Gợi ý một số nội dung chính trong 11 chủ đề thi viết CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc o0o BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM LÀO Họ và tên người thực h[.]
Trang 1Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-o0o -BÀI DỰ THI
TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO
Họ và tên người thực hiện: Nguyễn Thị Trang
Mã sinh viên: 1566020030
Lớp: 8- ĐHSP Lịch sử
Khoa: Khoa học xã hội
Thanh Hoá, tháng 8 năm 2017
Trang 2BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO
5-và phát triển trong gần một thế kỷ qua, mang lại nền hòa bình, độc lập cho dân tộc, ấm
no, hạnh phúc cho nhân dân hai nước Tiếp đó, sau thắng lợi hoàn toàn trong cuộc đấutranh chống ngoại xâm, Việt Nam và Lào đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (18-7-1977), sự kiện này khẳng định quyết tâm của lãnh đạo, nhân dân hai nước tiếp tụccủng cố quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hainước trong thời kỳ mới - thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước
Trước những khó khăn gay gắt của khủng hoảng kinh tế - xã hội ở cả Việt Nam
và Lào cuối thập kỷ 70 và thập kỷ 80 thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam và ĐảngNhân dân Cách mạng Lào đã nhìn thẳng vào sự thật, nhận ra những sai lầm chủ quanduy ý chí, nóng vội muốn đi nhanh lên CNXH theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tậptrung quan liêu bao cấp Tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) vàĐại hội IV của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (11-1986), hai Đảng đã đề ra đườnglối đổi mới toàn diện ở cả hai nước, trước hết là đổi mới kinh tế
Kể từ đó đến nay, hai nước luôn song hành và hỗ trợ lẫn nhau trên con đườngđổi mới Sự hợp tác toàn diện đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho cả hai nước,đóng góp to lớn vào công cuộc bảo vệ đất nước và xây dựng nền tảng ban đầu cho nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, không ngừng nâng cao đời sốngcho người dân, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập quốc dân theo đầu người ởmức trung bình của thế giới và sớm đưa Lào thoát khỏi nhóm nước chậm phát triển; cảhai nước đã cùng đẩy mạnh hội nhập khu vực và quốc tế, từng bước nâng cao vị thếcủa mình trên trường quốc tế
Với những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới vàtrước bối cảnh tình hình khu vực và thế giới chuyển biến nhanh chóng, quan hệ ViệtNam-Lào đứng trước yêu cầu khách quan cần phải đổi mới cả về nội dung, phươngthức lẫn cơ chế hợp tác theo hướng tăng cường hiệu quả toàn diện, bảo đảm đôi bêncùng có lợi, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau
Gần đây nhất, sau khi tổ chức thành công Đại hội Đảng và bầu cử Quốc hội vàonăm 2011, các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng, Nhà nước, Quốc hội vàChính phủ của mỗi nước đã tiến hành các chuyến thăm lẫn nhau Việc duy trì cácchuyến thăm cấp cao thường xuyên giữa hai nước chứng tỏ tính chất đặc biệt trongquan hệ Việt Nam - Lào
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 1
Trang 3
Bên cạnh đó, hai nước đã thiết lập cơ chế Ủy ban Liên Chính phủ để cụ thể hóachỉ đạo của lãnh đạo cấp cao, cụ thể hóa quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nướcthông qua việc xây dựng nội dung hợp tác của từng thời kỳ, từng giai đoạn và hằngnăm Tới nay, Ủy ban Liên Chính phủ đã tiến hành được 34 kỳ họp định kỳ hằng nămluân phiên tại mỗi nước Tại kỳ họp lần thứ 34 tổ chức vào tháng 1-2012, hai bênthống nhất nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, nhất là trongkinh tế và sử dụng vốn viện trợ của Việt Nam dành cho Lào theo hướng tập trungtrọng điểm, tránh dàn trải Việc kiện toàn, củng cố tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạtđộng của bộ máy Phân ban hợp tác giữa hai nước là một trong những biện pháp đi đầutheo hướng này Và trong tháng 8-2012, hai Phân ban hợp tác đã tiến hành họp kiểmđiểm giữa kỳ tại cố đô Luang Prabang tươi đẹp của Lào.
Trong các lĩnh vực hợp tác, có thể nói giáo dục - đào tạo là lĩnh vực được haibên hết sức coi trọng Hằng năm, khoảng 50% lượng vốn viện trợ phát triển của ViệtNam dành cho Lào được phân bổ cho lĩnh vực hợp tác giáo dục - đào tạo Hai bên chia
sẻ chung nhận thức cần phải nhanh chóng xây dựng được một đội ngũ nhân lực có chấtlượng để đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao tại mỗi nước và đóng góp vào việctiếp tục củng cố, vun đắp quan hệ đặc biệt Việt - Lào
Hai nước thống nhất, đi đến ký kết và triển khai “Đề án Nâng cao chất lượng vàhiệu quả hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực giáo dục và phát triển nguồn nhân lực giaiđoạn 2011-2020”, coi đây là cơ sở cơ bản để phát triển nguồn nhân lực hai nước, gópphần thực hiện thắng lợi công cuộc phát triển đất nước tại mỗi nước; ký Kế hoạch năm
2012 về hợp tác giáo dục Năm 2012, hai bên cũng đã thống nhất đầu tư nhiều hơn chocông tác đào tạo thông qua việc tăng cường đầu tư cho cơ sở vật chất, ăn ở và trangthiết bị học tập để nâng cao chất lượng đào tạo Theo đề nghị của Bộ Giáo dục và Thểthao Lào, Việt Nam tiếp tục cử 28 giáo viên sang Lào dạy tiếng Việt và các môn khoahọc cơ bản khác cho các trường học do Việt Nam giúp Lào xây dựng Ngoài ra, ViệtNam cử thêm 2 giáo viên sang dạy tiếng Việt cho cán bộ chủ chốt các bộ, ngành, địaphương Lào
Hợp tác về an ninh - quốc phòng giữa hai nước mang tầm quan trọng đặc biệt.Mối quan hệ hợp tác này luôn được duy trì hết sức chặt chẽ, không ngừng được nângcao trên mọi phương diện, kể cả huấn luyện, đào tạo Vừa qua, hai bên đã ký Hiệpđịnh hợp tác 5 năm 2011-2015 và kế hoạch hợp tác hằng năm Hai bên thường xuyênphối hợp các hoạt động nhằm duy trì và đảm bảo vững chắc tình hình an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội ở mỗi nước; ngăn chặn hiệu quả âm mưu và hoạt động chống phácủa các lực lượng thù địch Tình hình an ninh trật tự, an toàn tại khu vực biên giới luônđược giữ vững Việc này đã góp phần vào việc tăng cường giao lưu kinh tế, văn hóa tạikhu vực biên giới cũng như bảo đảm cho quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước liêntục phát triển
Trong công tác phân giới cắm mốc, hai bên đang nỗ lực đẩy nhanh thực hiện dự
án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Công tác này được đánh giá triển khaiđúng kế hoạch Tính đến tháng 12-2011, hai bên đã xây dựng được 483/503 cột mốc,xác định xong 631/661 vị trí mốc giới Hai bên phấn đấu tới cuối năm 2012 sẽ xác
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 2
Trang 4
định toàn bộ vị trí mốc quốc giới và tới năm 2014 sẽ hoàn thành việc xây dựng toàn bộmốc quốc giới trên toàn tuyến.
Trong lĩnh vực kinh tế, sự hợp tác giữa hai nước đã chuyển từ giúp đỡ toàn diệncủa Việt Nam cho Lào trong thời gian đầu nhằm bảo đảm giữ vững nền độc lập non trẻ
và từng bước khôi phục sản xuất sang các hình thức hợp tác kinh tế phù hợp và bìnhđẳng trên cơ sở năng lực của từng bên theo từng thời kỳ, phù hợp với yêu cầu của côngcuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của mỗi nước nhằm đưa hai nước thoát khỏi nghèonàn, lạc hậu và cùng phát triển Theo yêu cầu của bạn, hằng năm Việt Nam dành choLào một khoản viện trợ phát triển theo hướng tăng dần từng năm Vốn viện trợ pháttriển của Việt Nam dành cho Lào được triển khai thực hiện căn cứ vào kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội của Lào và có sự thống nhất của cả hai bên Ngược lại, Lào cũngdành nhiều ưu tiên, ưu đãi cho các doanh nghiệp Việt Nam
Đầu tư trực tiếpcủa Việt Nam vào Lào mới bắt đầu khởi sắc từ năm 2005 khimột số dự án trồng cây công nghiệp được cấp phép và triển khai Tuy nhiên, số lượngcác dự án và số vốn đầu tư của Việt Nam vào Lào thực sự tăng nhanh kể từ năm 2009.Tới nay, Việt Nam đã trở thành một trong số các nước đầu tư hàng đầu vào Lào Tínhđến tháng 6-2012, các doanh nghiệp Việt Nam đã có hơn 435 dự án được bạn cấp phépđầu tư, trị giá trên 5 tỷ USD
Các dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam có mặt trong hầu hết lĩnh vực củanền kinh tế và tại hầu hết các tỉnh thành của Lào Số lượng dự án và vốn đầu tư tậptrung nhiều nhất trong các lĩnh vực trồng cây công nghiệp, khai khoáng, tài chính -ngân hàng, viễn thông và dịch vụ Một số dự án đầu tư của các doanh nghiệp ViệtNam triển khai nhanh, bước đầu mang lại hiệu quả tích cực, được bạn đánh giá cao.Điển hình trong số đó là các dự án trồng cây cao su, cụm công nghiệp mía đường củaTập đoàn Hoàng Anh Gia Lai tại Nam Lào; các dự án trồng và chế biến cao su của Tậpđoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam và Công ty Cao su Đák Lák; Ngân hàng Lào -Việt và Bảo hiểm Lào - Việt (liên doanh của BIDV), Liên doanh Star Telecom vớithương hiệu Unitel (liên doanh của Viettel), Khu kinh tế Chuyên biệt Viêng Chăn -Long Thành (của Tập đoàn kinh doanh bất động sản và sân gôn Long Thành)
Kim ngạch thương mại giữa hai nước liên tục đạt tăng trưởng cao Tính chunggiai đoạn 2006-1010, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 1,902 tỷ USD, tăng35% so với giai đoạn 2011-2005 (riêng năm 2010, đạt 490 triệu USD, tăng 17,2% sovới năm 2009) Năm 2011, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 734 triệu USD, tăngtới 49,8% so với năm 2010; trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Lào đạt 274 triệu USD,tăng 38,1%, nhập khẩu từ Lào đạt 460 USD tăng 57,5% 6 tháng đầu năm 2012, kimngạch thương mại giữa hai nước đạt 465,7 triệu USD, tăng 33,1% so với cùng kỳ năm
2011 Hiện nay, hai nước đang thực hiện chính sách ưu đãi giảm 50% thuế suất thuếnhập khẩu cho hàng hóa có xuất xứ từ mỗi nước; thực hiện thuế suất 0% cho các mặthàng trong danh mục hàng hóa được hai Bộ Công thương thỏa thuận hằng năm Mụctiêu phấn đấu của hai nước là đưa kim ngạch thương mại song phương đạt 1 tỷ USDnăm 2012 và 2 tỷ USD năm 2015
Trong lĩnh vực kết nối hạ tầng, hai bên đã phối hợp chặt chẽ giải quyết kịp thời
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 3
Trang 5
các vướng mắc để đảm bảo tiến độ xây dựng đường 2E (Mường Khoa - Tây Trang) đểhoàn thành trong năm 2012 Đối với thực hiện Thỏa thuận về sử dụng cảng Vũng Áng
ký ngày 20-7-2001, tới nay hai bên đã thành lập được Công ty Cổ phần cảng VũngÁng Lào - Việt Nam để chuẩn bị đi vào hoạt động
Hợp tác giữa các địa phươngđược chú trọng thúc đẩy Các địa phương hai nước
có chung đường biên giới thường xuyên tăng cường hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, cùngphối hợp để đảm bảo an ninh xã hội vùng biên, giải quyết tốt những vụ việc phát sinhnhằm xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị và phát triển giữa hainước Trong những năm qua, ngoài sự hợp tác giữa các địa phương có chung đườngbiên và các địa phương kết nghĩa, các địa phương khác của Việt Nam và Lào cũng đãthiết lập quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau Trong số đó có thành phố Hồ Chí Minh đãthiết lập quan hệ hợp tác với tỉnh Hủa Phăn, tỉnh Quảng Ninh với các tỉnh Hủa Phăn,Luang Prabang, Xaynhạbuly; tỉnh Bắc Ninh với tỉnh Hủa Phăn; An Giang vớiChampasắc
Hợp tác giữa các địa phương hai nước thường theo hướng tận dụng và phát huythế mạnh của mỗi bên về tiềm năng đất đai, tài nguyên, nhân lực, học hỏi và trao đổikinh nghiệm để thúc đẩy đầu tư, thương mại, du lịch và giao lưu văn hóa
Các địa phương Việt Nam thường giúp các địa phương Lào xây dựng các côngtrình dân sinh như trường học, trụ sở cơ quan chính quyền tỉnh, nhà văn hóa, cầu,đường, bệnh viện; cử đoàn bác sĩ tới khám chữa bệnh cho người dân tại các địaphương bạn; thực hiện các hỗ trợ nhân đạo khác; nhận đào tạo và cung cấp học bổngcho sinh viên của các địa phương bạn cử đi; trao đổi kinh nghiệm về quản lý Các địaphương Lào dành ưu đãi cho các địa phương Việt Nam về đất đai, dự án đầu tư,
Việc hợp tác giữa các bộ, ngànhhai nước cũng được triển khai sôi động Vớinhận thức chung về việc nâng cao hiệu quả hợp tác giữa hai nước, hợp tác giữa các bộ,ngành cũng phát triển theo hướng này Tới nay, hầu hết các bộ, ngành của hai nước đã
ký kết các văn bản hợp tác 5 năm và hằng năm Các bộ, ngành còn thường xuyên thựchiện các chuyến thăm làm việc, học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với nhau
Tại các diễn đàn quốc tế, Việt Nam và Lào thường xuyên thực hiện các cuộctrao đổi ý kiến về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm Trong các diễn đàn đaphương, nhất là trong khuôn khổ ASEAN, ASEM, hợp tác ba nước Việt Nam - Lào -Campuchia (CLV), hợp tác 4 nước Việt Nam - Lào - Campuchia - Myanmar (CLMV),ACMECS, EAS, Ủy hội sông Mê Kông (MRC) và các diễn đàn khác cũng như các cơchế tiểu vùng trong khu vực, hai nước luôn phối hợp để đóng góp một cách tích cựcnhất nhằm xây dựng, duy trì và củng cố hòa bình và an ninh trong khu vực cũng nhưquốc tế
Với vị thế quốc tế ngày càng tăng cao, trong những năm vừa qua, Lào đã đăngcai tổ chức nhiều sự kiện quốc tế lớn Việt Nam đã tích cực hỗ trợ Lào trong các hoạtđộng này như SEAGAMES 25 (12-2009) tại Viêng Chăn, Hội nghị cấp cao Á - Âu lầnthứ 9 (ASEM 9) và Hội nghị Đối tác Nghị viện Á - Âu lần thứ 7 (ASEP 7) cuối năm2012
Trong việc giáo dục trong nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hai nước về truyền thống
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 4
Trang 6
quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào: vừa qua, hai bên đã hoàn thành bộ sách Lịch sử quan
hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007) Bộ sách lịch sử này mangtầm quan trọng đặc biệt, làm sáng tỏ những sự kiện lịch sử về tình đoàn kết hết mựcthủy chung, trong sáng giữa nhân dân hai nước trong những năm tháng đấu tranh giànhđộc lập dân tộc trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốcngày nay Việc triển khai phổ biến nội dung bộ sách lịch sử này sẽ giúp giáo dục chocác thế hệ hiện nay và mai sau hiểu được những năm tháng lịch sử hào hùng của haidân tộc, gặt hái được những kỳ tích; hiểu được tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào là bàihọc lịch sử, là tài sản vô giá, vững bền mà các thế hệ nối tiếp phải có trách nhiệm bảo
vệ, duy trì, phát huy vì sự phát triển và lợi ích của cả hai dân tộc Bên cạnh đó, hai bênđang tích cực triển khai xây dựng Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lào, dựkiến hoàn thành trong năm 2012
Nhìn lại chặng đường đã đi qua, chúng ta có thể tự hào về những nỗ lực to lớncủa nhiều thế hệ trong việc xây dựng, vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào không ngừng đơm hoa, kết trái; đưa mối quan hệ này trở nên hết sức mẫu mực,thủy chung, trong sáng và là hình mẫu duy nhất trên thế giới Nhân kỷ niệm 50 nămngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác,lãnh đạo cấp cao hai nước đã thống nhất chọn năm 2012 làm “Năm Đoàn kết Hữu nghịViệt Nam - Lào, Lào - Việt Nam” Tháng 2-2012, nhân chuyến thăm hữu nghị chínhthức CHDCND Lào, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng Bí thư, Chủ tịch nướcChummaly Xaynhaxỏn đã công bố “Năm Đoàn kết Hữu nghị Việt Nam - Lào, Lào -Việt Nam”, mở đầu cho hàng loạt các hoạt động kỷ niệm hết sức ý nghĩa, tràn đầy tìnhcảm anh em được tổ chức rộng khắp tại các địa phương của cả hai nước Nổi bật nhất
là Lễ mít tinh kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm ngày kýHiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào được tổ chức đồng thời tại hai thủ đô
Hà Nội và Viêng Chăn trong tháng 7 vừa qua
Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
Góp phần tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác thânthiện giữa hai dân tộc anh em tiến lên một tầm cao mới Nhờ đó, đã giải quyết đượcnhững khó khăn, thử thách mới với nhiều diễn biến phức tạp do sự can thiệp ngày càngsâu của Mỹ vào các nước Đông Dương
Khẳng định đường lối nhất quán, đúng đắn trong mối quan hệ chiến lược củahai Đảng và nhân dân hai nước; đảm bảo sự thống nhất về đường lối chính trị, quân sự,
để hai dân tộc tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội doĐảng Cộng sản Đông Dương đề ra
Là cơ sở vững chắc để quân dân hai nước tiếp tục sát cánh bên nhau chiến đấu
và giành nhiều thắng lợi mới trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai,giành độc lập tự do cho mỗi nước
2 Phát triển liên minh chiến đấu, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn (1963-1975)
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 5
Trang 7
Với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954, cách mạng hai nước Việt Nam, Làobước vào thời kỳ mới: thời kỳ tập trung xây dựng lực lượng, đẩy mạnh đấu tranh đểgiữ vững hòa bình và giành độc lập, thống nhất ở mỗi nước Song, đế quốc Mỹ vẫnnuôi tham vọng xâm lược, ra sức can thiệp vào miền Nam Việt Nam và Lào, âm mưubiến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, để làm bàn đạp tiến công cácnước xã hội chủ nghĩa Vì vậy, nhân dân hai nước Việt Nam và Lào tiếp tục phối hợpđấu tranh để bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được.
Trước tình hình trên, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương ĐảngLao động Việt Nam (19-10-1954) và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Laođộng Việt Nam (11-1954) ra nghị quyết khẳng định tiếp tục tăng cường tình hữu nghị
và đoàn kết giữa nhân dân hai nước Việt Nam, Lào và đề ra yêu cầu phối hợp hai bêncùng thực hiện các nhiệm vụ, trước mắt tập trung xây dựng lực lượng vũ trang Lào;xây dựng, củng cố hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ thành căn cứ đấu tranh của Lào;đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng Lào…Đồng thời, tháng 11- 1954,Hội nghị Trung ương Mặt trận Lào Íxalạ và Chính phủ Kháng chiến Lào xác địnhnhiệm vụ trung tâm của cách mạng Lào trong giai đoạn hiện tại là: Bảo vệ và xây dựnghai tỉnh tập kết thành căn cứ cách mạng của cả nước, xây dựng, phát triển các lựclượng vũ trang Chính phủ Kháng chiến và Bộ Quốc phòng Lào đề nghị Việt Nam xâydựng kế hoạch và cử đoàn cố vấn quân sự giúp Lào củng cố, xây dựng Quân độiPathết Lào
Nội dung các quan điểm nêu trên của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Lao động Việt Nam, của Trung ương Mặt trận Lào Ítxalạ và Chính phủ Khángchiến Lào đã vạch ra những định hướng quan trọng, có ý nghĩa quyết định tạo cơ sở đểthống nhất phương thức hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Việt Nam
và Lào trong giai đoạn mới, giai đoạn chuyển từ chiến tranh sang hòa bình
Thực hiện chủ trương trên, hai nước Việt Nam, Lào đã phối hợp hoàn thànhnhiệm vụ chuyển quân tập kết theo quy định của Hiệp định Giơnevơ và Hiệp định đìnhchiến ở Lào 1954 Đồng thời, Bộ Quốc phòng Việt Nam quyết định thành lập Đoàn Cốvấn quân sự (Đoàn 100) giúp các đơn vị Quân đội Pathết Lào học tập về chính trị,quân sự, nâng cao trình độ chiến đấu; phối hợp với Bộ Chỉ huy tối cao Lào nghiêncứu, thống nhất kế hoạch tác chiến và phương thức tổ chức khu chiến đấu bảo vệ haitỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ Trên cơ sở đó, các cơ quan, đơn vị Pathết Lào ở các khuvực đóng quân có cố vấn Việt Nam giúp đỡ đã tổ chức các đội chuyên trách làm côngtác xây dựng cơ sở quần chúng, hướng dẫn dân sản xuất, tổ chức khám, chữa bệnh chonhân dân, dạy văn hoá cho thanh niên, tuyên truyền về tình đoàn kết quân dân hainước Việt - Lào Các cơ quan chính quyền ở hai tỉnh Sầm Nưa, Phôngxalỳ tích cựcphát động nhân dân tăng gia sản xuất, thực hiện các chủ trương của Chính phủ Khángchiến Lào Nhờ đó, đời sống của nhân dân các bộ tộc Lào trên địa bàn hai tỉnh đượccải thiện đáng kể, cơ sở quần chúng được tăng cường, củng cố ngày càng vững chắc.Trong số 1572 bản đã có 1327 bản xây dựng được cơ sở đoàn thể cách mạng và lựclượng du kích Ở nhiều nơi, nhân dân tích cực đi dân công, động viên con em tham giaQuân đội Pathết Lào
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 6
Trang 8
Việc các lực lượng Pathết Lào hoàn thành chuyển quân tập kết, kịp thời triểnkhai kế hoạch xây dựng, phát triển lực lượng và sẵn sàng chiến đấu giữ vững địa bàntập kết đã tạo điều kiện ban đầu rất quan trọng để củng cố ,tăng cường thực lực chocách mạng Lào, đồng thời cũng là nhân tố tích cực để phát huy mối quan hệ đoàn kết,giúp đỡ lẫn nhau giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào.
Trước sự chuyển biến mới của cách mạng Lào, Đại hội thành lập Đảng Nhândân Lào được tiến hành từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 6 tháng 4 năm 1955 tại tỉnh SầmNưa Tham dự Đại hội có 19 đại biểu thay mặt gần 300 đảng viên trong cả nước Đạihội đã xác định nhiệm vụ chung trong giai đoạn này là đoàn kết lãnh đạo toàn dânphấn đấu hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thực hiện một nước Lào hoà bình,dân chủ, thống nhất và độc lập Đại hội đề ra Chương trình hành động 12 điểm, thôngqua Báo cáo chính trị; Điều lệ của Đảng và bầu Ban Chỉ đạo toàn quốc gồm 5 người,
do đồng chí Cayxỏn Phômvihản làm Trưởng ban chỉ đạo
Việc Đảng Nhân dân Lào ra đời đã tạo cơ sở vững chắc để tăng cường sự lãnhđạo của Đảng đối với cách mạng Lào, đồng thời là nhân tố trọng yếu, có ý nghĩa quyếtđịnh thúc đẩy quan hệ đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Lào - ViệtNam
Đáp ứng yêu cầu đoàn kết rộng rãi lực lượng cách mạng trong giai đoạn mới, từngày 6 đến 31 tháng 1 năm 1956, Uỷ ban Trung ương Neo Lào Ítxalạ tiến hành Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ II tại tỉnh Sầm Nưa Đại hội thông qua Cương lĩnh chínhtrị 12 điểm, trong đó nêu lên nhiệm vụ chủ yếu của Mặt trận về đoàn kết toàn dân; giữvững và phát triển lực lượng yêu nước; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dânyêu chuộng hòa bình thế giới ; tích cực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân… Đại hội quyết định đổi tên Neo Lào Ítxalạ thành Neo Lào Hắc Xạt (Mặttrận Lào yêu nước); đổi tên tờ báo Lào Ítxalạ, cơ quan ngôn luận của Mặt trận, thànhLào Hắc Xạt Đại hội bầu Ban chấp hành Trung ương Neo Lào Hắc Xạt, gồm 47 đạibiểu, đại diện các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo trong cả nước, do Hoàngthân Xuphanuvông làm Chủ tịch
Thành công của Đại hội đại biểu lần thứ II Neo Lào Hắc Xạt đánh dấu bướcphát triển mới của cách mạng Lào và mở ra triển vọng mới cho sự tăng cường hợp tác,giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Việt Nam – Lào
Sau khi Đảng Nhân dân Lào được thành lập, các lực lượng yêu nước Lào với sựphối hợp, hỗ trợ tích cực của các tổ cố vấn quân sự và dân chính Việt Nam đã liên tiếpđánh bại các cuộc tiến công của các thế lực phái hữu trong chính quyền và quân độiViêng Chăn vào vùng căn cứ cách mạng, gây cho địch nhiều thiệt hại Những thắng lợi
đó tác động tích cực đến xu hướng và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân Lào ởcác đô thị, một vài nơi đã xuất hiện phong trào chống đế quốc Mỹ và tay sai, ủng hộđường lối hoà bình, trung lập của Pathết Lào để thống nhất quốc gia
Trong bối cảnh đó, ngày 2 tháng 11 năm 1957, Hoàng thân Xuphanuvông, đạidiện Neo Lào Hắc Xạt và Hoàng thân Xuvana Phuma, đại diện Chính phủ Vương quốcLào ký tuyên bố chung thoả thuận thành lập Chính phủ Liên hiệp, có Neo Lào Hắc Xạttham gia Ngày 18 tháng 12 năm 1957, Neo Lào Hắc Xạt tổ chức lễ chuyển giao tỉnh
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 7
Trang 9
Sầm Nưa và tỉnh Phôngxalỳ cho Chính phủ Liên hiệp dân tộc Tiếp đó, ngày 25 tháng
12 năm 1957, cơ quan đại diện Neo Lào Hắc Xạt chính thức ra mắt và hoạt động côngkhai, hợp pháp tại thủ đô Viêng Chăn
Nhân dịp giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hoà hợp dân tộc,thống nhất quốc gia, thành lập Chính phủ Liên hiệp, ngày 10 tháng 1 năm 1958, BanChỉ đạo Đảng Nhân dân Lào gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp ànhTrung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: « Sở dĩ cách mạng Lào đạt đượcnhững thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranh anh dũng kiên cường củanhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, đồng thờicũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động ViệtNam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng”9
Theo hiệp định được ký kết giữa 2 bên về tổng tuyển cử bổ sung có Neo LàoHắc Xạt tham gia và luật bầu cử sửa đổi tiến bộ do phía Neo Lào Hắc Xạt đề nghị, 7giờ sáng ngày 4 tháng 5 năm 1958, cả nước Lào tiến hành tuyển cử bổ sung 21 nghị sĩ.Lần đầu tiên tất cả các cử tri trong toàn quốc được quyền đi bỏ phiếu Các ứng cử viêncủa Pathết Lào và phía hòa bình, trung lập đều giành thắng lợi, với 13/21 ghế trongquốc hội
Kết quả trên cùng với việc thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc lần thứ nhất làthắng lợi quan trọng của các lực lượng Pathết Lào, đồng thời nêu cao tính hiệu quả củaquan hệ đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Việt Nam - Lào
Trong tình thế đó, từ cuối năm 1958, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đẩy mạnh cáchoạt động lật lọng, từng bước xoá bỏ các hiệp ước hoà hợp dân tộc đã được ký kết đểcuối cùng trắng trợn xoá bỏ Chính phủ liên hiệp và hoà hợp dân tộc Chúng cho quânbao vây nhằm tước vũ khí hai tiểu đoàn vũ trang của Pathết Lào, bắt giam một số lãnh
tụ Neo Lào Hắc Xạt và mở nhiều cuộc khủng bố, càn quét nhằm tiêu diệt lực lượngcách mạng
Trước tình hình Lào có nhiều diễn biến phức tạp, ngày 4 tháng 5 năm 1959, BộChính trị Đảng Lao động Việt Nam trao đổi ý kiến với đại diện Đảng Nhân dân Lào vềtình hình và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Lào Bộ Chính trị của hai Đảng đãthống nhất về yêu cầu đẩy mạnh đấu tranh ở Lào, trước mắt phải tích cực xây dựng,phát triển lực lượng mọi mặt để sẵn sàng chuyển sang hoạt động quân sự rộng rãi trên
cả nước; đồng thời tiếp tục giương cao ngọn cờ hòa bình, trung lập, hòa hợp dân tộc đểtranh thủ dư luận trong và ngoài nước
Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng Nhân dân Lào, đêm ngày 17 tháng
5 năm 1959, cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 2 của Neo Lào Hắc Xạt đóng tại Cánh ĐồngChum - Xiêng Khoảng đã dũng cảm, mưu trí, phá vòng vây địch để rút ra vùng rừngnúi phía đông, giáp với Việt Nam Trải qua 15 ngày đêm vừa hành quân vừa chiếnđấu, được sự hỗ trợ, giúp đỡ của Việt Nam, Tiểu đoàn 2 đã về căn cứ ở vùng núi KàyKhẳn, biên giới Lào - Việt Nam an toàn Sự kiện Tiểu đoàn 2 rút lui thành công, tiếptục hoạt động chiến đấu là một thắng lợi của cách mạng Lào, làm tăng thêm lực lượngthực hiện và phát huy quan hệ đoàn kết, phối hợp đấu tranh giữa quân và dân hai nướcViệt Nam, Lào
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 8
Trang 10
Trước sự can thiệp trắng trợn của đế quốc Mỹ vào Lào, Hội nghị Trung ươngĐảng Nhân dân Lào (3-6-1959) xác định cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Làođang chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn từ đấu tranh công khai hợp pháp là chủyếu, chuyển sang đấu tranh vũ trang là chủ yếu, kết hợp với các hình thức đấu tranhkhác Thống nhất với quan điểm trên của Đảng Nhân dân Lào, Hội nghị Bộ Chính trịĐảng Lao động Việt Nam (2-7-1959) đề ra chủ trương chi viện cách mạng Lào đápứng yêu cầu xây dựng, phát triển lực lượng trong tình hình mới và coi đây là mộtnhiệm vụ quốc tế hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam.
Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định cử lực lượng giúp Lào xây dựng
và phát triển Tiểu đoàn 2 thành ba tiểu đoàn, đồng thời bổ sung vũ khí, quân trang,quân dụng và tổ chức huấn luyện về kỹ thuật, chiến thuật cho các đơn vị Pathết Lào
Sự phối hợp chặt chẽ giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Làonói trên là động lực quan trọng thúc đẩy cách mạng Lào phát triển, góp phần quantrọng vào việc củng cố và phát triển mối quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa cách mạnghai nước Việt Nam – Lào
Theo yêu cầu của Trung ương Đảng Nhân dân Lào về việc giải thoát các đồngchí lãnh đạo của Neo Lào Hắc Xạt bị chính quyền Phủi Xánánicon bắt giam lỏng tạiViêng Chăn, Quân uỷ Trung ương Việt Nam quyết định thành lập một tổ công tác đặcbiệt gồm 9 người, phối hợp với các đồng chí Lào hoạt động bí mật trong nội thành đểthực hiện nhiệm vụ Đêm 23 rạng ngày 24 tháng 5 năm 1960 dưới sự lãnh đạo củaThành uỷ Viêng Chăn, cơ sở nội thành phối hợp với tổ công tác đặc biệt Việt Nam vàbinh lính, sĩ quan canh gác đã đưa Hoàng thân Xuphanuvông và 15 đồng chí bị bắt rakhỏi trại giam Phôn Khênh về căn cứ an toàn
Việc giải thoát các cán bộ lãnh đạo Lào thành công là nguồn cổ vũ, động viêntinh thần to lớn đối với lực lượng cách mạng và yêu nước Lào, góp phần củng cố, nângcao ý nghĩa sâu sắc của tình đoàn kết chiến đấu, giúp đỡ lẫn nhau giữa quân và dân hainước Việt Nam - Lào
Trong khi cách mạng Lào có bước phát triển mới thì Chính phủ Vương quốcLào lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, dẫn đến cuộc đảo chính (9-8-1960) của Tiểuđoàn dù 2 Viêng Chăn, do đại úy Koongle chỉ huy Trước tình hình trên, Trung ươngĐảng Nhân dân Lào ra chủ trương: ủng hộ cuộc đảo chính, sẵn sàng hợp tác để thànhlập chính phủ đi theo đường lối hòa bình, trung lập và gấp rút phát triển lực lượng cáchmạng về mọi mặt Đặc biệt, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào(20-10-1960) nhấn mạnh yêu cầu: tăng cường lực lượng cách mạng về mọi mặt; mởrộng Mặt trận dân tộc thống nhất; mở rộng khu căn cứ, xây dựng chính quyền cáchmạng; tích cực xây dựng căn cứ địa tỉnh Sầm Nưa…Thống nhất với chủ trương trêncủa Đảng Nhân dân Lào, Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam(12-11-1960) xác định phương hướng nhiệm vụ quốc tế của Việt Nam ở Lào trong lúcnày tập trung vào: phối hợp chiến đấu bảo toàn lực lượng, kéo dài thời gian cầm cự đểtạo thế tấn công mới; củng cố hậu phương Viêng Chăn, củng cố căn cứ địa SầmNưa…Theo đề nghị của Đảng Nhân dân Lào và Chính phủ của Phu ma do Ủy ban đảochính thành lập, Việt Nam đã cử cán bộ và một bộ phận pháo binh sang Viêng Chăn,
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 9
Trang 11
đồng thời các Quân khu 4, Quân khu Tây Bắc (Việt Nam) khẩn trương phối hợp vớicác lực lượng vũ trang Lào tiến công địch ở sát biên giới, hỗ trợ tích cực cho cuộcchiến đấu bảo vệ Viêng Chăn.
Thực hiện sự chỉ đạo trên, các lực lượng vũ trang yêu nước Lào và bộ đội tìnhnguyện Việt Nam đã phối hợp chiến đấu dũng cảm, đẩy lùi nhiều cuộc tiến công củađịch vào Thủ đô Viêng Chăn, đồng thời mở rộng tiến công địch ở nhiều nơi, giảiphóng nhiều vùng rộng lớn, trong đó có nhiều địa bàn chiến lược quan trọng, nhưCánh đồng Chum, Xiêng Khoảng…Đến đầu năm 1961, lực lượng cách mạng Lào đãgiành được nhiều thắng lợi mới quan trọng: mở rộng vùng giải phóng từ Cánh đồngChum tới Sầm Nưa; lực lượng vũ trang Pathết Lào được tăng cường, phát triển từ 2tiểu đoàn lên 10 tiểu đoàn, tạo thêm sức mạnh đẩy địch vào thế lúng túng, bị động
Những kết quả đó là thắng lợi của đường lối hòa bình, trung lập, hòa hợp dântộc của Đảng Nhân dân Lào và cũng là thắng lợi của sự phối hợp, đoàn kết chiến đấugiữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam – Lào
Từ đầu năm 1961, đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn đẩy mạnh việc đánh pháhòng ngăn chặn việc vận chuyển của Đoàn 559 trên tuyến Đông Trường Sơn Để đápứng yêu cầu chi viện ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam và cách mạng Lào,Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào đã thảo luận, thống nhấtchủ trương mở đường vận chuyển chiến lược sang phía Tây Trường Sơn Được sựgiúp đỡ tận tình của nhân dân các bộ tộc Lào, các đoàn công tác quân sự Việt Nam đãxây dựng được nhiều cơ sở cách mạng, phục vụ cho việc mở tuyến đường mới dọcTây Trường Sơn trên đất Lào
Việc chuyển hướng vận chuyển chiến lược sang Tây Trường Sơn không chỉ tạo
ra thế và lực mới cho cách mạng hai nước Việt Nam, Lào, mà còn thể hiện ý chí quyếttâm cao của hai Đảng và nhân dân hai nước Việt - Lào trong cuộc chiến đấu chống kẻthù chung, giành độc lập, tự do
Do sức mạnh đấu tranh của nhân dân Lào, đế quốc Mỹ và tay sai phải chấpnhận ngừng bắn, mở hội nghị hiệp thương ba phái (Neo Lào Hắc Xạt, Phuma và Bun
Ùm – Phumi) tại Hin Hợp (3-5-1961), Na Mon (13-5-1961) và Hội nghị quốc tế vềLào tại Giơnevơ (16-5-1961), nhưng do thái độ ngoan cố của phe Mỹ, Hội nghị quốc
tế bàn về vấn đề thành lập Chính phủ ba phái ở Lào bị bế tắc
Trước tình hình trên, ngày 9 tháng 7 năm 1961, Trung ương Đảng Nhân dânLào và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam hội đàm để bàn về phương hướng củacách mạng Lào và thống nhất một số nguyên tắc trong quan hệ giữa hai Đảng, đặc biệttrong điều kiện Việt Nam còn có quan hệ với Chính phủ Vương quốc Lào Tại Hộinghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Nhất trí nhưng không miễn cưỡng, phải bàn bạcphân minh, nêu cho hết ý kiến nhưng quyết định là Đảng Lào, vì cách mạng Lào là dongười Lào làm lấy giúp nhiều mấy cũng chỉ được 1/10 còn tự lực là 9/10”10
Nhất trí với quan điểm của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và của Chủtịch Hồ Chí Minh đã nêu, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào(20-7-1961) và (22-11-1961) xác định nhiệm vụ: đấu tranh thành lập Chính phủ liênhiệp trên nguyên tắc thực hiện chính sách hòa bình, trung lập; đồng thời tích cực xây
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 10
Trang 12
dựng và củng cố lực lượng vũ trang làm hậu thuẫn, gây áp lực cho đàm phán Đặc biệt,Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào (10-4-1962) nhấn mạnh yêucầu đẩy mạnh phối hợp với Việt Nam chiến đấu đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếmcủa địch và mở chiến dịch Nặm Thà nhằm mở rộng vùng giải phóng, tạo đà phát triểncho cách mạng Lào.
Do bị thất bại nặng nề và liên tiếp trên các mặt trận, nhất là trong chiến dịchNặm Thà (5-1962), đế quốc Mỹ và chính quyền Viêng Chăn phải thành lập Chính phủliên hiệp dân tộc lần thứ hai, có lực lượng Pathết Lào tham gia (12-6-1962) và ký kếtHiệp định Giơnevơ (23-7-1962) với sự tham gia của 14 nước, công nhận nền độc lập,chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Lào
Việc ký kết Hiệp định Giơnevơ 1962, giải quyết hoà bình vấn đề Lào ghi nhậnbước phát triển vượt bậc của cách mạng Lào, góp phần củng cố tình đoàn kết hữunghị, liên minh chiến đấu giữa nhân dân hai nước Việt Nam, Lào
Sau Hiệp định Giơnevơ 1962 về Lào, ngày 5 tháng 9 năm 1962, Chính phủnước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Vương quốc Lào chính thức thiết lậpquan hệ ngoại giao Đầu năm 1963 vua Lào Xỉxávàng Vắthana dẫn đầu đoàn đại biểuHoàng gia Lào thăm Việt Nam Trong buổi chiêu đãi vua Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minhkhẳng định: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một giải đất, cùng cóchung một dãy núi Trường Sơn Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡlẫn nhau như anh em… Ngày nay chúng ta lại đang giúp đỡ nhau để xây dựng mộtcuộc sống mới Tình nghĩa láng giềng anh em Việt - Lào thật là thắm thiết không baogiờ phai nhạt được”
Mặc dù Hiệp định Giơnevơ 1962 về Lào được ký kết, đế quốc Mỹ vẫn chưa từ
bỏ âm mưu xâm lược Lào, tăng cường viện trợ, giúp chính quyền Viêng Chăn tiếncông lấn chiếm vùng giải phóng, đồng thời ra sức phá hoại Chính phủ liên hiệp, cô lập
và vu cáo Neo Lào Hắc Xạt
Trước tình hình có chiều hướng phức tạp, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Nhân dân Lào (15-2-1963) đề ra nhiệm vụ: đấu tranh bảo vệ Chính phủ liênhiệp, bảo vệ hòa bình và ra sức củng cố, phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt.Hội nghị xác định quân đội Pathết Lào phải tích cực hoạt động quân sự làm hậu thuẫncho đấu tranh chính trị, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang, sẵn sàng đập tan mọi
âm mưu lấn chiếm của địch
Từ ngày 18 đến ngày 24-4-1963, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam vàTrung ương Đảng Nhân dân Lào hội đàm để thống nhất các hoạt động phối hợp vàgiúp đỡ nhau có hiệu quả hơn Đặc biệt, tại cuộc hội đàm (7-1963) bàn về phươnghướng phát triển của cách mạng Lào, hai Đảng thống nhất nhiệm vụ đẩy mạnh xâydựng lực lượng cả về quân sự và chính trị, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài Trungương Đảng Nhân dân Lào đề nghị Việt Nam tăng cường lực lượng chuyên gia giúpLào toàn diện, từ chủ trương, chính sách đến tổ chức thực hiện; trong đó, về quân sự,giúp Lào thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là xây dựng chính trị, tư tưởng, tổ chức Đảngtrong quân đội và củng cố, phát triển phong trào chiến tranh du kích
Thực hiện chủ trương trên, từ cuối năm 1963, đầu năm 1964, Việt Nam cử hơn
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 11
Trang 13
2.000 chuyên gia quân sự sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào Tiếp đó, từ giữa năm
1964, thành lập hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam từ trên cơ quan Tổng tư lệnhLào xuống đến Bộ tư lệnh các quân khu, tỉnh đội và cấp tiểu đoàn, có nhiệm vụ phốihợp với bạn để nghiên cứu kế hoạch tác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng
và củng cố các vùng căn cứ ở Lào Đồng thời, các đơn vị quân tình nguyện Việt Namphối hợp với bộ đội Pathết Lào mở nhiều chiến dịch, chủ yếu ở khu vực đường 9 –Trung Lào, Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, đập tan các cuộc tấn công lấn chiếmcủa địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho quân vàdân Việt Nam vận chuyển trên đường tây Trường Sơn để chi viện cho chiến trườngmiền Nam Việt Nam và cách mạng hai nước Lào, Campuchia
Từ giữa năm 1965, do bị thất bại nặng nề trong âm mưu lấn chiếm vùng giảiphóng và không thực hiện được ý đồ phá hoại, chia rẽ giữa các lực lượng cách mạng
và yêu nước Lào, đế quốc Mỹ thực hiện bước leo thang chiến tranh mới, đưa lực lượngkhông quân Mỹ vào tham chiến ở Lào, đẩy chiến tranh đặc biệt ở Lào phát triển đếncao độ; đồng thời tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam,
mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ra miền Bắc Việt Nam,
Trước tình hình trên, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào(5-1965) nêu cao quyết tâm đánh bại chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ ở Lào và đề
ra nhiệm vụ: Đẩy mạnh đấu tranh quân sự, phát triển chiến tranh nhân dân; tăng cườngxây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân; củng cố và mở rộng vùng giải phóng thànhquy mô của một quốc gia
Do yêu cầu tăng cường đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹxâm lược, ngày 22 tháng 6 năm 1965, Đảng Lao động Việt Nam hội đàm với ĐảngNhân dân Lào thống nhất các nội dung phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau, trong đó tậptrung giúp Lào xây dựng vùng giải phóng về mọi mặt với quy mô một quốc gia, xâydựng lực lượng vũ trang Tiếp đó, ngày 3 tháng 7 năm 1965, Bộ Chính trị Ban Chấphành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết khẳng định: “Việt Nam cầnphải nỗ lực đáp ứng đến mức cao nhất mọi yêu cầu đối với công cuộc phát triển cáchmạng của Lào”13
Thực hiện chủ trương giúp đỡ lẫn nhau đã được hai Đảng thống nhất, ngay từgiữa năm, nhất là từ cuối năm 1965 trở đi, Việt Nam cử một số đơn vị quân tìnhnguyện và các đoàn chuyên gia quân sự, chính trị, kinh tế, và văn hóa sang làm nhiệm
vụ quốc tế ở Lào với số lượng ngày càng lớn theo yêu cầu của cách mạng Lào Đếnnăm 1967, số cán bộ, công nhân Việt Nam tham gia xây dựng các ngành kinh tế, vănhóa ở Lào lên tới 15.000 người; riêng chuyên gia về quân sự lên tới 8.500 người
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cách mạngLào, đồng thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa quân
và dân hai nước Việt Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thành nhất mực, sắtson của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào, như đồng chí Cay xỏnPhômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao độngViệt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam cho cách mạng Lào hếtsức tận tình và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu Xương máu
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 12
Trang 14
của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập củaLào… Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt,thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế
vô sản”14 Những thắng lợi đó góp phần củng cố thêm sự gắn bó mật thiết giữa haiĐảng và hai dân tộc Việt Nam – Lào
Mặc dù bị thất bại, từ năm 1969, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiếntranh, đưa chiến tranh đặc biệt ở Lào lên đến đỉnh cao với sự tham gia ngày càng nhiềucủa lực lượng không quân Mỹ và quân đội các nước tay sai, chư hầu của Mỹ, đồngthời tiến hành “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranh sang Campuchia.Những âm mưu, thủ đoạn và hành động chiến tranh mới của đế quốc Mỹ đã gây nhiềukhó khăn, phức tạp cho cách mạng ba nước Đông Dương và làm cản trở quá trình phốihợp chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào
Trước âm mưu và thủ đoạn chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, Trung ương ĐảngLao động Việt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã ra chỉ thị khẳng định tăngcường đoàn kết giữa nhân dân hai nước, quyết tâm đánh bại đế quốc Mỹ và bè lũ taysai trong bất cứ tình huống nào Ngày 18 tháng 7 năm 1969, Quân ủy Trung ương ViệtNam hội đàm với Quân ủy Trung ương Lào thống nhất các nội dung phối hợp và giúp
đỡ nhau trên lĩnh vực quân sự, đồng thời xác định nhiệm vụ cách mạng Lào tập trungvào việc xây dựng, tăng cường lực lượng về mọi mặt; nâng cao chất lượng ba thứquân; đẩy mạnh đấu tranh ở cả hai vùng nông thôn và thành thị, trên cả ba mặt quân
sự, chính trị, ngoại giao; củng cố vững chắc các địa bàn đứng chân, giữ vững và mởrộng vùng giải phóng; chú trọng sản xuất, bồi dưỡng sức dân… Đặc biệt, Hội nghị BanThường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào (25-6-1970) xác định nhiệm vụ cáchmạng Lào trong hai năm tới là: Nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, phát huy thế chủđộng tiến công địch về mọi mặt; ra sức củng cố vùng giải phóng; xây dựng và pháttriển lực lượng cách mạng về mọi mặt Hội nghị nhấn mạnh cần phải tăng cường đoànkết hơn nữa với nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh em trong cuộc chiếnđấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược
Thực hiện chủ trương trên, từ năm 1969, hai nước Việt Nam – Lào càng tíchcực đẩy mạnh các hoạt động phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt
Về quân sự, Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định tăng cường cán bộ chocác đoàn chuyên gia quân sự từ trung ương đến các tỉnh theo yêu cầu của Lào Các lựclượng chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào đã đẩy mạnhnhiều hoạt động, vừa chú trọng giúp bạn xây dựng, nâng cao khả năng, trình độ chiếnđấu của bộ đội Lào, vừa cùng quân giải phóng Lào chiến đấu, đánh bại nhiều cuộc tiếncông lấn chiếm của địch, quan trọng nhất là đập tan các chiến dịch Cù Kiệt (10.1969 –4.1970), chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (3-1971), giữ vững và mở rộng vùng giảiphóng, trong đó có vùng chiến lược Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, bảo vệ vữngchắc và thông suốt tuyến vận tải chiến lược tây Trường Sơn
Về chính trị, ngoại giao, Việt Nam tích cực ủng hộ giải pháp năm điểm của NeoLào Hắc Xạt (3-1970) để giải quyết vấn đề Lào trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ 1962;phối hợp chặt chẽ với Lào tích cực đóng góp cho thành công của Hội nghị cấp cao ba
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 13
Trang 15
nước Đông Dương (4-1970) và vào việc thành lập Mặt trận thống nhất chống Mỹ, gópphần tăng cường liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào -Campuchia, đồng thời tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến
bộ trên thế giới, làm cho nội bộ địch, kể cả giới cầm quyền Mỹ bị chia rẽ sâu sắc
Về lĩnh vực xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, các bộ, ngành của Việt Nam
đã ký kết nhiều hiệp định hợp tác, giúp đỡ với các bộ, ngành của Lào, như: lâmnghiệp, công nghiệp nhẹ, thủ công và địa chất (2-1972); giao thông vận tải (4-1972);thuỷ lợi (5-1972), nhằm nâng cao tốc độ phát triển kinh tế trong vùng giải phóng Lào
Với sự nỗ lực vượt bậc của bản thân và cùng với sự đoàn kết, giúp đỡ vô tư,trong sáng của Việt Nam, đến cuối năm 1972, cách mạng Lào đã giành được nhiềuthắng lợi quan trọng, nhất là Đảng Nhân dân Lào đã tổ chức thành công Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ hai: quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Nhân dân cách mạngLào và suy tôn đồng chí Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng; thông qua Nghị quyết:
“Tăng cường đoàn kết Lào – Việt”, trong đó khẳng định tình đoàn kết Lào – Việt trên
cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh thần quốc tế vô sản là mối quan hệ đặc biệt, đãđánh dấu sự trưởng thành về chính trị và tổ chức của Đảng Nhân dân cách mạng Lào –nhân tố trọng yếu, có ý nghĩa quyết định thúc đẩy quan hệ đặc biệt, liên minh chiếnđấu Lào – Việt Nam lên bước phát triển mới Lực lượng vũ trang cách mạng Lào vớihơn 3 vạn quân tập trung cùng hơn 5 vạn dân quân du kích trên khắp mọi miền của đấtnước không ngừng trưởng thành, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trong nhữngtrận đọ sức quyết định Vùng giải phóng Lào được mở rộng, củng cố, đã nối liền từBắc đến Nam và từng bước xây dựng theo quy mô một quốc gia, có nền tài chínhriêng, có một số xí nghiệp công nghiệp nhỏ, thương nghiệp quốc doanh, nhiều tỉnh đãbước đầu tự túc được lương thực Nhân dân các bộ tộc Lào trong vùng giải phóng từđịa vị nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, tích cực tham gia xây dựng chế độ dânchủ nhân dân, xây dựng cuộc đời mới của mình
Những chiến thắng to lớn về nhiều mặt nói trên đã trực tiếp góp phần quantrọng buộc chính phủ Viêng Chăn phải ký kết Hiệp định “lập lại hoà bình và thực hiệnhòa hợp dân tộc ở Lào” (21-2-1973), tạo điều kiện và thời cơ rất thuận lợi để thúc đẩycách mạng Lào tiến lên, đồng thời mở ra cơ hội mới cho liên minh chiến đấu Việt Nam– Lào đẩy mạnh đấu tranh giành thắng lợi hoàn toàn
Tuy phải chấp nhận cho chính quyền tay sai Viêng Chăn ký kết Hiệp định vềchấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Lào (2-1973), nhưng đế quốc Mỹ vẫn tiếptục câu kết và sử dụng lực lượng phản động Lào để phá hoại việc thi hành Hiệp địnhViêng Chăn, gây lại tình hình căng thẳng ở Lào và chống phá cách mạng ĐôngDương
Trước tình hình trên, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào chủ trương:giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc để tập hợp lực lượng đấu tranhđòi đối phương thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định; nâng cao cảnh giác, quyết tâm đánhbại mọi âm mưu của kẻ thù; tăng cường lực lượng về mọi mặt, tạo điều kiện đi đến xâydựng một nước Lào độc lập, dân chủ, trung lập, thống nhất và thịnh vượng Để xâydựng và củng cố vùng giải phóng ngày một vững mạnh làm hậu thuẫn cho phong trào
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 14
Trang 16
đấu tranh, Trung ương Đảng Nhân dân Lào đề nghị Việt Nam tiếp tục cử chuyên giagiúp Lào, nhất là về các ngành hành chính sự nghiệp, kinh tế, văn hóa…
Đáp ứng yêu cầu của cách mạng Lào trong tình hình mới, Hội nghị Ban Chấphành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (7-1973) chủ trương phối hợp và hỗ trợLào phát huy thắng lợi đã đạt được, củng cố và đẩy mạnh các hoạt động buộc đế quốc
Mỹ phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Viêng Chăn Trung ương Đảng Lao độngViệt Nam đã chỉ thị cho các đơn vị quân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia làm nghĩa
vụ quốc tế ở Lào tăng cường lực lượng, bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ do cáchmạng Lào đặt ra
Thực hiện chủ trương trên, Việt Nam từng bước rút chuyên gia ở tỉnh và huyện
về nước (rút trước tháng 5-1974), đồng thời điều chỉnh các lực lượng chuyên gia vàquân tình nguyện còn lại để phối hợp và giúp Lào thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạncách mạng mới
Về quân sự, Việt Nam cử nhiều đội công tác phối hợp với cán bộ Lào xây dựng
cơ sở, củng cố các đội du kích, tổ chức huấn luyện quân sự và các chuyên gia tham giacông tác tổng kết, tổng hợp tình hình, theo dõi, giúp đỡ các cụm chủ lực Lào; đồngthời, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp chặt chẽ với bộ đội Lào đập tan nhiều cuộchành quân lấn chiếm của địch ở Luổng Phạbang, tây Mương Xủi - Xala Phu Khun,đông và nam Thà Khẹc, nam Đường số 9, nam Pạc Xê, bảo vệ vững chắc vùng giảiphóng và hỗ trợ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân ở vùng địch kiểm soát
Về kinh tế, văn hóa, các chuyên gia Việt Nam đã phối hợp tích cực, cùng vớicán bộ và nhân dân Lào đẩy mạnh sản xuất, xây dựng kinh tế, văn hóa, giáo dục trongvùng giải phóng, góp phần giải quyết những yêu cầu cấp bách về đời sống của nhândân và chuẩn bị các mặt cho việc phát triển kinh tế của vùng giải phóng trong nhữngnăm tiếp theo
Về đối ngoại, từ cuối năm 1973, Đảng Lao động Việt Nam đã tổ chức các đoànđại biểu đại diện của Đảng và Nhà nước sang thăm hữu nghị chính thức vùng giảiphóng Lào, như: chuyến thăm của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ do đồng chí LêDuẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương, từ ngày 2 đến ngày 6 tháng 11 năm1973; chuyến thăm của Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và Chínhphủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ dẫn đầu(tháng 1 năm1974); chuyến thăm của Đoàn đại biểu phụ nữ giải phóng miền Nam do
bà Nguyễn Thị Định dẫn đầu (tháng 4 năm 1974)…Việt Nam cũng phối hợp và giúpLào đón nhiều đoàn đại biểu của các nước đến thăm vùng giải phóng Lào, như: Đoànđại biểu Quốc hội Thuỵ Điển, Đoàn đại biểu kinh tế Cu Ba (tháng 1 năm1974); Đoànđại biểu Đảng công nhân xã hội thống nhất Hunggary, Đoàn đại biểu Đảng cộng sảnBungary (tháng 2 năm 1974); Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Cu Ba (tháng 2 năm1974)…
Sự phối hợp chặt chẽ và giúp đỡ hiệu quả giữa Việt Nam và Lào nói trên, đãlàm cho thế và lực của cách mạng Lào lớn mạnh vượt bậc, tạo điều kiện thúc đẩyphong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng lan rộng và sôi nổi, nhất là ở Thủ đôViêng Chăn, buộc Chính phủ liên hiệp phải chấp nhận Cương lĩnh chính trị 18 điểm và
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 15
Trang 17
Chương trình hành động 10 điểm do Mặt trận Lào yêu nước đưa ra (12-1974), đồngthời góp phần hỗ trợ tích cực cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh emgiành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trong tháng4-1975, nhất là chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam (30-4-1975) của nhân dânViệt Nam, ngày 5-5-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào tổchức Hội nghị mở rộng, quyết định phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong cảnước nổi dậy đoạt lấy chính quyền và giành thắng lợi hoàn toàn
Việc nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời (tháng 12 năm 1975) là thắnglợi to lớn, triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợi quan trọngcủa mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung, son sắt giữa haidân tộc Việt Nam – Lào
Như vậy, trong lịch sử quan hệ đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu của quân
và dân hai nước Việt Nam, Lào, thời kỳ 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 – 1975)thực sự là một cuộc trường chinh đầy khó khăn, gian khổ, song cũng rất đỗi sôi động
và hào hùng
Trong thời kỳ lịch sử này, cách mạng hai nước đã cùng nhau giải quyết thànhcông từng bước những vấn đề mấu chốt như: thống nhất chủ trương thành lập đảngmácxít ở mỗi nước Đông Dương, thành lập khối liên minh Việt - Miên – Lào dựa trênnguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của nhau, nhằm mục tiêu đánhđuổi bọn xâm lược, làm cho mỗi nước hoàn toàn độc lập Việc Đảng Lao động ViệtNam ra hoạt động công khai (2-1951), sự ra đời của Liên minh mặt trận Đông Dương(3-1951) và của Đảng Nhân dân cách mạng Lào (4-1955) là những nhân tố trọng yếu,tạo cơ sở cho sự phát triển vượt bậc, có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong quan hệđoàn kết, liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương nói chung, hai nước Việt Nam vàLào nói riêng
Với tư tưởng chỉ đạo chiến lược “Đông Dương là một chiến trường”, trong suốt
ba mươi năm chiến tranh giải phóng, lãnh đạo hai nước Việt Nam, Lào đã thống nhất
và phối hợp chặt chẽ với nhau trong mọi chủ trương, hành động chiến lược và trên mọimặt, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp đánh bại kẻ thù chung là thực dân Pháp và đếquốc Mỹ xâm lược, giành độc lập, tự do
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là mình tự giúpmình”, coi nhân dân bạn như nhân dân mình, coi sự nghiệp cách mạng của bạn là tráchnhiệm của mình, trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩquân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào luôn
kề vai sát cánh và cùng với bạn, vừa chiến đấu chống địch càn quét lấn chiếm, vừa tiếnhành xây dựng và củng cố các đoàn thể, chính quyền kháng chiến, xây dựng và bảo vệvùng giải phóng, tăng cường lực lượng vũ trang, phát triển chiến tranh du kích trênkhắp các khu vực Thượng, Trung và Hạ Lào Đồng thời, thực tiễn chiến đấu, công táctrên các chiến trường Lào cũng là cơ hội bồi dưỡng, rèn luyện rất bổ ích về các mặtquân sự, chính trị, nhất là nâng cao thêm tinh thần đoàn kết quốc tế cho cán bộ, chiến
sĩ quân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia Việt Nam
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 16
Trang 18
Sự lớn mạnh của lực lượng kháng chiến Lào là nhân tố cơ bản, tạo điều kiệnđưa chiến trường Lào tiến lên phối hợp có hiệu quả với chiến trường chính Việt Nam.Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), nhất là trongcuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975), quân và dân hai nướcViệt Nam – Lào đã phối hợp mở nhiều chiến dịch tiến công lớn trên chiến trường Làogiành thắng lợi, buộc kẻ thù phải phân tán lực lượng đối phó, góp phần hỗ trợ đắc lực,tạo điều kiện thuận lợi cho các bước chuyển biến của chiến tranh cách mạng ở ViệtNam và tạo đà phát triển đi lên của cách mạng Campuchia.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược(1945-1975) thể hiện nghị lực và quyết tâm của cả hai dân tộc Việt Nam – Lào trongcuộc chiến đấu chống kẻ thù chung để giành độc lập, tự do, kết tinh sức mạnh đoàn kếtcủa quan hệ đặc biệt, liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước ViệtNam – Lào Thắng lợi đó tạo nền móng vững chắc để tăng cường, phát triển quan hệhữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam trong thời kỳ lịch sửmới
3 Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, Chủ tịch Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam
Khi nói về mối quan hệ nghĩa tình giữa hai Đảng, hai nước, hai dân tộc ViệtNam và Lào, Bác Hồ kính yêu của chúng ta - Người đã dày công vun đắp cho mốiquan hệ Việt - Lào đã nhấn mạnh, đó là mối “quan hệ đặc biệt” mà lịch sử đã chứngminh cái nghĩa, cái tình và tấm lòng thủy chung, son sắt, sát cánh bên nhau của haiĐảng, hai dân tộc Việt - Lào trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, giành độc lậpcho dân tộc và cùng nhau xây dựng hòa bình, hướng tới tương lai hạnh phúc
Nền tảng của quan hệ Việt - Lào xuất phát từ quan hệ truyền thống lâu đời giữahai nước láng giềng gần gũi, cùng chung sống trên bán đảo Đông Dương Mối quan hệtruyền thống ấy trở nên “đặc biệt” từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương do Chủ tịch HồChí Minh sáng lập và rèn luyện (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhândân Cách mạng Lào) trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng của hai dân tộc ViệtNam và Lào, cùng sát cánh bên nhau chiến đấu chống kẻ thù chung, xây đắp nên tìnhđoàn kết keo sơn, thuỷ chung, son sắt Việt - Lào
Sự nghiệp cách mạng của hai nước Lào - Việt Nam có mối quan hệ và ảnhhưởng lẫn nhau một cách đặc biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ điều đó và thườngxuyên căn dặn: “Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam
và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào.”
Với quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, với thiện chí chântình, thông cảm nhau sâu sắc trên tình đồng chí anh em, giúp bạn là tự giúp mình,Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã cử hàng chục vạn con em yêu quý củamình sang công tác và phối hợp với quân và dân Lào chiến đấu tại các chiến trườngcủa Lào, máu của biết bao anh hùng, liệt sĩ Việt Nam hòa quyện với máu của quân vàdân Lào để đem lại thắng lợi vẻ vang cho hai dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 17
Trang 19
đấu tranh giải phóng dân tộc Việt - Lào, đó vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là lợi ích sốngcòn của mỗi nước Người rất chăm chú theo dõi và dìu dắt, giúp đỡ phong trào cáchmạng ở Lào với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình” Từ khi mới ra đời, tại Hội nghịTrung ương tháng 10/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định đường lối cáchmạng của ba nước Đông Dương: ba nước đều là thuộc địa của Pháp nên cần đoàn kếtchống ách thống trị của bọn thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc
Bên cạnh đó, trong tư tưởng chỉ đạo và hoạt động thực tiễn, Người luôn luônphát huy cao độ tính độc lập và chủ động của đồng bào các bộ tộc Lào Theo Người
“kháng chiến Việt - Miên - Lào là chung của chúng ta, là bổn phận của chúng ta ViệtNam kháng chiến có thành công thì kháng chiến Miên, Lào mới thắng lợi và khángchiến Miên, Lào có thắng lợi thì kháng chiến Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi”.Người khẳng định “Chính phủ, Mặt trận và nhân dân Việt Nam ra sức hết lòng, thànhthực giúp đỡ Mặt trận nhân dân Lào, Miên một cách không có điều kiện”; “Mà giúpnước bạn tức là tự giúp mình” nên “phải ra sức giúp đỡ một cách tích cực, thiết thựchơn” Trong quá trình giúp cách mạng Lào, Người chỉ rõ, khi giúp bạn, phải nắm vữngnguyên tắc dân tộc tự quyết Việc gì cũng phải đựơc Đảng và nhân dân Lào đồng ý rồimới làm Bởi vì, người làm nên lịch sử Lào không ai khác chính là nhân dân Lào, cáchmạng Lào phải do nhân dân Lào tự làm lấy, sự nghiệp cách mạng Lào phải do ĐảngNhân dân cách mạng Lào lãnh đạo Tại Hội nghị Trung ương III (khóa II), Hồ Chủtịch nêu rõ: “cho đến nay chúng ta phải cố gắng giúp đỡ hơn nữa” và cũng từ đó,nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào ngày càng được tăng cường, quan hệ đoàn kết Việt -Lào càng thêm gắn bó, mật thiết
Sau Hội nghị, thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một sốđảng viên của Đảng từ Việt Nam và Thái Lan đã sang hoạt động xây dựng cơ sở cáchmạng ở Lào, một số chi bộ cộng sản đã được thành lập ở Savannakhet, Thakhek,Vientiane, và đến tháng 9/1934 Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thànhlập tại Lào, chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng Lào Đó là những mốcson lịch sử trong quan hệ Lào-Việt Nam; cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân hainước gắn bó với nhau và ngày càng phát triển trong tình đoàn kết chiến đấu và tạo nên
cơ sở cho tình đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng và hai nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế
vô sản; luôn nhận thức sâu sắc mối quan hệ mật thiết cách mạng hai nước Lào - ViệtNam, nuôi dưỡng và phát huy sáng tạo sức mạnh chung của nhân dân hai nước đểcùng tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám ở Lào cũng như thắng lợi Cách mạngTháng Tám ở Việt Nam, giành độc lập cho nhân dân mỗi nước năm 1945 Ngày30/10/1945, hai nước đã ký Hiệp ước Hợp tác tương trợ Việt - Lào Với Hiệp ước này,quan hệ Việt - Lào đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn phát triển quan hệđoàn kết giữa hai dân tộc anh em không chỉ trong quan hệ giữa nhân dân hai nước, màcòn trên tầm quan hệ gắn bó giữa hai nhà nước
Chủ tịch Xuphanuvông đã khái quát ý nghĩa trọng đại của sự kiện này: “Quan
hệ Lào-Việt từ nay sẽ mở ra một kỷ nguyên mới”, kỷ nguyên của mối quan hệ đoànkết đặc biệt Lào-Việt Nam giúp đỡ nhau vì mục tiêu chung của hai dân tộc Cũng ngày
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 18
Trang 20
30/10/1945, Chính phủ hai nước quyết định thành lập Liên quân Lào - Việt Nam.
Thắng lợi đó dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương là thắng lợi củanhân dân hai nước cùng chung lý tưởng, cùng chung mục tiêu, đoàn kết gắn bó vớinhau, cùng đấu tranh giành thắng lợi Đó là bài học lịch sử đầu tiên vô cùng quý giátrong lịch sử cách mạng giải phóng của hai dân tộc anh em
Bằng việc xây dựng hệ thống quan điểm và chỉ đạo thực tiễn thực hiện liênminh đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa Việt Nam và Lào, cũng như sự quan tâm, pháthiện và xây dựng nhân tố bên trong cho cách mạng Lào, đã dẫn tới việc thành lậpĐảng Nhân dân Lào ngày 22/3/1955, sau này là Đảng Nhân dân cách mạng Lào (tháng2/1972), Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh thật sự đã đặt nền móng cho mối quan hệđặc biệt Việt Nam - Lào
Đó là mối quan hệ vừa bảo đảm lợi ích dân tộc, vừa bảo đảm kết hợp hài hòasức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, để cùng hướng tới mục tiêu chung là giảiphóng dân tộc và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa
Đúng như Chủ tịch Cay xỏn Phômvihản đánh giá: “Năm 1930, Đảng Cộng sảnĐông Dương do đồng chí Hồ Chí Minh sáng lập đã ra đời, là bước ngoặt lịch sử củacách mạng ba nước Đông Dương Từ đó trở đi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Mác-Lêninchân chính và với ngọn cờ cách mạng dân tộc, dân chủ cuộc đấu tranh cách mạng củanhân dân các bộ tộc Lào đã bước vào thời kỳ mới và với chất lượng mới hoàn toàn.”
Điều đó càng chứng tỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đóng góp về lý luận,đường lối, phương hướng cách mạng mà Người còn quan tâm đến cả việc tổ chức, chỉđạo thực tiễn cách mạng Lào
Sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào trong suốt nhiều thập kỉ quagắn liền với tên tuổi, công lao to lớn của Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản Sự cống hiếnsuốt cả cuộc đời mình cho dân, cho nước, cho Đảng thể hiện phẩm chất tuyệt vời củaChủ tịch Công lao và những cống hiến to lớn của Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản mãimãi được ghi vào sử sách của Lào
Chủ tịch Cayxỏn luôn nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng, đóng góp nhiệt tìnhvào sự nghiệp hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, nhất là các quốc giatrong khu vực Trong quan hệ quốc tế đó, đoàn kết với Việt Nam luôn là nhân tố quantrọng và được Chủ tịch dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt, liên minh chiến đấuthủy chung son sắt giữa Lào và Việt Nam Chính từ khói lửa của chiến tranh ác liệt vìđộc lập tự do cho dân tộc mình đã làm cho nhân dân hai nước, các chiến sĩ cách mạng
và các nhà lãnh tụ cao nhất của hai dân tộc gắn bó, kề vai sát cánh bên nhau và cùngnhau làm cách mạng, đánh bại các lực lượng thù địch và tiến lên theo con đường đãlựa chọn
Trong suốt thời gian lãnh đạo cách mạng Lào, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihảnluôn đánh giá cao vai trò của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào Trong cáccuốn sách, trong các bài phát biểu của mình, Chủ tịch luôn khẳng định chính sáchtrước sau như một của Đảng, Nhà nước, nhân dân Lào đối với Đảng, Nhà nước vànhân dân Việt Nam Phát biểu tại Hội nghị rút kinh nghiệm công tác tác chiến tại Lào,ngày 21/9/1965, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản đã nói: “Nhìn lại lịch sử 20 đấu tranh
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 19
Trang 21
vừa qua, bất kể trong hoàn cảnh nào, ở đâu, hai dân tộc anh em Lào - Việt Nam chúng
ta luôn luôn sống chết có nhau, cùng nhau làm cách mạng Thắng lợi của cách mạngViệt Nam là thắng lợi chung của chúng ta Hai anh em chúng ta đồng cam cộng khổ,bát cơm chia đôi, cọng rau bẻ nửa, sướng khổ có nhau, quan hệ giữa hai dân tộc làquan hệ đặc biệt”
Sau khi hai nước hoàn toàn được giải phóng năm 1975, quan hệ hai nướcchuyển sang giai đoạn mới Trong bài phát biểu chào mừng Đại hội lần thứ IV ĐảngCộng sản Việt Nam, ngày 15/12/1976, Chủ tịch Cayxỏn đã nói: “Trong lịch sử cáchmạng thế giới có nhiều tấm gương sáng về tình cảm quốc tế vô sản, nhưng chưa có khinào, chưa có ở nơi đâu có mối quan hệ đoàn kết chiến đấu đặc biệt lâu dài, toàn diệnnhư mối quan hệ Lào - Việt Nam Mối quan hệ đó đã trở thành mối quan hệ đặc biệt,thủy chung, trong sáng, mẫu mực, hiếm có và ngày càng được củng cố, phát triển vữngchắc Chúng tôi nguyện hết lòng vun đắp cho tình hữu nghị Lào - Việt Nam ngày mộtxanh tươi, đời đời bền vững”
Về phía Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào đã dành phần đất của mình để giúpViệt Nam xây dựng “Đường Hồ Chí Minh”, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” giảiphóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975 và tạo điều kiện cho cách mạng Làogiành thắng lợi hoàn toàn và thiết lập nên nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào ngày2/12/1975
Tình hữu nghị và đoàn kết đặc biệt Lào - Việt Nam là kết quả của việc vậndụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch HồChí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và Lào, là một trong những thành quảcách mạng của hai dân tộc, do nhân dân hai nước cùng nhau xây dựng nên và đượcxây đắp bằng công sức, xương máu của nhân dân hai nước
Ngày 18/7/1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào được ký kết, là
cơ sở pháp lý quan trọng, đánh dấu mốc phát triển mới của mối quan hệ hữu nghị vĩđại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dânhai nước, nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng pháttriển và bảo vệ đất nước của mỗi nước
Trải qua hơn 30 năm thực hiện, nhất là từ khi hai nước thực hiện công cuộc đổimới, trong tình hình hội nhập với nhiều biến động, nhiều khó khăn và thách thức dotác động của tình hình thế giới và khu vực, nhưng với truyền thống tốt đẹp của mốiquan hệ đặc biệt và dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và ĐảngCộng sản Việt Nam, quan hệ giữa hai nước ngày càng được tăng cường, mở rộng vànhất định sẽ giành được những thắng lợi to lớn hơn, chất lượng và hiệu quả cao hơn,thiết thực góp phần vun đắp cho mối quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt và sự hợp táctoàn diện Lào - Việt Đó cũng là thành quả được kết tinh từ lịch sử, từ sứ mệnh mà haiĐảng, hai dân tộc đã chung sức, chung lòng, chung vai gánh vác qua những chặngđường đầy khó khăn, gian khổ của cuộc đấu tranh giành độc lập và giải phóng đấtnước
Chủ tịch Cay xỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: “Sông có thể cạn, núi có thểmòn nhưng tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào mãi mãi bền vững”, “quan
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 20
Trang 22
hệ hữu nghị đặc biệt Lào - Việt Nam mãi mãi là tài sản vô giá, là hành trang không thểthiếu của hai dân tộc trên con đường xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa”.
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyềnthống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chíCay xỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhànước, nhân dân hai nước dày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sảnĐông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam Quan hệđặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, đầy hysinh, gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước, đãtrở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại củaViệt Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đấtnước, cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đối với nhân dân hai nướcViệt Nam, Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết,trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào cũng không thể chia táchđược Tính chất đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam khác căn bảnvới các quan hệ đối tác thông thường ở chỗ nó là quan hệ hợp tác toàn diện bao gồm
cả chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa và ưu tiên, ưu đãi cho nhau cao hơn cả cácquan hệ song phương khác Cần có một nhận thức thống nhất của cán bộ và nhân dânhai nước về tính chất đặc biệt này Cả hai bên cần có tầm nhìn rộng hơn, toàn diện vàlâu dài hơn chứ không chỉ ở các lợi ích kinh tế thuần túy và ngắn hạn
Với những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội sau hơn 20 năm tiến hành côngcuộc đổi mới và những chuyển biến quan trọng trong quan hệ hợp tác toàn diện ViệtNam - Lào, Lào - Việt Nam trong những năm qua đã tạo nên những điều kiện vật chất
to lớn thúc đẩy việc tiếp tục tăng cường hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - ViệtNam trong giai đoạn mới
4 Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từ năm 1976 đến nay Ý nghĩa và tầm quan trọng của Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (được ký kết ngày 18-7-1977)
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang hoàn toàn mới: từliên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độclập chủ quyền Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũ bão, đẩy nhanh
xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó, cácnước đang phát triển trong đó có Việt Nam và Lào đều có cơ hội và điều kiện thu hút vốnđầu tư, kinh nghiệm quản lý, sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ của thế giới đểđẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xây dựng đất nước…
Tuy nhiên, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hai nước ViệtNam và Lào đều phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh kéo dài 30 năm,đặc biệt là hậu quả thống trị của chủ nghĩa thực dân mới Nền kinh tế của Việt Nam vàLào về cơ bản còn hết sức lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào nước ngoài Điểm xuất phátcủa hai nước đều từ nền kinh tế nông nghiệp có trình độ canh tác, năng suất và sản lượng
Họ và tên: Nguyễn Thị Trang - Lớp: K18 - ĐHSP Lịch sử 21