải những đường lối, chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước tới toàn thể cán bộ và nhân dân Đặc biệt, trong côngcuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân hiện nay, công tác này càng có vai trò quan trọng về nhiềumặt Nhận thức được điều đó, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã xácđịnh rõ công tác PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị tưtưởng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, phải được tiến hành thườngxuyên, liên tục với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và sáng tạo nhằm nângcao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh
tế phát triển, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã nêu: “Tăng cường giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức tôn
trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng”.
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng lại tiếp tục khẳng định: “Phát
huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản
lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật” Ngày 09/12/2003, Ban Bí thư cũng đã ban hành Chỉ thị
số 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL,nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân Trước yêu cầuđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng khóa IX, công
Trang 8tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải tăng cường thường xuyên, liên tục và
ở tầm cao hơn
Thực tế, qua hơn 20 năm đổi mới đất nước, Nhà nước ta đã ban hànhnhiều văn bản pháp luật liên quan đến công tác PBGDPL, góp phần cụ thể hóachủ trương của Đảng cũng như xác định đúng vị trí của công tác PBGDPLtrong tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền Thực hiệnchủ trương trên của Đảng, pháp luật của nhà nước, công tác PBGDPL ngàycàng được chính quyền các cấp quan tâm, chú trọng Ủy ban nhân dân các cấp,trong đó có Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (chínhquyền cấp huyện) có trách nhiệm tổ chức việc thực hiện pháp luật trên địa bàn
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2015 quy định: “Ủy
ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp” (khoản 1 Điều 106).
Đối với UBND xã Lang Quán - một đơn vị hành chính cấp xã của huyệnYên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, trong những năm qua, công tác PBGDPL nhìnchung đã được cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm; đã có nhữnghoạt động phong phú, nội dung, hình thức cũng như phương pháp từng bướcđược đổi mới; thu được một số kết quả bước đầu đáng ghi nhận Hoạt độngPBGDPL đã góp phần từng bước nâng cao ý thức pháp luật, hình thành dầnthói quen “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” trong cán bộ và nhândân trên địa bàn xã, đưa pháp luật vào các hoạt động quản lý nhà nước và đờisống xã hội
Mặc dù vậy, công tác PBGDPL trên địa bàn xã vẫn còn bộc lộ không ítkhó khăn, hạn chế ở nhiều mặt: Về nhận thức; về kinh phí, cơ sở vật chất; vềnhân lực; về nội dung; về phương pháp; về hình thức… đang đặt cấp ủy Đảng,chính quyền địa phương cũng như đội ngũ làm công tác PBGDPL của xã trướcnhững băn khoăn, trăn trở Thực trạng công tác PBGDPL trên địa bàn
Trang 9xã như thế nào? Những mặt đạt được? Những mặt hạn chế? Giải pháp cụ thể gìcho công tác PBGDPL tại UBND xã Lang Quán? Chất lượng và hiệu quảthực hiện công tác PBGDPL của UBND xã Lang Quán chỉ được cải thiện,được nâng cao khi tất cả những vấn đề trên được nhìn nhận và giải quyết mộtcách có hệ thống, khoa học trên cơ sở thực tiễn.
Xuất phát từ mục đích đó, tôi chọn nội dung: “Công tác tuyên truyền phổ
biến giáo dục pháp luật tại UBND xã Lang Quán, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài luận văn.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu một cách cơ bản những vấn đề lý luận và thực tiễn công tácphổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn UBND xã Lang Quán, tỉnh TuyênQuang trong giai đoạn hiện nay.Trên cơ sở đó rút ra những kết luận, đề xuấtnhững giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiệncông tác này tại địa phương
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật, cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương
- Đánh giá thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn UBND xã Lang Quán, tỉnh Tuyên Quang
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện công tác này tại địa phương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật qua thực tiễn tại UBND xã Lang Quán, tỉnh Tuyên Quang
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề về phổbiến, giáo dục pháp luật trên địa bàn đơn vị hành chính cấp xã và thực trạng, giảipháp đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa bàn UBND xã LangQuán, tỉnh Tuyên Quang với khoảng thời gian từ năm 2014 đến 2016
Trang 104 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của đề tài
Chương II: Thực tiễn áp dụng pháp luật của đề tài tại UBND xã Lang Quán Chương III Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại UBND xã Lang Quán
Trang 11CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA ĐỀ
TÀI
1 Tổng quan về đề tài
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một vấn đề đang được Đảng, Nhà nước,các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm thực hiện Trong khoa học pháp lýhiện nay, có nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về khái niệm phổ biến,giáo dục pháp luật Sự khác nhau về quan điểm, quan niệm đó sẽ dẫn đếnnhững lựa chọn khác nhau về nội dung, hình thức và phương pháp phổ biến Vìvậy, việc tiếp cận khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật một cách đúng đắn,khoa học sẽ giúp cho việc lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp phổbiến, giáo dục pháp luật phù hợp
Trên thực tế, PBGDPL ít được đề cập đến như một khái niệm mang tínhhọc thuật Trong các tài liệu khoa học, thuật ngữ thường được sử dụng là giáodục pháp luật Tuy nhiên, trong hầu hết các văn kiện của Đảng, các văn bảnquy phạm pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ chuyênmôn liên quan, phổ biến, giáo dục pháp luật được sử dụng một cách phổ biến
Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữphổ biến, giáo dục pháp luật với ý nghĩa chung đó
Thứ nhất, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chínhtrị tư tưởng
Dù bất kỳ ở chế độ nào, nhất là chế độ xã hội chủ nghĩa thì pháp luật luôntồn tại và có vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủnghĩa là tất yếu Pháp luật là công cụ chủ yếu để thiết lập, duy trì trật tự, kỷ cương
xã hội xã hội chủ nghĩa; là công cụ pháp lý quan trọng để Đảng và Nhà nước thựchiện sự lãnh đạo, quản lý đối với toàn xã hội, là phương tiện chủ yếu để nhân dânthực hiện quyền làm chủ đối với xã hội Sống, làm việc theo Hiến pháp và phápluật là yêu cầu và tiêu chí quan trọng của mỗi công dân
Giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tưtưởng, là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị với mục tiêu là “Giáo dục kịp
Trang 12thời, đầy đủ những nội dung pháp luật liên quan đến cuộc sống của các tầnglớp nhân dân, tạo điều kiện để công dân sử dụng pháp luật làm phương tiện,công cụ bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước và xãhội Nâng cao ý thức tự giác, chủ động tìm hiểu và chấp hành pháp luật của cán
bộ, nhân dân”
Có thể nói rằng mỗi một quy phạm pháp luật đều là phương tiện để củng
cố, ghi nhận, một quy tác mà xã hội cần, xã hội ủng hộ nhằm bảo vệ những lợiích của Nhà nước mà còn là của mỗi công dân Bởi vậy, khi thực hiện hoạtđộng giáo dục pháp luật sẽ tạo ra khả năng cho việc giáo dục chính trị tưtưởng, góp phần hình thành ở đối tượng giáo dục những quan hệ giá trị xácđịnh với chính trị tư tưởng Ngược lại trong giáo dục chính trị tư tưởng có chứcnăng đan xen trong nội dung của mình những hiện tượng của pháp luật, củng
cố những quan hệ tích cực đối với những đòi hỏi của pháp luật, kích thích lợiích điều chỉnh bằng pháp luật Mối quan hệ mật thiết qua lại chặt chẽ giữa giáodục pháp luật và giáo dục ý thức chính trị tư tưởng đòi hỏi các chủ thể giáo dụcpháp luật phải kết hợp và bổ sung cho nhau
Thứ hai, PBGDPL có mối quan hệ chặt chẽ với công tác xây dựng, thựchiện pháp luật
Chúng ta đã và đang tiến hành xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của dân, do dân, vì dân với mục đích thực hiện quyền làm chủ củanhân dân theo chủ trương, đường lối của Đảng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lấy pháp luật làm căn cứ điềutiết các hành vi cá nhân, các quan hệ xã hội, bảo đảm cho xã hội ổn định vàphát triển bền vững
Để có được xã hội pháp quyền như vậy, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tốnhư xây dựng hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, có hệ thống tổ chức bộ máy nhànước từ Trung ương xuống cơ sở vững chắc, trình độ văn hóa pháp luật và ýthức của người dân đạt tới sự hiểu biết, tự giác cao, các cơ quan giám sát thihành pháp luật nghiêm minh Trong số những yếu tố trên, yếu tố nào cũng có
Trang 13vai trò đặc biệt quan trọng Nhưng suy cho cùng, hệ thống luật pháp ấy có đếnđược với người dân không, nhân dân có hiểu biết và tự giác thực hiện pháp luật haykhông là vấn đề quyết định Nếu luật pháp vẫn chỉ là luật pháp cho dù có hoànchỉnh đến mấy; nếu người dân cứ tự do sống theo bản năng của mình không cầnbiết đến luật pháp, thì không những xã hội không phát triển mà còn rất tồi tệ và bất
ổn Mấu chốt của vấn đề ở chỗ, pháp luật phải đi vào cuộc sống, nhân dân thấy cầnpháp luật như cần không khí để hít thở vậy Muốn pháp luật đến được với nhândân, pháp luật được thực hiện trong thực tế, đi vào cuộc sống; muốn thực hiệnđựợc pháp luật thì phải hiểu pháp luật mà muốn nhân dân hiểu được pháp luật thìnhân dân cần được PBGDPL PBGDPL là hoạt động nhằm hình thành tri thức, tìnhcảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật, chính vì thế PBGDPLchính là khâu trung gian, là cầu nối giữa xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật.Cho nên, việc PBGDPL cho nhân dân là việc làm không thể thiếu và cũng khôngthể làm một, hai lần, làm một thời gian ngắn là xong mà phải rất kiên trì, sáng tạo,linh hoạt, được toàn xã hội tham gia
Thứ ba, PBGDPL được tổ chức, thực hiện bởi những chủ thể xác định(Chính phủ, các bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp)
Xuất phát từ quan điểm của Đảng ta là “tiếp tục đẩy mạnh việc xâydựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước
ta thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảnglãnh đạo”, chúng ta đang từng bước phấn đấu nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý
xã hội bằng pháp luật thì pháp luật giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, quagiáo dục pháp luật giúp cho công dân ý thức được một cách đúng đắn cũng nhưthực hiện một cách có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân, tổchức, cơ quan trong sự nghiệp xây dựng giàu mạnh, góp phần thiết thực vàocông cuộc phát triển kinh tế - xã hội
Để hoạt động PBGDPL được tiến hành đồng bộ, công tác PBGDPL đã đượctriển khai một cách đồng bộ, hiệu quả từ cấp trung ương tới cấp xã, phường, thịtrấn Ở Trung ương, Hội đồng Phối hợp công tác phổ biến, giáo dục
Trang 14pháp luật đã được thành lập với thành viên là đại diện lãnh đạo các bộ, ngành,các cơ quan Đảng, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội, cácphương tiện thông tin đại chúng Bộ Tư pháp là đầu mối phối hợp với các bộ,ngành thành viên đề ra và tổ chức các kế hoạch dài hạn, hàng năm của Chínhphủ.
Ở địa phương hiện nay, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố; Phòng Tư phápcác thành phố (thuộc tỉnh), quận, huyện đã tham mưu cho Uỷ ban nhân dâncùng cấp thành lập Hội đồng Phối hợp công tác phổ biến, giáo dục cấp tỉnh,cấp huyện Hàng năm, với vai trò là cơ quan thường trực của Hội đồng, Sở Tưpháp, Phòng Tư pháp đã xây dựng các kế hoạch PBGDPL dài hạn và hàng nămcủa địa phương Ở xã, phường, thị trấn cũng đã thành lập Hội đồng hoặc Banphối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Đây là chủ thể quan trọng của PBGDPL, đưa công tác PBGDPL tậptrung hơn, toàn diện và có chiều sâu hơn, theo chương trình, kế hoạch cụ thể;
là đầu mối quan trọng để phối hợp các nguồn nhân lực và vật lực nhằm đưacông tác PBGDPL phát triển và có hiệu quả
Thứ tư, PBGDPL nhằm truyền đạt những thông tin, nội dung pháp luậtgiúp đối tượng được tác động có những hiểu biết nhất định góp phần nâng cao
ý thức pháp luật cho đối tượng
Để giữ gìn trật tự xã hội, cần tạo lập được một thói quen trong đời sống xãhội, đó là thói quen chấp hành pháp luật, thái độ thượng tôn pháp luật Nghĩa làphải xây dựng được ý thức chấp hành pháp luật ở trình độ cao của tất cả các thànhviên trong xã hội Ý thức pháp luật - đó là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhândân về pháp luật Đó còn là thái độ đối với pháp luật như tông trọng hay coi thườngpháp luật, thái độ đối với hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm
PBGDPL nhằm xây dựng ý thức pháp luật, hình thành lối sống theo phápluật Điều đó góp phần khắc phục tư tưởng coi thường pháp luật, thái độ “hư vô”pháp luật - điều đáng lo lắng nhất trong đời sống xã hội, đồng thời cũng góp phầnkhắc phục tình hình “duy ý chí” trong việc điều chỉnh pháp luật mà thực
Trang 15chất là giảm hiệu lực và hiệu quả pháp luật, làm giảm giá trị và uy tín của phápluật trong đời sống xã hội.
Những thông tin, nội dung pháp luật được truyền đạt qua PBGDPL sẽgiúp mọi người trong xã hội nâng cao ý thức pháp luật, tức là đều hiểu biếtđúng đắn yêu cầu của các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động củamình, đều có thái độ tôn trọng, ủng hộ các quy định đó nên luôn luôn có cáchành vi hợp pháp, nhờ đó, pháp luật sẽ được thực hiện một cách nghiêm chỉnh
và tự giác hơn
Thứ năm, địa bàn xã ở Việt Nam chủ yếu là các vùng nông thôn, vùng núi,vùng sâu, vùng xa nên dân cư không đông nhưng lại phân bố không đều; cư dânsinh sống thưa thớt và rải rác trên những địa hình khác nhau.Dân cư ở địa bàn xãchủ yếu là nông dân, trình độ dân trí thấp, cuộc sống thuần nông, giản đơn, bị chiphối bởi nhiều phong tục tập quán, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dântộc; chính vì vậy, nhu cầu học hỏi pháp luật của họ không cao, họ chỉ cần tới phápluật khi nào nảy sinh những vụ việc ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích cánhân mà không hình thành được ý thức, thói quen thường xuyên tìm hiểu pháp luật,
kể cả những văn bản luật có liên quan thiết thực đến đời sống mỗi công dân Điềunày gây khó khăn rất lớn cho công tác PBGDPL tại địa bàn xã Mặt khác, đây lại làđối tượng đông đảo của hoạt động PBGDPL ở địa bàn xã nên chất lượng công tácPBGDPL đặc biệt bị ảnh hưởng
Thứ sáu, nhu cầu phổ biến giáo dục pháp luật hiện nay ở nước ta ngày mộttăng khi chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hóa,hiện đại hóa dẫn đến hiện tượng đô thị hóa nông thôn ngày càng nhiều; xây dựngnhà nước pháp quyền, vị thế của pháp luật ngày một được coi trọng hơn, mở cửa,hội nhập quốc tế nên các quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều.Hơn thế nữa, trong điều kiện nước ta hiện nay, số lượng các văn bản pháp luậtđược ban hành ngày càng lớn, với nội dung đa dạng, phức tạp, điều chỉnh nhiềuloại quan hệ của đời sống xã hội nhằm phục vụ tiến trình đổi mới đất nước và hộinhập kinh tế quốc tế đòi hỏi công tác PBGDPL phải có
Trang 16chất lượng hơn, đối với tất cả các đối tượng dân cư trên địa bàn xã, nhất là độingũ cán bộ, công chức và các doanh nhân Đây cũng chính là một trong nhữngđặc điểm quan trọng của công tác PBGDPL trên địa bàn xã ở Việt Nam.
2 Nội dung cơ bản của pháp luật về vấn đề lựa chọn
2.1 Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật
Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật là sự kết hợp từ phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật
Phổ biến pháp luật theo nghĩa hẹp được hiểu là giới thiệu tinh thần vănbản pháp luật cho đối tượng của nó Theo nghĩa rộng, phổ biến pháp luật làtruyền bá pháp luật cho mọi đối tượng
Khái niệm giáo dục pháp luật cũng thường được hiểu ở hai cấp độ khác nhau (nghĩa rộng và nghĩa hẹp)
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2009 thì “Giáo dục là hoạt động nhằm tácđộng một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần thể chất của một đốitượng nào đó làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và nănglực như yêu cầu đề ra”
Theo Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật thì giáodục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thứcpháp luật cho đối tượng bằng mọi cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị….)hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thứctôn trọng pháp luật nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng
Theo nghĩa rộng thì giáo dục pháp luật là quá trình hình thành ý thứcpháp luật của các thành viên xã hội chịu sự tác động tích cực cũng như tiêucực, có chủ đích cũng như tự phát của các điều kiện khách quan và nhân tố chủquan như các điều kiện kinh tế - xã hội, chế độ chính trị hệ thống pháp luật vàthực tiễn pháp lý, môi truờng sống cũng như giáo dục xã hội
Quan điểm này xuất phát từ khái niệm giáo dục pháp luật theo nghĩa rộngkhoa học giáo dục quan niệm giáo dục là quá trình tác động của những điều kiệnkhách quan như chế độ chính trị, hệ tư tưởng, nền văn hóa trình độ phát triển
Trang 17kinh tế, hệ thống pháp luật, môi trường sống, phong tục, tập quán….và của cảnhững nhân tố chủ quan như sự tác động tự giác, có chủ định và định hướngcủa nhân tố con người nhằm hình thành ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật củađối tượng giáo dục pháp luật Ý thức pháp luật của những giai cấp khác nhauthì khác nhau, do đó ý thức pháp luật là sản phẩm của quá trình tác động củacác nhân tố khách quan và chủ quan, tích cực và tiêu cực.
Xuất phát từ khái niệm giáo dục pháp luật trên cho thấy giáo dục phápluật là hình thức giáo dục cụ thể, là “cái riêng, cái đặc thù” trong mối quan hệvới giáo dục nói chung
Trong quá trình nghiên cứu, quản lý và trực tiếp thực hiện các hoạt độngPBGDPL tại địa phương, tôi rất tâm đắc với quan niệm: Phổ biến, giáo dụcpháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có dự định của sự nghiệpgiáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thườngxuyên để cung cấp tri thức pháp luật bồi dưỡng tình cảm và hành vi hợp phápcho đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ ý thức pháp luật phù hợp với cácquy định của pháp luật và đòi hỏi của nền pháp chế hiện hành
2.2 Chủ thể, đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật
2.3.1 Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật
Ý thức pháp luật của các đối tượng trong xã hội được hình thành thôngqua ảnh hưởng của hoàn cảnh khách quan và sự tác động trực tiếp của công tácgiáo dục pháp luật Sự tác động này được thực hiện nhờ các chủ thể của giáodục pháp luật
Như đã nêu trên, phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động định hướng có tổchức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục Vì vậy, tất
cả những người theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội đã góp phầntham gia vào việc thực hiện mục tiêu PBGDPL đều được hiểu là chủ thể
PBGDPL
Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật là người thực hiện việc giáo dục phápluật cho các đối tượng Theo quan điểm chung hiện nay, phổ biến, giáo dục
Trang 18pháp luật là nhiệm vụ chung của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân đượcphân công mà theo cách hiểu truyền thống thường bao gồm: Những ngườicông tác tại các cơ quan pháp luật; cán bộ tuyên huấn của các cơ quan, đơn vị;báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật; giáo viên giảng dạy môn pháp luậttrong các trường học… Đây là những người trực tiếp truyền tải những thôngtin pháp luật, nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật đến các đối tượng.
Tùy theo nhiệm vụ và nội dung công việc, chủ thể phổ biến, giáo dụcpháp luật có thể phân chia thành các nhóm:
- Nhóm chủ thể chịu trách nhiệm lãnh đạo (Chủ thể tổ chức, quản lý côngtác phổ biến, giáo dục pháp luật): Các tổ chức Đảng, các cơ quan tư tưởng vănhóa, hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại các cơ quan,đơn vị
- Nhóm các chủ thể gián tiếp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật:Những người làm các chương trình truyền hình, chương trình phát thanh,chương trình giáo dục pháp luật trong các nhà trường…
- Nhóm các chủ thể trực tiếp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật: Cácbáo cáo viên pháp luật, giảng viên pháp luật, giáo viên pháp luật, các nhà tưvấn pháp luật, những người áp dụng pháp luật…
Căn cứ vào mức độ liên quan giữa chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệmpháp lý của các chủ thể và mục đích của công tác PBGDPL mà chủ thểPBGDPL cũng có thể được phân chia thành hai loại:
- Chủ thể chuyên nghiệp: Là những người có chức năng, nhiệm vụ hay tráchnhiệm pháp lý chủ yếu, trực tiếp, thường xuyên thực hiện các mục tiêu PBGDPLbao gồm các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật ở hệ thống các cơ quanĐảng, Nhà nước, tổ chức xã hội các cấp; các phóng viên, biên tập viên, phát thanhviên của cơ quan thông tin đại chúng (báo, đài phát thanh - truyền hình, tạp chí, bảntin, tập san về pháp luật…); các giáo viên, giảng viên giảng dạy pháp luật trong cácnhà trường; cán bộ và chuyên gia nghiên cứu, chỉ đạo PBGDPL tại cơ quan Nhànước, tổ chức nghề nghiệp pháp luật, tổ chức xã hội…
Trang 19Đây chính là những chủ thể quan trọng, chủ yếu có thể gọi là lực lượng nòng cốt của PBGDPL.
- Chủ thể không chuyên nghiệp: Là những người tuy chức năng, nhiệm vụchính không phải là PBGDPL nhưng thông qua hoạt động chuyên môn ở cáclĩnh vực khác nhau đã tham gia thực hiện mục tiêu PBGDPL như đại biểuQuốc hội , đại biểu HĐND các cấp, cán bộ các cơ quan hành pháp, cán bộ làthành viên của các tổ chức chính trị - xã hội, Đảng, đoàn thể, cán bộ, nhân viên
cơ quan quản lý nhà nước…
Ngoài ra, thông qua hoạt động thực tiễn liên quan đến pháp luật thì mỗicông dân đều là chủ thể PBGDPL Bằng sự tự giáo dục, bằng ý thức tráchnhiệm công dân của mình và bằng sự gương mẫu thực hiện pháp luật của nhànước, đường lối chính sách của Đảng mà mỗi công dân đã có tác dụng ảnhhưởng giáo dục tích cực đến các công dân khác
2.3.2 Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật
Đối tượng PBGDPL là một trong những vấn đề lý luận cơ bản củaPBGDPL; việc xác định nội dung, phương pháp, hình thức PBGDPL có phùhợp, hiệu quả hay không phụ thuộc phần lớn vào việc nghiên cứu, đánh giámột cách đúng đắn, đầy đủ và toàn diện đối tượng PBGDPL
Đối tượng PBGDPL là các cá nhân công dân, những nhóm cộng đồng xãhội cụ thể tiếp nhận trực tiếp hay gián tiếp những tác động của các hoạt độngPBGDPL do các chủ thể PBGDPL tiến hành nhằm đạt được những mục đích
đề ra
Đối tượng của PBGDPL rất đa dạng, phong phú về thành phần xã hội, vềtrình độ, khả năng nhận thức, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp Trên cơ sở cácyếu tố như điều kiện, hoàn cảnh tiếp nhận, yếu tố dân tộc, địa lý, đặc điểm tâm
lý, yếu tố học vấn, địa vị xã hội… của mỗi công dân mà đối tượng PBGDPLđược xác định bao gồm các nhóm sau:
- Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước: Trong phạm vi chức năng, nhiệm
vụ của mình các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước tham gia vào các quan
Trang 20hệ pháp luật với tư cách là đại diện cho nhà nước để thực hiện các quyền vànghĩa vụ cụ thể Thái độ và hành vi xử sự đúng pháp luật hay không của họ làtấm gương phản chiếu tính pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhànước.
Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước trong mối quan hệ với pháp luậtvừa là đối tượng của giáo dục pháp luật vừa là chủ thể giá dục, vì vậy một mặt
họ phải được tiếp cận giáo dục pháp luật gắn liền với giáo dục đào tạo chuyênmôn nghiệp vụ trong các nhà trường đến bồi dưỡng nâng cao thường xuyêntrong quá trình làm việc, mặt khác phải được trang bị các kiến thức và kỹ năngtrong việc giáo dục pháp luật Thực tiễn hiện nay giáo dục pháp luật cho đốitượng này vừa là vấn đề cấp bách vừa là vấn đề lâu dài, phải thường xuyên,liên tục mới có thể đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật
- Học sinh, sinh viên: Thế hệ công dân trẻ tuổi hôm nay là những ngườichủ đất nước trong tương lai, giáo dục pháp luật phải được tiến hành ngaytrong trường học từ phổ thông đến đại học
- Chủ doanh nghiệp và người lao động trong các doanh nghiệp: Giáo dụcpháp luật là đòi hỏi từ nhu cầu thiết thực của các nhà kinh doanh và yêu cầuquản lý kinh tế của nhà nước Vì vậy, phải giúp họ có đuợc những kiến thức cơbản về pháp luật liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, tạo thói quen kinh doanhtrong khuôn khổ pháp luật, tránh tình trạng vi phạm pháp luật Với người laođộng trong các doanh nghiệp, sự hiểu biết pháp luật là hết sức cần thiết để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chấp hành nghĩa vụ đối với Nhà nước, cũng nhưyếu tố để góp phần đảm bảo doanh nghiệp tuân thủ pháp luật
- Các tầng lớp nhân dân (phụ nữ, nông dân, thanh niên, trẻ em, đồng bàodân tộc thiểu số…): Đây là các lực lượng chiếm đa số trong xã hỗi, họ ít cóđiều kiện được học tập, nghiên cứu tìm hiểu pháp luật Vì vậy, cần phải giáodục pháp luật để họ nhận thức được trách nhiệm và nghĩa vụ, quyền lợi củacông dân đối với nhà nước và xã hội
Trang 21Việc xác định chủ thể, đối tượng của hoạt động giáo dục pháp luật có ýnghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn; trên cơ sở mối quan hệ, sự tácđộng qua lại lẫn nhau giữa chủ thể và đối tượng trong quá trình giáo dục phápluật Trong đó, chủ yếu là sự tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch củangười giáo dục pháp luật lên người được giáo dục pháp luật Điều đó tạo chochủ thể xác định các nội dung, hình thức, phương tiện, biện pháp phù hợp đểtiếp cận với đối tượng giáo dục pháp luật một cách có hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, điều cần lưu ý là việc phân biệt chủ thể và đối tượng PBGDPL chỉ có
ý nghĩa về mặt lý luận và mang tính chất tương đối Bởi như C.Mác đã từngnói: “Người đi giáo dục cần phải được giáo dục”, thực tiễn pháp lý luôn có xuhướng và buộc các chủ thể phải thường xuyên đóng vai trò của đối tượngPBGDPL và cùng với mục đích đạt được của PBGDPL sẽ kéo theo sự vươnlên của đối tượng trở thành chủ thể của PBGDPL
Trang 22CHƯƠNG II: TH C TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA ĐỀ
TÀI TẠI UBND XÃ LANG QUÁN.
1 Tổng quan về Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở
Công tác PBGDPL có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệpcủa Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Trong giai đoạn hiện nay, công tác này
càng trở nên cần thiết, khi Đảng, Nhà nước ta chủ trương “xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân”, “tăng cường quản lý
xã hội bằng pháp luật” Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu cấp bách là phải từng bước đưa xã hội vào kỷcương, trật tự, mọi công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật -
Đề cao vai trò của pháp luật trong đời sống, đảm bảo tính tối cao của luật, thừanhận và bảo đảm quyền tự do của công dân, xây dựng và phát triển xã hội dânchủ
Để góp phần xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt NamXHCN, không chỉ cần thiết phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
mà đồng thời phải có cơ chế, chính sách, biện pháp để mỗi công dân am hiểu
và triệt để thực thi pháp luật Ý thức và hành vi hợp pháp của công dân khôngphải tự nhiên có mà phải thông qua một quá trình giáo dục thường xuyên, lâudài nhằm cung cấp tri thức pháp luật, xây dựng tình cảm pháp luật và thói quen
xử sự theo pháp luật Đây chính là bản chất của hoạt động PBGDPL Một khimọi công dân đã am hiểu pháp luật thì tất yếu ý thức pháp luật của họ đượcnâng lên Nhờ đó trật tự, kỷ cương trong xã hội được thiết lập; an ninh quốc giađược giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi để hội nhập quốc tế Chính vì vậy, cóthể khẳng định PBGDPL là cần thiết cho toàn xã hội nói chung
Đối với UBND xã Lang Quán nói riêng, là địa phương có diện tích tựnhiên tương đối rộng, với 21 thôn, bản, tiểu khu Mặt khác, là xã nông nghiệpcủa huyện, gần 70% dân số xã sống bằng nghề nông, mặt bằng dân trí còn thấp,
do đó hiểu biết pháp luật của đại đa số người dân chưa cao, tình hình vi phạm
Trang 23pháp luật chưa được hạn chế đáng kể; thái độ thờ ơ, thiếu tôn trọng pháp luậtcòn khá phổ biến Tình trạng xuống cấp về đạo đức, vi phạm pháp luật, phá vỡ
kỷ cương, coi thường phép nước của một bộ phận nhân dân sinh sống trên địabàn xã đã và đang làm cho các cấp, các ngành và xã hội quan tâm lo lắng Hiệntượng vi phạm pháp luật đã ảnh hưởng không chỉ về an ninh, trật tự an toàn xãhội mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến nền văn hóa, truyền thống đạo đức dân tộc
và hạnh phúc của nhiều gia đình Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đếntình trạng trên là trình độ hiểu biết pháp luật của một bộ phận dân cư xã nhàcòn quá thấp, ý thức pháp luật còn nhiều hạn chế
Đặc biệt, trong điều kiện và hoàn cảnh của UBND xã Lang Quán, một xã
có nền sản xuất nhỏ, cơ sở kinh tế và tư tưởng chưa thuần nhất, những nhân tốmới, điều kiện mới đã xuất hiện và phát triển nhưng những khó khăn về kinh tế
và những hạn chế trong nhận thức cũng như sự ảnh hưởng của các tàn tích, tậptục lạc hậu còn nhiều nên công tác PBGDPL càng phải được chú trọng đặc biệt
Hơn thế nữa, trong xu thế phát triển và hội nhập chung của toàn thể cộngđồng, nhu cầu tìm hiểu, xử sự theo pháp luật và đặt mình trong mối quan hệvới pháp luật của các thành viên trong xã hội nói chung và của nhân dânUBND xã Lang Quán nói riêng ngày càng cao nhằm bắt kịp với nhịp độ pháttriển của thời đại
Điều đó cho thấy, PBGDPL ở UBND xã Lang Quán là yêu cầu cấp thiếthiện nay
Xuất phát từ yêu cầu tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, từ nhận thức
về về vai trò của hoạt động PBGDPL trong quản lý nhà nước và quản lý xãhội.Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của công tác PBGDPL đối với cán
bộ, đảng viên và nhân dân xã nhà, trong thời gian qua các cấp ủy Đảng vàchính quyền UBND xã Lang Quán luôn coi trọng công tác PBGDPL, coi đây làmột nhiệm vụ thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnhđạo của Đảng