1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bai Kiem Tra Luat Hinh Su - Tội Giết Người Và Cố Ý Gây Thương Tích - Vô Ý Làm Chết Người.docx

7 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội Giết Người Và Cố Ý Gây Thương Tích
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Bài Kiểm Tra
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 26,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CAU 1 Phân biệt Tội giết người và Tội cố ý gây thương tích theo quy định của BLHS 2015 Việc phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích trong nhiều trường hợp rất phức tạp và gặp nhiều khó k[.]

Trang 1

CAU 1: Phân biệt Tội giết người và Tội cố ý gây thương tích theo quy định của BLHS 2015.

Việc phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích trong nhiều trường hợp rất phức tạp và gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi người tiến hành tố tụng không những nắm vững cấu thành tội phạm

cơ bản mà cần phải có kỹ năng phân tích, tổng hợp và kinh nghiệm thực tiễn giải quyết vụ án.

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015) quy định các tội danh khác nhau là căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; căn cứ vào quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ (khách thể của tội phạm); căn cứ vào thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi của mình (lỗi); căn cứ vào nhân thân người phạm tội, trong một số trường hợp căn cứ vào giới tính, độ tuổi của người phạm tội và bị hại…

Về lý luận, muốn phân biệt tội này với tội khác thì không chỉ có trình độ pháp lý, nắm vững các yếu tố cấu thành tội phạm, mà còn phải có kỹ năng phân tích, tổng hợp và kinh nghiệm thực tiễn

Khi phân biệt tội giết người (Điều 123) với tội cố ý gây thương tích (Điều 134), cần lưu ý các trường hợp sau:

- Trong trường hợp nạn nhân bị chết:

Ở cả hai tội này, người phạm tội đều thực hiện hành vi là do lỗi cố ý; đều thực hiện hành vi khách quan tương tự như nhau (bắn, đâm, chém, đánh, đấm, đá…) và nạn nhân đều bị chết

Tuy nhiên, đối với tội cố ý gây thương tích, người phạm tội chỉ cố ý làm cho nạn nhân bị thương hoặc gây tổn hại cho sức khỏe, không mong muốn cho nạn nhân bị chết, cũng không bỏ mặc cho nạn nhân chết; nạn nhân bị chết là ngoài ý muốn của người phạm tội

Đối với tội giết người, người phạm tội cố ý tước đoạt tính mạng của nạn nhân Nếu không phải là do

cố ý trực tiếp (cố ý có dự mưu, cố ý xác định) thì cũng là cố ý gián tiếp (cố ý đột xuất, hoặc cố ý không xác định), tức là không cần quan tâm đến hậu quả

Ở tội giết người, hành vi tấn công của người phạm tội bao giờ cũng quyết liệt hơn, cường độ tấn công mạnh hơn, nhằm vào những nơi xung yếu của cơ thể như: Vùng đầu (sọ não, gáy), ngực, ổ bụng… Còn đối với tội cố ý gây thương tích, người phạm tội tấn công nạn nhân không quyết liệt, nếu có quyết liệt thì cũng chỉ tấn công vào những nơi khó gây ra cái chết cho nạn nhân như: Chân, tay, mông, nếu

có tấn công vào nơi xung yếu của cơ thể của nạn nhân thì cũng chỉ tấn công vào nơi đã định như mắt, mũi, tai, miệng

Thực tiễn, nhiều trường hợp người phạm tội chỉ khai không muốn làm nạn nhân chết Do đó, phải kết hợp với ý thức chủ quan của họ để xác định là giết người hay cố ý gây thương tích, đồng thời phải căn

cứ vào biên bản giám định pháp y về cơ chế hình thành vết thương, đặc biệt là nguyên nhân gây ra cái chết cho nạn nhân

Thực tế hiện nay, việc phân biệt 02 tội trên trong trường hợp nạn nhân chết chủ yếu đối với những vụ đánh nhau giữa hai hoặc nhiều người dẫn đến có người chết Trước đây, cũng có quan điểm cho rằng, nếu đánh nhau nhưng nạn nhân không chết ngay, mà phải 04 đến 05 ngày sau mới chết hoặc vài tháng sau nạn nhân mới chết thì đó là cố ý gây thương tích Tác giả cho rằng, quan điểm này chưa chính xác,

vì trên thực tế nhiều trường hợp nạn nhân không chết ngay, nhưng do người phạm tội có ý định tước đoạt tính mạng của nạn nhân nên đã đánh vào chỗ hiểm, một thời gian sau nạn nhân mới chết Vì vậy,

Trang 2

để phân biệt tội giết người hay tội cố ý gây thương tích thì phải tổng hợp tất cả các dấu hiệu của vụ án,

mà xác định ý thức chủ quan của người phạm tội

Ví dụ: Chu Ngọc L là nhân viên công ty T, quận B đi xe máy đến trụ sở công ty Đ cùng đóng trên địa bàn để gặp Nguyễn Xuân B Đến nơi, thấy B đang ngồi ăn ở chiếc ghế cạnh bàn uống nước, L tiến về phía B, đứng trước bàn uống nước cách B 1m nói: “Đưa tiền để em đưa nó, hơn 5h nó gọi em rồi” Thấy vậy, B phẩy tay nói “đi ra” L tiếp tục nói “đưa tiền cho em không”? B vẫn nói “đi ra” Ngay lập tức, L dùng chân phải đang đi giầy đá mạnh vào cổ bên trái khiến B ngửa cổ ra sau tựa vào ghế Thấy xảy ra va chạm, một số nhân viên công ty Đ chạy đến can ngăn Lúc này, mặt anh B đã tím tái, người lịm đi, gọi không phản ứng nên được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đến 20h30’ cùng ngày, Nguyễn Xuân B tử vong

Tại Bản kết luận pháp y xác định, “nguyên nhân chết của B là do chảy máu não, phù não tụt hạnh nhân tiểu não do chấn thương sọ não kín Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích vùng đầu do vật tày tác động gây ra…”

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Chu Ngọc L

về tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh A cũng truy tố Chu Ngọc L về tội cố ý gây thương tích Sau đó, Tòa án nhân dân tỉnh A đã bị trả hồ sơ

để điều tra bổ sung

Với các tình tiết của vụ án như trên thì theo tác giả, rõ ràng hành vi của L là hành vi phạm tội giết người, mặc dù có thể L không mong muốn cho nạn nhân chết, nhưng chỉ vì nóng giận mà đá vào vùng xung yếu của cơ thể nạn nhân, buộc L phải nhận thức được rằng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng cho nạn nhân nhưng L vẫn hành động với ý thức bỏ mặc, không quan tâm đến hậu quả xảy ra

- Trong trường hợp nạn nhân không bị chết:

Trường hợp này, ở cả hai tội trên, người phạm tội đều thực hiện hành vi một cách cố ý với hành động tương tự như nhau (như: Bắn, đâm, chém, đánh, đấm, đá…); nhưng nạn nhân không bị chết

Dấu hiệu để phân biệt giữa hai tội này chủ yếu căn cứ vào mục đích của người phạm tội Đối với tội giết người (theo Điều 123 BLHS năm 2015), người phạm tội thực hiện hành vi của mình dứt khoát phải mong muốn cho nạn nhân chết, còn nạn nhân không chết là ngoài ý muốn của người phạm tội; còn đối với tội cố ý gây thương tích (theo Điều 134 BLHS năm 2015) thì người phạm tội chỉ có ý định gây thương tích cho nạn nhân chứ không mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn nhân chết

Ví dụ: Trên đường đi tìm đối thủ trả thù, P, D, Đ và H cùng xông vào đánh hai người đi xe máy trên đường làm một người bị chấn thương sọ não, tỉ lệ thương tật 46% vĩnh viễn, trong đó Đ là người dùng gậy đánh vào đầu nạn nhân Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố các bị cáo về tội cố ý gây thương tích, nhưng Tòa án nhân dân quận B cho rằng, việc Đ dùng gậy đánh thẳng vào đầu anh L là hành vi giết người chứ không phải cố ý gây thương tích nên quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để truy tố

Đ về tội giết người Tuy nhiên, sau đó Viện kiểm sát vẫn truy tố Đ về tội cố ý gây thương tích và Tòa

án nhân dân quận B đã kết án Đ về tội cố ý gây thương tích

Trong trường hợp này, hành vi dùng gậy đánh vào đầu nạn nhân của Đ không xác định với ý thức muốn ra sao thì ra, nạn nhân không bị chết nên cũng chỉ coi hành vi của Đ là hành vi cố ý gây thương

Trang 3

tích Vì về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, nếu ý thức chủ quan của người phạm tội không mong muốn cho nạn nhân chết, thì hậu quả đến đâu xử đến đó

Đối với tội cố ý gây thương tích, BLHS năm 2015 đã căn cứ vào tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân

là dấu hiệu định tội, nên đối với tội phạm này chỉ có giai đoạn tội phạm đã hoàn thành, không có giai đoạn phạm tội chưa đạt Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt giữa tội giết người chưa đạt với tội cố ý gây thương tích

 Trường hợp Công an bắt nóng một số băng nhóm sử dụng hung khí nguy hiểm như: Mã tấu, súng hơi, súng quân dụng, côn gỗ, dùi cui điện… chuẩn bị đi đánh nhau Nếu không chứng minh được họ phạm tội giết người thì cũng không thể truy cứu họ về tội cố ý gây thương tích được

Khi phân biệt hai tội trên, cũng cẩn phải căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi mà người phạm tội thực hiện Trong đó, ở tội giết người, hành vi tấn công thường quyết liệt hơn, cường độ tấn công mạnh hơn, chủ yếu nhằm vào những nơi xung yếu trên cơ thể nạn nhân như: Vùng đầu (sọ não, gáy), ngực, ổ bụng… nhưng vì khách quan nên người phạm tội không thực hiện được hành vi của mình hoặc bị cản trở nên không thực hiện được việc tước đoạt tính mạng của nạn nhân Ví dụ: A dùng mã tấu chém vào đầu nạn nhân nhưng vì nạn nhân giơ tay lên đỡ nên chỉ bị thương vào bàn tay Đối với tội cố ý gây thương tích, hành vi tấn công nạn nhân ít quyết liệt hơn, nếu có quyết liệt thì cũng chỉ nhằm vào những nơi khó gây ra cái chết cho nạn nhân như: Chân, tay, mông, đùi… nếu có tấn công vào nơi xung yếu trên cơ thể nạn nhân thì cũng chỉ tấn công vào nơi đã định (mắt, mũi, tai, miệng…)

CAU 2: Phân biệt Tội vô ý làm chết người với Tội làm chết người khi thi hành công vụ theo quy định

của BLHS 2015.

Các tội xâm phạm đến tính mạng con người là những hành vi có lỗi, xâm phạm quyền được tôn trọng

và bảo vệ tính mạng của người khác Trong nhóm tội này có tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127 Bộ Luật hình sự năm 2015) và tội vô ý làm chết người (Điều 128 Bộ Luật hình sự năm 2015) Hai tội nêu trên đều có những điểm khác biệt về một số nội dung theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Cụ thể như sau:

Về tội vô ý làm chết người:

- Về khách quan, người phạm tội có những hành vi tương tự hành vi của tội giết người; hậu quả xảy ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng tương tự như đối với giết người

- Về ý thức chủ quan của người phạm tội và đây cũng là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt giữa tội vô ý làm chết người với tội giết người Đó là lỗi của người phạm tội, người phạm tội vô ý làm chết người thực hiện hành vi của mình dưới hình thức lỗi vô ý do vô ý bao gồm cả vô ý vì cẩu thả và vô ý vì quá

tự tin

Theo quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

- Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

Trang 4

- Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc

dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó

Bộ luật hình sự không quy định rõ các hình thức vô ý phạm tội nhưng cần căn cứ vào nội dung quy định trên, chúng ta thấy rõ có hai hình thức vô ý phạm tội mà khoa học luật hình sự gọi là vô ý vì cẩu thả và vô ý vì quá tự tin

- Vô ý vì cẩu thả là trường hợp do cẩu thả mà người phạm tội không thấy trước được khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước hoặc có thể thấy trước Tiêu chuẩn để xác định một người phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội là căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể lúc xảy ra sự việc, một người bình thường cũng có thể thấy trước; ngoài ra còn phải căn cứ vào độ tuổi, trình độ nhận thức, trình độ văn hóa, tay nghề, v.v

- Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, nhưng hậu quả đó vẫn xảy ra

Các trường hợp cụ thể của tội vô ý làm chết người:

1 Vô ý làm chết một người (khoản 1 Điều 128)

Vô ý làm chết một người là trường hợp phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc người phạm tội không thấy hành vi của mình có thể xảy ra hậu quả chết người, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó và hậu quả đó chỉ có một người chết

Người phạm tội vô ý làm chết một người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 128 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều thì Tòa án có thể áp dụng Điều 54 phạt người phạm tội dưới sáu tháng tù hoặc chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn theo bộ luật hình sự

2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

2 Vô ý làm chết nhiều người (khoản 2 Điều 128)

Vô ý làm chết nhiều người là trường hợp người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc người phạm tội không thấy hành vi của mình có thể xảy ra hậu quả chết người, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó và hậu quả có từ hai người chết trở lên

Người phạm tội vô ý làm chết nhiều người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 128

có khung hình phạt từ ba đến mười năm tù, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 thì Tòa án có thể áp dụng Điều 54 phạt người phạm tội dưới ba năm tù, nhưng không được dưới sáu tháng tù

Trang 5

Về tội làm chết người khi thi hành công vụ:

Dấu hiệu chủ thể của tội phạm làm chết người trong khi thi hành công vụ:

Chủ thể của tội phạm này chỉ có thể là những người đang thi hành công vụ Khác với các chủ thể của tội phạm khác, tội phạm này có chủ thể khá đặc biệt Người thi hành công vụ được hiểu là người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc to chức xã hội, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ (như tuần tra, canh gác ) theo

kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung,

"Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm

vụ (như tuần tra, canh gác ) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung hoặc chấp hành hình phạt tù đang chống trả, đe dọa tính mạng, sức khoẻ của người thi hành công vụ hoặc người khác; đối tượng đang đánh tháo người bị dẫn giải, người bị giam, giữ, áp giải do phạm tội nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tại phạm ngụy hiểm.

d) Khi biết rõ đối tượng đang thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;

đ) Được nổ súng vào phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông đường thủy nội địa, trừ phương tiện giao thông của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quari lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế để dừng phương tiện đó trong trường hợp đoi tượng điều khiển phương tiện đỏ tẩn công hoặc đe dọa trực tiếp đến tính mạng người thi hành công vụ hoặc người khác; khi biết rõ phương tiện do đoi tượng phạm tội điều khiển cố tình chạy trốn, trừ trường hợp trên phương tiện có chở cố tình chạy trốn, trừ trường hợp trên phương tiện có chở người hoặc có con tin.

2 Người thi hành nhiệm vụ độc lập được nổ súng vào đối tượng không cần cảnh báo trong trường hợp sau đây:

a) Đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật liệu nổ trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội khủng bố, giết người, bắt cóc con tin hoặc đang trực tiếp sử dụng vũ khí, vật liệu nổ chống lại việc bắt giữ khi vừa thực hiện xong hành vi phạm tội đó;

b) Nổ súng vào đổi tượng đang đột nhập vào khu vực, mục tiêu cảnh vệ, sau khi đã ra hiệu lệnh dừng lại và bẳn chỉ thiên nhưng không hiệu quả;

c) Vô hiệu hoá đối tượng đang có hành vi tấn công trực tiếp đối tượng cảnh vệ hoặc cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ đang thực hiện nhiệm vụ;

d) Trường hợp nổ súng khác quy định tại Luật quản lí, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ”

Mặt khách quan của tội làm chết người trong thi hành công vụ:

Hành vi khách quan của tội làm chết người trong thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực để thực hiện công vụ ngoài những trường hợp mà pháp luật cho phép Trong những hành vi này thì thông thường là những hành vi sử dụng vũ khí ngoài những trường hợp mà pháp luật cho phép

Trang 6

Dấu hiệu hậu quả của tội phạm làm chết người trong khi thi hành công vụ:

Dấu hiệu hậu quả trong cấu thành tội phạm của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ được quy định là hậu quả chết người Hậu quả này có nguyên nhân là hành vi dùng vũ lực ngoài nhũng trường hợp pháp luật cho phép hay nói cách khác, cấu thành tội phạm đòi hỏi dấu hiệu thứ ba

- Dấu hiệu quan hệ nhân quả giữa hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép và hậu quả chết người

Quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép

và hậu quả chết người là dấu hiệu của cấu thành tội phạm Người thi hành công vụ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết người đã xảy ra khi hậu quả chết người và hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép mà họ đã thực hiện có quan hệ nhân quả với nhau

Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm làm chết người trong khi thi hành công vụ:

- Lỗi được xác định trong cấu thành tội phạm là lỗi cố ý (dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép)

- Động cơ được xác định trong cấu thành tội phạm là đã có những hành vi xâm phạm tính mạng sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ vì lợi ích chung Như vậy những hành vi xâm phạm tính mạng người khác do hống hách, coi thường tính mạng của người khác, hoặc do tư thù đều không thuộc phạm vi của tội này

Khung hình phạt của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ:

Căn cứ theo điều 127 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về khung hình phạt của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ cụ thể như sau:

1 Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai

3 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm

Trong khi thi hành công vụ, nếu do vô ý mà gây chết người gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác thì tuỳ trường hợp mà định tội là vô ý làm chết người hay vô ý gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác Như vậy phải xem xét đầy đủ các dấu hiệu chủ yếu như đã nêu ở trên để phân biệt:

- Trường hợp có xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác, nhưng không phải là phạm tội

- Trường hợp phạm tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác, nhưng không phải là phạm tội

- Trường hợp phạm tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ

Trang 7

- Trường hợp thông thường phạm tội giết người, vô ý làm chết người, cố ý gây thương tích hoặc vô ý gây thương tích

Như vậy theo quy định trên thì tội phạm của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ là hành vi giết người ở đây có thể là hành vi cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp tước đoạt tính mạng của người khác Làm chết người là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

do sử dụng vũ khí ngoài những các trường hợp mà pháp luật cho phép Và tội phạm trong trường hợp làm chết người trong khi thi hành công vụ sẽ có hai khung hình phạt cụ thể như sau:

- Khung 1: Đối với tội phạm rơi vào khoản 1 điều 127 thì khung hình phạt ở đây có thể bị phạt tù từ 05 đến 10 năm Tùy theo từng trường hợp và các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà mức phạt tù có thể khác nhau Ví dụ như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này có thể xét đến tình tiết người phạm tội từ trước đến nay có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu và học tập hoặc công tác,

- Khung 2: Đối với trường hợp người phạm tội làm chết người trong khi thi hành công vụ trong trường hợp này mà làm chết 2 người trở lên, làm chết người đối với người dưới 16 tuổi , hoặc phạm tội đối với người phụ nữ mà biết là họ có đang có thai thì mức phạt tù trong trường hợp này có thể lên tới từ 8 năm và cao nhất là 15 năm

Ngoài ra người phạm tội làm chết người trong khi thi hành công vụ còn có thể có thêm hình phạt bổ sung là bị cấm đảm nhiệt chức vụ, cấm hành nghề, làm công việc nhất định mà trước đó người phạm tội từng đảm nhiệm hoặc hành nghề thời gian phạt tù ở đây tùy theo từng mức độ thì có thể từ 01 năm đến 05 năm theo pháp luật quy định

Như vậy, căn cứ theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì tội làm chết người trong khi thi hành công vụ và tội vô ý làm chết người đều thuộc nhóm tội xâm phạm đến tính mạng con người, đó là những hành vi có lỗi, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác Hai tội này có những điểm khác biệt về một số nội dung theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Ngày đăng: 17/03/2023, 20:21

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w