Thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và tác hại của lạm dụng rượu bia ở một số vùng sinh thái của Việt Nam
Trang 1VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
HOÀNG THỊ PHƯỢNG
THỰC TRẠNG, CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
VÀ TÁC HẠI CỦA LẠM DỤNG RƯỢU BIA Ở MỘT SỐ
VÙNG SINH THÁI CỦA VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2009
Trang 2VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
HOÀNG THỊ PHƯỢNG
THỰC TRẠNG, CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
VÀ TÁC HẠI CỦA LẠM DỤNG RƯỢU BIA Ở MỘT SỐ
VÙNG SINH THÁI CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 62.72.76.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Trần Hiển
TS Đàm Viết Cương
HÀ NỘI - 2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu kết quả trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào khác
Nghiên cứu sinh
Hoàng Thị Phượng
Trang 4Trong quá trình học tập, nghiên cứu tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều
cá nhân, tập thể, các Thầy Cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn tới các Thầy hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương; TS Đàm Viết Cương, nguyên Viện trưởng, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tận tình và động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và viết luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Đào tạo SĐH và QLKH, Viện Vệ sinh Dịch
tễ Trung ương – Cơ sở đào tạo đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Dương Huy Liệu, nguyên Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài Chính, Bộ Y tế, Trưởng Dự án thành phần – Chương trình HTYT Việt Nam- Thụy Điển và TS Nguyễn Hoàng Long, phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính, Bộ Y tế đã hỗ trợ kinh phí và điều kiện thuận lợi để tôi tiến hành đề tài nghiên cứu
Tôi vô cùng biết ơn ThS Vũ Thị Minh Hạnh, phó Viện trưởng và các bạn đồng nghiệp Khoa Xã hội học Y tế, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế đã tham gia nghiên cứu cùng tôi và giúp đỡ tôi trong quá trình phân tích số liệu và viết luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn GS.TS Lê Quang Cường,Viện trưởng, ThS Trần Thị Mai Oanh, phó Viện trưởng, ThS Nguyễn Khánh Phương, Trưởng khoa Kinh tế
Y tế và các bạn đồng nghiệp,Viện Chiến lược và Chính sách Y tế đã tạo mọi điều kiện tốt nhất, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, học tập Tôi xin chân thành cảm ơn và coi đây là thành quả chung đã đạt được trong những năm qua
Xin trọng cảm ơn sự cộng tác nhiệt tình của Ủy ban Nhân dân các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và đặc biệt là ngành y tế tại những địa phương nghiên cứu
Và cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng đối với những người thân yêu trong gia đình, bạn bè, luôn là nguồn khích lệ to lớn của tôi, đã dành cho tôi sự động viên, chia sẻ về tinh thần, thời gian và công sức giúp tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu
NCS Hoàng Thị Phượng
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng rượu bia là một thói quen mang đậm nét văn hóa truyền thống tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Uống rượu bia với mức độ hợp lý có thể giúp kích thích tiêu hoá, ăn uống ngon miệng, cung cấp dinh dưỡng, bồi bổ cơ thể, đồng thời tạo được cảm xúc hưng phấn, tinh thần thoải mái, phấn chấn Tuy nhiên, rượu bia lại là chất kích thích, gây nghiện, do vậy người sử dụng rất dễ bị lệ thuộc với mức độ dung nạp ngày càng nhiều dẫn đến tình trạng lạm dụng rượu bia Lạm dụng rượu bia gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khoẻ cộng đồng và xã hội Các nghiên cứu khoa học trên thế giới
đã chứng minh rằng lạm dụng rượu bia làm tăng nguy cơ đối với nhiều bệnh tật
và có mối liên quan với hơn 60 loại bệnh khác nhau [129],[130] Rượu bia đứng hàng thứ 5 trong 10 nguyên nhân gây tử vong cao nhất trên toàn cầu Tổ chức Y
tế Thế giới ước tính hàng năm rượu bia và các vấn đề sức khoẻ liên quan đến rượu bia là nguyên nhân làm cho 1,8 triệu người chết, chiếm 3,2% trong tổng số
tử vong toàn cầu, tương đương 58,3 triệu năm sống khỏe mạnh được hiệu chỉnh
do chết non và tàn tật (DALYs) [149] Lạm dụng rượu bia còn khiến cho con người không làm chủ được hành vi, là nguyên nhân trực tiếp của nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng như: nghèo đói, tai nạn giao thông, bạo lực, tội phạm, tự tử Chi phí do lạm dụng rượu bia cũng tạo gánh nặng cho nền kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển Theo số liệu thống kê ở nhiều nước, phí tổn do rượu bia (bao gồm cả việc dung nạp và giải quyết hậu quả do rượu bia gây ra) thường chiếm từ 2% đến 5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) [146]
Ở nước ta trong những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, xu hướng sử dụng rượu bia ngày càng tăng Tình trạng sử dụng rượu bia tràn lan ở một số nơi
đã góp phần làm cho trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông trở thành những vấn đề đáng báo động
Trang 6Tuy nhiên, tương tự như nhiều nước đang phát triển, ở Việt Nam các số liệu liên quan đến mức độ sử dụng, lạm dụng và tác hại của rượu bia vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ Gần đây một số nghiên cứu về rượu bia và các vấn đề liên quan đến rượu bia mới được thực hiện như nghiên cứu của Bệnh viện Tâm thần Trung ương, Viện Sức khoẻ Tâm thần, Uỷ ban các Vấn đề Xã hội của Quốc hội Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới được thực hiện với quy mô nhỏ mang tính chất thăm dò tại một số địa phương, chưa phản ánh được một cách toàn diện và đầy đủ
về mô hình sử dụng, lạm dụng rượu bia, các yếu tố ảnh hưởng và hậu quả của việc lạm dụng rượu bia ở nước ta, các giải pháp, chính sách phòng chống lạm dụng rượu bia cũng chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng
Chính vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và tác hại của việc lạm dụng rượu bia ở một số vùng sinh thái của Việt Nam” với các mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng sử dụng và lạm dụng rượu bia trong cộng đồng 3 tỉnh Sơn La, Thanh Hóa và Bà Rịa – Vũng Tàu, năm 2005
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng và tác hại của việc lạm dụng rượu bia tại 3 tỉnh Sơn La, Thanh Hóa và Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 7CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ có liên quan
1.1.1 Khái niệm về rượu
Có nhiều định nghĩa về rượu Theo thành phần và cấu tạo hoá học thì
“Rượu là một hợp chất hữu cơ chứa các bon, hydro và oxy với công thức
C 2 H 6 O”
Quá trình sinh ra rượu diễn ra phổ biến trong tự nhiên, trong đời sống và trong công nghiệp Rượu được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp làm dung môi, chất chống đông, nguyên liệu sản xuất một số hóa chất và nhiên liệu Trong
đời sống rượu được dùng làm đồ uống, được tạo ra chủ yếu nhờ quá trình lên men tinh bột và đường có trong nhiều loại hoa quả và ngũ cốc
Trong lĩnh vực tâm thần học, rượu được coi là một loại thuốc tác dụng mạnh, có thể gây nhiễm độc cấp diễn (gây lên say rượu thông thường hoặc say rượu bệnh lý) hoặc nhiễm độc mãn tính gây hại cho nhiều cơ quan phủ tạng ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ, cả cơ thể lẫn tâm thần, nếu bị lạm dụng [36]
1.1.2 Phân loại về rượu:
Có thể phân loại rượu theo các tiêu chí khác nhau như sau:
• Theo mục đích sử dụng: rượu được chia làm 2 loại:
+ Rượu dùng để sản xuất (dung môi, chất tẩy ) được sản xuất với khối
lượng lớn, giá thành rẻ
+ Rượu dùng để uống
• Theo nguyên liệu và cách thức chế tạo: Đồ uống có cồn được chia theo nồng
độ cồn có bên trong đồ uống, gồm 5 loại như sau:
+ Brandy: chưng cất từ nước hoa quả, có nồng độ từ 40-50%
+ Whisky: chưng cất từ ngũ cốc có nồng độ 40-55%
+ Rum: chưng cất từ các loại hoa quả có hàm lượng đường cao với nồng
độ từ 40-55%
Trang 8+ Rượu vang/vang đỏ/rượu nấu/rượu sâm banh được sản xuất từ quả nho, đào, sơri có nồng độ từ 10-22%
+ Bia được sản xuất từ ngũ cốc, có nồng độ từ 4-8% [109]
+ Ở Việt Nam có rượu “tự nấu” hay còn gọi là “rượu trắng”, “rượu quốc lủi”, “rượu nút lá chuối”, được chưng cất thủ công từ gạo, ngô, khoai, sắn, có nồng độ từ 30-50%
• Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG): Các loại đồ uống có chứa cồn được
chế biến qua quá trình lên men và chưng cất được chia làm 3 loại như sau:
+ Bia: thường có độ cồn 5%
+ Rượu nhẹ: thường có độ cồn từ 12-15%
+ Rượu mạnh: có độ cồn khoảng 40%
1.1.3 Đơn vị rượu/cốc/chén chuẩn
“Đơn vị rượu” là một đơn vị đo lường dùng để quy đổi các loại rượu bia
với nồng độ khác nhau Hiện chưa có một quy ước hay thoả thuận nào về việc xác định một “đơn vị rượu chuẩn” chung cho mọi quốc gia, tuy nhiên gần đây các nước trên thế giới đã áp dụng tiêu chuẩn “Đơn vị rượu” thường có từ 8-14 gam rượu nguyên chất chứa trong dung dịch đó [104] Đơn vị rượu (1 unit of alcohol) hay được áp dụng nhất là đơn vị tương đương với 10g rượu nguyên chất chứa trong dung dịch uống Như vậy, 1 đơn vị rượu (sẽ tương đương: 1 lon bia 330ml 5%, 1 cốc rượu vang 125ml nồng độ 11%, 1 ly rượu vang mạnh 75ml nồng độ 20%, 1 chén rượu mạnh 40ml nồng độ 40%) [104]
1.1.4 Mức an toàn trong sử dụng rượu bia
Mức độ an toàn trong sử dụng rượu bia được đề ra trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về các nguy cơ do rượu bia gây ra đối với sức khoẻ Mức độ được coi là an toàn là không quá 3 đơn vị rượu/ngày đối với nam và không quá 2 đơn
vị rượu/ngày đối với nữ [103] Với mức độ dung nạp này hậu quả của rượu bia đối với sức khoẻ thường ở mức tối thiểu Nhiều nước trên thế giới đã tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân những khuyến nghị về mức độ sử dụng rượu bia
Trang 9an toàn Mức độ này được tính theo ngày hoặc tuần, rất khác nhau giữa các quốc gia và thường có sự khác biệt đối với nam và nữ: với nam từ 20-24g/ngày (Cộng hòa Séc, Phần Lan, Nhật Bản ) đến trên 40g/ngày (Australia, Mỹ, New Zealand), với nữ từ 16-24g/ngày (Cộng hòa Séc, Australia, Italia ) đến 39-40g/ngày (Hà Lan, New Zealand) Có hai quốc gia không phân biệt lượng rượu
sử dụng/ngày giữa nam và nữ (Hà Lan,Thụy Điển) Những quốc gia có khuyến nghị sử dụng lượng rượu cao trong ngày thường hạn chế lượng rượu theo tuần như New Zealand (60g/ngày hoặc 210g/tuần đối với nam, 40g/ngày hoặc 140g/tuần đối với nữ ) [104]
vị rượu mỗi ngày; nam giới uống trên 21 đơn vị rượu mỗi tuần hoặc hơn 3 đơn vị rượu mỗi ngày được coi là lạm dụng rượu bia [35]
1.1.7 Uống rượu bia quá chén
Theo định nghĩa của Viện Nghiên cứu Quốc gia về lạm dụng rượu bia và nghiện rượu bia của Hoa Kỳ, uống rượu bia quá chén là: nam uống từ 5 đơn vị rượu nguyên chất trở lên trong 1 lần uống; nữ uống từ 4 đơn vị rượu trở lên trong một lần uống, ít nhất một lần trong hai tuần qua [107]
1.1.8 Nghiện/lệ thuộc rượu bia
Nghiện rượu theo ý niệm xã hội là sự thèm muốn (nhu cầu mãnh liệt về uống rượu), mất kiểm soát (không thể ngừng uống rượu mặc dù rất muốn thế),
Trang 10tăng mức độ dung nạp, ảnh hưởng đến thể chất và xuất hiện dấu hiệu suy thoái [36] Năm 1992, trong Bảng Phân loại Bệnh tật Quốc tế (ICD-10), TCYTTG đã liệt kê nghiện rượu nằm trong nhóm bệnh lý nghiện chất Toxicomanie được mã
hóa từ F10-F19 với những tiêu chí nhận diện khá cụ thể như sau:
+ Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu
+ Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng: thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc, mức sử dụng
+ Xuất hiện hội chứng cai khi ngừng sử dụng rượu hoặc giảm liều
+ Tăng mức độ dung nạp
+ Dần dần sao nhãng những thú vui hoặc sở thích trước đây
+ Vẫn tiếp tục uống mặc dù đã hiểu rõ tác hại của rượu đối với cơ thể và tâm thần
Khi có từ 3 biểu hiện nêu trên trở lên trong vòng 1 năm sẽ được chẩn đoán
là nghiện rượu bia Tuy nhiên, quá trình nghiện rượu bia diễn ra chậm, khó nhận biết và qua 4 giai đoạn bao gồm giai đoạn triệu chứng, giai đoạn tiền nghiện, giai đoạn nguy kịch và giai đoạn mãn tính [34], [147]
1.2 Tình hình sử dụng, lạm dụng rượu bia ở Việt Nam và trên thế giới
1.2.1 Tình hình sử dụng, lạm dụng rượu bia trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình sản xuất rượu bia trên thế giới
Rượu bia là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của con người Việc sản xuất những mặt hàng này đã có quá trình phát triển lâu đời trên thế giới, những sản phẩm lên men từ lúa mạch ở châu Âu, và lúa gạo ở châu Á đã được biết
từ hàng ngàn năm trước đây
Trong 10 năm cuối của thế kỷ XX, ngành công nghiệp bia trên thế giới đã tăng trưởng từ 2% đến 8%/năm Bước sang năm 2001, tổng sản lượng bia đã vượt qua con số 140 tỷ lít Hiện nay, châu Mỹ là nơi sản xuất bia nhiều nhất thế giới, vượt qua sản lượng bia của toàn châu Âu Tại châu Á, trong những năm gần đây, thị trường bia cũng đã có những bước phát triển nhảy vọt, sản lượng bia
Trang 11toàn châu lục hiện đã tăng lên gấp đôi so với 10 năm về trước, dẫn đầu là Trung Quốc - nước sản xuất bia nhiều thứ 2 trên thế giới Theo dự đoán của các nhà chuyên môn, sản lượng bia của Trung Quốc sẽ chiếm khoảng 21% sản lượng bia toàn cầu vào năm 2010 Các nước Đông Nam Á hiện cũng đang được các nhà đầu tư về sản xuất rượu bia đặc biệt quan tâm vì đây là những thị trường giàu tiềm năng, có mật độ dân số cao, thời tiết nóng ẩm và nền kinh tế đang phát triển Đối với ngành công nghiệp rượu, Pháp và các nước Nam Mỹ vẫn luôn đứng đầu về sản xuất và tiêu thụ với mức tăng trưởng đạt 3% [45] Biểu đồ 1.1 dưới đây cho thấy rõ, việc sản xuất và cung cấp rượu bia toàn cầu đã không ngừng gia tăng trong vòng 1 thập kỷ qua, đặc biệt là rượu mạnh, sau đó đến bia Rượu vang (rượu nhẹ) cũng có xu hướng tăng mạnh vào những năm đầu của thế
Trang 121.2.1.2 Tình hình tiêu thụ rượu bia trên thế giới
Việc ước tính mức độ tiêu thụ rượu bia thường dựa vào số liệu sản xuất và lưu thông Lượng rượu bia tiêu thụ thực tế thường lớn hơn nhiều so với số lượng được báo cáo vì có một lượng lớn rượu bia không được đăng ký do nhập khẩu bất hợp pháp (buôn lậu) hoặc do dân tự sản xuất, đặc biệt nhiều ở châu Phi một
số nghiên cứu đã ước tính lượng rượu bia tiêu thụ không đăng ký ở Nam Phi là khoảng 85%, Tanzania 90% và Kenya 85% [148]
Các nước ở khu vực châu Âu có mức độ sử dụng rượu bia cao nhất trên thế giới Mức độ sử dụng của hầu hết các nước ở khu vực này vượt trội hơn so với các nước đang phát triển có mức tiêu thụ khoảng 2 lít rượu/đầu người dân/năm Đối với
38 nước có số liệu báo cáo năm 1998 thì mức độ tiêu thụ bình quân đầu người/năm là 7,3 lít, thấp nhất là 0,9 lít/người/năm (Azerbaijan, Israel), cao nhất là 13,3 lít/người/năm (Luxembourg) [148] Mức độ sử dụng rượu không đăng ký khá cao ở một số quốc gia như Macedonia (14,5 lít/người), Ucraina (11,5 lít/người)
Tại khu vực Đông Nam Á, mức độ tiêu thụ rượu bia có xu hướng tăng trong vòng 10 năm (1990-2000) Mức độ tiêu thụ rượu bia trung bình người/năm
ở các nước này là 2 lít Thái Lan và Trung quốc là hai quốc gia có mức tiêu thụ rượu bia cao nhất và tăng nhanh nhất so với các quốc gia khác cùng khu vực (lần lượt là 13,58 lít và 5,16 lít/người/năm) Tuy nhiên, số liệu thực tế cao hơn rất nhiều so với số báo cáo vì có một số lượng lớn lượng rượu bia tiêu thụ không đăng ký do rượu tự nấu và rượu nhập lậu Ví dụ như ở Việt Nam, sản lượng rượu
tự nấu chiếm tới 90% lượng rượu tiêu thụ hàng năm, nhưng loại rượu này hiện nay không ai kiểm soát [45]
Khi so sánh số liệu rượu tiêu thụ đăng ký được của 32 nước châu Âu trong vòng 10 năm, Nina Rehn cũng phát hiện ra rằng khuynh hướng sử dụng rượu bia rất khác nhau giữa các nước Có những nước số lượng rượu bia tiêu thụ tăng lên như Thổ Nhĩ Kỳ (tăng 175%), Liên Xô cũ (79%), Belarus (67%), Ai Len (56%), Latvia (45%), và Cộng hòa Séc (26%), các nước thuộc khu vực châu Á- Thái
Trang 13Bình Dương Một số quốc gia có xu hướng giảm lượng rượu bia tiêu thụ như Bulgary, Estonia, Italy, Switzerland, Ukraine Tuy nhiên, ở Estonia và Ukraine
số lượng rượu bia tiêu thụ không đăng ký được lại rất cao Một số nước có xu hướng ổn định như: Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Anh, Hà Lan Các nước ở khu vực Trung và Nam Mỹ, khu vực Cận Shahara châu Phi cũng có xu hướng giảm nhẹ [111] Các nước châu Âu chủ yếu sử dụng rượu vang và bia được sản xuất công nghiệp với sản lượng lớn bởi các công ty, tập đoàn lớn, có truyền thống lâu đời như rượu vang Pháp, rượu wishky của Anh, các công ty bia xuyên quốc gia như Heineken, Carlsberg
Ngược lại, hầu hết các nước đang phát triển chủ yếu sử dụng các loại rượu bia truyền thống do chính nước họ sản xuất (thường là những loại rượu/bia tự nấu tại nhà hoặc sản xuất thủ công) Ví dụ, người Hàn Quốc thường uống rượu soju và rượu makkolli, Nhật Bản uống rượu Sake, Việt Nam uống rượu trắng, Malaysia uống rượu Arak, Toddy hay Samsu… Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển, khuynh hướng sử dụng các đồ uống sản xuất công nghiệp bởi các công ty đa quốc gia đang dần tăng lên do quá trình toàn cầu hoá Chỉ riêng 10 công ty sản xuất bia hàng đầu thế giới (phần lớn có trụ sở chính tại châu Âu và Mỹ) đã sản xuất tới 42% lượng bia trên toàn thế giới
1.2.1.3 Tình hình sử dụng rượu bia trên thế giới
Mô hình sử dụng rượu bia chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố kinh tế,
xã hội [60], [102] Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy mô hình sử dụng rượu bia rất khác nhau giữa các quốc gia, giữa các nhóm tuổi, giới, và mức độ sử dụng Ước tính 1/3 dân số thế giới (hơn 2 tỉ người) có sử dụng rượu bia 80% số người trên 15 tuổi ở Tây Âu, Đông Âu và các nước phát triển ở Tây Thái Bình Dương, 57% dân số ở các nước đang phát triển có sử dụng rượu [65], [74], [150] Theo kết quả điều tra quốc gia hộ gia đình ở Mỹ năm 2001, 84% dân số
Mỹ trên 12 tuổi đã từng uống rượu Tại Scotland, nam sử dụng rượu bia nhiều hơn nữ ít nhất 1 lần/1 tuần (nam: 73%, nữ 59%), người già sử dụng rượu nhiều
Trang 14hơn đối tượng trẻ, 29% nam giới ở lứa tuổi 65-74 uống rượu trên 5 ngày/tuần, tỷ
lệ này trong nhóm từ 16-24 tuổi chỉ có 9% [51] Ở Canada, 82% nam giới và 76,8% nữ giới trên 15 tuổi có uống rượu [76], ở New Zealand, tỷ lệ này lần lượt
là 88% và 83% [48] Tại Nga và Ukraina tỷ lệ sử dụng rượu bia chiếm khá cao ở
cả nam và nữ (90%) [119]
Tại các nước đang phát triển những người uống rượu bia chủ yếu là nam giới, tỷ lệ nữ giới sử dụng rượu bia thấp hơn, trong khi ở các nước phát triển nữ giới sử dụng rượu bia gần tương đương với nam giới Điều này được lý giải rằng
ở các nước phát triển nữ giới bình đẳng hơn so với các nước đang phát triển, văn hóa (phong tục tập quán, tôn giáo ) của mỗi nước, mỗi dân tộc cũng tác động đến mô hình sử dụng rượu bia Tại khu vực Đông Nam Á, ước tính khoảng 45% nam giới trên 15 tuổi có sử dụng rượu, trong khi ở nữ tỷ lệ này chỉ có 5% [85] 58,3% nam giới ở Ấn Độ có uống rượu, số nữ giới uống rượu chỉ chiếm 1,5% Malaysia là một quốc gia phần lớn dân số theo đạo Hồi nhưng số liệu điều tra cho thấy 12% dân số có uống rượu bia, trong đó chủ yếu là nam giới Lào, 19,2% nam giới và 5,3% nữ giới uống rượu bia Bangladesh và Ấn Độ (26% ở nam và 4% ở nữ) [85] Một nghiên cứu tiến hành tại 5 tỉnh của Trung Quốc trên 23.842 đối tượng trong độ tuổi từ 15 đến 65 cho kết quả 82,6% nam giới có uống rượu Có 16,1% nam giới uống rượu hàng ngày Lứa tuổi uống rượu nhiều nhất
là 30-49 tuổi, có trình độ học vấn phổ thông trung học trở lên Tỷ lệ nghiện rượu trong nhóm nam giới là 6,6% [145]
1.2.1.4 Tình hình lạm dụng rượu bia trên thế giới
Lạm dụng rượu bia: Theo số liệu báo cáo toàn cầu về rượu bia của
TCYTTG năm 2004 tại 42 nước, tỷ lệ người lạm dụng rượu bia tuổi từ 18 trở lên rất khác nhau giữa các quốc gia Tỷ lệ lạm dụng ở nam giới: cao nhất là trên 50% ở Cambodia và Georgia, 5 quốc gia có tỷ lệ từ 22% trở lên (Cộng hòa Séc, Nhật Bản, Nigenia; Uganda và Vương quốc Anh); 5 nước có mức độ lạm dụng
từ 16,6% đến 20.0% (Áo, Brazil, Bulgaria, Mexico), còn lại 32 quốc gia có mức
Trang 15lạm dụng rượu bia từ 1,1% lên đến 10,8% Ở hầu hết các nước, tỷ lệ lạm dụng rượu bia ở nữ đều thấp hơn nam giới rất nhiều, tuy nhiên cũng có một số nước tỷ
lệ lạm dụng ở nữ giới cao hơn nam giới như ở Anh (nữ 42,0% và nam là 39%); Nigeria (nữ là 36,1%, nam là 27,8%); Brazil (nữ 18,8%, nam là 17,8%) [143]…
Uống quá chén: Số liệu của một số nước đã cho thấy tỷ lệ người uống quá
nhiều rượu trong một lần uống đến mức say xỉn trong số những người sử dụng rượu Những nghiên cứu gần đây nhất đã đưa ra tỷ lệ những người sử dụng rượu đến say xỉn như là một chuẩn mực đối với đàn ông và cả nữ giới là khoảng 32%
ở Ireland [119] Tỷ lệ này ở New Zealand năm 2000 là 19% đối với nam và 9% với nữ ít nhất 1 tuần/lần [72], ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên là 63,4% nam và 57,8% nữ uống quá chén trong số những người uống rượu bia [105] Tại châu Phi, một nghiên cứu ở Nigeria cho biết có 52% nam và 40% nữ uống rượu quá chén trong một năm, trong số những người uống rượu thì việc uống quá chén được thực hiện thường xuyên [79] Một cuộc điều tra tương tự được tiến hành ở Uganda cũng chỉ ra rằng có 46% nam và 17,6% nữ uống rượu bia quá chén [138]
Nghiện rượu: Dựa theo phân loại quốc tế ICD-10, báo cáo của Tổ chức Y
tế Thế giới (2004) cũng đã xác định tỷ lệ nghiện rượu của những người trưởng thành tuổi từ 18 trở lên của một số quốc gia Mỗi quốc gia có mô hình nghiện rượu riêng theo giới và theo nhóm tuổi Một số quốc gia có tỷ lệ người nghiện rượu rất cao như ở Nam Phi (27,6% nam và 9,9% nữ); Ba Lan (23,3% nam và 4,1% nữ); Peru (17,8 nam và 4,3% nữ); Pháp (nam 13,3% và nữ là 4,1%) trong khi tỷ lệ này rất thấp, khoảng 0,1-1% ở Singapore, Thổ Nhĩ Kỳ, Indonexia, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Ai Cập [143]
Thanh niên, vị thành niên với rượu bia cũng là vấn đề đáng báo động ở
nhiều quốc gia trên thế giới Uống rượu để say được coi như là “một sở thích” hoặc để “thể hiện mình” của một số nhóm thanh niên Ở các nước phương Tây, những năm gần đây xuất hiện hiện tượng thanh thiếu niên uống một lượng lớn
Trang 16rượu mạnh trong thời gian ngắn để nhanh chóng vào trạng thái say ngày càng nhiều Đáng lo ngại hơn, những con “ma men” thời hiện đại ngày càng “trẻ hóa” [92] Tại Pháp, tuổi trung bình của thanh thiếu niên uống rượu lần đầu tiên đã giảm xuống còn 12 tuổi, 57% thiếu niên 17 tuổi thừa nhận đã từng say xỉn, trong
đó 11% cho biết thường xuyên uống rượu và khoảng 10% khẳng định từng say xỉn ít nhất 10 lần trong năm qua Trong giai đoạn từ 2004 - 2007, số thanh thiếu niên người Pháp tuổi 15 - 24 và cả lứa tuổi dưới 15 phải nhập viện do say xỉn tăng 50% Tại Australia, cứ 10 thanh thiếu niên tuổi từ 12 - 17, có một người uống rượu quá chén ít nhất một lần/tuần Khoảng 13% thanh thiếu niên lái xe khi say rượu và 16% thanh thiếu niên đến trường trong trạng trái say xỉn Đáng chú
ý “phái yếu” cũng ngày càng tỏ ra không muốn thua kém nam giới trong chuyện uống rượu Số liệu thống kê của cảnh sát Anh công bố đầu tháng 5-2008 cho thấy số phụ nữ nước này bị bắt vì say rượu và gây mất trật tự đã tăng hơn 50% trong vòng 5 năm qua (2003-2008) Theo báo cáo về tình hình rượu bia toàn cầu (2004), những nước có tỷ lệ trẻ vị thành niên lạm dụng rượu bia khá cao là Đan Mạch, Canada, Hà Lan, Hungary, Vương quốc Anh [143]…
1.2.2 Tình hình sử dụng, lạm dụng rượu bia ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rượu bia ở Việt Nam
Ở Việt Nam từ xa xưa người Việt cổ đã biết sử dụng ngũ cốc nấu chín để làm rượu từ các loại men có sẵn trong tự nhiên (Men lá ở vùng rừng núi, những thứ nấm và men sẵn có ở vùng đồng bằng) và rượu được sản xuất theo phương pháp thủ công vẫn tồn tại từ đó cho đến nay Rượu, bia được sản xuất theo phương pháp công nghiệp xuất hiện ở Việt Nam từ thời kỳ Pháp đô hộ với sự có mặt của các công ty và tập đoàn tư bản Pháp đầu tư sản xuất tại Việt Nam Trải qua nhiều thăng trầm cùng với sự phát triển của đất nước, sản xuất rượu, bia ngày càng phát triển và trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và trong ngành công nghiệp của Việt Nam Trong 10 năm trở lại đây ngành rượu bia đã phát triển với tốc độ cao, nhiều cơ sở được xây dựng với trang thiết bị hiện đại, sản xuất ra
Trang 17nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, phong phú về chủng loại và về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng
Đối với sản xuất bia: Tính đến năm 2008 toàn ngành có 151 cơ sở sản xuất tại 52 tỉnh thành trên cả nước với tổng năng lực sản xuất là 2.713 triệu lít/năm Trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2008 sản lượng bia tăng bình quân 14% Năm
2008 sản lượng bia đạt trên 2 tỷ lít/năm, dự báo đến năm 2010 đạt 2,6 tỷ lít/năm
Đối với sản xuất rượu: Tính đến năm 2008 trên cả nước có 78 cơ sở sản xuất rượu với quy mô công nghiệp với năng lực sản xuất là 107 triệu lít/năm Trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2008 sản lượng rượu tăng bình quân 14%, năm 2008 sản lượng rượu ước đạt 340 triệu lít, dự báo đến năm 2010 đạt 362 triệu l ít/năm [20] Bên cạnh rượu sản xuất theo quy mô công nghiệp còn có rượu tự nấu theo phương pháp truyền thống với quy mô nhỏ, thiết bị thô sơ, chủ yếu ở vùng nông thôn Việt Nam với sản lượng ước khoảng từ 250 đến 300 triệu lít/năm
Sự gia tăng nhanh chóng về mặt hàng rượu bia trên thị trường đã kéo theo mức tiêu thụ rượu bia bình quân/người/năm ngày một tăng Năm 2007, mức tiêu thụ bình quân đầu người/năm đối với bia là 22 lít, với rượu là 4lít So với mức tiêu thụ bình quân đầu người thế giới (6 lít rượu/người/năm) thì mức tiêu thụ rượu bia bình quân ở nước ta không cao nhưng điều đáng lo ngại là phần lớn (85- 90%) sản lượng tiêu thụ rượu trên thị trường là rượu tự nấu theo phương pháp
truyền thống, thường có hàm lượng độc tố cao có hại cho sức khoẻ Rượu tự nấu
được sử dụng rất rộng rãi ở nông thôn và những đối tượng có thu nhập thấp Ngoài
ra còn một số loại rượu ngoại nhập, khoảng gần 9 triệu lít/năm (2008), loại rượu này thường được một nhóm nhỏ có thu nhập cao ở những thành phố lớn sử dụng [20] Ngoài ra, trên thị trường Việt Nam còn một lượng lớn rượu lậu, rượu giả nhãn mác nhập khẩu, được lưu hành công khai và rộng rãi, rất khó kiểm soát
1.2.2.2 Tình hình sử dụng, lạm dụng rượu bia ở Việt Nam
Sử dụng rượu bia: Tại Việt Nam, từ rất xa xưa việc sử dụng rượu đã phổ
biến, được coi là món “quốc hồn, quốc túy” không thể thiếu, nhất là những dịp
Trang 18lễ, hội, sum họp Ở mỗi gia đình, mỗi cộng đồng không thể thiếu rượu – sản phẩm đã trở thành nét văn hoá sâu đậm của người dân Việt Nam Theo kết quả của Điều tra y tế quốc gia năm 2001, 53% hộ gia đình có ít nhất 1 người uống rượu bia trong tuần qua, tỷ lệ nam giới tuổi từ 15 trở lên uống rượu bia ít nhất 1 lần trong 1 tuần là 46% và nữ giới là 2% Tỷ lệ nam giới uống rượu trong những người làm công tác quản lý, lãnh đạo là 69%, nhân viên văn phòng là 67%; người dân tộc thiểu số uống rượu nhiều hơn dân tộc Kinh; 90% người uống rượu
vụ, buôn bán 20% [38] Nghiên cứu của Kim Bảo Giang tại huyện Ba Vì, Hà Tây cũng cho kết quả tương tự [90]
Lạm dụng rượu và nghiện rượu: Từ năm 1994, ngành tâm thần đã khởi
xướng việc điều tra dịch tễ lâm sàng rối loạn rượu tại một số địa phương trong cả nước Kết quả của các nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ lạm dụng rượu ở thành phố cao hơn so với ở nông thôn (5-10,4% so với 0,5-1,2%) Tỷ lệ nghiện rượu cũng tương tự: 1,1-3,6% so với 0,1-0,4% Phần lớn những người lạm dụng rượu đã sử dụng rượu trắng; lứa tuổi bắt đầu uống rượu là từ 21-30 tuổi (53,8-80%) Tỷ lệ uống rượu hàng ngày từ 50-100% [44] Nghiên cứu về rượu tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây của Trần Văn Cường và các cộng sự [19] cũng cho biết tỷ lệ lạm dụng rượu là 2,1%; nghiện rượu 0,7% Tỷ lệ lạm dụng rượu tập trung nhiều nhất ở lứa tuổi 25-44 tuổi: 51,4% Lạm dụng rượu và nghiện rượu nhiều nhất là nhóm thợ mộc: 92,3%; tiếp đến là nhóm thợ nề: 64% và lái xe
là 57,1%; ít nhất là những người làm ruộng Năm 2002, Bùi Sỹ Khoái và các
Trang 19cộng sự cũng đã tiến hành nghiên cứu tình hình lạm dụng rượu tại 1 phường của thành phố Hải Phòng cho biết tỷ lệ lạm dụng rượu là 4,8% trong đó nam chiếm 93,9%; nữ chiếm 6,1%; Nghiên cứu tại phường Trung Trực, Hà Nội cho thấy 6,7% nam giới lạm dụng rượu bia, tập trung cao nhất ở nhóm công nhân lái xe (68% trong số người lạm dụng) trong khi nghiện rượu tập trung ở nhóm lao động
tự do [25] Mức độ lạm dụng rượu bia ngày càng tăng nhanh Nghiên cứu về lạm dụng và nghiện rượu tại xã Quất Động, Thường Tín Hà Tây do Bùi Thế Khanh
và các cộng sự tiến hành cho thấy tỷ lệ lạm dụng rượu là 2,4%, nghiện rượu là 0,4% dân số; trong số những người uống rượu, bia 75,9% bắt đầu sử dụng trong
độ tuổi 15-34 và 99,2% là nam giới Số người sử dụng rượu trắng (rượu tự nấu) chiếm 89,9%; chỉ có 1,5% sử dụng bia; 42,3% đối tượng lạm dụng rượu uống 300-500 ml rượu/ngày, trung bình một người lạm dụng rượu sử dụng hết 12 lít rượu/tháng [24] Nghiên cứu về lạm dụng rượu trong cán bộ công chức thành phố Huế do Nguyễn Hữu Kỳ ở Trường Đại học Y Huế thực hiện năm 2001 trên 150 người được chọn từ 256 cán bộ công chức y tế đang làm việc ở thành phố Huế theo phương pháp chọn mẫu chùm Thông tin thu thập bằng phát phiếu tự điền Kết quả cho thấy tỷ lệ lạm dụng rượu trong cán bộ y tế thành phố là 17,9%; nghiện rượu là 0,78% 75% uống rượu dù biết rất có hại cho sức khoẻ, 62% có khó khăn về kiểm soát thời gian bắt đầu và kết thúc uống [26] Nghiên cứu của Kim Bảo Giang về các vấn đề sức khỏe liên quan rượu bia tại huyện Ba Vì, khám lâm sàng trên 585 đối tượng từ 18 đến 60 tuổi năm 2003 cho thấy ở nam giới tỷ lệ nghiện rượu là 8% Cũng tại Ba Vì, năm 2004 sử dụng bộ câu hỏi AUDIT trên 3.423 đối tượng
đã phát hiện 25,5% nam có các vấn đề về rượu [90] Nghiên cứu thực trạng sử dụng rượu bia và một số yếu tố liên quan đến lạm dụng rượu bia của nam giới trong độ tuổi lao động xã Việt Đoàn, Tiên Du, Bắc Ninh năm 2007 cũng cho biết
tỷ lệ lạm dụng rượu trong nhóm nam giới là 10,7% tập trung chủ yếu ở lứa tuổi 45-54 (42,4%), có trình độ học vấn cấp 2 trở lên (78,8%) và là nông dân (45,5%) [1]
Trang 20Vị thanh niên và thanh niên sử dụng rượu bia (VTN&TN): Một nghiên cứu đã
được tiến hành trên phạm vi toàn quốc về vị thành niên và thanh niên (SAVY) tuổi
từ 14-25 đã và chưa lập gia đình ở các vùng thành thị, nông thôn, dân tộc thiểu
số thuộc 42 tỉnh và thành phố Kết quả cho thấy 69% nam thanh niên và 28,1%
nữ thanh niên đã từng uống bia, rượu, trong đó ở thành phố chiếm 56,9%, nông thôn là 46% Nhóm thanh niên uống nhiều rượu có xu hướng hút thuốc lá nhiều hơn nhóm ít uống rượu (78,6% so với 46%), có xu hướng quan hệ tình dục nhiều hơn (29,4% so với 10,2%) và cũng có xu hướng tham gia vào những hành vi nguy cơ như đua xe, phá rối trật tự công cộng Trong số thanh niên đã từng uống rượu, bia có 58% nam và 30% nữ đã từng say ít nhất một lần, nếu tính theo tổng
cỡ mẫu nghiên cứu thì tỷ lệ này là 39,7% nam và 8,5% nữ Số lần say trong số vị
thành niên có uống rượu bia trong tháng trước điều tra là 0,72 lần [6] Một
nghiên cứu được tiến hành về sử dụng rượu bia trong nhóm VTN&TN ở tại huyện Chí Linh (Hải Dương) cũng cho biết tỷ lệ đã từng sử dụng rượu bia của VTN&TN trong toàn mẫu là 43,8%, (độ tuổi 15-24 là 55,6%); nam 57,4%, nữ 30,7%; khu vực thị trấn 47,7%, khu vực xã 40,2% Tỷ lệ sử dụng rượu bia tăng
tỷ lệ thuận với sự tăng lên của độ tuổi, trình độ học vấn, mức độ giàu có của điều kiện kinh tế gia đình; những người làm nghề tự do, không ổn định hay thất nghiệp có tỷ lệ uống cao hơn Tỷ lệ sử dụng rượu bia ở nam đã kết hôn là 84,3%, chưa kết hôn là 56,6%; ở nữ tương ứng là 29,3% và 30,9% Trên toàn mẫu có 21,5% đối tượng nghiên cứu đã từng say (nam 33,4%, nữ 10,1%) Trong số đã từng sử dụng rượu bia 46,3% đã từng say (độ tuổi 15-24 là 48,8%), nam là 55,6%; nữ là 29,6%; khu vực thị trấn 45,6%, khu vực xã 46,9% [23]
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng, lạm dụng rượu bia
Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã tìm thấy mối liên quan
chặt chẽ giữa hành vi uống rượu ở các mức độ khác nhau với các yếu tố như tuổi, giới, trình độ học vấn, ảnh hưởng, sự lôi kéo của bạn bè và người thân trong gia đình Nghiên cứu về sử dụng rượu bia và tác hại của rượu bia ở Cận Sahara
Trang 21châu Phi đã cho biết có sự khác biệt rất lớn về giới trong việc sử dụng rượu bia Bức tranh về sự khác biệt về giới ở châu Phi trong sử dụng rượu bia cũng giống như ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Nam giới được báo cáo uống nhiều rượu bia hơn nữ giới và nam thường uống với mức độ quá chén (heavy drinking/binge drinking) hơn so với nữ giới [80] Một nghiên cứu cắt ngang về giới trong sử dụng rượu bia tại 16 quần thể nghiên cứu của 10 bang của nước Mỹ cũng đã phát hiện nam giới uống rượu với mức độ khá nhiều, với tần suất cao và
có khả năng bị các tác động có hại do rượu hơn nữ giới [97], [112], [130], [142], [50], [58], [61] Sự khác biệt khá mạnh về khía cạnh giới còn được thể hiện khá
rõ ở các nước khu vực châu Âu, Đông Nam Á, các nước theo đạo Hồi Và ở Việt Nam, tỷ lệ nam giới uống rượu, mức độ uống và tần suất uống cao hơn nữ rất nhiều [23], [38], [86], [95] Tuy nhiên, ở một vài nước như Nigeria, Nam Phi và Ethiopia thì ngược lại, nữ giới lại được phản ánh thường xuyên uống rượu bia với một lượng uống nhiều hơn nam giới [80]
Tuổi cũng ảnh hưởng khá rõ tới mô hình uống rượu bia Ở Việt Nam và các nước khác trên thế giới đã chứng minh ở độ tuổi từ 25-44 mức độ sử dụng rượu bia cũng như tần suất uống rượu bia tăng lên khá nhanh theo chiều tăng của tuổi, nhưng đến tuổi từ 45 trở đi thì có xu hướng giảm nhẹ, cho đến tuổi 60 trở đi thì mức độ giảm rất đáng kể [23], [54], [78], [113], [116], [148]
Một số nghiên cứu ở Việt Nam về việc sử dụng rượu bia của vị thành niên
và thanh niên cũng cho biết có mối liên quan về trình độ học vấn với hành vi uống rượu bia, theo hướng trình độ học vấn càng cao thì sử dụng rượu bia càng nhiều [1], [6], [7], [23] Điều này được lý giải có thể là do vị thành niên và thanh niên có học vấn càng cao thì càng lớn tuổi, sống độc lập hơn, quan hệ với bạn bè nhiều và có khả năng làm ra tiền, do vậy có điều kiện tiếp cận và uống rượu bia nhiều hơn
Việc sử dụng rượu cũng bị ảnh hưởng khá lớn bởi người thân trong gia đình và bạn bè xung quanh Nghiên cứu SAVY và nghiên cứu về thực trạng và
Trang 22các yếu tố ảnh hưởng về sử dụng rượu bia tại Chí Linh, Hải Dương đã chỉ ra rằng vị thành niên và thanh niên tuổi từ 10-24 có người thân trong gia định sử dụng rượu thì sẽ uống rượu nhiều hơn gấp 1,45 lần so với những em không có người thân uống rượu và 2,7 lần nếu có bạn sử dụng rượu bia so với những em không có bạn sử dụng rượu bia [6], [23]
Bên cạnh các yếu tố cá nhân, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán và chuẩn mực hành vi cũng là những nhân tố quan trọng chi phối trực tiếp tới mức
độ lạm dụng rượu bia của mỗi cá nhân cũng như từng khu vực Định kiến, quan niệm của cộng đồng về hành vi sử dụng rượu bia của từng cá nhân có sự khác
biệt rất rõ theo mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo…[127] Các nghiên cứu
về mô hình sử dụng rượu bia đã cho một sự hiểu biết khá rõ về sự đa dạng của các loại văn hóa uống rượu bia tồn tại trên thế giới và vai trò khác nhau của rượu bia trong xã hội Từ sự hiểu biết này có thể rút ra bài học kinh nghiệm từ sự giống và khác nhau về văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và mỗi tôn giáo
[77] Sự khác biệt về yếu tố văn hóa có ảnh hưởng khá rõ tới cả mức độ sử dụng
rượu và mô hình sử dụng rượu bia [93] Uống rượu bia là một hành động được nhiều xã hội chấp nhận và được coi là một nét văn hoá truyền thống của nhiều quốc gia Rượu bia thường hay được sử dụng trong các dịp lễ, hội, các cuộc vui chơi giải trí, các sự kiện văn hoá, thể thao lớn…[133], [144] Hơn nữa, ở nhiều quốc gia, mức độ tiêu thụ rượu bia gia tăng mạnh vào những ngày công nhân
được nhận lương, còn được gọi là “pay-day drinking” [135], [153] Những cá
nhân sinh ra trong gia đình có truyền thống lạm dụng rượu bia và nghiện rượu bia cũng rất dễ trở thành người nghiện rượu bia Áp lực nhóm cũng là nguyên nhân làm gia tăng việc sử dụng rượu bia, đặc biệt là đối với nhóm người trẻ tuổi [1], [23] Không chỉ thế, tại các điểm bán rượu như quán bar, quán rượu…, người uống rượu nhiều khi bị bắt buộc phải sử dụng không chỉ vì áp lực trong nhóm mà còn vì những quy định mang tính ép buộc của chủ quán [150] Cùng với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi khu vực; lượng tiêu thụ rượu bia
Trang 23cũng gia tăng do sự gia tăng về mức sống Giữa mức độ sử dụng rượu bia với điều kiện kinh tế của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và từng cộng đồng luôn có mối liên quan chặt chẽ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển [133] Quá trình toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại đang diễn ra nhanh chóng cùng với quy luật thị trường; các công ty sản xuất và kinh doanh rượu bia lớn trên thế giới đang hướng tới thị trường giàu tiềm năng tiêu thụ đó là các quốc gia đang phát triển, nhất là các nước ở châu Á Các công
ty và tập đoàn xuyên quốc gia trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu bia thông qua các chiến dịch xúc tiến thương mại trên nhiều phương tiện, kênh truyền thông khác nhau với mong muốn làm gia tăng mức độ tiêu thụ rượu bia tại các quốc gia này Vì vậy, đây cũng là một nhân tố làm gia tăng tình trạng lạm dụng rượu bia tại nhiều
nước đang phát triển [133], [139]
1.4 Tác hại của việc lạm dụng rượu bia
“Rượu bia” và “thuốc lá” là hai sát thủ đồng hành của sức khoẻ cộng
đồng Chúng có khả năng làm tăng nguy cơ ung thư và các chứng bệnh nguy hiểm khác Cả hai đều rất phổ biến ở mọi nơi và điều đáng nói là cả hai đều có thể gây nghiện, nếu sử dụng thường xuyên và vượt quá giới hạn an toàn cho phép sẽ có nguy cơ gây ra nhiều bệnh tật và các vấn đề xã hội
Thực tế hiện nay, trong khi thuốc lá phải mang trên vỏ bao lời cảnh báo về sức khoẻ và người hút phải ra khỏi nơi làm việc, nơi công cộng hay trên máy bay, xe buýt thì vấn đề lạm dụng rượu bia gây hậu quả vẫn chưa được xã hội quan tâm và nhìn nhận một cách thấu đáo Uống rượu/bia vẫn được coi là một thói quen không nguy hại bằng thói quen ăn nhiều – nguyên nhân gây béo phì - vấn đề mà Mỹ và nhiều quốc gia châu Âu phải đau đầu
Một trong những lý do khiến các nhà y tế công cộng chưa chú ý nhiều đến hậu quả của lạm dụng rượu/bia là do tác hại của chúng khó xác định được rõ ràng như thuốc lá Phần đông các nhà nghiên cứu vẫn tin tưởng rằng nếu uống
Trang 24rượu điều độ, vừa phải sẽ có lợi cho sức khoẻ Nhưng thế nào là ‘vừa phải’ thì không mấy người rõ và người uống không biết sẽ gây hại cho mình ra sao
Kết luận về lợi ích của rượu đối với sức khỏe dựa trên bằng chứng dịch tễ học đầu tiên được công bố vào những năm 1970, cho rằng uống rượu vừa phải từ
1 đến 2 ly mỗi ngày sẽ làm giảm khoảng 20-30% nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở người già Và thông điệp này được rất nhiều người biết đến, tuy nhiên, lợi ích mà rượu mang lại chẳng bù đắp được tác hại của nó
Một loạt các phát hiện mới dựa trên các cơ sở dịch tễ học về tác hại liên quan đến rượu bia cho thấy rượu bia làm tăng nguy cơ mắc rất nhiều bệnh tật và tai nạn thương tích có chủ định và không chủ định Theo cảnh báo của Tổ chức
Y tế Thế giới, tử vong liên quan đến rượu bia chiếm tới 3,2% số tử vong toàn cầu hàng năm đồng thời chiếm 4,0% DALYs toàn cầu, thấp hơn một chút so với thuốc lá và bệnh cao huyết áp (4,1% và 4,4%) [146] Có sự khác biệt rất lớn về mức độ và hậu quả của việc lạm dụng rượu bia giữa các nước và các khu vực trên toàn thế giới Theo nghiên cứu của Room và cộng sự năm 2005 thì gánh nặng bệnh tật có nguyên nhân do rượu bia chiếm tỷ lệ cao nhất ở các nước Đông
Âu và Trung Á (12,1%) và thấp nhất ở các nước có tỷ lệ tử vong cao và rất cao (1,3%) [41] Ở một số quốc gia đang phát triển ở châu Mỹ và khu vực châu Á Thái Bình Dương tỷ lệ này ước khoảng 6,2% Rượu bia gây ra nhiều những hậu quả nghiêm trọng khác mà chưa được phân tích trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu Việc ước lượng gánh nặng bệnh tật và số năm sống tiềm tàng bị mất mới chỉ giới hạn ở các tác hại của bệnh tật và tai nạn thương tích, không tính đến những ảnh hưởng đối với toàn xã hội hoặc những vấn đề xã hội đối với chính nạn nhân, người thân của nạn nhân và cả những người không uống rượu/bia [49], [111] Các tác hại của lạm dụng rượu bia, nghiện rượu bia ở các khía cạnh sức khỏe của cá nhân, cộng đồng và các khía cạnh xã hội và kinh tế sẽ được phân tích dưới đây
Trang 251.4.1 Tác hại về mặt sức khỏe
- Tai nạn thương tích do giao thông liên quan đến rượu/bia
Một trong những hậu quả cấp tính do rượu gây ra là các trường hợp tai nạn giao thông do say rượu Số lượng các vụ tai nạn giao thông (cả đường thuỷ, đường sắt và đường bộ) ngày càng gia tăng cùng với sự gia tăng mức độ sử dụng rượu
Theo Nina Rehn và cộng sự, rất khó đánh giá mức độ và hậu quả của tai nạn giao thông (TNGT) liên quan rượu bia [111] Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành ở các nước ở khu vực châu Âu, nhưng vẫn rất khó có được một bức tranh tổng thể do có những khác nhau về các khái niệm, nhóm tuổi và phương pháp nghiên cứu
Tại Đan Mạch 25,1% tử vong do tai nạn giao thông đường bộ liên quan đến rượu và 16,3% thương tích do TNGT (năm 1983) Tại Pháp, 40% các trường hợp tai nạn thương tích (TNTT) và 4.000 trường hợp tử vong do tai nạn giao thông có nguyên nhân liên quan đến sử dụng rượu (năm 1999) Tại Thụy Điển, hơn một nửa số người tử vong do tai nạn giao thông là sử dụng phương tiện cá nhân và có sử dụng rượu bia [134] Tại New Zealand, người uống rượu khi tham gia giao thông gây ra 25% các trường hợp tử vong do tai nạn giao thông đường
bộ Trong số nam giới ở độ tuổi từ 20-24, có 29% trường hợp tử vong tai nạn giao thông đường bộ, một phần ba trường hợp tử vong do tai nạn ô tô của người dân vùng nông thôn có nguyên nhân liên quan đến sử dụng rượu Ở Thái Lan 62% số nạn nhân bị tai nạn giao thông có nguyên nhân liên quan đến sử dụng rượu Theo số liệu điều tra của Cục An toàn giao thông đường bộ quốc gia của
Mỹ, trong năm 2002, số vụ tai nạn giao thông do xe mô tô gây ra có liên quan đến rượu bia chiếm 41% tổng số tử vong do tai nạn giao thông với tất cả các loại phương tiện Số liệu của Trung tâm Kiểm soát và phòng chống bệnh tật Hoa Kỳ cũng cho biết trong khoảng thời gian từ năm 1997-2002, 68% số trẻ tử vong được chở bởi những người lái xe có sử dụng rượu
Trang 26Ở Việt Nam, tai nạn thương tích do giao thông đang là một vấn đề lớn về y tế công cộng gây đau đầu cho các nhà hoạch định chính sách Có nhiều nguyên nhân gây TNTT do giao thông trong đó có nguyên nhân do người điều khiển phương tiện giao thông lạm dụng rượu bia Theo số liệu của Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia, nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông do sử dụng rượu bia chiếm khoảng 6% tổng số
vụ TNTT Tuy nhiên, trong thực tế tỷ lệ này còn cao hơn nhiều Kết quả nghiên cứu 5.000 trường hợp nạn nhân tử vong là những người tham gia điều khiển phương tiện giao thông của Viện Pháp y Trung ương trong các năm 2001-2003 cho thấy có 169 nạn nhân (chiếm 33,8%) có nồng độ cồn trong máu Trong số này, những người điều khiển xe máy chiếm tỷ lệ tử vong cao nhất (71%) Số nạn nhân tử vong có nồng độ cồn trong máu chiếm tỷ lệ cao nhất vào ngày nghỉ trong tuần - ngày thứ 7 (34/84 nạn nhân bằng 40,5%) [43]
- Nguy cơ đối với các loại bệnh tật
Có rất nhiều bằng chứng về bệnh tật, tử vong liên quan đến rượu bia Một
số nghiên cứu ở châu Âu từ năm 1995 đến nay đã chứng minh rằng rượu có mối liên quan đối với nguy cơ mắc gần 60 loại bệnh khác nhau, bao gồm các nguy cơ mắc và tử vong các bệnh như ung thư vú, phổi, thần kinh, tim mạch, dạ dày và dị dạng thai nhi… Tỷ lệ người bị xơ gan do rượu bia cũng khá cao [134], đang phát triển một cách đáng báo động và có xu hướng trẻ hóa Ví dụ như ở Anh, tỷ lệ phụ nữ tuổi từ 35-44 tử vong do bệnh xơ gan cao gấp 10 lần so với 30 năm về trước [71] Ở Srilanka, số người bị ung thu vòm miệng có sử dụng rượu bia là 68% cao hơn các quốc gia phát triển khác rất nhiều
Ở Việt Nam, tình trạng lạm dụng rượu bia và nghiện rượu bia ngày càng phổ biến và là tiếng chuông báo động đối với sức khỏe Nghiên cứu của Nguyễn Viết Thiêm và cộng sự cho biết hậu quả của lạm dụng rượu bia như sau: ly hôn: 7,1%; bị bệnh xơ gan: 10,7%; loét dạ dày: 14,2%; rối loạn tiêu hoá: 28,5%; run chân tay: 14,2%; đau đầu: 78,5%; ít ngủ: 39,2%; mệt mỏi: 78,5%; lo âu trầm cảm: 85,7%; ảo giác 10,7%; hoang tưởng: 14,2%; quên: 64,3% [25], [40] Theo
Trang 27nghiên cứu của Bùi Sỹ Khoái về tình hình lạm dụng rượu tại một phường thành phố Hải Phòng năm 2002 các triệu chứng về nội khoa của những người lạm dụng rượu như sau: bệnh về gan: 12,9%; tiêu hóa 22,3%; dị cảm da: 23,8%; viêm dây thần kinh: 7,3%; quên: 30,2% Các triệu chứng về rối loạn tâm thần: rối loạn giấc ngủ: 62,6%; rối loạn cảm xúc: 15,8% và chán nản, buồn rầu kéo dài, không thích quan tâm đến người khác 22% [25]
- Ảnh hưởng đến thai nhi
Người ta thấy thai nhi của những phụ nữ nghiện rượu có thể phát triển bất thường theo kiểu dị dạng, ảnh hưởng thần kinh thai, dễ sảy thai Có thể biến hình xương sọ mặt, gây não nhỏ, biến dạng hàm trên, môi trên ngắn, mũi hếch, mắt nhiều mí, sọ lõm, răng nhỏ men răng xấu, tim biến dạng bẩm sinh (thông nhĩ thất), đầu nhỏ, chậm phát triển, giảm chỉ số thông minh
Lạm dụng rượu trong thời kỳ thai nghén gây cho thai nhi bị sa sút về trí tuệ Năm 2001, tại Pháp có khoảng trên 700 trẻ em sinh ra bị dị tật thai nhi do
mẹ sử dụng rượu và ước khoảng trên 60.000 người sống với căn bệnh này [71] Theo các nghiên cứu mới đây của giáo sư E Abel (Mỹ), nam giới uống rượu trước khi sinh hoạt tình dục chẳng những làm tăng khả năng sẩy thai mà còn có thể ảnh hưởng đến việc phát triển của đứa con sinh ra
- Ảnh hưởng đến nhiều thế hệ tiếp theo
Lạm dụng rượu bia không chỉ gây tác hại cho bản thân mà còn tác hại đến nhiều thế hệ tiếp theo Theo nghiên cứu của bác sĩ Legrain theo dõi 215 gia đình
có bố mẹ nghiện rượu thấy ở thế hệ đầu có 32 người điên, đời thứ hai theo dõi 98 gia đình có 23 người điên, đời thứ 3 theo dõi 7 gia đình có 17 người tất cả đều đần độn, sa sút trí tuệ và 2 người điên Nghiên cứu tiếp 761 đứa trẻ sinh ra từ những gia đình nghiên rượu có 322 đần độn, 155 đứa trẻ bị điên [22]…Theo một nghiên cứu về 1.300 người có người nghiện rượu trong gia đình thì những trẻ em cũng có nguy cơ trở thành nghiện rượu và chúng khẳng định nghiện rượu là
“việc tự dùng thuốc để chống lại triệu chứng lo hãi” [42]
Trang 28- Nguy cơ tử vong cao
Một nghiên cứu ở Anh sử dụng dữ liệu của 250 nghiên cứu liên quan tới 160.000 người trưởng thành để phân tích thói quen uống rượu cũng như nguy cơ
tử vong đối với nam giới và nữ giới Kết quả cho thấy mức tiêu thụ rượu (gây nguy cơ tử vong thấp nhất) tăng theo tuổi - tăng tới 3 đơn vị mỗi tuần đối với phụ nữ và 8 đơn vị mỗi tuần đối với nam giới trên 65 tuổi Theo nghiên cứu này, trong số những người trẻ tuổi, người không uống rượu có tỷ lệ tử vong thấp nhất Đối với người lớn tuổi, những người nghiện rượu có tỷ lệ tử vong cao hơn so với người uống rượu vừa phải Đối với nam giới từ 16 tới 24 tuổi, uống 5 đơn vị rượu một tuần làm nguy cơ tử vong tăng thêm 5% so với nam giới trên 65 tuổi uống 35 đơn vị một tuần Đối với nữ giới trẻ tuổi, tỷ lệ tử vong tăng thêm 5% khi uống 8 đơn vị mỗi tuần Nhóm nghiên cứu cũng lưu ý rằng phần lớn các ca tử vong ở những người trẻ tuổi là do những thương tổn phát sinh từ uống rượu Nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật, tử vong do rượu bia ở New Zealand cho biết
có khoảng 3,9% số tử vong liên quan đến rượu bia trong tổng số tử vong ở nước này, trong đó 24% do bệnh ung thư có liên quan đến rượu bia, ước tính mất khoảng 145 số năm sống khỏe mạnh từ căn bệnh ung thư [83]
- Tác nhân gây ung thư
Trong một nghiên cứu được cho là lớn nhất về mối liên hệ giữa ung thư
vú và chất cồn, các nhà nghiên cứu Mỹ đã tìm thấy bản thân chất cồn và khối lượng tiêu thụ là tác nhân chủ chốt gây bệnh thay vì loại đồ uống Ung thư vú là căn bệnh ung thư phổ biến thứ 2 gây chết người ở giới nữ, sau ung thư phổi Bệnh này được phát hiện ở 1,2 triệu người trên toàn cầu trong một năm và giết chết khoảng 500.000 người Chất cồn etylic trong mọi đồ uống đều làm tăng nguy cơ mắc bệnh Thói quen uống rượu bia của hơn 70.000 phụ nữ thuộc các chủng tộc khác nhau trong khoảng từ năm 1978 đến 1985 đã được nghiên cứu Đến năm 2004, gần 3.000 trong số đó bị phát hiện ung thư vú Trong số những phụ nữ uống rượu bia, những người uống 1-2 cốc mỗi ngày gia tăng 10% nguy
Trang 29cơ bị ung thư vú so với những người uống ít hơn 1 cốc Đối với những người uống hàng ngày 3 cốc trở lên, nguy cơ tăng thêm 30% Kết quả tương đương ở mọi lứa tuổi và chủng tộc
- Ngộ độc rượu
Ngộ độc rượu cũng là một vấn đề đáng quan tâm Tại các quốc gia phát triển ở châu Âu, số lượng người chết do ngộ độc rượu hàng năm là khoảng 1.500 Tại Ba Lan năm 1996 có 1446 trường hợp tử vong do ngộ độc rượu Ở Ấn
Độ có 300 trường hợp tử vong vì ngộ độc rượu và 3000 người bị tàn tật suốt đời
do ngộ độc rượu [111]
Ngộ độ rượu cũng là một vấn đề khá nghiêm trọng ở Việt Nam Theo Nguyễn Văn Việt, chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty VINABECO nước ta có mức tiêu thụ bình quân đối với sản phẩm rượu là 3,5 lít/người/năm (năm 2002)
và dự báo khoảng 4,0 lít người/năm (năm 2008) Tuy nhiên, trên thực tế mức độ tiêu thụ rượu bia chắc chắn cao hơn so với con số công bố nêu trên bởi lẽ còn một lượng lớn rượu nấu thủ công và rượu nhập lậu chưa được kiểm soát Điều đáng lo ngại là rượu tự nấu hiện chưa được kiểm soát và thường nhiều loại có hàm lượng độc tố rất cao [45] Theo Khoa Chống độc – Bệnh viện Bạch Mai, hàng năm có hàng trăm lượt bệnh nhân bị ngộ độc rượu đến khoa trong tình trạng sức khỏe nguy kịch…Hiện nay chưa có số liệu thống kê đầy đủ liên quan đến ngộ độc rượu tại các cơ sở y tế cũng như tại cộng đồng [45]
- Tác hại đối với sức khỏe cộng đồng
Như đã đề cập ở trên, hàng năm trên thế giới số tử vong liên quan đến rượu chiếm 3,2% số tử vong toàn cầu (tương đương khoảng 1,8 triệu người chết), 53,8 triệu DALYs Rượu là nguyên nhân đầu tiên gây ra gánh nặng bệnh tật toàn cầu ở những nước đang phát triển và đứng hàng thứ 3 ở những nước phát triển Ở châu Âu nói riêng, rượu là nguyên nhân làm cho 63.000 người chết trẻ trong độ tuổi 15-29 vào năm 2002 [117] Tử vong do chấn thương không chủ định và có chủ định liên quan đến sử dụng rượu chiếm 40-60% Tại Mỹ, rượu là
Trang 30nguyên nhân thường gặp nhất gây tử vong ở nhóm tuổi 25-45 Nghiện rượu là căn bệnh chính của 30% bệnh nhân nhập viện tâm thần, 15-30% vào viện nội khoa và 80% bệnh nhân vào khoa bỏng Tổng cục thống kê Đức ghi nhận trong năm 2000 có 16.000 người chết vì uống rượu, trong số đó có 9.555 trường hợp chết do xơ gan Năm 2004, Thanh tra về các chất gây nghiện của Chính phủ Đức
đã báo cáo có 40.000 trường hợp chết tại Đức do uống quá nhiều rượu, trong số
đó có 17.000 người do xơ gan Hàng năm khoảng 2.200 trẻ sinh ra có khuyết tật
vì người mẹ lạm dụng rượu
Lạm dụng rượu bia chiếm 4% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, chỉ sau sử dụng thuốc lá (4,1%) và cao huyết áp (4,4%) Ở châu Âu, gánh nặng bệnh tật do lạm dụng rượu bia chiếm tổng số DALYs là 10,8%, trong đó nam giới là 22%
và 1,5% ở nữ giới Hậu quả của lạm dụng rượu bia chiếm 9,2% DALYs ở các quốc gia phát triển và 6,3% DALYs ở những quốc gia đang phát triển [150] Một nghiên cứu ở Mỹ cho biết có khoảng 10 triệu người Mỹ có các vấn đề về rượu Lạm dụng rượu ở Mỹ gây hậu quả đứng hàng thứ 3 sau bệnh tim và ung thư [19]
1.4.2 Tác hại về mặt xã hội
- Bạo lực, tội phạm hình sự và gây rối trật tự công cộng
Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra có mối liên quan giữa lạm dụng rượu rượu bia với các vấn đề như tội phạm hình sự, buôn lậu, cướp giật, trộm cắp, hành hung, gây rối trật tự công cộng… Ở các nước châu Âu tỷ lệ phạm tội do lạm dụng rượu bia khá cao Estonia là một nước có tỷ lệ phạm tội liên quan đến rượu bia cao nhất, chiếm 60-70% trong tổng tội phạm tội phạm hình
sự, lưu manh và trộm cắp và 80% tội phạm hình sự ở tuổi vị thành niên có liên quan đến rượu/bia Tại Hungary tỷ lệ tội phạm liên quan đến rượu bia là 35,4%
Na Uy là một nước cũng có tỷ lệ tội phạm hình sự khá cao (80%), 60% thương tích là do cố ý tấn công và 40% trộm cắp liên quan đến rượu bia Tại Liên Xô cũ vào năm 1994 có 68,4% tội phạm hình sự, 47,2% trộm cắp và 62,2% bạo lực tấn
Trang 31công bởi người say rượu Tại Bỉ, 20% tội phạm hình sự, 40% các trường hợp bạo lực có liên quan đến sử dụng rượu [111] Điều tra quốc gia của Mỹ năm 1995 cũng cho thấy 30-40% nam giới và 27-34% nữ giới đã từng phải chịu hậu quả bạo lực từ người sống chung với họ có liên quan đến uống rượu bia; 10% nam giới và 5% nữ giới trong độ tuổi 14-65 trong vòng 12 tháng trước đó bị hành hung bởi người uống ruợu Dường như sử dụng rượu là yếu tố quan trọng liên quan đến các trường hợp tội phạm tình dục Cũng theo kết quả điều tra quốc gia của Mỹ, 1/3 số trường hợp nữ giới bị hiếp dâm là khi họ ở trạng thái say rượu
Ở Việt Nam tình trạng gia tăng người lạm dụng rượu bia bị xử lý vi phạm hành chính và xử lý pháp luật hình sự hiện đang là vấn nạn đáng báo động Theo con số thống kê chưa đầy đủ của Phòng Tham mưu, Cục Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội (CSQLHC & TTXH) - Bộ Công an, đối tượng gây rối trật
tự công cộng có sử dụng rượu bia đang gia tăng Trong năm 2006, riêng 41 vụ gây rối trật tự an toàn xã hội có liên quan đến rượu bia đã khiến 27 người chết và
14 người bị thương [18]
- Tác hại đối với các nhóm xã hội dễ bị tổn thương
Sử dụng rượu bia từ tuổi nhỏ dễ dẫn đến lạm dụng rượu bia sau này Trẻ em
và trẻ vị thành niên lạm dụng rượu bia cũng có nguy cơ cao các vấn đề do rượu gây
ra như trầm cảm, lạm dụng các chất gây nghiện khác, biến đổi nhân cách
Phụ nữ uống rượu có nhiều nguy cơ và được xếp vào nhóm dễ tổn thương Phụ nữ uống rượu dễ bị say, dễ bị tác động xấu hơn nam giới do thể lực yếu hơn Phụ nữ uống rượu trong thời kỳ mang thai có nguy cơ sinh con nhẹ cân, sinh sớm, con sinh ra dễ bị dị tật hoặc bị hội chứng rượu sơ sinh (FAS: Fetal Alcohol Syndrome) Phụ nữ thường là người chăm sóc nuôi dưỡng con cái, quán xuyến các công việc, quản lý chi tiêu trong gia đình Nếu như trong gia đình có người nghiện rượu, cùng với trẻ em, phụ nữ là những người chịu ảnh hưởng, thiệt thòi nhất
Kết quả nghiên cứu ở 51 nước khu vực châu Âu đã cho biết ở Iceland có khoảng 71% phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình, nguyên nhân do chồng
Trang 32uống rượu say hành hạ Cũng tại nước này có khoảng 22% phụ nữ cho biết họ đã từng sử dụng rượu bia để đối mặt với bạo lực Ở Tây Ban Nha có khoảng 25% bạo lực gia đình liên quan đến rượu bia mà phụ nữ và trẻ em phải gánh chịu hậu quả Ở Vương quốc Anh có khoảng 25% số người bị bắt giữ trong tình trạng say rượu; trong số này khoảng 50% liên quan đến bạo lực, tội phạm, bao gồm cả bạo lực gia đình và trẻ em [111]
Ở các nước châu Á - Thái Bình Dương, hậu quả do lạm dụng rượu bia đối với phụ nữ và trẻ em lại càng nghiêm trọng Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, số phụ nữ tuổi từ 15-44 tử vong và tàn tật do hậu quả bạo lực gia đình hậu quả của lạm dụng rượu bia chiếm tỷ lệ cao hơn ung thư, sốt rét, tai nạn giao thông và chiến tranh cộng lại Bằng chứng đã được chứng minh từ nghiên cứu của Sonali năm 1990 ở Sri Lanks rằng 60% trong số 200 phụ nữ được phỏng vấn
đã cho biết bị bạn tình/chồng đánh và 51/200 phụ nữ cho biết họ bị bạn tình/chồng tấn công có sử dụng vũ khí Không có quốc gia nào có tỷ lệ phụ nữ bị tấn công/hành hạ cao hơn ở nước này do hậu quả từ việc lạm dụng rượu bia Theo các nhà nghiên cứu thì số liệu này vẫn chưa phản ánh đầy đủ số liệu bạo lực gia đình liên quan đến rượu ở Sri Lanka Ở Ấn Độ tỷ lệ phụ nữ bị chồng đánh sau khi uống rượu là 22%, tuy nhiên đây chỉ là những trường hợp bị đánh rất nặng [52] Ngoài những tổn thương về mặt thực thể như những sang chấn tại chỗ, bị hành hạ về thân xác, bị ép phải quan hệ tình dục… người phụ nữ còn phải đối mặt với nguy cơ lãnh cảm Những biểu hiện bất thường về mặt thần kinh, tâm thần của người đàn ông say rượu sẽ khiến người phụ nữ mất hết cảm xúc, thậm chí sợ hãi, ức chế, lâu dần trở nên chai sạn và vô cảm với chồng, ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc gia đình
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội cũng cho thấy rượu là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bạo lực và tan vỡ gia đình Thông tin về bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình liên quan đến rượu bia còn rất hạn chế Do truyền thống phong tục Á Đông nên người phụ
Trang 33nữ dù có bị chồng hành hạ kể cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng cũng cam chịu để
tránh tiếng cho chồng - “xấu chàng, hổ ai”, trừ những trường hợp bị xâm hại rất
nghiêm trọng mới nhờ đến người thân và luật pháp giải quyết Trẻ em cũng có nguy cơ do rượu từ khi còn rất nhỏ vì bị bắt đi mua rượu, bắt uống rượu, thậm chí bị ép uống đến chết hoặc dẫn đến những tổn hại không thể phục hồi, bị đánh đập do cha mẹ uống rượu, say rượu
- Các hậu quả về mặt xã hội khác
Ngoài những hậu quả nói trên còn có các hậu quả khác về mặt xã hội ít được biết đến như tự tử, ngộ sát, tự cô lập và con cái của những người nghiện rượu thiếu sự chăm sóc nuôi dưỡng của cha mẹ Kết quả nghiên cứu về tình hình sử dụng và hậu quả của việc lạm dụng rượu bia ở một số nước châu Âu cho biết tỷ lệ tự tử liên quan đến rượu bia ở các nước có nền kinh tế phát triển này khá cao Trong các nước này, Hungary có tỷ suất tự tử tính trên 100.000 người dân cao nhất (55,5/100.000 người dân vào năm 1994) Thụy Điển và Vương quốc Anh là hai nước cũng có số người tự tử liên quan đến rượu bia với
tỷ lệ khá cao (87% và 65% trong số người tự tử) Phần Lan cũng là nước có tỷ lệ
tự tử liên quan đến rượu khá cao: 44,5% nam và 18,4% nữ, trong đó số tử vong
do tự tử là 2.500 người chiếm khoảng 5% tổng số tử vong cả nước
1.4.3 Tác hại về kinh tế
- Gánh nặng về kinh tế
Chi phí mất đi do việc uống rượu bia là rất lớn, nhưng chi phí xã hội để khắc phục những hậu quả do lạm dụng rượu bia, nghiện rượu/bia còn lớn hơn rất nhiều Vì bên cạnh gánh nặng của hệ thống y tế là các phí tổn gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế vì mất hoặc giảm khả năng lao động, các phí tổn do tai nạn giao thông có nguyên nhân là rượu, tội phạm và tỷ lệ ly dị cao của những người nghiện rượu bia Theo số liệu thống kê ở nhiều nước, phí tổn do rượu bia (bao gồm cả việc dung nạp và giải quyết hậu quả do rượu bia gây ra) thường chiếm từ 2% đến 8% GDP của quốc gia [149]
Trang 34Chi tiêu để giải quyết các hậu quả về mặt xã hội do rượu bia gây ra ở các nước phát triển khá cao như ở Anh và ở Nhật Bản chiếm khoảng 6 tỷ đô la Mỹ hàng năm, ở Mỹ con số này còn cao hơn rất nhiều - 190 tỷ USD, trong đó 20% là các chi phí trực tiếp như chi cho các dịch vụ y tế, xã hội và pháp luật; 10% chi phí cho thiệt hại về vật chất và 70% chi phí cho thiệt hại do chết sớm, mất việc làm và giảm năng suất lao động Mặc dù nguồn thuế thu được từ việc sản xuất và kinh doanh rượu bia chiếm một phần đáng kể trong tổng thuế mà chính phủ thu được (trung bình 4-10%) nhưng các chi phí do tác hại của lạm dụng rượu bia gây
ra còn lớn hơn nhiều Trung tâm nghiên cứu về các hiểm nguy từ rượu của Đức
dự tính thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân hàng năm là 20 tỉ Euro, các dự tính khác ở trong khoảng từ 15 đến 40 tỷ Euro Thu nhập của Nhà nước ở Đức từ thuế rượu là hơn 3,5 tỷ Euro và doanh số của công nghiệp rượu hàng năm ở mức
15 đến 17 tỷ Euro Ở Pháp chi tiêu cho rượu và các vấn đề về rượu vào khoảng 115.421 tỷ FF (chiếm 1,42% GDP) hoặc chi tiêu trên đầu dân khoảng 1966 FF vào năm 1997 Chi phí xã hội do hậu quả của rượu bia liên quan đến mất/giảm năng suất lao động là 57.555,66 tỷ FF, do chết sớm là 53.168,60 triệu FF, do bệnh tật 3.884,0 triệu FF và tội phạm hình sự là 503,06 triệu FF [149]
Tác động về khía cạnh kinh tế đối với bản thân người uống rượu là tăng chi tiêu gia đình dành cho việc mua rượu Ở Anh chi tiêu hộ gia đình cho việc sử dụng rượu bia lên tới 39.142 triệu bảng Anh vào năm 2003 và ước tính mỗi một người đàn ông ở Anh tiêu phí khoảng gần 900 bảng/năm cho rượu bia Mức độ
sử dụng rượu tăng, chi tiêu càng lớn, chiếm một phần đáng kể trong thu nhập của gia đình Ở Anh chi tiêu cho rượu và bia ngày càng tăng, chiếm khoảng 32% và 48% thu nhập hộ gia đình (2003) [51]
Theo báo cáo tóm tắt về y tế công cộng ở một số nước đang phát triển, tổng số DALYs do lạm dụng rượu bia chiếm khoảng trên dưới 10% (toàn thế giới khoảng 4% tổng số DALYs) Chi tiêu cho rượu bia cũng chiếm hàng chục USD ở hầu hết các quốc gia này, nhưng những số liệu thống kê về những chi phí
Trang 35này cũng như các phí y tế do bệnh tật, mất năng suất lao động, tai nạn thương tích chủ định, không chủ định, mất việc làm chưa tính hết được Bên cạnh đó chi phí cho việc sử dụng, lạm dụng rượu bia cũng được cho là nguyên nhân làm gia tăng tình trạng nghèo đói ở hầu hết các nước đang phát triển [66]
Người nghèo ở Sri Lanka và Malaysia tiêu thụ nhiều rượu bia hơn những người không nghèo Một nghiên cứu ở Sri Lanka đã cho biết những gia đình nghèo ở thành thị đã dành khoảng 30% chi tiêu hộ gia đình của họ cho việc uống rượu bia Theo một nghiên cứu khác vào năm 1997 tổng chi tiêu cho rượu và thuốc lá bằng với tổng giá trị hỗ trợ của chính phủ cho cộng đồng trong chương trình xóa đói giảm nghèo của nước này [66]
Ở Ấn Độ chi phí hộ gia đình cho tiêu thụ rượu bia rất khác nhau, chiếm 45% thu nhập của hộ Bạo lực gia đình và sự gia tăng tình trạng nghèo đói do lạm dụng rượu bia hiện đang là vấn đề rất nghiêm trọng cho phụ nữ Ấn Độ Những nạn nhân nghiện rượu trầm trọng nhất là những người nghèo, đặc biệt là người lao động nông thôn, những người làm việc ở trong các trang trại cao su và dầu thực vật Bên cạnh những tổn thất về thu nhập hộ gia đình, gánh nặng đối với gia đình còn rất nghiêm trọng khi mà người uống rượu bị ốm, không làm việc và có nhu cầu đi khám chữa bệnh [66]
3-Ở Việt Nam, tương tự như các nước đang phát triển khác, chi phí cho rượu bia ở Việt Nam hàng năm vào khoảng 6.000 tỷ đồng và chi tiêu hộ gia đình, đặc biệt hộ nghèo chiếm khoảng 20-50% Tuy nhiên, những chi phí tổn thất về mặt kinh tế, xã hội cũng chưa được tính đến
- Giảm năng suất lao động, mất việc làm
Sử dụng rượu bia làm giảm năng suất lao động ở cả những người lao động chân tay và lao động trí óc Đó là việc nghỉ làm, đi làm muộn, làm việc kém, mất khả năng tập trung, giảm kỹ năng, giảm sự khéo léo, tai nạn lao động trong khi vận hành máy móc khiến người lao động trở thành người tàn tật từ mức độ nhẹ cho đến mất khả năng lao động vĩnh viễn… Vấn đề nghiện rượu ảnh hưởng đến
Trang 36năng suất lao động, giảm thu nhập không chỉ với cá nhân người lao động mà còn tới thu nhập chung của toàn xã hội Tại Malaysia 25% trường hợp mất việc làm
là do nghiện rượu [66] Tại New Zealand uống rượu tại nơi làm việc là nguyên nhân gây 25% trường hợp chấn thương do tai nạn lao động
1.5 Chính sách phòng chống lạm dụng rượu bia trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1 Chính sách phòng chống lạm dụng rượu bia trên thế giới
Các chính sách nhằm hạn chế tác hại của lạm dụng rượu bia được khởi nguồn từ những nước Bắc Âu vào những năm 60 của thế kỷ XX Tuy nhiên tại thời điểm đó, phạm vi tác động của các chính sách này thường rất hạn hẹp, chỉ dừng lại ở những quy định về việc làm thế nào để giảm tối đa lượng rượu bia sử dụng trong cộng đồng Càng ngày càng có nhiều những bằng chứng khoa học chỉ
ra những tác hại của việc lạm dụng rượu bia đối với sức khỏe, xã hội và kinh tế giúp các nhà hoạch định chính sách có cách nhìn tổng thể hơn, toàn diện hơn về vấn đề này Các nhà hoạch định chính sách cũng đã thấy rằng rượu bia là vấn đề rất phức tạp Rượu bia là một phần trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc trên thế giới và rõ ràng là không thể cấm sử dụng Vì vậy, giải quyết các vấn đề về rượu bia không thể chỉ bằng những chính sách đơn lẻ mà phải là một hệ thống chính sách tổng thể, toàn diện mới có hiệu quả Trong những năm gần đây trên thế giới đã có các chính sách tổng thể, toàn diện hơn, không chỉ hạn chế việc sử dụng rượu bia trong cộng đồng (giảm cầu) mà còn chú ý giảm tác hại trực tiếp đối với người sử dụng, lạm dụng, người phụ thuộc vào rượu bia và gia đình của
họ Đồng thời các chính sách cũng đã chú ý đến các giải pháp hạn chế khả năng tiếp cận đối với rượu bia (giảm cung) Các chính sách phòng chống lạm dụng rượu bia trên thế giới hiện nay rất đa dạng do những đặc thù khác nhau về các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và văn hóa, truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, do đó mỗi nước lại có những quy định riêng và những trọng tâm riêng
để giải quyết những vấn đề căn bản liên quan đến rượu bia mà họ phải đối mặt
Trang 37Hiện tại có 118 trong số 192 quốc gia thành viên của Tổ chức Y tế thế giới có chính sách phòng ngừa tác hại của làm dụng rượu bia [143] Trong số đó chỉ có vài nước có chính sách tổng thể mang tính quốc gia Úc là quốc gia đầu tiên ban hành Chính sách quốc gia về rượu bia (tháng 3/1989) Tiếp theo là New Zealand có Chiến lược quốc gia về rượu bia giai đoạn 2000-2003 Thụy Điển cũng có Chính sách quốc gia về rượu bia ban hành năm 2001 cùng với Kế hoạch Chiến lược về rượu bia châu Âu năm 1990 Sau đó là các Chính phủ Anh, Scotland có chiến lược quốc phòng chống rượu bia vào 2004 [88], [111], [63], [124]
Hiện nay, hầu hết các nước đang phát triển đều chưa có chính sách quốc gia về phòng chống tác hại của rượu bia Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia đều có áp dụng một số giải pháp, chính sách phòng chống tác hại của rượu bia Tại các nước mà phần lớn người dân theo đạo Hồi (như Bangladesh) thì việc sản xuất, buôn bán và sử dụng rượu bia bị cấm theo luật pháp Hiến pháp của Ấn Độ tuyên bố: “Nhà nước sẽ cố gắng đưa việc uống rượu say vào trong điều cấm của luật pháp” Sau năm 1947 chính quyền đã bãi bỏ quy định trước đây, đã khuyến khích sản xuất và nhập khẩu rộng rãi những sản phẩm đồ uống có cồn Chính phủ Thái Lan trong những năm gần đây đã quyết định đưa vào luật về việc kiểm soát rượu tự nấu Vào năm 1998, Sri Lanka đã cố gắng phổ biến chính sách quốc gia về rượu bia nhưng chính sách này không thực hiện được Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam, Srilanka đã thực hiện một số chính sách nhỏ như cấm quảng cáo rượu bia trên ti vi, đài, quy định tuổi uống rượu… nhưng không hiệu quả, các công ty rượu bia vẫn tự do quảng bá sản phẩm của họ trên phương tiện thông tin đại chúng và thực hiện tài trợ cho các hoạt động [134]
Rõ ràng là vấn đề phòng chống tác hại rượu bia đã được cả thế giới quan tâm, đặc biệt ở các nước phát triển và gần đây ở cả các nước đang phát triển Tuy nhiên, muốn giải quyết các vấn đề về rượu bia phải có sự quyết tâm, đồng lòng, hiệp sức của toàn xã hội ở phạm vi quốc gia và quốc tế Ngày 24 tháng 5 năm
Trang 382008, Hội nghị thường niên của Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 61 (WHA 61/13) họp ở Geneva đã thông qua một Nghị quyết về “Chiến lược giảm tác hại của việc sử dụng rượu bia” Nghị quyết này kêu gọi xây dựng dự thảo chiến lược toàn cầu về giảm tác hại của rượu bia
Các chiến lược tổng thể về phòng chống tác hại của rượu bia trên thế giới thường tập trung giải quyết 3 vấn đề chính là: 1) Chính sách giảm việc cung cấp rượu bia trên thị trường (thể hiện bằng các luật lệ, quy định của pháp luật) nhằm hạn chế khả năng tiếp cận với đồ uống có cồn; 2) Chính sách giảm cầu (chính sách này tác động trực tiếp đến người sử dụng rượu bia, hạn chế việc sử dụng rượu bia thông qua các chiến dịch truyền thông và cung cấp các thông tin tuyên truyền về tác hại của rượu bia); 3) Chính sách giảm tác hại của rượu bia (chính sách này mục đích giảm hậu quả do sử dụng rượu bia ví dụ như cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh và phục hồi chức năng cho người lạm dụng và người nghiện, giảm số mắc và chết do uống rượu trong khi tham gia giao thông) Báo cáo tình hình rượu bia toàn cầu năm 2004 cung cấp bức tranh tổng thể về các chính sách phòng chống tác hại rượu bia của 118 quốc gia trên thế giới bao phủ khoảng 86% dân số thế giới [143]
1.5.2 Chính sách phòng chống lạm dụng rượu bia ở Việt Nam
Cho tới thời điểm này, nước ta vẫn chưa có một chính sách quốc gia mang tính tổng thể về phòng chống tác hại của lạm dụng rượu bia Tuy nhiên trên cả hai phương diện có liên quan đến lạm dụng rượu bia (sản xuất, lưu thông và sử dụng), nước ta đều đã thực thi một số chính sách cụ thể như sau:
- Đối với sản xuất rượu bia: Từ năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí
sắc lệnh độc quyền Nhà nước trong sản xuất, chế biến rượu Chính sách này tồn tại cho đến cuối những năm 80 Bắt đầu từ thập kỉ 90 với đường lối đổi mới nền kinh tế, Nhà nước không độc quyền trong sản xuất rượu bia nữa, tất cả các thành phần kinh tế đều có quyền được tham gia trong lĩnh vực này Tuy nhiên, trong
“Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam” được Chính phủ ban
Trang 39hành theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg cũng đã nêu rõ: “Cần phải hạn chế
sự phát triển của sản xuất rượu bia, thuốc lá ” [10] Bởi vậy, Bộ Công nghiệp
cũng đã đề ra một số phương án trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm
từng bước hạn chế phát triển sản xuất rượu bia như: với những dự án đầu tư mới
có sản lượng từ 25 triệu lít bia/năm trở lên phải được sự cho phép của Bộ trưởng;
từ 50 triệu lít bia/năm trở lên phải được sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ
Nghị định số 40/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 7/4/2008 về sản xuất, kinh
doanh rượu quy định: “Rượu thuộc nhóm hàng hoá nhà nước hạn chế kinh
doanh Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh rượu (bán buôn, bán lẻ) phải có
giấy phép, trừ trường hợp sản xuất rượu thủ công tự tiêu dùng…” [15]
Hiện nay, ở Việt Nam mức thuế áp dụng đối với mặt hàng rượu bia như sau:
Bảng 1.1: Mức thuế áp dụng đối với mặt hàng rượu bia
Loại rượu/bia Thuế nhập khẩu Thuế TTĐB Thuế GTGT
Nguồn: Tổng cục thuế Việt Nam [33]
- Cấp giấy phép kinh doanh rượu bia: Theo quy định của Luật thương
mại, Nghị định số 11/1999/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số
12/1999/TT- BTM của Bộ Thương mại, Nghị định số 40/2008/NĐ-CP của
Chính phủ và Thông tư số 10/2008/TT-BCT của Bộ Công thương quy định rượu
Trang 40bia là mặt hàng thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ hạn chế kinh doanh Nhà
nước thực hiện quyền kiểm soát liên thông, tiêu thụ trên thị trường, do đó, việc cấp giấy phép kinh doanh cần phải giới hạn về số lượng và đối tượng kinh doanh [5], [9], [15]
- Quy định các điểm không được bán rượu bia: Thông tư số 12/1999/TT-
BTM của Bộ Thương mại đã quy định không cho phép bán rượu tại các địa điểm như sau: i) Cấm bán rượu bằng máy tự động; ii) Cấm bán rượu tại: bệnh viện, trường học, công sở, bến tàu, bến xe, nhà ga, sân bay, sân vận động, nhà văn hóa, Nhà thi đấu thể thao, nơi biểu diễn nghệ thuật (trừ tại các cửa hàng miễn thuế )
- Quy định cấm không được bán rượu cho trẻ em và vị thành niên (<16 tuổi): Nghị định số 150/2005/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực trật
tự an toàn xã hội được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 12 tháng 12 năm
2005 nêu rõ: “Phạt tiền từ 200.000 đến 500.000 đối với những hành vi bán đồ uống có cồn từ 14o trở lên cho trẻ em <16 tuổi hoặc cưỡng ép trẻ em < 16 tuổi uống rượu”
- Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu: Nghị định số 06/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu được Thủ tướng Chính Phủ ban hành ngày 22 tháng 1 năm 2009 quy định hình thức và mức xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu (vi phạm quy định về giấy phép sản xuất, giấy phép kinh doanh, điều kiện kinh doanh, quy định về nhập khẩu, kinh doanh rượu nhập lậu, sản xuất và kinh doanh rượu giả, nhãn hiệu sản phẩm, dán tem), quy định về sản xuất rượu thủ công, quy định về việc cung cấp thông tin về rượu [17]
- Quy định cấm quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị, các hình thức tài trợ liên quan đến rượu bia nhằm kích cầu: Quyết định 243/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị “…Nghiêm cấm các hoạt động quảng cáo… rượu