1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề tài từ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phân tích vai trò của người lao động trong cuộc cách mạng công nghiệp 4 0

20 14 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phân tích vai trò của người lao động trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Tác giả Hà Quang Phú
Người hướng dẫn Nghiêm Thị Châu Giang
Trường học Trường đại học kinh tế quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế và Quản lý Nguồn nhân lực
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 40,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC �&� BÀI TIỂU LUẬN Môn học Triết học Mác – Lênin Đề tài Từ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC

˜&˜

BÀI TIỂU LUẬN

Môn học: Triết học Mác – Lênin

Đề tài: Từ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phân tích vai trò của người lao động trong cuộc cách mạng

công nghiệp 4.0

Sinh viên thực hiện

Mã sinh viên

Lớp chuyên ngành

Khoá

Lớp học phần

Giảng viên hướng dẫn

: Hà Quang Phú : 11214679 : Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực 63 : 63

: LLNL1105(221)_16 : Nghiêm Thị Châu Giang

Hà Nội - 05/2022

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

I LÝ LUẬN CHUNG 4

I.1: Lực lượng sản xuất 4

I.1.1: Khái niệm lực lượng sản xuất 4

I.1.2: Kết cấu lực lượng sản xuất 4

I.2: Quan hệ sản xuất 5

I.2.1: Khái niệm quan hệ sản xuất 5

I.2.2: Kết cấu quan hệ sản xuất 5

I.3: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 7

I.3.1: Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 7 I.3.2: Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất 7

I.3.3: Sự tác động ngược trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất 8

II VẬN DỤNG: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 10

II.1: Yếu tố tri thức 10

II.2: Yếu tố kỹ năng và kỹ xảo 12

II.3: Yếu tố khoa học kỹ thuật – công nghệ 14

KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trên toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã mở ra một

kỷ nguyên hoàn toàn mới, ở đó hàng loạt những máy móc tối tân cùng hàng loạt công nghệ tiên tiến ra đời thay thế cho sức lao động của con người - vốn từ lâu

đã là hạn chế trong các hoạt động sản xuất do bị cản trở về mặt giới hạn sinh học Cuộc cách mạng này tạo ra những biến chuyển tích cực trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ nông nghiệp đến công nghiệp, dịch vụ Song bên cạnh đó, chúng ta không thể phủ nhận rằng lực lượng sản xuất, đặc biệt là người lao động, đóng vai trò rất quan trọng và gần như không thể thiếu đối với mọi quá trình sản xuất vật chất

Tuy nhiên, để người lao động có thể giữ vững được vai trò của bản thân trong hoạt động sản xuất thì buộc họ phải “vận động” sao cho trước hết là thích nghi với bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp hoá hiện đại hoá, sau đó làm chủ hoàn toàn và cuối cùng là tiến lên hình thái quan hệ sản xuất cao hơn thúc đẩy tiến trình phát triển của lịch sử để phù hợp với trình độ của lực lượng lao động nói chung Điều này cũng giải thích cho sự phát hiện vĩ đại mang tính bước ngoặt của C.Mác trong lịch sử triết học của nhân loại: đó là phát hiện chủ nghĩa duy vật lịch sử Bằng lập trường duy vật về lịch sử và phương pháp luận biện chứng, Mác đã tìm ra quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Với cống hiến này, lần đầu tiên lịch sử được nhận thức

và lý giải đúng như bản thân nó, khách quan và chân thực

Có thể thấy rằng, quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật kinh tế cơ bản, phổ biến, chi phối mọi phương thức sản xuất, không loại trừ một quốc gia dân tộc nào Điều đó đòi hỏi chúng ta muốn phát triển kinh tế đất nước trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì người lao động phải nhận thức đúng vai trò của bản thân trong quá trình sản xuất vật chất và biết bản thân cần hành động như thế nào để phù hợp với quy luật khách quan

Trang 5

Thấy được vị trí và ý nghĩa của thực trạng, em mạnh dạn đưa ra nhận định của

mình về đề tài: “Từ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phân tích vai trò của người lao động trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”.

Do kiến thức của em vẫn còn hạn chế nên trong quá trình làm bài vẫn còn nhiều sai sót khó tránh khỏi, rất mong cô có thể góp ý để bài làm của em có thể trở nên tốt hơn Em xin chân thành cảm ơn cô !

3

Trang 6

I LÝ LUẬN CHUNG

I.1: Lực lượng sản xuất

I.1.1: Khái niệm lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội

I.1.2: Kết cấu lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất được xem xét trên cả hai mặt, đó là mặt kinh tế - kỹ thuật (tư liệu sản xuất) và mặt kinh tế - xã hội (người lao động) Lực lượng sản xuất chính là sự kết hợp giữa “lao động sống” với “lao động vật hoá” tạo ra sức sản xuất, là toàn bộ những năng lực thực tiễn dùng trong sản xuất của xã hội ở các thời kỳ nhất định

Người lao động không chỉ bao gồm công nhân trực tiếp, mà còn gồm cả công nhân gián tiếp và các nhà quản lý Cùng với quá trình phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, tỷ lệ đội ngũ công nhân gián tiếp ngày càng tăng lên Khoa học kỹ thuật là một bộ phận của lực lượng sản xuất; là cái cốt lõi, yếu tố quyết định trình độ của lực lượng sản xuất

Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất thì ở đâu và bất cứ lúc nào người lao động cũng là lực lượng sản xuất cơ bản nhất, quyết định nhất C.Mác cho rằng mỗi thế hệ con người bao giờ cũng nhận được những lực lượng sản xuất ấy

do thế hệ trước tạo ra và sử dụng chúng làm phương tiện cho hoạt động sản xuất mới C.Mác kết luận: “ Lịch sử xã hội của con người luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cá nhân của những con người”

Tư liệu sản xuất là những điều kiện cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Đối tượng lao động là cái mà lao động tác động vào, cải biến nó thành vật phẩm có ích Tư liệu lao động là những vật mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động Tư liệu lao động có hai

Trang 7

loại: loại tác động trực tiếp vào đối tượng lao động gọi là công cụ lao động, loại tác động gián tiếp vào đối tượng lao động gọi là phương tiện sản xuất

Trong các bộ phận của tư liệu lao động thì công cụ lao động có một vai trò đặc biệt quan trọng vì nó làm tăng khả năng hoạt động có hạn của con người, công cụ lao động là cái để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế Đánh giá sự phát triển của các thời đại kinh tế không đánh giá thời kỳ ấy sản xuất ra sản phẩm gì mà đánh giá thời kỳ ấy sản xuất bằng công cụ gì Mác viết:

“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì,

mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”

I.2: Quan hệ sản xuất

I.2.1: Khái niệm quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất

I.2.2: Kết cấu quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ trao đổi và quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động:

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội Đây

là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ trao đổi và quan

hệ phân phối sản phẩm, cũng như các quan hệ xã hội khác

Quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc tổ chức sản xuất và phân công lao động Quan hệ này

5

Trang 8

có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội Ngày nay, khoa học tổ chức quản lý sản xuất hiện đại

có tầm quan trọng đặc biệt trong nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng Quan hệ này có vai trò đặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích con người; là “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất làm năng động hoá toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Hoặc ngược lại, có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất

Các mặt trong quan hệ sản xuất có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau; trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định bản chất và tính chất của quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan, là quan hệ đầu tiên, cơ bản chủ yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội Quan hệ sản xuất còn là một mặt của phương thức sản xuất, nếu lực lượng sản xuất biểu thị mặt thứ nhất của mối “quan hệ song trùng” của sản xuất vật chất, thì quan hệ sản xuất biểu hiện mặt thứ hai của quan hệ đó, tức

là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất

Một xã hội cụ thể thường bao gồm ba loại quan hệ sản xuất cơ bản là: quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai; trong đó, quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế - xã hội và tạo ra cơ sở hạ tầng của một xã hội

cụ thể, để phân biệt xã hội này với xã hội khác Tuy nhiên, quan hệ sản xuất tàn

dư và quan hệ sản xuất mầm mống cũng có vai trò nhất định và có sự tác động trở lại quan hệ sản xuất đóng vai trò chủ đạo

Trang 9

I.3: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

I.3.1: Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một trong những nguyên lý cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là quan

hệ cơ bản của toàn xã hội, quyết định sự vận động phát triển của lịch sử xã hội loài người Lực lượng sản xuất có tác động biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất C Mác đã viết: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ”

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai thành tố cơ bản cấu thành phương thức sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, ràng buộc lẫn nhau trong quá trình sản xuất xã hội Mỗi phương thức sản xuất hay quá trình sản xuất xã hội không thể tiến hành được nếu thiếu một trong hai thành tố trên; trong đó, lực lượng sản xuất chính là nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ của quá trình này, còn quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình đó Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất phải được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp, thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Chỉ có sự thích ứng, phù hợp đó của quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất mới có thể tiếp tục phát triển Đây cũng là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội

I.3.2: Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất.

Tính quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được thể hiện trên hai mặt thống nhất với nhau: lực lượng sản xuất nào thì quan hệ sản xuất

7

Trang 10

đó và cũng do đó mà khi lực lượng sản xuất thay đổi thì cũng tất yếu đòi hỏi phải có những thay đổi nhất định đối với quan hệ sản xuất

Mọi sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất đều bắt đầu từ sự biến đổi của lực lượng sản xuất Bởi lẽ lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng động, cách mạng thường xuyên vận động và phát triển; bên cạnh đó, quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất, mang tính ổn định tương đối Trong sự vận động của mâu thuẫn biện chứng đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất Khi sự phát triển của lực lượng sản xuất đạt đến một trình độ nhất định thì sẽ mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất hiện có và xuất hiện yêu cầu phải xóa bỏ quan hệ sản xuất lỗi thời thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Cơ sở khách quan quy định cho sự vận động và phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất là do biện chứng giữa sản xuất và nhu cầu con người; do tính năng động và cách mạng của sự phát triển công cụ lao động; do vai trò của người lao động là chủ thế sáng tạo, là lực lượng sản xuất hàng đầu; do tính kế thừa khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất trong tiến trình lịch sử

I.3.3: Sự tác động ngược trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất

Mặc dù bị quyết định bởi lực lượng sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối so với lực lượng sản xuất, vì vậy quan hệ sản xuất có thể tác động trở lại lực lượng sản xuất Quá trình tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra với hai khả năng: tác động tích cực hoặc tác động tiêu cực Khi quan hệ sản xuất phù hợp với nhu cầu khách quan bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển của lực lượng sản xuất thì có tác động tích cực, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; ngược lại, nếu không phù hợp với nhu cầu khách quan đó thì nhất định sẽ diễn ra quá trình tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn, với những điều kiện nhất định

Trang 11

Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quan hệ mâu thuẫn biện chứng, tức là mối quan hệ thống nhất của hai mặt đối lập Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là

đi từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và một khi mâu thuẫn được giải quyết thì tái thiết lập sự thống nhất mới; quá trình này lặp đi lặp lại trong lịch sử, tạo ra quá trình vận động phát triển của phương thức sản xuất C Mác đã khẳng định: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của

xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu một cuộc cách mạng xã hội

Sở dĩ lực lượng sản xuất phát triển không ngừng trong khi đó quan hệ sản xuất lại có tính ổn định tương đối, vì nó gắn với các thiết chế xã hội, lợi ích của giai cấp cầm quyền Quan hệ sản xuất mang tính ổn định tương đối trong bản chất xã hội của nó Chính vì thế mà C.Mác đã khẳng định: “Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là những quan hệ xã hội, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai đoạn phát triển 16 lịch sử nhất định, một

xã hội có tính chất độc đáo riêng biệt Xã hội cổ đại, xã hội phong kiến, xã hội tư bản đều là những tổng thể quan hệ sản xuất như vậy, mỗi tổng thể đó đồng thời lại đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhân loại” Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thúc đẩy xã hội loài người phát triển không ngừng như một quá trình lịch sử - tự nhiên

9

Trang 12

II VẬN DỤNG: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

TRONG CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

Xuất phát từ cơ sở lý luận đã phân tích trên quan điểm và nghiên cứu của

C Mác, xét đến cùng, mọi sự thay đổi của đời sống xã hội đều bắt nguồn từ sự biến đổi của lực lượng sản xuất mà trong đó, người lao động là lực lượng sản xuất cơ bản nhất, quyết định nhất Nhờ có sự tiến bộ của lực lượng sản xuất, con người đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp, hiện đang tiến tới hoàn thiện

và phát triển trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư bùng nổ và đánh dấu sự xuất hiện của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo đã đưa toàn thế giới bước vào kỷ nguyên công nghiệp hoá, hiện đại hoá mọi mặt Vì vậy vai trò người lao động trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 chắc chắn sẽ có những thay đổi con người, bên cạnh việc đơn thuần tham gia vào việc sản xuất vật chất, người lao động còn cần phải trau dồi tri thức và học hỏi thêm kĩ năng chuyên môn, phát huy những kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng thành thạo các thành tựu của các cuộc cách mạng khoa học công nghệ,

II.1: Yếu tố tri thức

Khi tham gia vào quá trình sản xuất vật chất, trước hết người lao động sử dụng sức mạnh cơ bắp Tuy nhiên, nếu chỉ tiến hành sản xuất bằng sức mạnh thể chất thuần tuý thì con người sẽ không thể tiến xa hơn động vật Bởi vì con người là một sinh vật xã hội nên bên cạnh sức mạnh cơ bắp, con người còn sở hữu trí tuệ, ý thức và hoạt động tâm sinh lý do đó, quá trình lao động của con người luôn khéo léo, linh hoạt và sáng tạo hơn Đây cũng chính là điều tạo nên sự khác biệt giữa con người và máy móc Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khi mà hàng loạt máy móc và sản phẩm trí tuệ nhân tạo mới ra đời giúp con người thực hiện được những công việc nặng nhọc hay những công việc cần tính chính xác cao, đối với người lao động mà nói, yếu tố tri thức càng trở nên quan trọng hơn Vì nếu không trau dồi tri thức mà cứ dậm chân tại chỗ, dần dần máy móc sẽ thay thế người lao động từ đó mất đi cơ hội việc làm thậm chí mất đi vai trò chính trong

Ngày đăng: 18/03/2023, 06:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w