Thâm hụt ngân sách nhà nước và thâm hụt tài khoản vãng lai ở việt nam. Thâm hụt kép hay bộ đôi đối nghịch?
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2011”
TÊN CÔNG TRÌNH:
THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI Ở VIỆT NAM THÂM HỤT KÉP HAY BỘ ĐÔI
ĐỐI NGHỊCH?
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
Trang 2và Thâm hụt Tài khoản vãng lai kéo dài trong những năm vừa qua đã trở thành vấn
đề lo ngại hàng đầu cho các nhà làm chính sách Các nhà kinh tế học vẫn không ngừng nghiên cứu bản chất của sự thâm hụt và họ đã tìm thấy một mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai ở nhiều nước trên thế giới Còn ở Việt Nam sẽ tồn tại mối quan hệ này như thế nào hay chỉ đơn giản là
chúng không có mối quan hệ? Đó cũng chính là lý do ra đời đề tài: “THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI Ở VIỆT NAM THÂM HỤT KÉP HAY BỘ ĐÔI ĐỐI NGHỊCH?”
o Mục tiêu nghiên cứu
Tìm câu trả lời cho mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai ở Việt Nam để giúp các nhà hoạch định có cái nhìn tổng quan về hai đại lượng này và đưa ra những chính sách phù hợp hơn để phát
triển đất nước một cách bền vững
o Phương pháp nghiên cứu
Chia kỳ nghiên cứu thành ba giai đoạn nhỏ và sử dụng phân tích định tính và định lượng để xem xét Sau đó, kiểm định tổng thể kỳ nghiên cứu từ năm 1985 đến
năm 2010, bài viết sử dụng hai công cụ phân tích là kiểm định nhân quả (Granger Test) và kiểm định đồng liên kết (Cointergration Test)
o Nội dung nghiên cứu
Nội dung chính của bài viết sẽ trình bày những nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà Nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai của một số quốc gia, sau đó tiến hành nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam Bài viết chia kỳ nghiên cứu ở Việt Nam thành ba giai đoạn chính: Giai đoạn đầu bắt đầu
Trang 3từ năm 1985 đến năm 1995: đây là thời kỳ đổi mới nền kinh tế - trong đó nổi bật lên
là Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa vào năm 1986, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1990 – 1995 Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ năm 1996 đến năm 2003, trong
đó tiêu biểu là kế hoạch 5 năm lần thứ hai 1996 – 2000, bên cạnh đó Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng gián tiếp từ cuộc khủng hoảng Châu Á 1997 – 1998 Giai đoạn thứ
ba bắt đầu từ năm 2004 đến năm 2010, thời gian này Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào những năm 2007 – 2008 Trong mỗi mốc thời gian, bài viết tập trung vào tình hình Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai, từ đó xem xét định tính mối quan hệ giữa chúng và tìm hiểu nguyên nhân gây nên mối quan hệ đó, tiếp theo sử dụng các phân tích định lượng để kiểm định kết quả định tính vừa thu được Còn với kiểm định tổng thể kỳ nghiên cứu từ năm 1985 đến năm 2010, bài viết sử dụng hai công cụ
phân tích là kiểm định nhân quả (Granger Test) và kiểm định đồng liên kết (Cointergration Test) để rút ra kết luận “Thâm hụt kép” hay “Bộ đôi đối nghịch”
sẽ chiếm ưu thế trong nền kinh tế Việt Nam Theo đó, dựa vào những dữ liệu quá khứ, dự báo mối quan hệ trong những năm sắp tới Cuối cùng, kiến nghị một số giải pháp cho mối quan hệ theo kết quả đã dự báo
o Đóng góp của đề tài
Tuy chưa có một nghiên cứu thực nghiệm nào về mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai ở Việt Nam trước đây, bài viết đã đi sâu phân tích mối quan hệ trên bằng những dữ liệu thực tế
o Hướng phát triển của đề tài
Bài viết đã không đi sâu vào hiệu ứng Ricardian tác động đến mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai Đây là một đề tài khá lớn liên quan đến tài chính hành vi, thể hiện rất rõ khi hiệu ứng Ricardian không hoàn chỉnh xảy ra và cần thiết phát triển thành một đề tài nghiên cứu mới
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ - BẢNG BIỂU……… i
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT……….ii
GIỚI THIỆU………iii
1 THÂM HỤT KÉP HAY BỘ ĐÔI ĐỐI NGHỊCH? 1
1.1 MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI 4
1.1.1 Công thức mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai 4
1.1.2 Các lý thuyết về mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai 5
1.1.2.1 Lý thuyết Thâm hụt Ngân sách Nhà nước tác động đến Thâm hụt Tài khoản vãng lai 6
1.1.2.2 Lý thuyết Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai không có mối quan hệ 7
1.1.2.3 Lý thuyết Thâm hụt Tài khoản vãng lai tác động đến Thâm hụt Ngân sách Nhà nước 8
1.1.2.4 Lý thuyết về Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai tác động lẫn nhau 9
1.1.3 Những tranh luận xung quanh mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai 10
1.2 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÚ SỐC ĐẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI 12 1.2.1 Tác động của Cú sốc thuế 12
1.2.2 Tác động của cú sốc chi tiêu 16
1.2.3 Tác động của cú sốc sản lượng 17
Trang 51.3 KẾT LUẬN TỒN TẠI “THÂM HỤT KÉP” HAY “BỘ ĐÔI ĐỐI
NGHỊCH” 18
2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 19
2.1 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Ở MỸ 19
2.2 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Ở CÁC NỀN KINH TẾ MỚI NỔI 22
2.2.1 Ai Cập 22
2.2.2 Thổ Nhĩ Kỳ 24
2.3 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Ở CÁC NƯỚC ASEAN 25
3 MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI TRONG THỰC TIỄN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ NĂM 1985 ĐẾN NĂM 2010 30
3.1 MÔ TẢ DỮ LIỆU 31
3.2 TRÌNH BÀY VÀ GIẢI THÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI QUA CÁC GIAI ĐOẠN 32
3.2.1 Mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai trong giai đoạn 1985 – 1995 33
3.2.1.1 Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1990 34
3.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1995 36
3.2.2 Mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai trong giai đoạn 1996 – 2003 38
3.2.3 Mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai trong giai đoạn 2004-2010 43
Trang 63.3 KIỂM ĐỊNH TỔNG THỂ MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI
Ở VIỆT NAM……….51
3.3.1 Unit Root Test 51
3.3.2 Kiểm định nhân quả (Granger Test) 53
3.3.3 Kiểm định đồng liên kết (Cointergration Test) 54
4 DỰ BÁO MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI – KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 56
4.1 PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO 56
4.2 QUÁ TRÌNH DỰ BÁO 56
4.2.1 Dự báo Thâm hụt Ngân sách Nhà nước giai đoạn năm 2011– 2015 56 4.2.2 Dự báo Thâm hụt Tài khoản vãng lai giai đoạn 2011 – 2015 60
4.2.2.1 Chọn biến giải thích cho Thâm hụt Tài khoản vãng lai 60
4.2.2.2 Mô hình hồi quy Thâm hụt Tài khoản vãng lai 61
4.2.2.3 Dự báo Thâm hụt Tài khoản vãng lai: 64
4.3 DỰ BÁO MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 67
4.4 KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 67
PHỤ LỤC……….71
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ - BẢNG BIỂU
I HÌNH VẼ
Hình 1: Mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách và
Thâm hụt Tài khoản vãng lai……… ……….10
Hình 2: Tỷ lệ CAD/GDP và tỷ lệ BD/GDP cho tất cả các nước trong mẫu của bài nghiên cứu……….13
Hình 3: Tài khoản vãng lai và Ngân sách Nhà nước Mỹ từ 1973 - 2004 20
Hình 4: Ngân sách Nhà Nước và Tài khoản vãng lai của Ai Cập từ 1974- 2002 (%GDP) 22
Hình 5: Kết quả thực nghiệm ở Thổ Nhĩ Kỳ 24
Hình 6: Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai ở Philippines từ 1970 - 2003 27
Hình 7 : Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và 34
Hình 8: Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai 39
Hình 9: Xu thế Thu Ngân sách Nhà nước và viện trợ (%GDP) 41
Hình 10: Xu thế chi Ngân sách (%GDP) 41
Hình 11: Bội chi Ngân sách (%GDP) 42
Hình 12: Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai 43
Hình 13: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam theo thị trường 2004 – 2005 (%) 46
Hình 14: Thâm hụt Ngân sách và Chi ngoài Ngân sách 47
II BẢNG BIỂU Bảng 1: Mối tương quan giữ BD và CAD khi chỉ xét tác động của cú sốc thuế 15
Bảng 2: Hệ số tương quan giữa tiết kiệm cơ bản của Chính phủ và Tài khoản vãng lai (%GDP) 21
Bảng 3: Ngân sách, xuất khẩu ròng, cán cân tài khoản vãng lai của Campuchia từ 2002 – 2006 (%GDP) 28
Bảng 4: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội 44
Bảng5: Dự báo thâm hụt ngân sách giai đoạn 2011 – 2015 59
Bảng 6: Dự báo mức tăng trưởng hàng năm giai đoạn 2011 – 2015 63
Bảng 7: Dự báo đầu tư (I) và tiết kiệm (S) (%GDP) 63
Trang 8DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BD Budget Deficit Thâm hụt Ngân sách Nhà nước
CAD Current Account Deficit Thâm hụt Tài khoản vãng lai
CAVNQT Tài khoản vãng lai Việt Nam
(theo quý) BDVNQT Thâm hụt Ngân sách Việt Nam
(theo quý)
IMF International Money Fund Quỹ Tiền tệ Quốc Tế
WB World Bank Ngân hàng Thế giới
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á
GDP Gross Dometisc Product Tổng sản phẩm quốc nội
I Investment Đầu tư
S Saving Tiết kiệm
ODA Official Development Assistance Nguồn vốn viện trợ không hoàn lại FDI Foreign Direct Investment Vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài IFS International Financial Statistics Tổ chức Thống kê Tài Chính Quốc tế REH Ricardian Equivalence Hypothesis Hiệu ứng cân bằng Ricardian
Trang 9GIỚI THIỆU
Tài khoản vãng lai và Ngân sách Nhà nước được biết đến là hai chỉ số kinh
tế vĩ mô quan trọng ở hầu hết các quốc gia Tuy nhiên trong những thập kỷ gần đây, quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu ngày càng tăng và điều đó đã tạo áp lực lên cán cân Tài khoản vãng lai trong ngắn hạn lẫn dài hạn Đồng thời, với những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, đã gây không ít khó khăn cho Ngân sách Nhà nước khi phải luôn gia tăng chi tiêu công để đáp ứng những nhu cầu mang tính cấp thiết Trên thế giới đã tồn tại mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai, còn ở Việt Nam – với những biến động lớn của nền kinh tế trong thời gian vừa qua, Thâm hụt Ngân sách Nhà nước đang ở mức báo động và Thâm hụt Tài khoản vãng lai ngày càng tăng – liệu chúng có quan
hệ với nhau hay không? Và mục tiêu của bài viết là tìm câu trả lời cho mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai ở Việt Nam để giúp các nhà hoạch định có cái nhìn tổng quan về hai đại lượng này và đưa ra những chính sách phù hợp hơn để phát triển đất nước một cách bền vững
Bài viết chọn kỳ nghiên cứu là giai đoạn từ năm 1985 đến năm 2010, vì đây
là khoảng thời gian Việt Nam trải qua những thay đổi đáng kể về mặt kinh tế lẫn xã hội, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh hội nhập, toàn cầu hóa nền kinh tế
Với mong muốn phân tích một cách rõ ràng và chính xác hơn, bài viết chia
kỳ nghiên cứu thành ba giai đoạn chính: Giai đoạn đầu bắt đầu từ năm 1985 đến năm 1995: đây là thời kỳ đổi mới nền kinh tế - trong đó nổi bật lên là Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa vào năm 1986, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
1990 – 1995 Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ năm 1996 đến năm 2003, trong đó tiêu biểu là kế hoạch 5 năm lần thứ hai 1996 – 2000, bên cạnh đó Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng gián tiếp từ cuộc khủng hoảng Châu Á 1997 – 1998 Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ năm 2004 đến năm 2010, thời gian này Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng
Trang 10nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào những năm 2007 – 2008 Trong mỗi mốc thời gian, bài viết tập trung vào tình hình Thâm hụt Ngân sách Nhà nước
và Thâm hụt Tài khoản vãng lai, từ đó xem xét định tính mối quan hệ giữa chúng và tìm hiểu nguyên nhân gây nên mối quan hệ đó, tiếp theo sử dụng các phân tích định lượng để kiểm định kết quả định tính vừa thu được Còn với kiểm định tổng thể kỳ nghiên cứu từ năm 1985 đến năm 2010, bài viết sử dụng hai công cụ phân tích là
kiểm định nhân quả (Granger Test) và kiểm định đồng liên kết (Cointergration Test) để rút ra kết luận “Thâm hụt kép” hay “Bộ đôi đối nghịch” sẽ chiếm ưu thế
trong nền kinh tế Việt Nam Theo đó, dựa vào những dữ liệu quá khứ, dự báo mối quan hệ trong những năm sắp tới Cuối cùng, kiến nghị một số giải pháp cho mối quan hệ theo kết quả đã dự báo
Bài viết được cấu trúc thành bốn chương Chương Một sẽ trình bày các lý thuyết về mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai, đồng thời chúng ta cũng sẽ xem xét những tranh luận xung quanh các lý thuyết đó, và liệu khi một nền kinh tế xuất hiện các cú sốc về thuế, chi tiêu hay thậm chí là một cú sốc sản lượng sẽ tác động đến mối quan hệ trên như thế nào Chương Hai chúng ta sẽ dựa vào các lý thuyết đã nêu ở phần trước mà theo dõi các kết quả nghiên cứu ở một số nước trên thế giới như Mỹ, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và đặc biệt là các nước ASEAN Chương Ba là quá trình phân tích và kiểm định mối quan
hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai ở Việt Nam
trong từng giai đoạn cũng như cả kỳ nghiên cứu thông qua kiểm định nhân quả (Granger Test) và kiểm định đồng liên kết (Conintegration Test) Chương cuối
cùng dự báo độc lập Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai, sau đó tiến hành xác định mối quan hệ giữa chúng giai đoạn 2011 – 2015, đồng thời đưa ra một số kiến nghị về chính sách
Trang 111 THÂM HỤT KÉP HAY BỘ ĐÔI ĐỐI NGHỊCH?
Nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề ảnh hưởng đáng kể đến quá trình phát triển ở hầu hết các nước Đặc biệt là những khó khăn đang diễn
ra liên quan đến Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng đã gây không ít lo ngại cho Chính phủ các nước khi tiến hành thực hiện các chính sách
vĩ mô để điều tiết nền kinh tế Bên cạnh đó, có những bằng chứng thực nghiệm chỉ
ra rằng có một mối quan hệ giữa hai đại lượng trên Những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam có những chính sách đẩy mạnh hướng ngoại, tự do hóa thương mại tiến đến nền kinh tế thị trường, đã trải qua rất nhiều cơ hội cũng như thách thức mà sự hội nhập nền kinh tế toàn cầu mang lại Chúng ta phải thừa nhận rằng những khó khăn hiện tại như: sự gia tăng không kiểm soát được của giá vàng, ngoại tệ đặc biệt
là đô la Mỹ, lạm phát … đã ảnh hưởng tới nền kinh tế như những nguồn thu trong khu vực công lẫn khu vực tư nhân, tình hình xuất nhập khẩu, việc đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng các cấp, đầu tư sản xuất ở các doanh nghiệp… Có thể tóm lại thành hai vấn đề mà nền kinh tế Việt Nam cũng đang phải đối mặt là Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai gây ra
Mục tiêu của bài viết này là đi tìm hiểu về mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản Vãng lai ở Việt Nam Trước tiên, chúng ta cần hiểu rõ Thâm hụt Ngân sách và Thâm hụt Tài khoản vãng lai là gì và nguyên nhân dẫn đến từng Thâm hụt để việc tiếp cận được dễ dàng hơn
Đầu tiên chúng ta biết rằng Thâm hụt Ngân sách Nhà nước là trạng thái nguồn thu không đủ bù đắp cho nhu cầu chi tiêu của Chính phủ
Trạng thái này xuất phát từ hai nguyên nhân chính:
Chủ quan của Nhà nước: do hoạch định cơ cấu thu – chi chưa hợp lý,
chưa sắp xếp nhu cầu chi tiêu phù hợp với khả năng, dẫn đến gây lãng phí, và chưa có biện pháp thích hợp để khai thác nguồn thu và nuôi dưỡng nguồn thu
Khách quan: thu ngân sách giảm sút tương đối so với nhu cầu chi tiêu tăng lên để phục vụ cho mục tiêu phục hồi kinh tế khi nền kinh tế suy
Trang 12thoái, ngoài ra trong nhiều trường hợp chi tiêu tăng lên là do giải quyết các vấn đề như thiên tai, chiến tranh…
Thông thường có hai loại Thâm hụt Ngân sách cơ bản mà ta thường gặp:
Thâm hụt cơ cấu: các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính
sách tùy biến của Chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,
Thâm hụt chu kỳ: các khoản thâm hụt xảy ra theo chu kỳ kinh tế, ví dụ
khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách
từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên
Một vấn đề đặt ra là Thâm hụt Ngân sách có tác động tích cực hay tiêu cực đến nền kinh tế Rõ ràng chúng ta thông thường ủng hộ quan điểm Thâm hụt sẽ gây
ra tác động tiêu cực Nhưng thực tế không hẳn là như vậy, khi Thâm hụt Ngân sách
là do chi đầu tư phát triển, Nhà nước dựa vào nhiều nguồn vốn nước ngoài như ODA, FDI để đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu thì trạng thái thâm hụt đó là tốt, vì đó là động thái chủ động của Chính phủ dựa vào nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh
tế nước nhà Ngược lại, nếu Thâm hụt Ngân sách là do không đáp ứng đủ nhu cầu chi thường xuyên, hoặc chi đầu tư vào những dự án không hiệu quả gây lãng phí nguồn lực quốc gia thì trạng thái này không tốt, kết quả là Chính phủ phải đi vay nợ nước ngoài, từ đó làm gia tăng gánh nặng nợ nước ngoài và không có nguồn thu trong tương lai để trang trải cho khoản nợ này
Về phía Tài khoản vãng lai, nếu xét một cách tổng quát thì Tài khoản vãng lai bao gồm xuất khẩu, nhập khẩu, thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài và chuyển nhượng ròng Nhưng phần lớn Thâm hụt Tài khoản vãng lai là do thâm hụt thương mại gây ra, tình trạng này xuất hiện khi xuất khẩu bé hơn nhập khẩu
Vậy vấn đề Thâm hụt Tài khoản vãng lai là tốt hay là xấu? Câu trả lời là tùy thuộc vào tình hình kinh tế vĩ mô, cũng như phụ thuộc vào tình hình tài khoản vốn
Có một điểm cần nhấn mạnh là bản thân việc Thâm hụt Tài khoản vãng lai về nguyên tắc là không tốt và cũng không xấu Để đưa ra một nhận xét về mức độ Thâm hụt Tài khoản vãng lai của một quốc gia, chúng ta cần phải xem xét từng
Trang 13trường hợp cụ thể, không thể chỉ nhìn vào con số thâm hụt/thặng dư thương mại (hay thâm hụt/thặng dư Tài khoản vãng lai) để rồi cho rằng thâm hụt đó là xấu hay
là tốt
Tuy nhiên, dường như có một quan niệm phổ biến (không chỉ ở Việt Nam) là Thâm hụt Tài khoản vãng lai là không tốt và thể hiện một nền kinh tế yếu kém và ngược lại thặng dư Tài khoản vãng lai thể hiện một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh tốt Mặc dù trong nhiều trường hợp, quan niệm như trên không phải là không đúng, nhưng theo lý thuyết kinh tế thì không hẳn là như vậy Khi tìm hiểu sâu hơn chúng ta vẫn có thể thấy trường hợp Thâm hụt Tài khoản vãng lai thể hiện một nền kinh tế đang tăng trưởng tốt, có nhiều cơ hội đầu tư với lợi nhuận cao, và khi nhu cầu đầu tư cao hơn khả năng tiết kiệm trong nước, điều này sẽ làm cho các dòng vốn nước ngoài chảy vào quốc gia đó để đáp ứng nhu cầu đầu tư, tức là một quốc gia có thể sử dụng nguồn lực của nước khác để phát triển kinh tế trong nước Ngược lại, một Tài khoản vãng lai có thặng dư lại có thể là dấu hiệu bất ổn của nền kinh tế, dòng vốn trong nước chảy ra nước ngoài tìm kiếm những cơ hội đầu tư tốt hơn, điều này có nghĩa các nguồn lực không được sử dụng cho phát triển nền kinh tế trong nước Và trong nhiều trường hợp khác, thì sự mất cân bằng của cân cân Tài khoản vãng lai (thặng dự hay thâm hụt) chẳng phải là một dấu hiệu nghiêm trọng nào
Tóm lại, chúng ta không thể kết luận Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt tài khoản vãng lai là tốt hay xấu nếu chỉ nhìn qua những con số mà không
đề cập đến bản chất của Thâm hụt Một câu hỏi quan trọng đặt ra ở đây nữa là “Mối quan hệ giữa hai đại lượng này là gì?” Một số nhà kinh tế học cho rằng chúng có
quan hệ cùng chiều, nhưng một số khác lại ủng hộ quan điểm ngược lại, tức là họ cho rằng Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai quan hệ trái chiều nhau Các nghiên cứu đã xem xét những quốc gia khác nhau và trong những khoảng thời gian khác nhau nên đưa ra các kết luận cũng khác nhau
Dưới đây sẽ cho chúng ta thấy được mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai thông qua việc biến đổi công thức vĩ mô truyền thống và các lý thuyết về mối quan hệ giữa hai đại được này của các nhà kinh tế học trên thế giới
Trang 141.1 Mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách và Thâm hụt Tài khoản vãng lai
Để tiếp cận vấn đề một cách tuần tự và nhanh chóng, trước tiên chúng ta đi vào công thức mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai
1.1.1 Công thức mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai
Bước một là xây dựng mối quan hệ giữa Tài khoản vãng lai, đầu tư và tiết kiệm của nền kinh tế đóng, không có hoạt động xuất nhập khẩu, ta có:
Y = C + I + G (i) Trong đó, Y là thu nhập quốc dân, C là tiêu dùng tư nhân, I là tổng đầu tư của nền kinh tế và G là chi tiêu Chính phủ Đẳng thức (i) ở trên được viết lại là:
Y – C – G = I (ii) Trong đó Y – C – G là phần tiết kiệm của nền kinh tế, gọi là S Từ đó ta suy ra
phương trình cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư:
S = I
Bước hai, chúng ta mở rộng công thức cho một nền kinh tế mở có các hoạt
động xuất nhập khẩu, vì vậy đẳng thức (i) sẽ được viết:
Y = C + I + G + (X - M) (iii) Trong đó X là xuất khẩu, M là nhập khẩu Số chênh lệch giữa X - M là cán cân thương mại Để đơn giản hóa, nếu ta coi X - M tương đương với Tài khoản
vãng lai, viết tắt là CA, ta sẽ có :
CA = Y – C – G – I (iv)
Và ta đã biết Y – C – G chính là tiết kiệm S nên :
CA = S – I (v) CA = (Sg + Sp) – I CA = (T – G) + Sp – I CA = B + Sp – I (Với Sg là tiết kiệm của Nhà nước, Sp là tiết kiệm của tư nhân và B là Ngân sách
nhà nước)
Trang 15Bước cuối cùng phương trình cân bằng chính trong bài nghiên cứu này sẽ được thiết lập như sau:
CAD = BD + (I - Sp)
(Với BD là Thâm hụt Ngân sách, CAD là Thâm hụt Tài khoản vãng lai)
Theo như công thức trên thì CAD và BD có quan hệ cùng chiều, nhưng thực
tế có rất nhiều lý thuyết mà các nhà kinh tế học đã đưa ra những quan điểm khác nhau xung quanh mối quan hệ đó, phần tiếp theo chúng ta thảo luận về các quan điểm
1.1.2 Các lý thuyết về mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước
và Thâm hụt Tài khoản vãng lai
Các nhà phân tích kinh tế cho rằng sự mất cân bằng trong Ngân sách Nhà nước và Tài khoản vãng lai trong hai thập kỷ vừa qua là do sự mất cân bằng trong nền kinh tế vĩ mô và điều này ảnh hưởng đáng kể đến tiến trình phát triển kinh tế của đất nước Trong nổ lực đi tìm ra nguyên nhân của sự mất cân bằng đó, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra mối liên hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước (BD) và Thâm hụt Tài khoản vãng lai (CAD) Từ những năm 1980, mối liên hệ đó được thể
hiện dưới tên gọi “Lý thuyết thâm hụt kép – Twin Deficits Hypothesis” Vấn đề
này không chỉ xuất hiện ở Mỹ mà còn bắt đầu nổi lên ở Châu Âu, Đức và Thụy Điển vào những năm 1990
Các nước đang phát triển cũng không ngoại lệ - điều này được chứng minh qua việc vay nợ nước ngoài của các quốc gia này vào những năm 1980 Thật vậy, Laney (1984) đã tìm ra những bằng chứng thực nghiệm rất đáng tin cậy
Các cuộc tranh luận vẫn diễn ra và cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về mối quan hệ trên Người ta nói rằng có bốn mối quan hệ có thể có giữa hai biến BD
và CAD, bao gồm: BD tác động đến CAD, BD và CAD không có quan hệ, CAD tác động đến BD và cuối cùng là BD và CAD tác động lẫn nhau
Trang 161.1.2.1 Lý thuyết Thâm hụt Ngân sách Nhà nước tác động đến Thâm hụt Tài khoản vãng lai
Cách giải thích thứ nhất
Thâm hụt Ngân sách Nhà nước sẽ kéo theo Thâm hụt Tài khoản vãng lai dựa
trên khuôn khổ lý thuyết cơ bản của Mundell-Fleming, lý thuyết của ông nói rằng
khi BD tăng lên sẽ tạo áp lực gia tăng trong lãi suất, điều này châm ngòi cho dòng vốn vào của quốc gia và làm tỷ giá giảm, từ đó kéo theo quá trình xuất khẩu giảm
và nhập khẩu tăng lên, kết quả là làm gia tăng CAD dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi Mặt khác, dưới chế độ tỷ giá hối đoái cố định, khi BD xảy ra sẽ làm tăng thu nhập thực hoặc giá cả do lượng tiền chảy ra từ Ngân sách để đầu tư cho nền kinh tế
và tất nhiên làm CAD xảy ra trầm trọng hơn (do cầu hàng hóa nước ngoài tăng) Tóm lại, dưới chế độ tỷ thả nổi hay cố định thì BD kéo theo CAD mặc dù cơ chế giải thích khác nhau
Cách giải thích thứ hai
Lý thuyết hấp thụ của Keynes (phát triển trên lý thuyết của
Mundell-Fleaming) đưa ra hai kết luận: (1) Có mối quan hệ cùng chiều giữa BD và CAD, (2)
BD tác động đến CAD Chúng ta có thể viết lại là: CAD = f(BD) Những lời giải thích sau đây có thể giúp ta hiểu thêm về mối quan hệ trên:
Một số nhà kinh tế học cho rằng BD là kết quả của việc gia tăng chi tiêu công Chi tiêu công là một nhu cầu không thể thiếu, nhưng nó làm tăng thu nhập nội địa, điều này dẫn tới việc tiêu dùng cho các hàng hóa vốn và dịch
vụ nhập khẩu tăng lên, cuối cùng CAD xảy ra trầm trọng hơn
Chúng ta cũng có thể giải thích dưới dạng phương trình cân bằng sau:
(X - M) = (Sp – I ) + (T - G)
Với giả định ban đầu là Ngân sách cân bằng thì việc giảm tiết kiệm công do cắt giảm thuế hoặc tăng chi tiêu công (G > T) sẽ làm giảm tiết kiệm quốc gia, kéo theo có sự mất cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư (Sp < Ip), theo phương trình trên thì dẫn đến CAD (X<M) Một cách giải thích khác, tiết kiệm không đủ sẽ châm ngòi cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), FDI càng tăng dẫn đến tỷ giá hối đoái giảm, kích thích tăng nhập khẩu, giảm xuất khẩu Vì vậy, CAD trầm trọng hơn
Trang 171.1.2.2 Lý thuyết Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai không có mối quan hệ
Lý thuyết này dựa trên hiệu ứng Ricardian (Ricardian Equivalence Hypothesis – REH) của Barro (1974) và sau này được phát triển bởi Buchanan (1976) Các giả định ban đầu như sau: chi tiêu Chính phủ không đổi trong một thời
gian dài, và phần chi tiêu này được tài trợ bởi nguồn thu từ thuế Tiêu dùng tư nhân phụ thuộc vào cả thu nhập khả dụng hiện tại và thu nhập khả dụng trong tương lai
Chính phủ có thể cho vay hoặc đi vay vì trong một số năm, nguồn thu thuế vượt quá chi tiêu và một số năm chi tiêu Chính phủ vượt quá nguồn thu từ thuế Với mỗi đường chi tiêu dự kiến và một dự báo hợp lý về nguồn thu thuế trong tương lai, Chính phủ cắt giảm thuế ở thời điểm hiện tại, phải bù đắp thiếu hụt trong tương lai bằng cách đi vay Và hiện giá các khoản thu thuế tăng thêm trong tương lai sẽ dùng
để chi trả cho lợi tức đi vay Chính phủ phải trả cho người nắm giữ trái phiếu
Theo hiệu ứng này, kết quả của việc cắt giảm thuế sẽ không ảnh hưởng tới tiết kiệm quốc gia Vì sao lại như thế? Chúng ta hãy cùng xem xét: đầu tiên cắt giảm thuế sẽ làm giảm thu nhập công và tiết kiệm công Giảm tiết kiệm công làm tăng BD, nhưng sự sụt giảm này sẽ cân bằng với gia tăng tiết kiệm tư nhân Vì vậy, tiết kiệm quốc gia sẽ không bị ảnh hưởng Lý do là người dân sẽ nghĩ việc cắt giảm thuế hiện tại sẽ phải bù trừ trong tương lai Kết quả là họ tăng tiết kiệm để trả cho việc tăng thuế trong tương lai Thuế dường như chỉ là trì hoãn, không được bỏ đi thực sự Do đó BD không tác động lên tiết kiệm quốc gia, nên không tác động gì đến CAD Tuy nhiên, đó là những lý luận của một hiệu ứng Ricardian hoàn chỉnh Thực tế có ba lí do dẫn đến tiết kiệm tư nhân tăng lên không đủ bù đắp cho phần cắt giảm thuế của Chính phủ
Đối với những người không có con cháu, và họ nghĩ họ sẽ chết trước khi Chính phủ tăng thuế ở một thời điểm trong tương lai, họ dễ tiêu dùng nhiều hơn khi thu nhập khả dụng tăng lên nên sẽ được hưởng lợi từ việc cắt giảm thuế ở hiện tại của Chính phủ
Trang 18 Hơn nữa, rất có khả năng người dân sẽ tiêu dùng nhiều hơn khi họ chỉ dự báo được thu nhập khả dụng kỳ vọng của họ tăng thêm do việc cắt giảm thuế, mà không dự báo được các tác động sau đó
Lãi suất thị trường không bằng với lãi suất đi vay của Chính phủ Nếu hiện giá các khoản thu từ thuế dự kiến tăng thêm trong tương lai và hiện giá các khoản thu nhập từ trái phiếu ở tương lai của người nắm giữ trái phiếu được chiết khấu với lãi suất đi vay của Chính phủ, tiết kiệm tư nhân tăng lên (người nắm giữ trái phiếu) đủ bù đắp cho cắt giảm thuế ở hiện tại của Chính phủ, hay tương đương hiệu ứng Ricardian Nhưng nếu lãi suất chiết khấu là lãi suất thị trường (lớn hơn lãi suất Chính phủ) thì tiết kiệm tư nhân tăng lên không đủ bù đắp cho tăng thuế của Chính phủ trong tương lai
Thực trạng đó nói lên một điều là BD sẽ kéo theo CAD khi Ricardian không hoàn chỉnh xảy ra – kết luận này được rút ra từ công thức mối quan hệ ở phần trên của bài nghiên cứu
Tuy nhiên, vẫn có những bằng chứng thực nghiệm cho REH đã được công
bố bởi Miller và Russek (1989), Enders và Lee (1990), Evans và Hasan (1994) và Kaufmann cùng các cộng sự (2002)
1.1.2.3 Lý thuyết Thâm hụt Tài khoản vãng lai tác động đến Thâm hụt Ngân sách Nhà nước
Theo lý thuyết này có mối quan hệ một chiều CAD kéo theo BD Kết quả này xảy ra khi việc Thâm hụt Tài khoản vãng lai dẫn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn và điều này gia tăng Thâm hụt Ngân sách Nhà nước Một quốc gia trải qua khủng hoảng tài chính và khủng hoảng khả năng thanh toán thường xuyên biểu hiện qua CAD quá mức Sau khủng hoảng, quốc gia đó sẽ phải đối mặt với các vấn
đề chi tiêu công nhiều để phục hồi một số nhân tố tài chính, cải thiện hệ thống quản trị, làm giảm cuộc suy thoái, dẫn đến BD tăng Một ví dụ minh chứng là ở Hàn Quốc, sau khủng hoảng tài chính 1997, việc thực hiện chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy các hoạt động kinh tế và tính an toàn về mặt xã hội dẫn đến BD tăng Như vậy, ta thấy được mối quan hệ một chiều CAD kéo theo BD
Trang 19Những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ này cũng được các nhà khoa học tìm thấy: ví dụ như Alkswani và Al-Towaijari (1999) nghiên cứu Ả Rập Xê Út, Anoruo và Ramchander (1998) nghiên cứu các nước Châu Á, họ cho rằng Chính phủ của các nước đang phát triển có thể bị ràng buộc trong việc kích thích chính sách tài khóa để làm giảm bớt việc mất cân bằng trong Tài khoản vãng lai gây hại cho nền kinh tế Việc phát triển kinh tế chậm chạp bởi CAD không chỉ làm tăng chi tiêu Chính phủ mà còn làm giảm thu nhập từ thuế Ngoài ra còn có một số bằng chứng khác được cung cấp như Reisen (1998) nghiên cứu các nước Mỹ Latin và một số nước Đông Á, Kearney và Monadjemi (1990) cho các nước OECD, Anoruo
và Ramchander (1998) cho Philippines, Ấn Độ, Indonesia và Hàn Quốc, Khalid và Teo (1999) cho Indonesia và Pakistan
1.1.2.4 Lý thuyết về Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai tác động lẫn nhau
Bên cạnh đó, cũng có mối quan hai chiều giữa BD và CAD Chúng ta có thể tách ra làm hai phần trong mối quan này: (1) BD tác động đến CAD, (2) CAD tác động đến BD Cơ chế vận hành của từng phần chúng ta có thể tham khảo ở lý thuyết thứ nhất và lý thuyết thứ ba phía trên Quan điểm này đã được tìm thấy bởi Feldstein và Horioka (1980) ở các nước Mĩ Latin, họ cho rằng khủng hoảng tiền tệ
ở những nước này vào những năm 1980 phản ánh một chu kỳ xấu, tiết kiệm và đầu
tư có mối tương quan chặt chẽ và vì thế BD và CAD có xu hướng di chuyển cùng chiều
Theo những lý thuyết trên, chúng ta có thể kết luận rằng mối quan hệ giữa
BD và CAD phù hợp với từng thời kỳ dự báo và thật sự chưa có sự thống giữa các nhà kinh tế học Chúng ta minh họa các trường hợp qua hình sau:
Trang 20Hình 1: Mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách và Thâm hụt Tài khoản vãng lai
Mỗi nhà kinh tế học đều có những lập luận riêng để bảo vệ quan điểm của mình, điều này đã dấy lên những tranh luận khá kịch liệt xung quanh mối quan hệ giữ Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai Và cuộc tranh luận để tìm ra điểm mấu chốt của vấn đề đã ngả ngũ hay chưa? Chúng ta sẽ tìm ra được câu trả lời ngay ở phần tiếp theo sau đây
1.1.3 Những tranh luận xung quanh mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai
Mặc dù, mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách và Thâm hụt Tài khoản vãng lai được chứng minh qua rất nhiều bài nghiên cứu khoa học của các tác giả nổi tiếng, nhưng dường như tồn tại mối nghi ngờ lớn về tính ứng dụng của nó trong thế giới thực Nhiều nhà kinh tế học đã cho thấy mối tương quan yếu giữa BD và CAD
Ví dụ như ở Mỹ, việc thặng dư ngân sách trong 60 năm của thế kỷ qua tồn tại song song với Thâm hụt Tài khoản vãng lai (Jackson 1996) hay việc áp dụng lý thuyết
“Thâm hụt kép” cho 7 nước công nghiệp lớn trong cùng khoảng thời gian 1972 –
1990, Polzo (1992) cho biết các kết quả khác nhau giữa các nước này
Một số quan điểm khác cho là mối quan hệ BD và CAD được phân tích không thuyết phục bởi định nghĩa không rõ ràng về thành phần của chúng Vào một thời kỳ nhất định, BD giảm do cắt giảm chi tiêu Chính phủ, một sự trùng hợp ngẫu nhiên CAD cũng giảm, nhưng thực chất CAD có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố
Trang 21chứ không nhất thiết là do chỉ duy nhất BD, chẳng hạn cùng lúc đó Chính phủ áp dụng chính sách hạn chế nhập khẩu nên giúp CAD giảm Cuối cùng, có một sự nhầm tưởng về mối quan hệ giữa BD và CAD Đó là lý do tại sao đồng thời cắt giảm chi tiêu đầu tư và cắt giảm hàng hóa nhập khẩu sẽ gây ra thâm hụt kép và sẽ làm thay đổi bản chất mối quan hệ giữa chúng
Một điều chúng ta cần lưu ý thêm là các lý thuyết trên bỏ qua hai biến quan trọng: cung tiền và mức giá Theo điều kiện cân bằng của nền kinh tế là S = I, nhưng việc mở rộng hệ thống tài chính thông qua lĩnh vực tín dụng, đầu tư sẽ cao hơn tiết kiệm (S < I), việc tăng cung tiền này góp phần làm tăng thu nhập nhập danh nghĩa, dẫn tới tăng cầu cho nhập khẩu, kết quả tăng CAD Nó cũng dẫn tới tăng mức giá chung (lạm phát), kết quả là tăng giá xuất khẩu và giảm giá nhập khẩu, điều này sẽ gây ra phản ứng tăng nhập khẩu, giảm xuất khẩu, cuối cùng tăng CAD (Jackson, 1999)
Ngoài ra, đối với phương trình mối quan hệ giữa CAD và BD, chúng ta cũng thấy được một số bất cập:
CAD = BD + (I - Sp)
Giả định Chính phủ không cần vay nợ và ngân sách cân bằng BD = 0, CAD sẽ giảm bởi việc cắt giảm đầu tư, tăng tiết kiệm hoặc cả hai Tuy nhiên, kết quả này không phù hợp với thực tiễn, bởi vì nhân tố đầu tư giúp tăng trưởng kinh tế, tăng mức thu nhập quốc dân
Các nhà kinh tế Mỹ cho rằng muốn giảm CAD thì phải giảm BD Nhưng một số khác tin rằng điều này không có tác dụng CAD tồn tại
ở Mỹ trong 100 năm qua, người Mỹ đã vay nợ phần còn lại của thế giới để nhập khẩu hàng hóa Việc vay nợ để đầu tư giúp nền kinh mạnh hơn mà không cần phụ thuộc tiết kiệm tư nhân Đó là lý do tại sao có sự khác nhau gây ra CAD giữa chính sách mở rộng cung tiền
và chủ trương nhập khẩu hàng hóa Nếu CAD do chính sách mở rộng cung tiền chúng ta có thể sử dụng lý thuyết thâm hụt kép để giải quyết bằng cách giảm BD Nếu CAD do chủ trương nhập khẩu hàng hóa thì
lý thuyết không áp dụng được (Davidson, 1996)
Trang 22Trong những phần thảo luận phía trên, chúng ta thấy ở Mỹ có một thời kỳ Thặng dư Ngân sách nhưng Thâm hụt Tài khoản vãng lai, liệu điều gì đã làm nên thời kỳ đó, vấn đề này có liên quan mật thiết đến các cú sốc trong nền kinh tế
1.2 Tác động của các cú sốc đến mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai
1.2.1 Tác động của Cú sốc thuế
Chúng ta hãy cùng xem xét bài nghiên cứu thực nghiệm “Do Tax Cuts
Generate Twin Deficits? A Multi-Country Analysis – Có phải việc cắt giảm thuế gây nên hiện tượng Thâm hụt kép? – Phân tích ở một số quốc gia” của Martin Boileau và Michel Normandin để thấy được cú sốc thuế tác động như thế nào lên
Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai Bài nghiên cứu sử dụng bằng chứng thực nghiệm của 16 nước công nghiệp trong khoảng thời gian từ
1975 – 2002 Mẫu nghiên cứu bao gồm một nước Châu Á (Nhật Bản), một nước Châu Đại Dương (Australia), mười hai nước Châu Âu (Áo, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Anh) và hai nước Bắc Mỹ (Canada và Mỹ) Tuy bài nghiên cứu trình bày kết quả của tất cả các nước nhưng chú trọng hơn vào kết quả các nước vùng Scanvadian (Đan Mạch, Na
Uy, Thụy Điển) cộng thêm Phần Lan
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là cho phép cô lập những cú sốc thuế, việc loại bỏ các tác động của cú sốc khác là rất quan trọng để xem xét những
cú sốc thuế sẽ tác động lên BD và CAD như thế nào Để làm nổi bật tầm quan trọng của việc cô lập này, bài nghiên cứu trình bày mối tương quan giữa BD và CAD trong hai trường hợp:
Đối với trường hợp đầu tiên, chỉ đơn giản là tính mối tương quan từ dữ liệu thô và điều này đã không thể hiện một mẫu hình cụ thể Chẳng hạn, chúng ta thấy được một tương quan cùng chiều và ý nghĩa thống kê lớn giữa BD và CAD cho Na Uy và Thụy Điển, nhưng chỉ có một sự tương quan nhỏ và không có ý nghĩa thống kê cho Đan Mạch và Phần Lan
Trang 23Hình 2: Tỷ lệ CAD/GDP và tỷ lệ BD/GDP cho tất cả các nước trong mẫu của bài nghiên cứu
(Nét đứt: BD/GDP Nét liền: CAD/GDP)
Kết quả chỉ ra rằng hai thâm hụt tương quan cùng chiều ở một số nước (ví dụ như Italy và Na Uy), nhưng tương quan trái chiều cho những nước khác (ví dụ như Canada, Tây Ban Nha, và Vương quốc Anh) Ví dụ, BD/GDP của Canada, Pháp, Ý,
và Tây Ban Nha cho thấy một mô hình tương tự: BD/GDP cao vào những năm 1970
Trang 24và tăng dần đến những năm 1990 Ngược lại, trong khoảng thời gian đó, CAD/GDP
là tương đối thấp ở Canada và Tây Ban Nha, cao ở Ý và Pháp Đối với các nước khác, không có tương quan đáng kể giữa hai thâm hụt Ví dụ, bắt đầu từ những năm đầu thập niên 90, BD/GDP tăng nhanh chóng ở Nhật Bản, mà không có bất kỳ biến động lớn trong CAD/GDP Trong thời gian này, CAD/GDP giảm mạnh ở Thụy Sĩ
mà BD/GDP dường như không đổi Đối với nhóm các nước các nền kinh tế Bắc Âu không hiển thị một hình dạng cụ thể Có những biến động mạnh và cùng chiều giữa BD/GDP và CAD/GDP đối với Na Uy và Thụy Điển, nhưng không có ở Đan Mạch
và Phần Lan
Đối với trường hợp thứ hai, tính toán các tương quan cho các nền kinh tế khi chỉ bị tác động bởi những cú sốc thuế Các kết quả tương quan hiển thị một mẫu hình rõ ràng phù hợp với thâm hụt kép Ví dụ, mối tương quan là 96,7% cho Đan Mạch, 97,7% cho Phần Lan, 8,12% cho Na Uy, và 96,8% cho Thụy Điển
Trang 25Bảng 1: Mối tương quan giữ BD và CAD khi chỉ xét tác động của cú sốc thuế
có thể làm tăng BD
Trang 26 Cách giải thích thứ hai thông qua cơ chế tỷ giá: cú sốc thuế làm tăng BD, Chính phủ sẽ đi vay nợ nước ngoài để bù đắp thâm hụt và đáp ứng nhu cầu chi tiêu Do dòng vốn nước ngoài chảy vào làm tỷ giá giảm, khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, cuối cùng làm Tài khoản vãng lai xấu hơn Như vậy khi có một cú sốc thuế xảy ra Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai sẽ di chuyển cùng chiều nhau Đây là một trong những công cụ của chính sách tài khóa, còn công cụ còn lại là chi tiêu của Chính phủ cũng gây ra tác động không nhỏ đến mối quan hệ này
1.2.2 Tác động của cú sốc chi tiêu
Chi tiêu Chính phủ có thể tác động đến Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai thông qua cơ chế sau: BD tăng do chi tiêu công tăng, tình trạng này làm tăng tổng cầu của nền kinh tế, từ đó thu nhập quốc dân tăng lên dẫn tới tăng nhập khẩu (cầu hàng hóa nước ngoài nhiều hơn), kéo theo CAD xảy ra Vậy chúng ta xét chi tiêu Chính phủ tác động như thế nào tổng cầu?
Cách trực tiếp nhất để Chính phủ gia tăng tổng cầu là mua hàng hoá và dịch
vụ từ thị trường Tuy nhiên, đa số Chính phủ các nước Châu Âu có khuynh hướng chi tiêu rất ít theo cách này Tại sao lại như vậy? Theo một số nghiên cứu thực nghiệm tại một số nước trên thế giới đã đưa ra những nhận định như sau: các chính sách tài khóa cần thông qua sự chuyển dịch sang khu vực tư nhân, hoặc thông qua các khoản thuế thấp hơn hay các chuyển dịch cao hơn đến hộ gia đình thì làm tăng tổng cầu nhiều hơn Nhưng theo lý thuyết đã đề cập trên tăng tổng cầu sẽ ảnh hưởng xấu đến Tài khoản vãng lai, dường như các nước đã nhận ra điều này và thực hiện hầu hết các chi tiêu trực tiếp của khu vực công là chi đầu tư phát triển, tuy nó chỉ chiếm từ 2 đến 2.5%GDP vì các dự án lớn đòi hỏi một khoản vốn khổng lồ thường mất một thập kỷ hoặc lâu hơn mới thu được kết quả, và hành động động này sẽ làm
Tài khoản vãng lai ít tồi tệ hơn - Theo bài nghiên cứu “Fiscal Stimulus packages
and uncertainty in times crisis” của Ansgar Belke
Việc cắt giảm thuế hay tăng chi tiêu của Chính phủ làm Thâm hụt Ngân sách xảy ra trong một chừng mực nào đó đã ảnh hưởng xấu đến Tài khoản vãng lai các nước Bên cạnh đó, tầm ảnh hưởng của hai cú sốc đó còn phụ thuộc vào loại hình
Trang 27hộ gia đình phổ biến trong nền kinh tế Theo nghiên cứu, có hai loại hình hộ gia đình: một là có khuynh hướng thích tiêu dùng, hai là có khuynh hướng thích tiết kiệm Cú sốc thuế hay cú sốc chi tiêu sẽ làm tăng tổng cầu nhanh hơn ở nền kinh tế
có những hộ gia đình thích tiêu dùng nhiều hơn nền kinh tế có những hộ gia đình thích tiết kiệm Kết quả là Tài khoản vãng lai sẽ xấu đi nhiều hơn ở những hộ gia đình thích tiêu dùng hơn là thích tiết kiệm
Hai cú sốc trên lý giải cho hiện tượng “Thâm hụt kép” xảy ra ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, có một cú sốc nữa tác động đến mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai lại không theo cơ chế trên Cú sốc này sẽ cho chúng ta biết tại sao không phải “Thâm hụt kép” lúc nào cũng tồn tại
1.2.3 Tác động của cú sốc sản lượng
Cuối cùng chúng ta xem xét một cú sốc sản lượng sẽ có tác động như thế
nào? Theo một nghiên cứu của Soyoung Kim, Nouriel Roubini “Twin deficit or
Twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S.”cho kết quả ngược lại với hầu hết các mô hình kinh tế, Tài khoản vãng lai xấu
hơn đi kèm với một sự cải thiện Ngân sách Nhà nước, nghĩa là BD và CAD có quan
hệ ngược chiều nhau, điều này có thể được giải thích bằng những tác động của cú sốc sản lượng đến các biến nội sinh của hai thành phần trên - những biến có ý nghĩa quan trọng cả về mặt phân tích lẫn thực nghiệm Đầu tiên ta xét nếu có một sự thay đổi lớn về mặt công nghệ, như trong trường hợp nền kinh tế Mỹ và bước đột phá về công nghệ thông tin trong thời kỳ 1995 – 2000 dẫn đến một sự bùng nổ của làn sóng đầu tư, điều này làm cho Tài khoản vãng lai có xu hướng xấu đi Đồng thời, sự bùng nổ kinh tế đó cũng có xu hướng làm cải thiện Ngân sách Nhà nước - xuất phát
từ vai trò của các nhân tố tự ổn định của nền kinh tế Nhân tố tự ổn định bao gồm bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp… Ngoài ra chúng ta còn có thể giải thích rằng
sự gia tăng sản lượng trong nền kinh tế làm tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp và đem lại một nguồn thu thuế lớn cho Ngân sách Đó là nguyên nhân lý giải tại sao Tài khoản vãng lai của Mỹ vào những năm 1990 xấu đi trong khi Ngân sách Nhà nước thì lại dần được cải thiện
Trang 28Trạng thái này tuy ít gặp trong thực tế nhưng lại hoàn toàn phù hợp với các
lý thuyết truyền thống và hiện đại Theo các quan điểm trước đây, một sự gia tăng trong sản lượng làm tăng cầu hàng hóa nước ngoài và làm tình hình Tài khoản vãng lai xấu đi Còn theo các quan điểm hiện đại, các cú sốc sản lượng có thể được xem như là các cú sốc về năng suất sản xuất Khi năng suất sản xuất tăng đều đặn có thể làm tăng thu nhập tư nhân, kéo theo nhu cầu đầu tư tư nhân gia tăng mạnh mẽ và ảnh hưởng xấu đến Tài khoản vãng lai, quan điểm này được đề xuất bởi Mendoza (1991) và Backus (1992)
1.3 Kết luận tồn tại “Thâm hụt kép” hay “Bộ đôi đối nghịch”
Khái niệm “Thâm hu ̣t kép” (Twin Deficits) xuất hiê ̣n từ giữa những năm
1980 ở Mỹ khi Thâm hụt Ngân sách cù ng lúc xuất hiện với Thâm hụt Tài khoản vãng lai Điều này gơ ̣i lên mô ̣t ý tưởng cho rằng sự mở rô ̣ng chính sách tà i khóa đã gây ra sự biến đô ̣ng cùng chiều giữa BD và CAD Mặc dù vậy , những phân tích
thực nghiê ̣m lại cho thấy rằng “ Bộ đôi đối nghịch” (Twin Divergences) lại là đặc
điểm phổ biến hơn trong số liệu lịch sử của nền kinh tế Mỹ Tức là khi Ngân sách Nhà nước trở nên xấu đi thì Tài khoản vãng lai sẽ được cải thiện và ngược lại Điều này được thể hiện trong các nghiên cứu bằng thực nghiệm đã nêu trên Sự gia tăng trong tiết kiệm tư nhân và giảm sút trong đầu tư góp phần cải thiện Tài khoản vãng lai Sự biến động trái chiều của Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai thường được giải thích thông qua các cú sốc sản lượng – hơn là cú sốc tài khóa (cú sốc thuế hay cú sốc chi tiêu)
Rõ ràng rất khó để xác định mối quan hệ trên là như thế nào nếu không xét tại một quốc gia cụ thể, và trong một thời gian cụ thể Trước khi đi nghiên cứu Việt Nam, chúng ta hãy cùng xem xét mối quan hệ giữa BD và CAD ở một số nước trên thế giới
Trang 292 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1 Nghiên cứu thực nghiệm ở Mỹ
Đối với các nước đã phát triển, “Thâm hụt kép” và “Bộ đôi đối nghịch” đã được nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu khá kỹ, nhưng nguồn gốc của vấn đề trên là xuất phát từ Mỹ Đó là một lý do đầy thuyết phục để chúng ta cùng xem xét mối quan hệ giữa BD và CAD ở đất nước này
Nổi trội trong nhiều bài nghiên cứu ở Mỹ là bài viết của Tuck Cheong Tang
và Evan Lau với tựa đề “General Equilibrium Perception on Twin Deficits
Hypothesis: An Empirical Evidence for the U.S – Nhận thức về cân bằng tổng quát trong lý thuyết Thâm hụt kép: một bằng chứng thực nghiệm ở Mỹ” sử dụng
phương trình cân bằng tổng quát và thêm vào hai biến tiết kiệm tư nhân và đầu tư nội địa để kiểm định lý thuyết “Thâm hụt kép”
Nguồn dữ liệu do IFS thuộc IMF cung cấp theo quý từ năm 1973 đến năm
2008 Bài nghiên cứu sử dụng Unit Root Test và Cointergration Test làm công cụ
kiểm định Sau đó chạy hổi quy giữa hai biến BD và CAD thu được kết quả:
Trang 30Nhà nước và Tài khoản vãng lai tại Mỹ cùng lúc thâm hụt trong khoảng thời gian này
Quan điểm “Thâm hụt kép” đối với nền kinh tế Mỹ được rất nhiều nhà kinh
tế học đồng tình, nhưng trong bài nghiên cứu “Twin deficit or Twin divergence?
Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S” của Soyoung Kim và Nouriel Roubini đã ủng hộ cho “Bộ đôi đối nghịch”
Hình 3: Tài khoản vãng lai và Ngân sách Nhà nước Mỹ từ 1973 - 2004
Hình 3 đã chỉ ra, sự xấu đi của Ngân sách Nhà nước (% GDP) trong điều kiện thuế suất thấp hơn và chi tiêu quốc phòng cao hơn, đi cùng với việc tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực của Mỹ được định giá cao và sự xấu đi nhanh chóng của tài khoản vãng lai (%GDP)
Những năm vừa qua mối quan tâm về “Thâm hụt kép” đã nổi lên như là vấn
đề nóng hổi: sự giảm đi trong Ngân sách Nhà nước của Mỹ (một khoảng chênh lệch 6% giữa thặng dư năm 2000 và thâm hụt 2004) cùng với cán cân Tài khoản vãng lai trở nên xấu hơn (-5% GDP năm 2003 và năm 2004) Tuy nhiên đó là lịch sử từng có của Mỹ, ta không thể kết luận một cách đơn giản rằng thâm hụt kép sẽ được lặp lại, tức là Ngân sách Nhà nước và Tài khoản vãng lai của Mỹ có tương quan cùng chiều
vì hầu hết thâm hụt Ngân sách những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ XX có thể là kết quả của sự suy thoái 1980-1982
Trang 31Trong bài nghiên cứu, hai nhà kinh tế học này không thể tìm thấy mối tương quan dương trong các dữ liệu từ năm 1973 đến năm 2004 Mà thay vào đó, mối tương quan giữa hai biến này có tương quan âm
Với những diễn giải khá chi tiết trong suốt thời kỳ nghiên cứu, tác giả minh họa thật cụ thể mối quan hệ này trong từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau như sau:
Phần lớn sự xấu đi trong Thâm hụt Ngân sách Nhà nước vào đầu những năm
1980 là hậu quả của cuộc suy thoái từ năm 1980 đến năm 1982 Tổng tiết kiệm khu vực công đã bắt đầu tăng trở lại từ những năm 1983, nhưng Tài khoản vãng lai lại trở nên xấu đi trong khoảng thời gian từ năm 1982 đến năm 1986 chủ yếu là vì đầu
tư cao hơn để phục hồi kinh tế trở lại sau thời kỳ đình trệ do cuộc suy thoái 1980 –
1982 Nhưng đến giai đoạn 1989 – 1991, Tài khoản vãng lai đã được cải thiện trong khi cán cân ngân sách lại có khuynh hướng xấu đi một lần nữa Diễn biến hoàn toàn trái ngược vào khoảng thời gian từ năm 1992 đến năm 2000, Ngân sách Nhà nước
đã được cải thiện đáng kể gia tăng lên mức thặng dư 2.5%, thế nhưng Thâm hụt Tài khoản vãng lai lại gia tăng từ -1 đến -4.5%GDP Tóm lại, từ năm 1982 đến năm
2000, hai đại lượng biến động theo hai xu hướng ngược chiều nhau
Dựa trên mô hình VAR (Vector Auto Regression), hai tác giả nhận diện chính những cú sốc sản lượng đã gây nên hiện tượng trên
Bảng 2: Hệ số tương quan giữa tiết kiệm cơ bản của Chính phủ
và Tài khoản vãng lai (%GDP)
Tương quan với Tài khoản vãng lai
Trang 32biến hơn so với “Thâm hụt kép” đối với các dữ liệu được quan sát trong suốt thời kỳ mẫu
2.2 Nghiên cứu thực nghiệm ở các nền kinh tế mới nổi
2.2.1 Ai Cập
Bài nghiên cứu của Carlos Fonseca Marinheiro “Ricardian Equivalence,
Twin Deficits, and the Feldstein-Horioka puzzle in Egypt” xem xét các kết quả
thực nghiệm mối quan hệ giữa Ngân sách Nhà Nước và Tài khoản vãng lai ở Ai Cập có đúng với “Lý thuyết thâm hụt kép” hay không và liệu hiệu ứng Ricardian là hoàn chỉnh hay không hoàn chỉnh ở nước này?
Các nguồn dữ liệu chính được lấy từ tổ chức thống kê tài chính quốc tế (IFS) của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và được bổ sung một các nguồn khác Dữ liệu Tài khoản vãng lai (CA) và cán cân thương mại (TrB) là từ IFS Dữ liệu thâm hụt ngân sách từ năm 1974 đến năm 1989 là bộ dữ liệu của Mohammed Omran Từ năm
1990 trở đi, bài nghiên cứu dùng đến các nguồn dữ liệu quốc gia Cụ thể hơn, là sử dụng dữ liệu từ một số ấn phẩm của Bộ Ngoại Thương
Hình 4: Ngân sách Nhà Nước và Tài khoản vãng lai của Ai Cập từ 1974- 2002 (%GDP)
Đồ thị cho thấy có một sự cải thiện trong Ngân sách Nhà Nước và Tài khoản vãng lai từ năm 1990 trở lại đây Điều này phản ánh sự thành công của chương trình
ổn định của IMF vào năm 1991 Trước khi có chương trình này, lạm phát ở Ai Cập
là trên 20%, thâm hụt ngân sách là trên 15%GDP, tỷ giá hối đoái thực mất giá gần 30% Hơn nữa nợ nước ngoài là trên 100%GDP và Ai Cập không thể duy trì nợ
Trang 33nước ngoài này và đã tiêu tốn phân nửa lượng ngoại tệ Nhưng bốn năm sau chương trình ổn định, Thâm hụt Ngân sách của Ai Cập đã giảm đáng kể chỉ còn 1.3%GDP
và Tài khoản vãng lai thặng dư, phần lớn cải thiện thu được kết quả ngay trong năm đầu tiên Ta thấy Thâm hụt kép thể hiện khá rõ ràng trong khoảng thời gian này Tuy nhiên trong những năm của thập kỷ 90, kể từ năm 2000, BD va CAD đã cho thấy “Bộ đôi đối nghịch”: Ngân sách Nhà nước xấu đi trong khi đó có một sự cải thiện trong Tài khoản vãng lai
Bài nghiên cứu cũng trình bày các ước tính hồi quy (theo OLS) để đi tìm mối quan hệ giữa BD và CAD Bước đầu tiên là kiểm tra mối quan hệ đồng liên kết giữa hai biến này, kết quả kiểm định Jonhansen chỉ ra như sau:
Tại mức ý nghĩa 5%, ta có thể bác bỏ giả thiết H0: có mối tương quan dương trong dài hạn giữa BD và CAD, nhưng ở mức ý nghĩa 10%, thì có thể chấp nhận giả thiết Để xem mối quan hệ này có chắc chắn hay không, tiếp tục sử dụng ước tính
Vector Error Correction model (VECM) và kiểm định nhân quả Granger
Các kết quả kiểm định chỉ ra một mối quan hệ một chiều duy nhất CAD kéo theo BD
Trang 34Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ tìm thấy mối tương quan yếu trong dài hạn giữa BD và CAD ở Ai Cập Kết quả, tác giả cho rằng “Lý thuyết thâm hụt kép” không tồn tại ở Ai Cập Vì vậy, để giảm Thâm hụt Tài khoản vãng lai thông qua việc giảm Thâm hụt Ngân sách là không khả thi Do đó, các chính sách của chính phủ nên hướng trực tiếp vào giảm Thâm hụt Tài khoản vãng lai Từ đây, ta thấy việc tìm hiểu mối tương quan trên đóng một vai trò quan trọng về mặt chính sách
2.2.2 Thổ Nhĩ Kỳ
Để có bằng chứng rõ ràng hơn về “Lý thuyết thâm hụt kép”, chúng ta hãy
tiếp tục xem xét vấn đề này ở Thổ Nhĩ Kỳ qua bài nghiên cứu “The Twin Deficits
Hypothesis (The Turkish Case)” của Ahmet Zengin Nghiên cứu sử dụng các quan
sát hằng quý cho giai đoạn quý 1 năm 1987 đến quý 1 năm 1998
Nguồn số liệu lấy từ Bộ tài chính và Bộ thương mại của Thỗ Nhĩ Kỳ, Ngân hàng Trung Ương Thổ Nhĩ Kỳ, tổ chức thống kê tài chính quốc tế (IFS) của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và được bổ sung một các nguồn khác
Hình 5: Kết quả thực nghiệm ở Thổ Nhĩ Kỳ
Theo kết quả thực nghiệm đạt được, chúng ta có kết luận chính như sau: (1)
Ở Thổ Nhĩ Kỳ tồn tại mối quan hệ tác động từ BD kéo theo CAD như dự đoán trong “Lý thuyết thâm hụt kép”; (2) Tỷ giá, lạm phát và cung tiền có mối quan hệ tác động lẫn nhau như một vòng tuần hoàn; (3) Lãi suất có tác động trực tiếp đến sự cân bằng cán cân Tài khoản vãng lai và Ngân sách Nhà nước Phương thức tài trợ Thâm hụt ngân sách gây ra ảnh hưởng đến lãi suất – một biến quan trọng nhất trong
Trang 35nền kinh tế; (4) Có một sự cân bằng giữa thu nhập thực tế trong nước, cung tiền và lạm phát; (5) Không có mối liên hệ trực tiếp giữa tỷ giá và cán cân thương mại nước ngoài Tỷ giá có tác động đến Tài khoảng vãng lai thông qua cân đối Ngân sách
Theo kết quả kiểm định, một cú sốc Thâm hụt Ngân sách giải thích 11% trong Thâm hụt Tài khoản vãng lai, và do đó các nhà hoạch định chính sách có thể dùng một cú sốc tài khóa để tác động đến Tài khoản vãng lai Ngược lại một cú sốc trong Tài khoản vãng lai chỉ giải thích 2% trong Thâm hụt Ngân sách
Kết luận của bài nghiên cứu nói lên rằng Thâm hụt Ngân sách ảnh hưởng làm suy giảm trong Tài khoản vãng lai, tức là BD tác động đến CAD một cách có ý nghĩa
2.3 Nghiên cứu thực nghiệm ở các nước ASEAN
Người ta đã nghiên cứu khá nhiều về BD và CAD ở các nước đã phát triển:
Khalid và Guan sử dụng kỹ thuật cointegration để nghiên cứu ở 5 nước đã phát triển (Mỹ, Anh, Pháp, Canada và Úc) từ 1950-1994 và 5 nước đang phát triển (Ấn Độ, Indonesia, Pakistan, Ai Cập và Mexico) từ 1955-1993, họ cho rằng không có tương quan ở các nước đã phát triển, nhưng có tương quan ở 4 trong 5 nước đang phát triển
Piersanti nghiên cứu ở 17 nước OECD từ 1970-1997 (Granger – Sims) , kết quả BD kéo theo CAD ở hầu hết các nước công nghiệp
Ngoài ra, ở các nước đang phát triển thì vấn đề Thâm hụt kép cũng đang tồn tại, mặc dù có rất ít bằng chứng thực nghiệm nhưng đây vẫn là một chủ đề nóng ở
các nước này Những năm cuối của thập niên 70, nhiều nước đang phát triển gặp
phải vấn đề BD nặng nề để tài trợ cho chi tiêu của Chính phủ Biện pháp bù đắp thâm hụt của các nước này là vay nợ nước ngoài thông qua ngân hàng quốc tế và kênh phát hành trái phiếu nước ngoài Việc tăng BD đã kéo theo CAD và tích lũy
nợ nước ngoài Năm 1982, quy mô nợ nước ngoài đã lên đến con số 100% GDP Nhiều quốc gia đã rất chật vật và khó khăn để hoàn trả lãi và vốn gốc Đó là lý do dẫn tới khủng hoảng nợ vào đầu thập niên 80, nhiều nước lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Mặt khác, việc dòng vốn nước ngoài đổ vào dẫn tới CAD gia
Trang 36tăng Tuy nhiên, đó là điều cần thiết cho một nước chấp nhận xảy ra tình trạng CAD
để tài trợ được cho các khoản đầu tư trong một thời gian nhất định Thời gian sau, khi hàng hóa được xuất khẩu trở lại sẽ có nguồn vốn để trả nợ, cải thiện Tài khoản vãng lai Vì vậy, CAD và tích lũy nợ nước ngoài do đầu tư sẽ dần mang lại lợi ích phát triển kinh tế, nơi mà tiết kiệm quốc gia không đủ đáp ứng
Trong bối cảnh của các nước ASEAN, thâm hụt kép nổi lên từ khủng hoảng
1997 Ví dụ, Malaysia trải qua thặng dư ngân sách tính trung bình là 0,8% GDP/năm từ 1993 đến 1997 và CAD là 4,59% GDP/năm Tuy nhiên, kết quả trái ngược sau 1997, BD của Malaysia là 4,04% GDP/năm từ 1998 – 2001 và thặng dư Tài khoản vãng lai 10,38% GDP/năm Trường hợp của Philippines và Thái Lan cũng cho kết quả tương tự
Mối tương quan yếu giữa BD và CAD sau khủng hoảng có thể giải thích như sau: Các nước ASEAN trong cuộc nghiên cứu đã trải qua cuộc suy giảm nhiều quý sau khủng hoảng Trong thời gian này, việc xuất hiện cú sốc sản lượng (giảm) làm
BD tồi tệ hơn và phải sử dụng chính sách tài khóa mở rộng Đồng thời, việc giảm sản lượng dẫn tới việc giảm đầu tư, kết quả cải thiện Tài khoản vãng lai Tóm lại,
BD kéo theo cải thiện Tài khoản vãng lai Tình trạng này dường như ủng hộ cho
“Bộ đôi đối nghịch” hơn là “Thâm hụt kép” - bằng chứng này là của Salvatore (2006) Tuy nhiên, cuộc tranh luận vẫn không ngừng ở đó, các nhà kinh tế vẫn tiếp tục đào sâu nghiên cứu, cụ thể:
Gần đây, Alkswani nghiên cứu ở Ả Rập Xê Út, sử dụng chuỗi thời gian từ
1970-1999 dưới kỹ thuật cointegration và mô hình error correction, ông ta
cho rằng có mối quan hệ từ CAD kéo theo BD
Toda và Yamamoto đã phân tích từ 1970-2005 ở Philippines trong bài
nghiên cứu “Budget Deficits and Current Account Deficits in the
Philippines: A Casual Relationship?”
Trang 37Hình 6: Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai
ở Philippines từ 1970 - 2003
Hình 6 thể hiện vấn đề Thâm hụt Ngân sách ở Philippines theo phần trăm trên GDP bắt đầu lớn dần kể từ 1997 (theo sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á) BD ở mức 1.9%/GDP năm 1998, 4.1%/GDP năm 2000, 5.3% năm 2002 và cuối cùng đạt mức 4.6% năm 2003 Nguyên nhân dẫn đến thâm hụt nặng nề là do thu nhập Chính phủ giảm, hệ thống thuế yếu kém và không hiệu quả Mức thuế ở Philippines giảm từ 17%/GDP vào năm 1997 xuống còn 12.3%/GDP năm 2002, trong khi đó chi tiêu Chính phủ vẫn giữ nguyên 19%/GDP trong suốt thời gian này Ngoài ra, ở hình 6 còn thể hiện CAD xảy ra suốt từ năm 1970 đến năm 2005 Thâm hụt trung bình vào khoảng 2.7%/GDP từ năm 1970 đến năm 1980 CAD càng tăng vào đầu những năm 1980 do cú sốc giá dầu và vấn đề lãi suất thế giới tăng Hơn nữa, vào những năm 1990 CAD vẫn tăng do việc tăng lên trong hàng hóa nhập
khẩu
Kiểm định nhân quả Granger ở Philippines
Trang 38Theo kết luận của hai tác giả, mức BD và CAD kéo dài trên có mối tương quan hai chiều
Trong một nghiên cứu khác của Evan Lau và Tuck Cheong Tang “Twin
deficits in Cambodia: Are there Reasons for Concern? An Empirical Study” ở Campuchia Dữ liệu được lấy theo quý từ năm 1996 đến năm 2006,
tại sao lại lấy mốc thời gian này? Theo tác giả cho biết đây là những năm Campuchia chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, từ nền kinh tế tập trung
sang nền kinh tế tự do thị trường Hai tác giả sử dụng Cointegration test, Causality test để kiểm tra mối quan hệ giữa BD và CAD
Bảng 3: Ngân sách, xuất khẩu ròng, cán cân tài khoản vãng lai của Campuchia từ
2002 – 2006 (%GDP)
(Nguồn: World Development Indicator , World Bank)
Kết quả kiểm định Granger
Kết quả cho biết: Hai biến này di chuyển cùng nhau như lý thuyết đã đề cập, ngoài ra còn phát hiện mối quan hệ tương quan hai chiều giữa hai biến này ở Campuchia Tác giả lưu ý rằng hiệu ứng của các chính sách tài khóa và tiền
tệ đã bị bỏ qua, điều này có nghĩa ta không thể giảm CAD bằng cách giảm
BD thông qua tăng tiết kiệm, giảm đầu tư, ta cũng nên lưu ý những vấn đề này để đưa ra giải pháp hoàn thiện hơn
Tiếp theo, Ahmad Zubaidi Baharumshah và các cộng sự nghiên cứu ở bốn
nước ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines và Thailand) và họ cho rằng:
Trang 39họ chọn bốn nước này vì thâm hụt kép có liên quan tới nền kinh tế các nước này và tài trợ cho đầu tư bằng nguồn vốn vay nước ngoài Tất cả ASEAN-4 đều chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và có một số điều chỉnh sau khủng hoảng, kết quả bài nghiên cứu: CAD và BD khá lớn ở những nước này, khi thêm hai biến tỷ giá và lãi suất vào thì BD và CAD tương quan 2 chiều
Trong bài “Twins deficit Hypothesis and Capotal Mobility: The Asean -5
Perspective” của Ahmad Zubaidi Baharumshah, Hamizun Ismail, Evan Lau (2009) đã đánh giá hiệu ứng giữa BD và CAD, đồng thời đánh giá tình
trạng đầu tư ở ASEAN - 5, chủ yếu sử dụng phân tích Cointegration và Granger non-causality test Họ lập mô hình bao gồm hai biến BD và đầu tư
để xác định CAD Kết quả cho thấy có sự khác biệt khá lớn giữa các nước có nền kinh tế thị trường ASEAN và các nước đã phát triển (Mỹ) vì tác động của BD lên CAD nên xem xét yếu tố quy mô quốc gia Trong phần kết luận cuối cùng, tác giả khẳng định có mối quan hệ giữa BD, CAD và đầu tư nhưng lại có ít bằng chứng vì đây chỉ là dữ liệu của 5 nước Trong trường hợp của ASEAN, tác giả tin rằng có mối quan hệ mạnh trong dài hạn, vì BD xảy ra do đầu tư sẽ dẫn tới CAD Tóm lại, chính sách các quốc gia cần nên được xem xét trong mối quan hệ giữa BD và CAD
Trang 403 MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT TÀI KHOẢN VÃNG LAI TRONG THỰC TIỄN NỀN KINH
TẾ VIỆT NAM TỪ NĂM 1985 ĐẾN NĂM 2010
Chương này sử dụng phân tích định tính và định lượng để xác định một cách
rõ ràng và chính xác mối quan hệ giữa Thâm hụt Ngân sách Nhà nước và Thâm hụt Tài khoản vãng lai ở Việt Nam Như đã đề cập ở trên mối quan hệ giữa hai đại lượng này trong từng thời kỳ khác nhau cũng khác nhau và ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Căn cứ vào tình hình kinh tế - chính trị - xã hội kết hợp với diễn biến của Thâm hụt Ngân sách và Thâm hụt Tài khoản vãng lai, bài viết đã chia khoảng thời gian nền kinh tế Việt Nam từ năm 1985 đến năm 2010 thành ba giai đoạn nhỏ hơn Ba câu hỏi quan trọng nhất cần phải trả lời là: có tồn tại mối quan hệ giữa BD và CAD ở Việt Nam hay không? Lý thuyết “Thâm hụt kép” hay “Bộ đôi đối nghịch” sẽ chia phối nền kinh tế? BD tác động đến CAD hay ngược lại?
Đầu tiên là giai đoạn 1985 – 1995 đây là thời kỳ đổi mới nền kinh tế - trong
đó nổi bật lên là Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa vào năm 1986, thực hiện kế hoạch
5 năm lần thứ nhất 1990 – 1995 Trong giai đoạn này, cả Thâm hụt Ngân sách và Thâm hụt Tài khoản vãng lai đều ở mức thấp nhưng cũng đã thể hiện xu hướng di chuyển cùng chiều nhau
Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ năm 1996 đến năm 2003, trong đó tiêu biểu là
kế hoạch 5 năm lần thứ hai 1996 – 2000, bên cạnh đó Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng gián tiếp từ cuộc khủng hoảng Châu Á 1997 – 1998 Chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn để cải cách kinh tế nên làm cho Thâm hụt Ngân sách gia tăng, nhưng mặt khác Tài khoản vãng lai có những dấu hiệu tích cực do những thành tựu đạt được của nền kinh tế trong thời kỳ này
Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ năm 2004 đến năm 2010, thời gian này Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào những năm
2007 – 2008 Thâm hụt Ngân sách và Thâm hụt Tài khoản vãng lai đều ở mức báo động gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế, cần phải có những biện pháp để khắc phục tình trạng này