Đề tài hot: Nâng cao hiệu quả quản lí tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần lilama10
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA KẾ TOÁN VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -PHẠM THỊ KIM QUY KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI SẢN NGẮN HẠN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA 10
Trang 2HÀ NỘI – 2013
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘIKHOA KẾ TOÁN VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI SẢN NGẮN HẠN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA 10
Người thực hiện : PHẠM THỊ KIM QUY Khoá : 55
Người hướng dẫn : ThS NGÔ THỊ THU HẰNG
HÀ NỘI – 2013
Trang 4Em cũng xin trân trọng cảm ơn Quý Công ty Cổ phần Lilama 10 đã tạo điều kiện cho em có cơ hội thực tập, nhất là các cô chú, anh chị phòng Tài Chính – Kế Toán đã rất tận tình chỉ bảo em.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ths Ngô Thị Thu Hằng– Giảng viên khoa Kế toán & QTKD, đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để em có thể hoàn thành đề tài của mình
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan, khách quan, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Em rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2013
Sinh viên
Phạm Thị Kim Quy
Trang 5MỤC LỤC
L I C M NỜ Ả Ơ i
M C L CỤ Ụ ii
DANH M C B NGỤ Ả iv
DANH M C BI U Ụ Ể ĐỒ ĐỒ, THỊ vi
DANH M C CH VI T T TỤ Ữ Ế Ắ viii
PH N IẦ M Ở ĐẦ 1U 1.1 Tính c p thi tấ ế 1
1.2 M c tiêu nghiên c u c a chuyên ụ ứ ủ đề 2
1.2.1 M c tiêu chungụ 2
1.2.2 M c tiêu c thụ ụ ể 2
1.3 Đố ượi t ng v ph m vi nghiên c u c a chuyên à ạ ứ ủ đề 3
1.3.1 Đố ượi t ng nghiên c uứ 3
1.3.2.Ph m vi nghiên c uạ ứ 3
PH N IIẦ T NG QUAN TÀI LI U VÀ PHỔ Ệ ƯƠNG PHÁP NGHIÊN C UỨ 4
2.1 T ng quan t i li uổ à ệ 4
2.1.1 C s lý lu nơ ở ậ 4
2.1.2 Chính sách qu n lý t i s n ng n h nả à ả ắ ạ 11
2.1.3 Th c tr ng qu n lý t i s n ng n h n t i các công ty c ph n ự ạ ả à ả ắ ạ ạ ổ ầ ng nh xây d ng niêm y t Vi t Namà ự ế ở ệ 25
2.2 Phương pháp nghiên c uứ 27
2.2.1 Phương pháp thu th p s li uậ ố ệ 27
2.2.2 Phương pháp x lý s li uử ố ệ 28
2.2.3 Phương pháp phân tích s li uố ệ 28
Trang 62.2.4 Khung phân tích 29
PH N IIIẦ K T QU NGHIÊN C U VÀ TH O LU NẾ Ả Ứ Ả Ậ 30
3.1 Đặ đ ể địc i m a b n nghiên c uà ứ 30
3.1.1 Quá trình hình th nh v phát tri n c a Công tyà à ể ủ 30
3.1.2 B máy t ch c c a Công tyộ ổ ứ ủ 33
3.1.3 Các ngu n l c c a Công tyồ ự ủ 34
3.1.4 K t qu s n xu t, kinh doanh c a Công ty qua 3 n m 2010 - 2012ế ả ả ấ ủ ă .37
3.2 Th c tr ng qu n lý t i s n ng n h n c a công ty c ph n LILAMA ự ạ ả à ả ắ ạ ủ ổ ầ 10 39
3.2.1 Th c tr ng t i s n ng n h nự ạ à ả ắ ạ 39
3.2.2 Th c tr ng qu n lý ti nự ạ ả ề 42
3.2.3 Th c tr ng qu n lý h ng t n khoự ạ ả à ồ 54
3.2.4 Th c tr ng qu n lý kho n ph i thuự ạ ả ả ả 62
3.2.5 Tình hình t i s n ng n h n sau khi áp d ng gi i phápà ả ắ ạ ụ ả 69
3.3 Các nhân t nh hố ả ưởng đến hi u qu qu n lý t i s n ng n h n t i ệ ả ả à ả ắ ạ ạ Công ty c ph n Lilama 10ổ ầ 71
3.3.1 Nhân t bên trongố 71
3.3.2 Nhân t bên ngo iố à 73
3.4 Đề xu t m t s nhóm gi i pháp nâng cao hi u qu qu n lý t i s n ấ ộ ố ả ệ ả ả à ả ng n h n t i công ty C ph n Lilama 10ắ ạ ạ ổ ầ 74
3.4.1 Nhóm gi i pháp v qu n lý t i s n ng n h nả ề ả à ả ắ ạ 74
3.4.2 Nhóm gi i pháp v ngu n l c ả ề ồ ự 75
3.4.3 Nhóm gi i pháp v phả ề ương ti n qu n lýệ ả 76
PH N IVẦ K T LU N Ế Ậ 76
Trang 74.1 K t lu nế ậ 77
4.2 Ki n nghế ị 78
4.2.1 Đố ới v i công ty 78
4.2.2 Các phòng ban 78
4.2.3 Đố ới v i nh nà ướ 78c DANH M C TÀI LI U THAM KH OỤ Ệ Ả 79
16 ASOFT - H i th oộ ả qu n trả ị chi phí, gi i phóngả h ng t n à ồ kho ng y 06/12/2012 http://www.youtube.com/watch?v=aCr104oE2SU à Ng y truy c p 15/10/2013à ậ 80
PH L C 01Ụ Ụ 81
Báo cáo l u chuy n ti n t c a Công ty C ph n Lilama 10 n m 2012ư ể ề ệ ủ ổ ầ ă .81
PH L C 02Ụ Ụ 82
Báo cáo l u chuy n ti n t c a L10 sau khi rút ti t ki m trong quý 2 - ư ể ề ệ ủ ế ệ 2012 82
PH L C 03Ụ Ụ 83
Báo cáo l u chuy n ti n t c a L10 sau khi tr n g c vay trong quý 3ư ể ề ệ ủ ả ợ ố – 2012 83
DANH MỤC BẢNG B ng 2.1 Giá tr trung bình m t s ch tiêu ánh giá qu n lý t i s n t i ả ị ộ ố ỉ đ ả à ả ạ các công ty c ph n ng nh xây d ng niêm y t Vi t Namổ ầ à ự ế ở ệ 25
B ng 3.1 C c u lao ả ơ ấ động c a Công ty n m 2012ủ ă 37
B ng 3.2 K t c u kho n m c ti n giai o n n m 2009 - 2012ả ế ấ ả ụ ề đ ạ ă 45
B ng 3.3 B ng d báo v t t công trình: sân tenis s 3 c a d án tòa ả ả ự ậ ư ố ủ ự nh lilama 10 h ng m c: sân bê tông + h ng r oà ạ ụ à à 54
B ng 3.4 B ng t ng h p nh p xu t t n (trích)ả ả ổ ợ ậ ấ ồ 57
B ng 3.5 ánh giá qu n lý h ng t n kho n m 2011-2012ả Đ ả à ồ ă 59
Trang 8B ng 3.6 Báo cáo tình hình v t t theo ti n ả ậ ư ế độ ả s n xu tấ 61
B ng 3.7 ánh giá qu n lý n ph i thu n m 2011 – n m 2012ả Đ ả ợ ả ă ă 65
B ng 3.8 ánh giá tình hình t i s n ng n h n sau khi áp d ng gi i phápả Đ à ả ắ ạ ụ ả 70
B ng 3.9 C c u t i tr c a Công ty c ph n Lilama 10 n m 2010 - 2012ả ơ ấ à ợ ủ ổ ầ ă 72
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ BIỂU ĐỒ:
Bi u ể đồ 3.1 Tình hình ngu n v n giai o n n m 2009 – 2012ồ ố đ ạ ă 35
Bi u ể đồ 3.2 K t qu s n xu t kinh doanh giai o n 2010 – 2012ế ả ả ấ đ ạ 38
Bi u ể đồ 3.3 C c u t i s n giai o n n m 2010 - n m 2012ơ ấ à ả đ ạ ă ă 40
Bi u ể đồ 3.4 Tình hình t i s n ng n h n giai o n 2009 – 2012à ả ắ ạ đ ạ 41
Bi u ể đồ 3.5 ánh giá kh n ng thanh toán n m 2011 –2012Đ ả ă ă 46
Bi u ể đồ 3.6 Ch tiêu vòng quay ti n Công ty C ph n L10 n m 2011-ỉ ề ổ ầ ă 2012 49
th 3.1: ng d ng kho n dao ng ti n m t trong mô hình Miller - Đồ ị Ứ ụ ả độ ề ặ Orr 51
Bi u ể đồ 3.7 Tình hình h ng t n kho giai o n 2009-2012à ồ đ ạ 58
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH S
Ơ ĐỒ:
S ơ đồ 2.1 S ơ đồ luân chuy n các ch ng khoán thanh kho n caoể ứ ả 7
S ơ đồ 2.2 Đồ ị ể th bi u di n các m c bi n ễ ứ ế động ti n m t theo th i gianề ặ ờ .15
S ơ đồ 2.3 Bi n ế động h ng t n kho trong m t chu k , h ng t n kho bìnhà ồ ộ ỳ à ồ quân 17
S ơ đồ 2.4 Đường bi u di n m i quan h gi a chi phí t n tr v chi phíể ễ ố ệ ữ ồ ữ à t h ng t ng chi phí theo các m c s n l ng t n kho đặ à ổ ứ ả ượ ồ 18
Hình 3.1 Ph m vi ho t ạ ạ độ 32ng Ngu n: Phòng T i chính-K toánồ à ế 33
S ơ đồ 3.1 B máy t ch c qu n lýộ ổ ứ ả 33
Ngu n: Phòng T i chính-K toánồ à ế 34
S ơ đồ 3.2 B máy k toánộ ế 34
S ơ đồ 3.3 Phân tích t i s n ng n h n n m 2011 – 2012 qua s à ả ắ ạ ă ơ đồ cây .67
Trang 12PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới, năm
2009, chính phủ Việt Nam chủ trương kích cầu đầu tư, trong đó xây dựng là ngành được chú trọng Hiện nay, số doanh nghiệp trong ngành xây dựng chiếm khoảng 13% tổng doanh nghiệp và tạo việc làm cho 16% lao động cả nước [15].Tuy nhiên, tỷ lệ sinh lời bình quân tổng tài sản (ROA) của các doanh nghiệp này chỉ đạt mức trung bình khá, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ này của các doanh nghiệp thuộc một số ngành khác như vận tải, công nghệ, y tế, thương mại dịch vụ Đặc biệt, vấn đề quản lý tài sản ngắn hạn, trong đó đáng lưu ý nhất là khoản mục phải thu và hàng tồn kho chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản của các doanh nghiệp xây dựng (32% và 25%), đồng thời, dòng tiền ròng từ sản xuất - kinh doanh nhỏ hơn nhiều lần so với lợi nhuận thuần ghi nhận trên Báo cáo kết quả kinh doanh, trong khi đó hệ số nợ luôn xoay quanh ngưỡng 74% [14] Những con số trên phản ánh thực tế khai thác
tài sản ngắn hạn kém hiệu quả và nợ tồn đọng dai dẳng, khó giải quyết, đặt ra yêu cầu bức thiết phải tăng cường quản lý tài sản ngắn hạn tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết.
Công ty cổ phần Lilama 10 là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng - lắp đặt, Công ty niêm yết chứng khoán năm 2007 tại
sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, với mã giao dịch L10, cũng không nằm ngoài thực trạng trên Đối với một Công ty xây dựng lắp đặt việc quản lý các tài sản cố định hoặc dài hạn là hết sức cần thiết nhưng nhiệm vụ nâng cao hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn cũng không kém phần quan trọng Sự yếu kém trong quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn
Trang 13có thể không phải là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, song trong nhiều trường hợp là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng khả năng mất thanh toán, đặt doanh nghiệp trước nguy cơ ngừng hoạt động, thậm chí phá sản
Thực tế, Công ty cổ phần Lilama 10 đang bị ứ đọng một lượng vốn lớn trong các hạng mục thi công của dự án còn dở dang chưa hoàn thiện, chủ yếu nằm ở hai khoản mục nợ phải thu và hàng tồn kho Phân tích theo báo cáo tài chính gần nhất (năm 2012) hai khoản mục này chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản của Công ty lần lượt 20% và 26%, đặc biệt hệ số nợ đang ở mức báo động hơn 80% cao hơn hệ số nợ toàn ngành Bởi vậy cần có những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty trong thời kỳ nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn
Nhận thức được vấn đề trên, em xin lựa chọn nội dung “ Nâng cao hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Lilama 10” làm đề
tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu và phân tích cụ thể hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại công ty Cổ phần Lilama 10 (L10) Từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại công ty nghiên cứu
Trang 14- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Lilama 10.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn theo từng khoản mục tại công ty Cổ phần Lilama 10
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý tài sản ngắn hạn và hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại Công
ty cổ phần Lilama 10 trên giác độ nhà quản trị doanh nghiệp, tập trung vào khía cạnh tài chính
1.3.2.Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nội dung: Bao gồm các tài sản Tiền, Phải thu, Hàng tồn kho và các khoản đầu tư ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Lilama 10
+ Phạm vi không gian: Công ty cổ phần LILAMA10
+ Phạm vi thời gian của số liệu: Năm 2009 – năm 2012
+ Thời gian nghiên cứu đề tài: Từ ngày 01/07/2013 đến ngày 30/11/2013
Trang 15PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
kỳ sản xuất kinh doanh [8] Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên
luân chuyển trong quá trình kinh doanh và có thể biến thành tiền mặt trong thời gian một năm Trong Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho và các khoản đầu tư ngắn hạn (thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn), tuy nhiên, sự phân chia này vẫn còn mang tính chủ quan vì có những tài sản được sử dụng qua nhiều chu kỳ sản xất kinh doanh nhưng vẫn được phân vào tài sản ngắn hạn như các loại công cụ, dụng cụ trong hàng tồn kho, mặc dù tham gia vào nhiều chu kỳ hoạt động nhưng vẫn được xếp vào nhóm tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên cũng vận động rất phức tạp và khó quản lý
Trang 16c Phân loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và quản lý tài chính nói riêng, tuỳ theo yêu cầu quản lý và dựa trên tính chất vận động của tài sản ngắn hạn, người ta có thể phân loại tài sản ngắn hạn như sau:
Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
Tiền và các khoản tương đương tiền
Thứ nhất, Tiền, bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn, vàng, bạc, kim khí, đá quý và tiền đang chuyển Ngoài ra, các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi (đáo hạn) không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi thành tiền dễ dàng (như kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc) được xem xét tương đương với tiền Trong các loại tài sản, tiền có tính thanh khoản cao nhất, là phương tiện thanh toán, đảm bảo sự tồn tại của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp ngành xây dựng, do sản phẩm có giá trị lớn, được chia nhỏ thành nhiều hạng mục để thi công trong thời gian dài nên sự biến động của dòng tiền phức tạp, đòi hỏi được quản lý chặt chẽ, chi tiết Đồng thời, trong quá trình thực hiện dự án, chủ đầu tư thường tạm ứng một phần vốn cho doanh nghiệp ngành xây dựng, ngược lại, doanh nghiệp ngành xây dựng có thể ký quỹ, đặt cọc một số tiền nhất định để bảo đảm dự thầu, bảo đảm thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng, bảo đảm bảo hành… Với tính chất vô danh của tiền, nhà quản lý cần có biện pháp hữu hiệu để tối đa
LN của doanh nghiệp trong điều kiện an toàn
Các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu là một việc không thể thiếu Các doanh nghiệp bán hàng song có thể không nhận được ngay tiền hàng Khoản mục này ghi nhận số tiền còn phải thu của khách hàng và các đối tượng khác có liên quan hoặc tiền ứng trước cho người bán nhưng chưa nhận sản phẩm
Trang 17Trong lĩnh vực xây dựng, khoản phải thu thường xuyên phát sinh do sự chênh lệch giữa doanh thu được ghi nhận theo khối lượng công việc thực tế hoàn thành với số tiền được chủ đầu tư thanh toán trong cùng thời kỳ Điều này dẫn tới sự thiếu hụt tiền để chi trả Khi khoản phải thu được thu hồi, ngân quỹ của doanh nghiệp được bổ sung Trong quá trình quản lý, để xác định giá trị hợp lý của khoản phải thu tại thời điểm lập báo cáo tài chính, nhà quản lý được
phép trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi theo quy định của pháp luật
Hàng tồn kho
Khoản mục Hàng tồn kho bao gồm toàn bộ giá trị của các loại hiện vật
dự trữ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, gồm Hàng mua
đi đường, Nguyên liệu vật liệu, Công cụ dụng cụ, Chi phí sản xuất kinh doanh
dở dang, Thành phẩm, Hàng hoá, Hàng gửi đi bán, Hàng hoá kho bảo thuế
Riêng đối với doanh nghiệp ngành xây dựng, công trình xây dựng khi chưa được nghiệm thu, bàn giao cho chủ đầu tư sẽ được ghi nhận dưới hình thức “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” hoặc “Thành phẩm” thuộc mục Hàng tồn kho của doanh nghiệp Tuy nhiên, sản phẩm xây dựng được thực hiện qua nhiều công đoạn phức tạp, phân chia thành các hạng mục riêng biệt, diễn ra trong thời gian dài nên rất khó để xác định chính xác giá trị hàng tồn kho, đòi hỏi nhà quản lý phải sử dụng các phương pháp phù hợp, dựa trên số liệu theo dõi đầy đủ, chi tiết để đảm bảo cho sự ổn định sản xuất
Các khoản đầu tư ngắn hạn
Mục tiêu của các doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao cho hiệu quả nhất Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một
“bước đệm” cho tiền mặt vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu
tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng
có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí
Do đó trong quản trị tài chính người ta sử dụng chứng khoán có khả năng
Trang 18thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn Ta có thể thấy điều này qua sơ đồ luân chuyển sau:
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ luân chuyển các chứng khoán thanh khoản cao
Ta thấy tiền mặt là một hàng hóa nhưng đây là hàng hóa đặc một tài sản có tính lỏng nhất Trong kinh doanh, doanh nghiệp cần một lượng tiền mặt và phải dùng nó để trả cho các hóa đơn một cách đều đặn Khi lượng tiền mặt này hết, doanh nghiệp phải bán các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để có lượng tiền như ban đầu
biệt- Phân loại dựa trên sự tham gia của tài sản ngắn hạn vào quá trình luân chuyển hàng hóa
Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, TSNH được chia thành:
Tài sản ngắn hạn dự trữ : là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu
dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán
Tài sản ngắn hạn sản xuất: Là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: Giá trị bán thành phẩm, các chi phí
Các chứng khoán thanh
khoản cao
Đầu tư tạm thời bằng
cách mua chứng khoán có tính thanh
khoản cao
Bán những chứng khoán thanh khoản cao để bổ sung cho tiền mặt.
Dòng thu tiền
Dòng chi tiền mặt
Trang 19sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…
Tài sản ngắn hạn lưu thông: Là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: Thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu của khách hàng
Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn
để đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một cách cao nhất
d Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Mỗi nhận định về mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp sẽ tương ứng với một quan điểm riêng về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Để hiểu một cách chính xác nhất bản chất của hiệu quả, trước hết cần phân biệt khái niệm hiệu quả và kết quả
Kết quả là lợi ích thu được sau một quá trình sử dụng nguồn lực (chi phí) nhằm phục vụ cho việc thực hiện một mục tiêu nào đó Tùy thuộc vào hình thức biểu hiện mà kết quả có thể đo lường được một cách trự tiếp hay gián tiếp bằng nhiều đơn vị khác nhau nhau sản lượng, giá trị, giờ công Chính vì vậy, rất khó để đưa ra so sánh chính xác giữa các doanh nghiệp, phương án, dự án nếu chỉ dựa trên kết quả đo lường theo các đơn vị khác nhau Ngay cả khi cùng được quy về cùng đơn vị tiền tệ thì việc so sánh các kết quả được tạo ra từ các mức chi phí hoặc vốn đầu tư không tương đương cũng khó được chấp nhận
Vì vậy, hiệu quả được sử dụng như một cách thức đánh giá kết quả một cách khách quan hơn dựa trên sự so sánh kết quả với chi phí bỏ ra, mục tiêu định trước, kết quả của đối thủ hay trung bình ngành Manfred Kuhn cũng đã
nhận định rằng “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho CPKD” [7].
Trang 20Với hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có thể thấy đây là hiệu quả tài chính, thể hiện mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra khi doanh nghiệp đầu tư và tài sản ngắn hạn Rõ ràng khi lựa chọn mức đầu tư cho tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp luôn phải cân nhắc đến hai loại chi phí tồn trữ và chi phí thiệt hại do thiếu hàng, trong đó mỗi loại đi kèm với lợi ích riêng Không có một lợi ích tối ưu nào cho phép cắt giảm một trong hai loại chi phí này để tối thiểu hóa chi phí mà doanh nghiệp chỉ có thể tìm cách xác định mức dự trữ sao cho cân bằng được hai loại chi phí này để tối đa hóa tổng lợi ích Tuy nhiên, mức dữ trữ tối ưu là chưa đủ để thể hiện hiệu quả sử dụng trong tài sản ngắn hạn Với mỗi đồng vốn đầu tư vào tài sản nói chung, hiệu quả sẽ chỉ đạt được khi doanh nghiệp tìm ra cách thức khai thác nó tối ưu Vì
vậy, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí.[6].
2.1.1.2 Khái niệm và mục tiêu quản lý tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp ngành xây dựng
“quản lý” từng bước được tách khỏi triết học, trở thành một môn khoa học độc lập, có sự tham gia đóng góp của nhiều học giả thuộc các trường phái khác nhau
Có thể kể đến Fredrick Winslow Taylor (1856 – 1915), người có công nâng cấp các tư tưởng “quản lý theo khoa học” trở thành một học thuyết thực sự Taylor
Trang 21định nghĩa “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [10, tr 50] Như vậy, hoạt động quản lý phải hướng tới một mục tiêu nhất định, thông qua sự tham gia của nhiều người và đạt được các tiêu chí hiệu quả Tuy vậy, do
sự hiểu biết của Taylor về con người còn phiến diện do bị chi phối bởi tư tưởng triết học “con người kinh tế” nên học thuyết bị hạn chế ở cấp tác nghiệp
Cùng thời với Fredrick Winslow Taylor, Henry Fayol (1841-1925) là người đầu tiên đề xuất 5 chức năng cơ bản của quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp thực hiện và kiểm tra [10, tr 53], xây dựng nên học thuyết hành chính, đồng thời, chỉ ra tính toàn năng của quản lý
và thiết lập 14 nguyên tắc quản lý trong doanh nghiệp Ngoài ra, H Fayol cũng quan tâm tới yếu tố con người, yêu cầu nhà quản lý đối xử tốt với công nhân song mối quan hệ này cần được cụ thể hóa bằng các hợp đồng lao động, quy định trách nhiệm và quyền lợi của cả hai bên Với các tư tưởng rõ ràng,
cụ thể của Fayol, thuyết hành chính đã khắc phục được các nhược điểm của các học thuyết nêu trên, đề xuất một quy trình tác nghiệp cơ bản, hướng dẫn cho nhà quản lý thực hiện công việc của mình Tuy còn hạn chế là chưa phân tích tác động của các yếu tố khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà nước tới hoạt động quản lý, song với những đóng góp có giá trị, H.Fayol đã được coi
là “một Taylor của châu Âu”
Từ thế kỷ thứ 19, trên nền tảng những học thuyết trình bày ở trên, cùng với đặc tính chuyên môn hóa cao độ của nền kinh tế thị trường, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu riêng từng lĩnh vực quản lý như quản trị sản xuất kinh doanh, quản trị nguồn nhân lực, quản trị mạng thông tin hay khai thác từng khía cạnh nhỏ như quản lý thanh khoản, quản lý rủi ro, quản lý tỷ giá Yêu cầu nghiên cứu về quản lý tài sản cũng ra đời trong hoàn cảnh này, đặc biệt do sự phát triển như vũ bão của các ngành công nghiệp sử dụng nhiều tài sản trong sản xuất
Trang 22Theo tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế - OECD, “Quản lý tài sản được hiểu là quá trình duy trì, nâng cấp và vận hành (hay sử dụng) tài sản một cách thống nhất và hiệu quả, theo các nguyên tắc về kỹ thuật và quản trị kinh doanh, qua đó, giúp nhà quản lý ra quyết định cần thiết để tối đa hóa lợi ích của tổ chức” [12] Như vậy, tập hợp các quan điểm nêu trên có thể hiểu
“quản lý tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp ngành xây dựng là quá trình tổ chức, điều hành việc hình thành và sử dụng tài sản của doanh nghiệp ngành
xây dựng nhằm đạt được mục tiêu nhất định” Quản lý tài sản là một thuật ngữ rộng, có thể hiểu ở cấp độ thấp là vận hành thiết bị, máy móc cho đến cấp độ cao là khai thác tối đa tính năng tài sản ở mức chi phí tối thiểu.
b Mục tiêu quản lý tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp ngành xây dựng
Như đã phân tích ở trên, mục tiêu cuối cùng của quản lý tài sản là đem lại lợi ích lớn hơn cho chủ sở hữu doanh nghiệp hay tối đa hóa giá trị tài sản Tuy nhiên, để đạt được mong muốn đó, NQL phải xác định mục tiêu cụ thể cho từng loại tài sản riêng biệt Trong đó, mục tiêu quản lý tài sản ngắn hạn thể hiện:
+ Quản lý Tiền và Phải thu cần đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp song vẫn đảm bảo khả năng sinh lời cao nhất + Hàng tồn kho được quản lý để cung cấp vật tư, nguyên nhiên liệu, hàng hóa… theo đúng nhu cầu xây lắp, hợp đồng kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời duy trì tỷ lệ hao hụt và các chi phí có liên quan ở mức tối thiểu.+ Các khoản đầu tư ngắn hạn đem lại lợi nhuận cao nhất
2.1.2 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn
2.1.2.1 Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao
Sự vận động của dòng tiền được ví như “huyết mạch”, gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp Đồng thời, lưu chuyển tiền tệ quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp thông qua khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán Đối với doanh nghiệp ngành xây dựng, như đã phân tích ở phần trên, do đặc thù thi công
Trang 23theo từng hạng mục, các dòng tiền không chu chuyển ổn định, phụ thuộc vào tiến độ thi công, điều kiện tự nhiên, khả năng xảy ra các sự cố trong quá trình sản xuất… Đặc biệt, phần lớn giá trị công trình xây dựng chỉ được quyết toán sau khi nghiệm thu nên thường xuyên có sự chênh lệch về thời điểm và độ lớn của dòng tiền thu, chi Vì vậy, việc quản lý tiền có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Dự báo dòng tiền
Lưu chuyển tiền tệ trong một thời kỳ của doanh nghiệp được tạo nên bởi
sự vận động và hợp thành của hai dòng tiền vào và ra Trong đó, dòng tiền vào có tác dụng bổ sung ngân quỹ, xuất phát từ các khoản thu từ khách hàng, người đi thuê, nhà đầu tư, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp… Dòng tiền
ra làm giảm ngân quỹ nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp Dòng tiền vào ngân quỹ và dòng tiền xuất quỹ thường được chia làm 3 bộ phận:
+ Dòng tiền vào/ra từ hoạt động sản kinh doanh
+ Dòng tiền vào/ra từ hoạt động đầu tư
+Dòng tiền vào/ra từ hoạt động tài chính
Sau khi dự báo dòng tiền, nhà quản lý tập hợp các kết quả thành Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giả định cho kỳ tiếp theo để xác định khả năng cân đối
về tiền tệ của doanh nghiệp Thông thường, để ra các quyết định xử lý ngân quỹ phù hợp số liệu trên báo cáo được tính cho từng tháng Trong đó, các khoản mục kết quả được tính như trong các công thức từ (2.1) đến (2.4)
Lưu chuyển tiền = Tổng dòng tiền thu – Tổng dòng tiền chi (2.1) (của từng hoạt động) (của hoạt động đó)
Lưu chuyển tiền = Lưu chuyển + Lưu chuyển + Lưu chuyển (2.2) thuần trong kỳ tiền thuần từ tiền thuần từ tiền thuần từ
kinh doanh đầu tư tài chính
Tiền cuối kỳ = Tiền đầu kỳ + Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (2.3) Hoặc:
Trang 24Tiền cuối kỳ = Tiền đầu kỳ + Tổng dòng tiền - Tổng dòng tiền (2.4) thu trong kỳ chi trong kỳ
Như thế, dựa trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dự báo, nhà quản lý biết được cụ thể cuối kỳ, ngân quỹ của doanh nghiệp sẽ bằng bao nhiêu Số dư cuối kỳ nhỏ hơn 0 có nghĩa là nếu chỉ dựa vào Tiền đầu kỳ và các nguồn thu phát sinh trong kỳ, doanh nghiệp không thể thanh toán đầy đủ và đúng hạn cho các khoản chi phát sinh trong kỳ Ngược lại, Tiền cuối kỳ lớn hơn 0 chứng tỏ doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán trong kỳ, đồng thời còn dư một số tiền nhất định để bổ sung cho kỳ sau Việc duy trì khả năng thanh toán có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp, tuy nhiên, luôn có sự đánh đổi với khả năng sinh lợi Các khoản tiền dự phòng trong thanh toán, tự thân, không sinh lợi Chính vì vậy, nhiệm vụ tiếp theo của nhà quản lý là xác định mức tồn quỹ tối ưu, từ đó thực hiện các biện pháp xử
lý thích hợp, hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp, cân bằng với khả năng thanh toán Đây cũng là mục tiêu cuối cùng của quản
lý ngân quỹ
Quản lý ngân quỹ tối ưu
William Baumol là người đầu tiên phát hiện mô hình hàng tồn kho đơn giản có thể vận dụng cho mô hình quản lý tiền mặt Giả sử bạn đang lưu giữ tiền mặt cần thiết cho các hoá đơn thanh toán, khi tiền mặt xuống thấp bạn sẽ bổ sung bằng cách bán các chứng khoán Chi phí tồn trữ chủ yếu chính là lãi suất
mà bạn mất đi Các chi phí đặt hàng chính là chi phí cho mỗi lần bán chứng khoán
Khi dự trữ tiền mặt, doanh nghiệp sẽ mất chi phí cơ hội, tức là lãi suất
bị mất đi, chi phí này tương đương với chi phí tồn trữ hàng hóa trong quản lý hàng tồn kho Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán, khi đó áp dụng mô hình EOQ ta có lượng dự trữ tiền mặt tối
ưu (M*) như sau:
Trang 25M* : Lượng dự trữ tiền mặt tối ưu
Mn: Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm
Cb: Chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản
i : Lãi suất chứng khoán ngắn hạn
Mô hình Baumol cho thấy nếu lãi suất càng cao thì doanh nghiệp sẽ nắm giữ số dư bình quân tiền mặt thấp hơn và do đó làm cho doanh số bán chứng khoán nhỏ hơn nhưng với tần suất bán nhiều hơn (nghĩa là M* thấp hơn) Mặt khác, nếu giá phải trả cho mỗi lần bán chứng khoán cao thì doanh nghiệp nên nắm giữ một số tiền mặt lớn hơn
Số dư tiền mặt không thực tiễn ở chỗ giả định rằng doanh nghiệp chi trả tiền mặt một cách ổn định Điều này lại không luôn đúng trong thực tế Mức
dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng, tức là lượng tiền dự trữ sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất Nếu lượng tiền mặt ở mức thấp thì doanh nghiệp phải bán chứng khoán để có lượng tiền dự kiến, ngược lại tại giới hạn trên doanh nghiệp sử dụng số tiền vượt quá mức giới hạn mua chứng khoán để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến [Nguồn: 6,8]
Mô hình quản lý tiền mặt Miller Orr
Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp rất hiếm khi mà lượng tiền vào, ra của doanh nghiệp lại đều đặn và dự kiến trước được,
từ đó tác động đến mức dự trữ cũng không thể đều đặn như tính toán Bằng việc nghiên cứu và phân tích thực tiễn, Miller Orr đã đưa ra mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng tức là lượng tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng, lượng tiền dự trữ sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất Nếu lượng tiền mặt ở dưới mức thấp thì doanh nghiệp phải bán chứng khoán để có lượng tiền mặt ở mức dự kiến, ngược lại tại giới hạn
Trang 26trên doanh nghiệp sử dụng số tiền vượt quá mức giới hạn mua chứng khoán
để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến
Khoảng dao động của lượng tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào ba yếu tố cơ bản sau:
+ Mức dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ Sự dao động này được thể hiện ở phương sai của thu chi ngân quỹ Phương sai của thu chi ngân quỹ là tổng các bình phương (độ chênh lệch) của thu chi ngân quỹ thực tế càng có xu hướng khác biệt nhiều so với thu chi bình quân Khi
đó doanh nghiệp cũng sẽ quy định khoảng dao động tiền mặt cao
+ Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán Khi chi phí này lớn người ta muốn giữ tiền mặt nhiều hơn và khi đó khoảng dao động của tiền mặt cũng lớn
+ Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống
Sơ đồ 2.2 Đồ thị biểu diễn các mức biến động tiền mặt theo thời gian
Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức sau:
Trang 27C b : Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán
V b : Phương sai của thu chi ngân quỹ
i : Lãi suất (lãi suất chứng khoán ngắn hạn)
Mức tiền mặt theo thiết kế được xác định như sau:
Mức tiền mặt Mức giới Khoảng dao động tiền mặt = +
theo thiết kế hạn dưới 3
Đây là mô hình thực tế được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng Khi áp dụng mô hình này, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu Phương sai của tiền mặt thanh toán được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế của một quý trước đó để tính toán [Nguồn: 6,8]
2.1.2.2 Chính sách quản lý hàng tồn kho
Quản lý nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất lớn để cho quá trình SXKD được tiến hành bình thường Với đặc thù
kế toán của ngành xây lắp, sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng, việc dự báo nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu dựa trên kế hoạch xây lắp trong kỳ và định mức tiêu hao vật tư
Căn cứ để NQL xác định là kế hoạch tiến độ thi công của từng dự án kết hợp với bảng phân bổ kết cấu và định mức tiêu hao vật tư Kết quả cuối cùng là một bảng kê chi tiết về số lượng, mẫu mã, chủng loại của từng loại nguyên vật liệu, tương ứng với từng thời điểm trong kỳ
Xác định lượng đặt hàng tối ưu
Trang 28Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả - Mô hình EOQ
Gọi Q là lượng hàng tồn kho cho mỗi lần đặt hàng, khi hết hàng doanh nghiệp lại tiếp tục đặt mua Q đơn vị hàng mới Tại thời điểm đầu kỳ, lượng hàng tồn kho là Q và ở thời điểm cuối kỳ là 0 nên số lượng tồn kho bình quân trong
kỳ là:
2 2
0 Q
Q+ = Biến động hàng tồn kho được biễu diễn trong [Hình 1.2]
Khi doanh nghiệp tiến hành dữ trữ hàng hóa sẽ kéo theo nhiều khoản chi phí như: chi phí bốc xếp hàng hóa, chi phí bảo quản, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm…nhưng theo Baumol, có hai loại chi phí chủ yếu đó là: chi phí lưu kho và chi phí đặt hàng Trong đó, chi phí lưu kho bao gồm chi phí lưu giữ, chi phí bảo hiểm, chi phí bảo quản, chi phí về thuế, chi phí về khấu hao, chi phí đầu
tư vào hàng tồn kho, chi phí hư hỏng hàng tồn kho và chi phí thiệt hại do hàng
đang có trong kho bị lỗi thời… (Được ký hiệu là C1 cho một đơn vị vật tư) Chi
phí đặt hàng bao gồm tất cả chi phí quản lý giao dịch, chi phí vận chuyển và chi
phí giao nhận hàng hóa… (Ký hiệu C2 cho một lần đặt hàng) Chi phí đặt hàng
thường ổn định không phụ thuộc vào hàng hóa được mua, nên càng mua nhiều, càng có lợi
Sơ đồ 2.3 Biến động hàng tồn kho trong một chu kỳ, hàng tồn kho bình quân
Tổng chi phí tồn trữ hàng tồn kho trong kỳ là: 1
2 xC
Q
Trang 29Gọi D là hàng tiêu thụ trong kỳ nên số lần đặt hàng trong kỳ là Q D
Tổng chi phí đặt hàng:
2
xC Q D
Gọi T là tổng chi phí tồn trữ hàng hóa thì : T= 1 2
D xC
C DC
Sơ đồ 2.4 Đường biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí tồn trữ và chi phí
đặt hàng tổng chi phí theo các mức sản lượng tồn kho
Nếu gọi T* là thời gian dự trữ tối ưu được tính bằng cách lấy số lượng hàng tối ưu Q* chia cho nhu cầu sử dụng hàng tồn kho bình quân một ngày, tức S/365 ( giả định một năm có 365 ngày), đơn vị tính ngày
Ta có công thức sau: T* =
365 /
Trang 30Thời gian chuẩn bị giao nhận hàng khác.
Trên thực tế thường có một khoảng thời gian trôi qua giữa thời điểm đặt mua hàng và thời điểm hàng được nhận tại kho Khoảng thời gian chuẩn
bị giao nhận hàng này có thể bao gồm khoảng thời gian cần thiết để sản xuất mặt hàng đó hay khoảng thời gian cần thiết để đóng gói và vận chuyển hoặc
cả hai Nếu thời gian chuẩn bị giao nhận hàng là một con số nào đó không
thay đổi theo thời gian và được biết chắc chắn thì số lượng đặt hàng tối ưu Q*
sẽ không bị tác động bởi việc đặt hàng lại Trong thực tế doanh nghiệp không bao giờ chờ đến cuối chu kỳ hàng tồn kho mới đặt hàng mà là thường đặt hàng trước n ngày cho cuối mỗi chu kỳ dự trữ Số ngày n được xác định bằng với thời gian chuẩn bị giao nhận hàng bổ sung
Xác định điểm đặt hàng lại (ROP)
ROP= Nhu cầu hàng ngày (d) x Thời gian chờ hàng
Trong đó: D (Nhu cầu hàng năm)
d=
số ngày làm việc trong năm
Gọi Q' là điểm đặt hàng lại, khi đó điểm đặt hàng lại được tính bằng công
mô hình EOQ trong xây dựng, NQL cần linh hoạt trong cách áp dụng, thay vì tính giá trị Q* cung cho tất cả nguyên liệu, thì cần có sự tính toán chi tiết cho từng chủng loại vật tư, cho từng giai đoạn thi công nhất định
Trang 31Mô hình cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0
Hệ thống quản lý hàng tồn kho đúng lúc là một phần của quá trình quản
lý sản xuất nhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động và thời gian sản xuất bằng cách loại bỏ bớt những công đoạn kém hiệu quả gây lãng phí Hệ thống cung ứng đúng thời điểm được dựa trên những ý tưởng cho rằng tất cả các mặt hàng cần thiết có thể được cung cấp trực tiếp cho các giai đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chính xác cả về thời điểm giao hàng lẫn số lượng hàng được giao thay vì phải dự trữ thông qua tồn kho
Mô hình tồn kho bằng 0 tỏ ra có hiệu quả nhất đối với những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất mang tính lặp đi lặp lại Một phần quan trọng của phương pháp cung cấp đúng thời điểm là thay thế việc sản xuất từng lô hàng với một số lượng lớn sản phẩm bằng cách sản xuất theo một dòng liên tục các sản phẩm được sản xuất ra với số lượng nhỏ Việc sử dụng phương pháp này đòi hỏi một sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp, bởi vì bất kỳ một sự gián đoạn nào trong quá trình cung ứng cũng có thể gây tổn thất cho nhà sản xuất vì phải gánh chịu các chi phí phát sinh do ngừng sản xuất hay mất doanh số bán hàng
Tuy nhiên, đây chỉ là một phương pháp quản lý được áp dụng trong một số loại dự trữ nào đó của doanh nghiệp và muốn đạt hiệu quả cao phải kết hợp với các phương pháp quản lý hàng tồn kho khác [Nguồn: 6 và 8]
2.1.2.3 Quản lý khoản phải thu tại doanh nghiệp ngành xây dựng
Theo chế độ kế toán hiện hành, doanh thu của hợp đồng xây dựng được ghi nhận theo 2 cách tùy thuộc thỏa thuận thanh toán giữa hai bên:
* Nếu doanh nghiệp ngành xây dựng được thanh toán theo tiến độ kế hoạch thi công, doanh thu của hợp đồng xây dựng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành do doanh nghiệp tự xác định (thỏa mãn các yêu cầu về độ tin cậy) vào ngày lập báo cáo tài chính mà không phụ thuộc vào việc lập hóa đơn thanh toán theo tiến độ kế hoạch và số tiền ghi trên hóa đơn
Trang 32* Trường hợp được thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được xác định một cách đáng tin cậy và được chủ đầu tư xác nhận, doanh thu của hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành và phản ánh trên hóa đơn đã lập.
Như thế, thời điểm để doanh nghiệp ngành xây dựng ghi nhận doanh thu là thời điểm hoàn thành hạng mục công trình hoặc bên A lập hóa đơn, không phụ thuộc vào việc thanh toán đã diễn ra hay chưa Nên khi hạch toán kế toán, đối ứng với giá trị tăng thêm của khoản mục doanh thu là phát sinh tăng tài khoản “Tiền” hoặc “Phải thu khách hàng” Ngoài ra, trong thực thế, chủ đầu
tư có thể chậm trễ trả tiền so với thỏa thuận ban đầu nên đối với doanh nghiệp xây dựng, các khoản “Phải thu” thường xuyên phát sinh thay cho dòng tiền nhập quỹ
Nội dung chính của hoạt động này bao gồm: Lựa chọn chủ đầu tư, thỏa thuận hình thức thanh toán; Theo dõi/thu hồi công nợ và Đánh giá hiệu quả quản lý khoản phải thu
2.1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn
Xét về mặt hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, thường phân chia thành các nhóm chỉ tiêu như: Hiệu quả về khả năng thanh toán; Hiệu quả về hoạt động và Hiệu suất sinh lời Tuy nhiên, trên phương diện của nhà quản lý, ta xét hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn theo từng bộ phận quản lý, từng hạng mục của tài sản ngắn hạn như: Tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho và khoản phải thu Mỗi loại tài sản được quản lý chặt chẽ sẽ làm hay đổi một số chỉ tiêu tài chính trên tất cả các nhóm chỉ tiêu như trên, từ đó thay đổi kết quả kinh doanh cũng như nguy cơ phá sản của doanh nghiệp, NQL dễ dàng đánh giá hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn hơn
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý tiền
Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, cho nên việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng
Trang 33sinh lời với tính thanh khoản Do đó, khi đánh giá hiệu quả quản lý tiền người
ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
+ Hệ số thanh toán hiện hành
Tài sản ngắn hạn + Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn =
+ Hệ số thanh toán nhanh ( quick ratio):Chỉ số thanh toán nhanh đo lường
mức thanh khoản cao hơn Chỉ những tài sản có tính thanh khoản cao mới được đưa vào để tính toán Hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác được
bỏ ra vì khi cần tiền để trả nợ, tính thanh khoản của chúng rất thấp
Tiền mặt+ chứng khoán khả mại+ các khoản phải thu + Hệ số thanh toán nhanh=
Nợ ngắn hạn.
Tiền mặt +Hệ số thanh toán tức thời =
(Hệ số thanh toán hiện hành) Nợ ngắn hạn
+ Vòng quay tiền trong kỳ
Vòng quay tiền trong kỳ cho biết số lần tiền được đưa sản xuất kinh doanh tạo nên doanh thu cho doanh nghiệp Tuy nhiên, trong thực tế dòng tiền vào
ra xuất hiện liên tục và không ổn định nên chỉ tiêu này chỉ phản ánh giá trị bình quân Vòng quay tiền càng cao, chứng tỏ tiền càng được sử dụng nhiều lần trong một kỳ, hiệu quả sử dụng tiền càng cao
Doanh thu trong kỳ
Trang 34Vòng quay tiền trong kỳ =
Tiền bình quân trong kỳ
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý khoản phải thu
Doanh nghiệp ngành xây dựng có khoản phải thu rất đặc trưng của ngành, khi ký kết hợp đồng thành công, doanh nghiệp tự ứng trước một khoản tiền để thi công dự án, khi bàn giao công trình thu dần theo doanh thu từng kỳ
từ chủ đầu tư cho đến khi công trình hoàn thành bàn giao Bởi vậy, với doanh nghiệp ngành xây dựng, khi xét đến hiệu quả quản lý khoản phải thu, quan trọng là các chỉ tiêu tài chính phản ánh quy mô và thời gian thu hồi công nợ càng thấp càng tốt
+ Kì thu tiền bình quân
Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu bình quân một ngày
+ Vòng quay các khoản phải thu
Doanh thu thuần Vòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu bình quân
Đây là một chỉ số cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp áp dụng đối với các bạn hàng Chỉ số vòng quay càng cao sẽ cho thấy doanh nghiệp được khách hàng trả nợ càng nhanh
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho
+ Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn để đánh giá doanh nghiệp
sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào
Doanh thu thuần Vòng quay của hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Chỉ số này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu quả như thế nào Chỉ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán
Trang 35hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu nhìn thấy trong báo cáo tài chính, khoản mục hàng tồn kho có giá trị giảm qua các năm Tuy nhiên chỉ số này quá cao cũng không tốt vì như thế có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Thêm nữa,
dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến cho dây chuyền bị ngưng trệ Vì vậy chỉ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất đáp ứng được nhu cầu khách hàng.+ Chu kỳ lưu kho
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng TSNH =
TSNH bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời.
+ Hệ số sinh lời của tài sản ngắn hạn
Trang 36Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn Nó cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế.
Lợi nhuận sau thuế
Hệ số sinh lời của TSNH =
TSNH bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cao phản ánh lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp cao, các doanh nghiệp đều mong muốn chỉ số này càng cao càng tốt vì như vậy đã
sử dụng được hết giá trị của tài sản ngắn hạn
2.1.3 Thực trạng quản lý tài sản ngắn hạn tại các công ty cổ phần ngành
xây dựng niêm yết ở Việt Nam
Có thể thấy các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam
đã thực hiện quản lý tài sản với đầy đủ các bước và theo trình tự như lý thuyết chung, phù hợp với khả năng của từng doanh nghiệp Xét về khía cạnh tài chính, kết quả của một chuỗi công việc quản lý tài sản tại công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết được ghi nhận qua một số chỉ tiêu đánh giá như sau
Bảng 2.1 Giá trị trung bình một số chỉ tiêu đánh giá quản lý tài sản tại
các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam
Trang 372009 2010 2011
là kết quả của sự nỗ lực điều tiết dòng tiền, áp dụng chính sách tín dụng và tồn kho phù hợp để đảm bảo khả năng thanh toán cho các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết
Thứ hai, các công ty cổ phần xây dựng niêm yết quay vòng hàng tồn kho khoảng 3 lần trong một năm Đối với doanh nghiệp sản xuất thông
thường, một vòng quay hàng tồn kho tương đương với một chu kỳ sản xuất sản phẩm Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp xây dựng có đặc thù sản xuất kéo dài nhiều năm, chia nhỏ thành các hạng mục khác nhau với nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu, phụ thuộc vào yêu cầu kỹ thuật của công trình, số vòng quay hàng tồn kho không phản ánh chính xác chu kỳ sản xuất Tuy nhiên, với giá trị ngày tồn kho bình quân là 120 ngày (tương đương 4 tháng), nguyên vật liệu không bị ứ đọng quá lâu tại kho, bãi, giúp nâng cao hiệu suất sử dụng
Thứ ba, khả năng thanh toán có xu hướng giảm và thấp hơn các công
ty cổ phần niêm yết thuộc ngành nghề khác, đặc biệt, khả năng thanh toán tức
thời giảm hẳn so với Khả năng thanh toán nhanh, chỉ đạt mức bình quân 0,15
Trang 38lần trong 5 năm Tức là, nếu không thu hồi các khoản nợ, dùng tiền sẵn có chỉ trả được 15% nợ ngắn hạn, đồng nghĩa với việc nếu chủ đầu tư không thanh toán nợ đúng hạn, thanh khoản của doanh nghiệp sẽ bị đe dọa Điều này lại đang xảy ra ở nhiều dự án do chủ trương đình hoãn, giãn tiến độ xây dựng để kiềm chế lạm phát, hạn chế tín dụng trong lĩnh vực bất động sản và sự thay đổi quy hoạch vùng, lãnh thổ.
Thứ tư, kỳ thu tiền bình quân quá dài, trung bình từ 4 tháng đến 6 tháng ghi nhận doanh thu (theo khối lượng công việc hoàn thành), công ty
cổ phần xây dựng niêm yết mới được thanh toán đầy đủ Cùng với việc khả năng thanh toán phụ thuộc vào khoản phải thu, tỷ trọng khoản phải thu luôn đứng đầu trong tổng tài sản của doanh nghiệp, cán bộ quản lý công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết phải đặc biệt nỗ lực để nâng cao hiệu quả quản lý dòng tiền và công nợ hơn nữa
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
* Thu thập số liệu thứ cấp
Tài liệu nào từ sách, báo, tạp chí, Báo cáo của công ty, Báo cáo toàn ngành trên trang web, Báo cáo tốt nghiệp các khóa trước, internet, …)
* Thu thập số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý doanh nghiệp Đây là cách người phỏng
vấn sử dụng nhiều loại câu hỏi khác nhau để tìm hiểu người được phỏng vấn làm, suy nghĩ hay cảm thấy gì Cụ thể, trong trường hợp này, người được phỏng vấn sẽ cho biết tình hình quản lý tài sản ngắn hạn thực tế tại doanh nghiệp của mình, đồng thời, lý giải về các quyết định, cũng như bày tỏ quan điểm về khó khăn, thuận lợi trong quá trình thực hiện
- Quan sát trực tiếp tại doanh nghiệp Cách này được tiến hành kết hợp
với phỏng vấn sâu để tiết kiệm nguồn lực Dưới sự hướng dẫn của cán bộ
Trang 39quản lý doanh nghiệp (thường là người được phỏng vấn), trực tiếp quan sát cách thức tổ chức quản lý tài sản tại văn phòng quản lý và địa điểm thi công Trong quá trình đó, có thể kết hợp trao đổi để làm rõ thêm những vấn đề cần biết Kết quả quan sát được ghi chép dưới dạng văn bản, không sử dụng hình thức quay phim hay chụp ảnh.
- Nghiên cứu tại bàn Đây là cách đọc và chắt lọc thông tin từ các văn
bản như báo cáo tổng kết, kết quả điều tra, tham luận hội thảo, bài viết chuyên sâu… (từ những nguồn thông tin đã trình bày ở trên) có liên quan tới quản lý tài sản ngắn tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu báo cáo tài chính của L10 trên các wedsite đã được trình bày, sau khi tải về được lưu trữ dưới dạng file Excel theo từng năm từ năm 2009- năm
2012 Trên cơ sở đó, tính toán các biến số đo lường quản lý tài sản ngắn hạn
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
2.2.3.1 Phương pháp so sánh
Chuyên đề xử lý số liệu và so sánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty với toàn ngành, so sánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn giữa các năm (trong giai đoạn nghiên cứu năm 2009- 2012) tại công ty L10
2.2.3.2 Phương pháp đo lường và các chỉ tiêu nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp đo lường đo mức độ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty L10, dựa trên hệ thống chỉ số tài chính
Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu sau:
+Các chỉ tiêu về quản lý tiền
+Chỉ tiêu về quản lý khoản phải thu
+Chỉ tiêu về quản lý hàng tồn kho
+Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn và khả năng sinh lời
2.2.3.3 Phương pháp phân tích cây vấn đề
Cây vấn đề là một công cụ phân tích dùng để diễn tả mối quan hệ nguyên nhân, hậu quả giữa các vấn đề Các mối quan hệ giữa các vấn đề sẽ được diễn tả thành nhiều tầng Một vấn đề vừa là nguyên nhân làm nảy sinh một hậu quả nhưng bản thân nó cũng là hậu quả của một vấn đề khác Trong một vấn đề có rất nhiều nguyên nhân nhỏ và được thể hiện qua cây vấn đề Phân tích cây vấn đề sẽ giúp cho nhà quản lý logic hơn trong quá trình suy nghĩ, tìm tòi ra nguyên nhân của các vấn đề đó Đặc biệt là trong quá trình nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Nó giúp nhà quản lý tìm hiểu được đâu là nguyên nhân gây ra rủi ro, và các nguyên nhân nhỏ hơn gây ra các nhóm nguyên nhân lớn Việc nghiên cứu cây nguyên nhân sẽ giúp cho chúng ta có biện pháp phát triển cây giải pháp, cây mục tiêu và nên ưu tiên giải quyết rủi ro nào, ưu tiên giải quyết các vấn đề nào để đạt được mục tiêu
đề ra
Trang 402.2.4 Khung phân tích
KHUNG PHÂN TÍCH
Các vấn đề cơ bản liên quan đến đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn Thực trạng hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần L10 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại công ty L10 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty theo từng khoản mục.
Các câu hỏi ngiên cứu
-Quản lý tài sản là gì?
-Thực trạng hiệu quả quản lý tài sản ngăn hạn tại L10 như thế nào?
-Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngăn hạn tại L10?
Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty theo từng khoản mục
được nghiên cứu và phân tích cụ thể là gì?
Những thông tin cần thu thập trong thực tế
Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây Tình hình cơ bản về công ty: Cơ cấu nhân sự,
Biến động tài sảnn ngắn hạn theo từng khoản mục trong những năm gần đây tại công ty Các chỉ số tài chính liên quan đến tài sản ngắn hạn của Công ty và của toàn ngành Xây dựng – lắp đặt.
Cách thức thu thập và phân tích thông tin
Cách thu thập :* Thu thập số liệu thứ cấp: Tài liệu nào từ sách, báo, tạp chí, Báo cáo của công ty,
Báo cáo toàn ngành trên trang web, Báo cáo tốt nghiệp các khóa trước, internet
* Thu thập số liệu sơ cấp :Phỏng vấn kế toán về tình hình quản lý và sử dụng tài sản NH tại công ty.
Cách phân tích: Phương pháp so sánh: Chuyên đề xử lý số liệu và so sánh hiệu quả quản lý tài
sản ngắn hạn của công tyvới toàn ngành, so sánh các chỉ tiêu hiệu quả với nhau, so sánh hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn giữa các năm (trong giai đoạn nghiên cứu năm 2009- 2012) tại công ty L10.
Phương pháp đo lường và các chỉ tiêu nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp đo lường đo mức độ hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại công
ty L10, dựa trên hệ thống chỉ số tài chính
Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu sau: (Liệt kê các chỉ tiêu/nhóm chỉ tiêu có nghiên cứu trong
chuyên đề, các khái niệm, công thức tính)
Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Lilama 10 trên cơ sở các kết quả nghiên cứu