ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM GIÁP THỊ HUYỀN Tên đề tài THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN YÊN NỘI 2, XÃ HOÀ[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
GIÁP THỊ HUYỀN
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG
VÀ TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN YÊN NỘI 2, XÃ HOÀNG CƯƠNG, HUYỆN THANH BA, TỈNH
PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2017 – 2022
Thái Nguyên, năm 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
GIÁP THỊ HUYỀN
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG
VÀ TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN YÊN NỘI 2, XÃ HOÀNG CƯƠNG, HUYỆN THANH BA, TỈNH
PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2017 – 2022 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Hưng Quang
Thái Nguyên, năm 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự quan tâm giúp đỡ, từ phía Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, đã tạo điều kiện cho em thực hiện khóa thực tập tốt nghiệp trước khi ra trường tại trang trại lợn Yên Nội 2 của Công ty Japfa Comfeed Việt Nam, nay em đã hoàn thành khóa thực tập và chuyên đề tốt nghiệp của mình
Trước tiên cho em xin phép được gửi lời cảm ơn bằng tất cả tấm lòng và biết ơn chân thành nhất của mình đến Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm – Đại học Thái Nguyên
Em xin cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y cùng tập thể các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y, đã hết lòng giảng dạy chỉ bảo em trong suốt những năm học trên giảng đường và tạo điều kiện cho em để hoàn
thành tốt khóa thực tập tốt nghiệp này
Em xin cảm ơn Ban lãnh đạo cùng tập thể cán bộ công nhân viên làm việc tại Traị lợn Yên Nội 2, công ty Japfa Comfeed Việt Nam cùng các anh kỹ thuật viên, các cô chú, anh chị công nhân trại đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp
đỡ trong thời gian em thực tập tại trang trại để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Hưng
Quang, người đã hướng dẫn, động viên cho em trong suốt quá trình thực tập
để em hoàn thành tốt khóa luận thực tập này
Lời cuối cùng em xin được cảm ơn tới gia đình người thân và các bạn sinh viên luôn sát cánh động viên em trong suốt quá trình học tập Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất cùng lời chúc sức khỏe và thành đạt.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 06 năm 2022
Sinh viên
Giáp Thị Huyền
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Lịch sát trùng chuồng trại 43
Bảng 3.2 Lịch phòng bệnh bằng vắc-xin tại trại 44
Bảng 4.1 Số lợn nái trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 50
Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 52
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại 54
Bảng 4.4 Kết quả phòng bệnh cho lợn con 55
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh phòng bệnh cho lợn nái sinh sản 57
Bảng 4.6 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái tại trại 58
Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn con tại trại 59
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái sinh sản tại trại 60
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con tại trại 61
Bảng 4.10 Kết quả thực hiện các thủ thuật trên lợn con và lợn nái tại trại 62
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm gần đây 41
Trang 5PGS.TS Phó giáo sư Tiến sĩ
PRRS Porcine Reproductive & Respiratory Syndrome
(Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp)
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1.Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện của cơ sở thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Quá trình thành lập trang trại 4
2.1.3 Cơ cấu tổ chức trong trại 4
2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn 6
2.2 Tổng quan tài liệu 7
2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 7
2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 10
2.2.3 Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho vật nuôi 15
2.2.5 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ 25
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 30
Trang 7Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32
3.1 Đối tượng theo dõi 32
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 32
3.3 Nội dung thực hiện 32
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 32
3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 32
3.4.2 Phương pháp thực hiện 33
3.4.3 Chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp tại cơ sở 45
3.4.4 Các công việc khác 47
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu công thức tính 48
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 49
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Yên Nội 2 của công ty JapFa comfeed Việt Nam 49
4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản 50
4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 6 tháng thực tập 50
4.2.2 Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn Yên Nội 2 52
4.2.3 Kết quả theo dõi tình trạng đẻ của lợn nái tại trại 53
4.2.4 Kết quả công tác phòng bệnh cho lợn tại trại 55
4.2.5 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái và lợn con tại trại 58
4.2.6 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái nuôi con và lợn con tại cơ sở 60
4.3 Kết quả thực hiện công tác khác tại cơ sở 62
5.2 Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 8Con giống, dinh dưỡng, quản lý, chăm sóc, phòng và điều trị bệnh là những yếu tố quan trọng trong chăn nuôi nói chung và trong chăn nuôi lợn nái nói riêng Để có tất cả các yếu tố trên đều tốt thì người chăn nuôi phải học tập đầu tư, tích lũy kinh nghiệm và được đào tạo một cách thường xuyên, bài bản, chính điều này quyết định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Hạn chế của chăn nuôi Việt Nam vẫn là quy mô nhỏ, năng suất thấp, phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu, con giống của nước ngoài, sức cạnh tranh kém cũng như việc lạm dụng chất kháng sinh, chất cấm trong chăn nuôi còn cao, hơn nữa vấn đề dịch bệnh cũng là mối lo ngại rất lớn Công ty Japfa comfeed Việt Nam có quy mô chăn nuôi lớn với rất nhiều trang trại, trong đó trại lợn Yên Nội 2 là một trại có quy mô khá lớn với 1200 con nái, được đầu tư cơ sở vật chất và quy trình chăm sóc nuôi dưỡng hiện đại
Từ thực tế chăn nuôi cho thấy, việc thực hiện quy trình chăn nuôi của công
ty Japfa rất bài bản, hiện đại, đạt hiệu quả kinh tế cao, có thương hiệu trong ngành chăn nuôi tại Việt Nam và thế giới Đối với sinh viên chuyên ngành Thú
y thì việc, làm chủ quy trình chăn nuôi, thực hiện được các kỹ thuật chăn nuôi cho đàn lợn nái sinh sản là rất cần thiết
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên và được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn và cơ sở thực tập, em thực hiện đề tài:
“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Yên Nội 2, xã Hoàng Cương, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ”
Trang 91.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1.Mục tiêu
- Củng cố kiến thức lý thuyết thông qua việc vận hành quy trình chăn
nuôi lợn nái sinh sản tại trại
- Thành thạo các kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản và lợn
con theo mẹ
- Biết chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái
sinh sản và lợn con theo mẹ
- Biết tổ chức triển khai các hoạt động sản xuất của một trang trại chăn nuôi lợn sinh sản
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Chấp hành tốt nội quy, quy định của nhà trường và cơ sở thực tập
- Nghiêm túc, trung thực, chủ động triển khai các nội dung của khóa luận
- Không ngừng học hỏi để rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và nâng cao kinh nghiệm cho bản thân cũng như làm việc nhóm và làm việc độc lập
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện của cơ sở thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trại lợn Yên Nội 2 là trại lợn của công ty JapFa comfeed Việt Nam Trại lợn nằm trên địa bàn xã Hoàng Cương, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Vì vậy, trang trại có những điều kiện tự nhiên đặc trưng của tỉnh Phú Thọ
- Vị trí địa lý
Thanh Ba là một huyện miền núi Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ Huyện Thanh Ba có diện tích khá rộng 195,0343 km² có 25 xã và 1 thị trấn huyện (Thanh Ba)
Thanh Ba có dân số 112.589 (1/2009), gồm các dân tộc: Dao, Kinh, Cao Lan
Phía Đông Bắc của huyện giáp với huyện Đoan Hùng; phía Tây Bắc giáp huyện Hạ Hòa còn phía Tây Nam giáp huyện Cẩm Khê của tỉnh Phú Thọ; ở dưới phía Nam của huyện giáp huyện Tam Nông, phía Đông Nam giáp với thị
xã Phú Thọ và huyện Phù Ninh
Thanh Ba là huyện miền núi nên có địa hình khá hiểm trở đồi gò xen kẽ thung lũng, dốc từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam Trên địa bàn huyện có dòng sông Hồng chảy qua
Xã Hoàng Cương là xã miền núi của huyện Thanh Ba Với tổng diện tích
là 16,04 km ² được sát nhập bởi xã Hoàng Cương, Thanh Xá và Yên Nội Với gần 10000 nhân khẩu, sống phân bố ở 15 khu dân cư khác nhau trong xã Xã Hoàng Cương được nằm tiếp giáp với nhiều xã của Huyện Thanh Ba như: xã Chí Tiên, Ninh Dân, Mạn Lạn và giáp với huyện Cẩm khê…
- Khí hậu: Thanh Ba chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Độ ẩm trong năm trung bình đạt 81,10 % có tháng cao nhất là
Trang 1191%, tháng thấp nhất là 78% Lượng mưa trung bình hằng năm là 1577mm, tháng lớn nhất là 305mm nhỏ nhất 24mm Với điều kiện khí hậu này rất bất lợi cho chăn nuôi gia súc, gia cầm
2.1.2 Quá trình thành lập trang trại
Trại lợn được xây dựng và đi vào hoạt động từ cuối năm 2018, do Công
ty Japfa comfeed Việt Nam đầu tư và trực tiếp quản lý Trại lợn được xây dựng với quy mô nuôi 1200 lợn nái sinh sản
Trại lợn được xây dựng đảm bảo theo tiêu chuẩn kỹ thuật chăn nuôi, địa hình bằng phẳng, xa khu dân cư và thuận lợi về đường giao thông, nguồn nước, trạm điện… Trang trại có diện tích gần 5 ha, lợn giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, kỹ thuật đều do Công ty JapFa comfeed chịu trách nhiệm thực hiện
và giám sát
2.1.3 Cơ cấu tổ chức trong trại
Trại Lợn Yên Nội 2 có cơ cấu tổ chức trại như sau:
+ 01 Trưởng trại quản lý chung các hoạt động của trại lợn
+ 1 kế toán trại: chịu trách nhiệm nhập số liệu đầu vào, đầu ra các thiết
bị, vật tư của trại …
+ 2 cán bộ kỹ thuật phụ trách toàn bộ về chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn của trại
+ 1 cán bộ bảo vệ
+ 1 cán bộ cấp dưỡng
+ 17 công nhân làm việc ở khu chăn nuôi và 2 sinh viên thực tập
2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại
Với diện tích 5 ha, trang trại được xây dựng với nhiều khu chăn nuôi riêng biệt: Khu chuồng bầu, khu chuồng cho lợn nái đẻ và nuôi con; khu chuồng dành cho lợn cách ly (lợn mới nhập về) Mỗi khu chuồng được thiết kế thành nhiều dãy chuồng khác nhau, đảm bảo khoảng cách giữa các dãy chuồng và an
Trang 12toàn cho công tác phòng dịch
Khu chuồng lợn bầu gồm được chia làm 3 chuồng: chuồng phối giống; chuồng bầu 1 và chuồng bầu 2; Trong mỗi chuồng có 8 dãy, mỗi dãy có 65 ô lợn, mỗi lợn sẽ được nuôi nhốt riêng trong từng ô
Chuồng phối giống: gồm có 6 dãy, 01 dãy dành cho lợn đực, 05 dãy còn lại dành cho lợn mang thai và lợn chuẩn bị lên phối giống
Chuồng trại được thiết kế hiện đại với hệ thống máng ăn, máng uống tự động; và đảm bảo diện tích cho từng lợn nái nuôi theo quy mô công nghiệp chuồng kín
Khu chuồng đẻ là khu có nhiều chuồng nhất gồm có 6 chuồng nuôi được sắp xếp theo thứ tự chuồng đẻ 1, chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3, chuồng đẻ 4, chuồng
đẻ 5, chuồng đẻ 6 Cũng như các chuồng của các trại khác phía đầu chuồng luôn là là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió gồm có 3 quạt, ở giữa và đầu chuồng có nhiệt kế đo nhiệt độ, độ ẩm chuồng nuôi Mỗi chuồng đẻ gồm có 2 dãy và có 60 ô trong 1 chuồng Trong chuồng đẻ sàn của lợn mẹ làm bằng bê tông cao hơn mặt hành lang đi lại để việc vệ sinh và cào phân được thực hiện dễ dàng, sàn chuồng dành cho lợn con được làm bằng sàn nhựa cứng Cũng như các chuồng khác mỗi một ô chuồng đẻ đều có vòi nước
tự động dành cho lợn mẹ nhưng hơi khác biệt là ngoài vòi nước cho lợn mẹ còn
có thêm vòi nước dành cho lợn con riêng biệt Mỗi ô chuồng đều có diện tích khá rộng để vừa lồng úm lợn con, lồng úm được làm bằng khung sắt và xung quanh có tấm nhựa làm vách ngăn, bên trên có nắp lồng úm làm bằng nhựa Chuồng đẻ còn được trang bị thêm bóng hồng ngoại để sưởi ấm, thảm lót cho lợn con, máng tập ăn lợn con
Khu chuồng cách ly: Nằm tách biệt với cách khu chuồng, mỗi chuồng có
5 ô rộng khoảng 25m² Đây nơi nuôi lợn hậu bị mới nhập về để thay thế đàn lợn bù vào số lượng lợn đã bị bán loại do có năng xuất kém hay làm tăng số
Trang 13lượng đàn nái sinh sản lên
Ngoài diện tích sử dụng cho khu vực chăn nuôi, trại còn sử dụng đất để trồng cây và hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi như: hồ điều hòa, ao sinh học…và khu vực nhà kho
Để đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi lợn tại trang trại Công ty
đã thiết kế khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, nhà điều hành … ở khu tách biệt với khu chăn nuôi Có hệ thống phun khử trùng tự động và hố vôi sát trùng cho các phương tiện ra vào trại Tuy nhiên, do đây là trại giống của công ty nên những người không phận sự không được vào trại lợn Và chỉ được vào trại lợn khi được phép của công ty và thực hiện cách ly theo đúng quy trình 3 vòng an toàn sinh học của công ty
Nguồn nước thải được chảy ra hệ thống xử lý nước thải bioga ở sau trại, phân trong các khu chuồng bầu, chuồng phối thì được công nhân hót vào bao
để cuối buổi chiều trong ngày xếp vào khu nhà chứa phân còn phân ở khu chuồng đẻ thì được hất thẳng xuống ngầm và hằng ngày xả nước và thả men vi sinh xuống để xử lý trước khi chảy ra hệ thống xử lý nước thải Trước các khu chuồng thì có hàng lang nước vôi mọi người lên chuồng đều phải đi qua hành lang đó trước khi vào chuồng làm việc
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn
2.1.5.1 Thuận lợi
- Vị trí xây dựng trang trại cách xa khu dân cư và nằm trong vùng ít trang trại chăn nuôi, có đường giao thông thuận tiện cho việc vận chuyển vận tư sử dụng cho trang trại
- Đội ngũ quản lý, kỹ thuật của trại có năng lực trách nhiệm trong công việc quan tâm đến đời sống của cán bộ công nhân viên trong trại
- Môi trường làm việc đảm bảo vệ sinh, an toàn cho cả con người và con vật
Trang 14- Trang trại thực hiện tốt quy trình chăn nuôi của công ty nên đạt hiệu quả cao trong sản xuất
2.1.5.2 Khó khăn
- Do địa hình đồi núi có nhiều loài côn trùng như dán và ruồi muỗi truyền bệnh, lây truyền giữa con ốm và con khỏe
- Vào mùa hè trại vẫn chưa khắc phục được tình trạng thiếu nước
- Nguồn nhân công vẫn còn thiếu do công nhân vẫn ra vào bất thường chưa thực sự gắn bó lâu dài với trại
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con
* Quy trình nuôi dưỡng
Trong chăn nuôi, thức ăn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng xuất và chất lượng của sản phẩm chăn nuôi Mỗi loài vật nuôi đều có những tiêu chuẩn và quy định về lượng cũng như loại thức ăn khác nhau, phù hợp với đặc điểm sinh lý của lợn Đối với lợn nái sinh sản giai đoạn nuôi con thì yêu cầu về chất lượng thức ăn càng cao Vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sản xuất và chất lượng sữa của lợn mẹ Các loại rau xanh, các loại củ quả tốt cho lợn mẹ giai đoạn nuôi con như bí đỏ, cà rốt, đu đủ đấy là các loại thức ăn xanh cần cung cấp cho lợn mẹ hay thức ăn tinh cũng tốt như gạo tấm, bột mỳ, các loại thức ăn có nhiều đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin bổ sung đầy đủ các loại thức ăn trên thì lợn mẹ sẽ sản sinh được nhiều sữa Những loại thức ăn bị hỏng, thối mốc hay đã bị biến chất thì không sử dụng để cho lợn nái nuôi con ăn
Trong thời đại chăn nuôi theo hình thức chăn nuôi công nghiệp như hiện nay thì thành phần dinh dưỡng trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh phải đảm bảo
Trang 15đầy đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định theo (Trần Văn Phùng và cs 2004) [12]
Quá trình tiết sữa của lợn mẹ nhiều hay ít là do lượng thức ăn mà lợn nái nuôi con nhận được, hiểu được vai trò quan trọng của khẩu phần ăn hằng ngày của lợn nái nuôi con, vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Muốn lợn nái ăn nhiều thì khi chế biến thức ăn cần chế biến tốt, có mùi vị thơm ngon, không dùng nguyên liệu bị hư hỏng để kích thích tính thèm
ăn của lợn nái Vào những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái
mà quyết định khẩu phần ăn sao cho hợp lý, những con nái hậu bị thường ăn kém hơn nái dạ Ngày lợn có biểu hiện của việc sắp đẻ và ngày đẻ cần cho lợn nái ăn ít thức ăn (0,5kg) nhưng cho uống nước tự do Sau khi đẻ, sức khỏe của lợn nái không được tốt không nên cho lợn nái ăn nhiều ngay cũng như không
tự tăng lượng thức ăn một cách đột ngột mà phải tăng từ từ, đến ngày thứ 4-5 sức khỏe lợn nái dần dần ổn định thì cho ăn đủ tiêu chuẩn theo nhu cầu của lợn
mẹ và theo thể trạng của lợn mẹ theo (Trần Văn Phùng và cs 2004) [12], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho theo mức ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ không cho ăn hoặc cho lợn nái ăn ít (0,5kg), nhưng cho uống nước tự do
+ Từ sau những ngày tiếp theo sau khi sinh xong ngày thứ 1, 2 và 3 cho
ăn thức ăn với lượng thức ăn từ 1 - 2 - 3kg tương ứng
+ Ở những ngày lợn mẹ nuôi con từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 7 cho ăn 4kg thức ăn /nái/ngày
+ Từ ngày thứ 8 trở đi đến lúc cai sữa cho ăn theo công thức:
Lượng thức ăn/nái/ngày = 2kg + (số con x 0,35kg/con)
+ Số bữa ăn: 2 bữa/ ngày (sáng và chiều)
Trang 16+ Lợn mẹ có thể trạng gầy thì tăng cho ăn thêm 0,5kg, lợn mẹ có thể trạng béo phì thì giảm 0,5kg thức ăn/ngày phù hợp với nhu cầu của nái
+ Nếu có thể cho lợn nái nuôi con ăn bổ sung thêm từ 1-2kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)
+ Trước một ngày cai sữa nên cho lợn mẹ giảm lượng thức ăn 20 – 30 % + Ngày cai sữa nên cho lợn nái nuôi con nhịn ăn, hạn chế uống nước
- Đối với lợn nái nội:
+ Đối với nhu cầu thức ăn của lợn nái nội sẽ có công thức tính như sau: Nếu khối lượng cơ thể dưới 100kg, mức ăn trong 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,2kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18kg)
Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị
Nếu khối lượng cơ thể từ 100kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,4kg + (số con theo mẹ x 0,18kg)
Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị
* Quy trình chăm sóc
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], trong chăn nuôi muốn con vật nhanh hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ thì cho con vật vận động, hay tắm nắng thường xuyên sau khi đẻ Trong điều kiện chăn nuôi
có sân vận động rộng với thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái đẻ được 3 - 7 ngày
ra ngoài vận động, thời gian lúc ban đầu mới chỉ cho vận động nhẹ nhàng khoảng 30 phút/ngày, sau đó tăng dần số giờ vận động lên để cho lợn nái thoải mái và nhanh phục hồi sức khỏe Trong các trang trại chăn nuôi hiện nay lợn
mẹ đều bị hạn chế vận động do bị nhốt trong các cũi đẻ, không có không gian vận động, nên cần phải chú ý đến thành phần của các chất dinh dưỡng của thức
ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin trong thức ăn lợn mẹ
Trang 17Chuồng trại khô ráo sạch sẽ, thông thoáng là yêu cầu bắt buộc đối với một chuồng nuôi của lợn nái nuôi con để nhằm hạn chế sự phát triển của mầm bệnh Do vậy yêu cầu hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, phun thuốc sát trùng,
vệ sinh máng ăn sạch sẽ tăng cường cào phân cho lợn nái Chuồng đẻ phải có
ô úm để nhốt lợn con khi được sinh ra, ngoài ra phải có máng tập ăn cho lợn con để tập ăn sớm cho lợn ngoài ra còn phải có bóng sưởi, đệm lót Nhiệt độ thích hợp trong chuồng nuôi là 28 – 300C, độ ẩm từ 70 - 75%
Trong những ngày đầu khi lợn mẹ mới đẻ xong cần quan tâm đến sức khỏe lợn mẹ theo dõi nhiệt độ cơ thể, quan sát bầu vú xem có biểu hiện lạ để phát hiện xem lợn có bị sốt sữa, sát nhau hoặc nhiễm trùng… để có biện pháp
lý lý kịp thời
2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
2.2.2.1 Đặc điểm của lợn con
Muốn con non được sinh ra khỏe mạnh và có một thể trạng tốt thì trong giai đoạn mang thai con mẹ cần được chăm sóc chu đáo, chế độ dinh dưỡng hợp lý, bào thai sẽ phát triển tốt, con sinh ra có sức khỏe tốt
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], trong thời kỳ trưởng thành của lợn con thì giai đoạn mà lợn con sinh trưởng phát dục nhanh nhất là ở giai đoạn
sơ sinh và bú sữa mẹ đây là giai đoạn lợn con phát triển nhanh nhất so với các các giai đoạn sau đó, thí dụ như khối lượng lợn con giai đoạn sơ sinh tăng gấp
2 lần so với lúc lợn con được 10 ngày, gấp 4 lần so với lợn con được 21 ngày,
30 ngày tuổi tăng gấp 5-6 lần, gấp 7-8 lần so với lợn được 40 ngày tuổi và đến khi 60 ngày tuổi tăng 12-14 lần
Trong vòng 21 ngày đầu sau khi sinh lợn con bú sữa mẹ có sự phát triển
về khối lượng và kích thước nhanh nhất nhưng về sau lại giảm dần, sự phát triển này không đều qua các giai đoạn Có rất nhiều nguyên nhân tác động đến
sự giảm này, nhưng nguyên nhân chính tác động mạnh nhất và chủ yếu là do
Trang 18lượng sữa lợn mẹ bắt đầu giảm, lợn con được tiếp nhận được ít lượng sữa mẹ vào cơ thể nên hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Như vậy còn được gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con thời gian này kéo dài
2 tuần Để lợn con không bị giảm sự sinh trưởng và phát triển cần cho lợn con tập ăn sớm
* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa của lợn con
Cấu tạo và chức năng tiêu hóa của cơ quan tiêu hóa lợn con phát triển nhanh và dần hoàn thiện chức năng nhanh ở giai đoạn lợn con theo mẹ
Lúc mới sinh ra bộ máy tiêu hóa của chúng chưa có hoạt lực cao, trong giai đoạn theo mẹ, chức năng tiêu hóa của một số loại men như: men pepsin, amylaza, maltaza, saccaraza, trypsin có hoạt tính tăng dần, còn 4 loại men sau: catepsin, lactaza, lipaza và chymosin có hoạt tính mạnh nhất trong 3 tuần đầu sau đẻ và sau đó giảm dần
Nói chung trong quá trình nuôi dưỡng lợn con chúng ta cần chế biến thức
ăn tốt và tập ăn sớm cho chúng để tăng khả năng tiêu hóa Còn ở giai đoạn bú sữa mẹ chúng chỉ có khả năng tiêu hóa tốt các chất dinh dưỡng có trong sữa
mẹ, còn khả năng hấp thụ tiêu hóa thức ăn kém
* Khả năng miễn dịch của lợn con
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], khi mới sinh ra kháng thể trong người lợn con hầu như là chưa có, lượng kháng thể chỉ tăng rất nhanh sau khi lợn con được tiếp nhận sữa đầu từ lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ nhiều hay ít
Hàm lượng chất dinh dưỡng trong sữa đầu rất cao đặc biệt là hàm lượng protein Trong những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18
- 19%, lượng γ-globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) nhưng sau đó giảm dần Sữa đầu có tác dụng tạo sức đề kháng, tạo khả năng miễn dịch cho lợn con
Trang 19Hàm lượng γ-globulin được lợn con hấp thu nguyên vẹn qua ẩm bào, quá trình hấp thu nguyên tử γ-globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Lợn con chỉ hấp thu γ-globulin ở ruột non tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu
có kháng men antitrypsin làm mất hoạt lực của men trypsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24 giờ lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu γ-globulin giảm, làm hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con tăng lên chậm Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được
bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
2.2.2.2 Kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con theo mẹ
* Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con
Lợn con mới sinh ra có sức đề kháng rất kém vì thế cần được bú sữa đầu ngay sau khi mới sinh ra càng sớm càng tốt Hàm lượng sữa đầu có ý nghĩa quan trọng nhất đối với lợn con là 24 giờ sau khi lợn mẹ đẻ càng về sau chất lượng sữa đầu của lợn mẹ kém hơn Nếu lợn mẹ đẻ trong thời gian kéo dài lâu chưa xong không thể cho cả đàn con cùng bú thì bắt những con đẻ trước cho bú
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], khi mới sinh ra kháng thể trong người lợn con hầu như là chưa có, lượng kháng thể chỉ tăng rất nhanh sau khi lợn con được tiếp nhận sữa đầu từ lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn
là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể có trong sữa đầu của lợn
mẹ nhiều hay ít
Trang 20Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong sữa đầu rất cao phải kể đến như: lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với trong sữa bình thường hay các loại vitamin như vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần Trong sữa đầu có một hàm lượng chất đặc biệt mà ở sữa thường không có đó là hàm lượng γ-globulin, γ-globulin có tác dụng giúp cho lợn con
có sức đề kháng tốt đối với bệnh tật Ngoài ra, Mg2 trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cạn bã (phân su) trong quá trình tiêu hóa phát triển thai để giúp lợn con hấp thu chất dinh dưỡng mới Khi lợn con mà không được bú sữa đầu thì
sẽ không nhận được Mg2+ làm cho lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy,
tỷ lệ chết cao
Khi lợn con được sinh ra cần thả vào trong lồng úm cho khô lông, ngay sau khi khô lông thì nhấc ra cho bú sữa đầu Lúc đó là thời điểm tốt để thực hiện việc cố định đầu vú cho lợn con ngay, sữa của lợn nái mẹ thường tiết ra nhiều ở các vú phần ngực còn các vú ở phần bụng thì ít hơn mà lợn con trong một đàn thường không đồng đều về khối lượng Nếu để cho lợn con tự bú theo bản năng của nó thì những con to khỏe thường tranh bú hết ở những vú trước ngực có nhiều sữa và những con có khối lượng nhỏ không tranh được phải bú
ở phần vú bụng dẫn tới tỷ lệ không đồng đều trong đàn tăng, có trường hợp những con lợn yếu thể trạng không tốt không tranh được bú sẽ bị đói chết Cần
ưu tiên những con lợn nhỏ yếu cố định chúng bú ở các vú phía trước ngực Cần làm nhiều lần trong ngày và liên tục trong 3 -4 ngày với công việc cố định bầu
vú cho lợn con để cho chúng quen vị trí của của chúng
Sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ tự quen bú ở các vú quy định của nó, việc lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tư thế nằm của lợn mẹ, nếu lợn mẹ thay đổi tư thế nằm liên tục thì lợn con khó có thể làm quen được nhanh Ngược lại nếu lợn mẹ cố định vị trí, tư thế nằm thì lợn con sẽ quen nhanh và cố định được vú bú của mình
Trang 21Theo Duy Hùng (2011) [7], trước khi cho lợn con bú sữa cần vệ sinh bầu
vú, phần thân sau cho lợn mẹ bằng dung dịch sát trùng Khi lợn con đẻ ra cần bấm nanh cho lợn con để tránh làm tổn thương núm vú Cần tránh cho lợn mẹ nguy cơ thừa sữa bằng cách hạn chế protein trong khẩu ăn cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ những vẫn vẫn phải đầy đủ chất dinh dưỡng
* Bổ sung sắt cho lợn con
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], lợn con khi mới đẻ ra chỉ được cung cấp sắt từ sữa mẹ nhưng hàm lượng sắt trong sữa mẹ không đủ nhu cầu cho cơ thể, chính vì vậy cần bổ sung sắt từ bên ngoài vào cho lợn con
Do lợn con đang thiếu sắt nên cần bổ sung lượng sắt từ bên ngoài vào trong
cơ thể 30 ngày đầu sau sinh là 210mg Sữa mẹ chỉ cung cấp được cho lợn con 2mg/ngày do đó lợn con vẫn còn thiết hụt khoảng 150- 180mg sắt Vì vậy cần bổ sung ngay lượng sắt thiết hụt đó bằng cách tiêm sắt cho lợn con mà thực tế hay bổ sung 200mg sắt
1-Bổ sung sắt cho lợn con trong 3 – 4 ngày đầu sau khi sinh bằng đường tiêm là tốt nhất, thường việc tiêm sắt sẽ được kết hợp với các thao tác như bấm đuôi, nhỏ cầu trùng hay thiến lợn đực sẽ tiết kiệm được công lao động như ở trại em thực tập thường kết hợp việc tiêm sắt với việc nhỏ cầu trùng và thiến lợn đực Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200mg sắt chia 2 lần là lúc 3 ngày tuổi và lúc 10 - 12 ngày tuổi
Lợn con có triệu chứng da trắng xanh, nhợt nhạt đây là triệu chứng điển hình của bệnh thiếu sắt, ngoài ra đôi khi còn thấy lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, còn làm cho lợn con chậm lớn, có khi bị chết
Để khắc phục và phòng hiện tượng trên cần bổ sung kịp thời sắt cho lợn con bằng nhiều cách nhưng đường tiêm là hiệu quả nhất
Trang 22Sắt dưới dạng dextran, hợp chất này có tên là Ferri - Dextran Ferri - Dextran là hợp chất có phân tử lớn nên ngấm từ từ, hiệu quả kéo dài nhất Cách thức sử dụng:
- Cách 1: Tiêm 1 lần duy nhất vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, với liều lượng 200mg/1con sắt (Fe - Dextran)
- Cách 2: Chia ra tiêm làm 2 lần: lần 1 tiêm 100mg/con vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, lần thứ 2 cách lần đầu 7 ngày tiêm với 100mg cho 1 lợn con
* Tập cho lợn con ăn sớm
- Lợn con khi được cho tập ăn từ sớm có rất nhiều tác dụng như:
+ Hạn chế được stress khi cai sữa ở lợn con
+ Giúp cho bộ máy tiêu hóa ở lợn con phát triển nhanh và hoàn thiện nhanh hơn khi cai sữa ăn thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh sẽ dễ tiêu hóa
+ Thức ăn kích thích tế bào vách của dạ dày, tiết ra acid (HCl) tự do sớm hơn, giúp lợn tăng cường tiết dịch vị sớm hơn
+ Lợn con biết ăn sớm sẽ giảm tỷ lệ hao hụt thể trạng ở lợn mẹ từ 20% khi cai sữa, lợn mẹ trở về chuồng bầu có thể động dục và phối giống sau
15-4 -7 ngày
+ Tăng khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con bởi khối lượng cai sữa quyết định do: 57% thức ăn bổ sung, 38% của sữa lợn mẹ, 5% trọng lượng sơ sinh
- Thời gian cho lợn con ăn sớm:
Thường bắt đầu cho tập khi lợn con được từ 5 -7 ngày tuổi Để tiện lợi nên dùng loại thức ăn sản xuất riêng cho lợn con tập ăn
2.2.3 Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho vật nuôi
2.2.3.1 Phòng bệnh
Trong chăn nuôi phòng bệnh là một trong những khâu đặc biệt quan trọng, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh dịch xảy ra và giảm được chi phí thuốc trong chăn nuôi, còn tăng cường được sức
Trang 23đề kháng cho con vật Các biện pháp phòng bệnh đều xoay quanh 3 yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ, cả 3 yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Cho nên việc phòng bệnh hay điều trị bệnh phải biết kết hợp nhiều phương pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt
Nguyên nhân để xuất hiện một bệnh trong đàn vật nuôi nói chung hay đàn lợn nói riêng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như: do bệnh truyền nhiễm hoặc không phải bệnh truyền nhiễm hay là do sự kết hợp của 2 nguyên nhân trên Các biện pháp phòng bệnh áp dụng cũng nhằm kiểm soát hạn chế khả năng lây lan của mầm bệnh, tăng sức đề kháng của đàn lợn (theo Nguyễn Ngọc Phục, 2005) [12]
Trong chăn nuôi đâu đâu cũng thấy mầm bệnh như hiện nay, khâu phòng bệnh hết sức quan trọng cho nên trước ngày đẻ dự kiến từ 3 - 5 ngày chuồng lợn đẻ, ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh, cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất nhằm tiêu độc khử trùng chuồng trước lên lợn đẻ, theo Trần Văn Phùng
và cs, (2004) [13]
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Việc thiết kế chuồng trại phải phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thuận tiện cho việc vệ sinh và phải đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh, càng
xa khu dân cư càng tốt ngày càng được các trang trại chăn nuôi quan tâm Vệ sinh chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng các phương pháp như: Rửa sạch, phun khử trùng, xông chuồng bằng các loại hóa chất sát trùng và có thời gian để trống chuồng Đối với những chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm thì phải tiêu độc vệ sinh triệt để, kỹ càng theo đúng hướng dẫn của thú y và có thể xông chuồng bằng formol hay thuốc tím, các dụng cụ và môi trường xung quanh cần phun sát trùng kỹ Các chất thải trong chăn nuôi của động vật bị bệnh truyền nhiễm như phân rác, chất độn chuồng, dụng cụ rẻ tiền mau hỏng cần thu gom
Trang 24lại để đốt hoặc tiêu hủy không được vứt bừa bãi ra môi trường xung quanh Các dụng cụ chăn nuôi cần ngâm sát trùng rồi rửa sạch với nước, phơi khô rồi để đúng vào nơi quy định Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi cẩn thận tránh làm mầm bệnh lây lan ra sang con vật khỏe mạnh
- Việc phòng bệnh bằng vắc-xin
Có rất nhiều cách phòng bệnh trong chăn nuôi nhưng hiệu quả nhất vẫn
là phòng bệnh bằng vắc-xin được nhiều trại áp dụng
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [5], vắc-xin là một chế phẩm sinh học chứa các mầm đã được làm yếu đi hoặc đã chết (không còn khả năng gây bệnh) Khi đưa vắc-xin vào cơ thể động vật nó sẽ kích cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại mầm bệnh (còn gọi là miễm dịch)
Sau khi đưa vắc-xin vào cơ thể động vật nó không có tác dụng phòng bệnh ngay lập tức mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc-xin) mới tạo
ra miễn dịch
2.2.3.2 Điều trị bệnh
Các nguyên tắc để điều trị bệnh đạt hiệu quả là:
- Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc
- Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
- Phải kết hợp giữa điều trị với hộ lý, chăm sóc, dinh dưỡng, tăng sức đề kháng, dùng thuốc
- Chẩn đoán đúng lúc hay là chuẩn đoán bệnh kịp thời để bệnh dễ khỏi
và hạn chế sự lây lan
- Diệt căn nguyên gây bệnh là chủ yếu kết hợp với chữa triệu chứng
- Tăng cường sức đề kháng của cơ thể cho con vật bằng nhiều cách như
bổ sung vitamin, vệ sinh tiêu độc chuồng trại hằng ngày, làm cho cơ thể có thể
Trang 25tự chống lại và đào thải mầm bệnh thì bệnh mới chang khỏi, ít bị biến chứng
và miễn dịch mới lâu bền
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [5], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
- Hộ lý: Nhốt riêng những gia súc ốm nghi ngờ hay đã bị bệnh truyền nhiễm ở 1 chuồng riêng, chuồng phải thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh Cung cấp thức ăn nước uống, theo dõi thân nhiệt, tần số hô hấp, phân, nước tiểu của gia súc để phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh truyền nhiễm để kịp thời xử
lý Cung cấp thức ăn tốt dễ tiêu hóa
- Dùng kháng huyết thanh thường dùng chữa các bệnh trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh nó có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
- Dùng kháng sinh: Kháng sinh là thuốc có tác dụng kìm hãm của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Kháng sinh có tác dụng khác nhau trên từng loại
vi khuẩn Dùng kháng sinh có thể gây ra nhiều tác hại không mong muốn như kháng kháng sinh, nhờn thuốc, tai biến do thuốc có tính độc Vì vậy, khi dùng thuốc kháng sinh cần tuân thủ theo những nguyên tắc sau đây:
+ Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, đúng liều, dùng sai thuốc sẽ không chữa khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
+ Đầu tiên khi dùng có thể liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
+ Dùng kháng sinh càng sớm càng tốt không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
+ Khi sử dụng kháng sinh cần kết hợp bổ sung và các loại vitamin
Trang 262.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái
2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [14], trong quá trình đỡ đẻ lợn nái do thao tác không cẩn thận làm lợn nái sau khi đẻ thường bị viêm tử cung Lợn nái bị viêm tử cung là bị tổn thương lớp niêm mạc từ đó gây ảnh hưởng sự tiết Prostagladin F2 và làm xáo trộn chu kỳ động dục và chậm quá trình lên giống
* Nguyên nhân
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản bệnh hay gặp nhất là bệnh viêm tử cung
có thể xảy ra ở những thời gian khác nhau, nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ được 1 - 10 ngày cũng có thể xảy ra ở lợn nái sau khi phối giống do kỹ thuật phối chưa tốt làm vi khuẩn xâm nhập vào bên trong.Bệnh ít xảy ra ở nái hậu bị
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [14], có rất nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung như: chế độ dinh dưỡng không hợp lý ở thời kỳ cuối thai kỳ làm bào thai quá to dẫn đến đẻ khó, những con có lứa đẻ càng cao thì sự co bóp
tử cung càng giảm thì lại phải can thiệp bằng tay, tình trạng sức khỏe con mẹ không tốt ốm yếu, chăm sóc và quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi nhưng nguyên nhân chủ yếu luôn có ở trong mọi trường hợp là do vi khuẩn, những nguyên nhân khác sẽ làm cho sức đề kháng của cơ thể con vật suy giảm tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển để gây nên các triệu chứng
Vi khuẩn gây ra bệnh viêm tử cung chủ yếu và nhiều nhất là do vi khuẩn
tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli, còn có thể do trùng doi (Trecbomonas fortus) và do nấm Candda albicans chính chúng là nguyên nhân ngây ra bệnh viêm tử cung ở lợn nái (theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị
Tài, 2002) [4]
Trang 27Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo
* Triệu chứng
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [16], triệu chứng chủ yếu khi một nái bị viêm sẽ có biểu hiện lâm sàng biểu hiện ra bên ngoài như: tần số hô hấp đều tăng, lợn bị sốt theo quy luật sáng sốt nhẹ 39°C - 39,5°C, chiều sốt cao 40°C - 41°C
Lợn ăn kém hay bỏ ăn, sản lượng sữa giảm, con vật không nằm yên Triệu chứng điển hình của bệnh này là bộ phận sinh dục của con cái chảy
ra hỗn dịch màu nâu, có mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi con vật nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn
Khi một lợn nái mắc bệnh viêm tử cung có thể mắc ở một trong 3 thể viêm sau tùy vào quá trình viêm: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung (theo Nguyễn Văn Thanh, 2004) [17]
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung
tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể
vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng
Trang 28nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Khi lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu
- Lượng sữa giảm hoặc mất hẳn trong giai đoạn theo thường bị tiêu chảy
- Theo Trần Thị Dân (2006) [2], lợn nái bị viêm tử cung thể mãn tính sẽ khó hoặc không có khả năng động dục trở lại
- Tỷ lệ phối giống không đạt không cao tăng ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Mặt khác, viêm tử cung cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến mất sữa, từ đó làm cho tỷ lệ chết lợn con cao
* Biện pháp phòng trị
- Phòng bệnh
Theo Nguyễn Tài Năng và cs, (2016) [11], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ trước khi lợn đẻ là một biện pháp đơn giản và hữu hiệu nhất nhằm hạn chế bệnh cho đàn lợn, tắm cho lợn trước khi đẻ bằng nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú nhằm hạn chế các bệnh
ở dưới chuồng bầu có thể mang lên chuồng đẻ, hay là nhằm tạo sự thoải mái cho lợn trước khi di chuyển lên chuồng đẻ
Theo Lê Văn Nam (2009) [10], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải cắt móng tay sát trùng kĩ bằng cồn, dùng vaselin hoặc dầu ăn xoa trơn tay
Thường xuyên cho lợn nái chửa vận động, đảm bảo khẩu phần ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, vệ sinh sạch sẽ
Dụng cụ dẫn tinh phải vô trùng và không để nhiễm khuẩn
Không sử dụng lợn đực bị bệnh đường sinh dục để nhảy trực tiếp với con cái hoặc khai thác lấy tinh
- Điều trị
+ Điều trị cục bộ
Thụt rửa âm đạo tử cung ngày 1 - 2 lần/ ngày, bằng cồn iod 5% hay nước muối sinh lý 0,9% Làm liên tục 3-5 ngày Sau đó đặt kháng sinh vào bộ phận
Trang 29sinh dục như: penicillin 2 - 3 triệu UI + Streptomycin 1 gam + 20ml nước cất
+ Điều trị toàn thân
Tiêm thuốc hạ sốt analgin 1ml/10kgTT
Tiêm kháng sinh
Phác đồ 1: tetramycin liều 10 - 15 mg/kg TT, liên tục 3 - 4 ngày tiêm bắp Kết hợp tiêm septotryl, tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 1 ml/10 - 15 kg thể trọng/ngày Điều trị trong 3 - 5 ngày
Phác đồ 2: Tylan + polysul: Tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch 1 ml/5 - 10
kg thể trọng/ngày Điều trị liên tục 3 - 4 ngày
Tiêm thuốc giảm viêm: Hydrocortizone, dectancyl, prednizolone… Tiêm thuốc trợ sức: Vitamin B1, C, B12, glucose
2.2.4.2 Bệnh sót nhau
* Nguyên nhân
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng sát nhau ở lợn nái sinh sản như là khi đẻ tử cung co bóp yếu do nái đã già, thể trạng lợn mẹ gầy yếu hay trong thời gian mang thai đặc biệt là giai đoạn cuối con vật không được vận động, trong thức ăn hàng ngày thiếu các chất dinh dưỡng như chất khoáng, nhất
là Ca và P Trong giai đoạn mang thai con vật có chế độ ăn không hợp lý làm lợn mẹ quá gầy hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức, khi tử cung không co bóp mạnh thì dễ mắc bệnh sát nhau
Hay do nhau dính với sừng tử cung của con mẹ quá chắc hoặc lúc lợn nái
ra nhau, nhau chưa ra hết thì người đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong
tử cung (theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh, 2010) [19]
* Triệu chứng
Căn cứ vào mức độ sát nhau chia làm 2 loại:
+ Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại ở trong sừng tử cung
Trang 30+ Sót nhau không hoàn toàn: Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ, động vật đơn thai thì 1 phần màng nhau còn sót dính lại trong tử cung
Triệu chứng thường thấy ở nái là con vật không yên tĩnh, đứng nằm không yên, lợn nái rặn nhiều cong đuôi rặn, giảm ăn hoặc không ăn, sốt cao liên tục 40 - 410C trong vòng 1 - 2 ngày, lợn mẹ cắn con, nằm úp không chịu cho con
bú lợn con gầy yếu , từ cơ quan sinh dục chảy ra ngoài dịch màu đục, lẫn máu
* Điều trị
Để điều trị bệnh có hiệu quả cần chuẩn đoán bệnh chính xác, can thiệp ngay sau khi lợn nái có triệu chứng của việc sát nhau, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, nhẹ nhàng, tránh những tổn thương niêm mạc tử cung Tiêm oxytoxin để kích thích sự co bóp của cơ trơn tử cung làm cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau ra thụt rửa cơ quan sinh dục cho lợn nái dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục
2.2.4.3 Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân:
+ Sau khi đẻ vài ngày lợn mẹ sữa tốt mà lợn con không bú hết, sữa lưu đọng lại là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm, chủ yếu là
vi khuẩn E.coli, Staphylococcus
+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn,
mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú
+ Do không giảm khẩu phần ăn của lợn nái trước khi đẻ 1 tuần dẫn đến lượng sữa tiết quá nhiều gây tắc sữa
+ Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm Do thời tiết thay đổi
Trang 31đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
*Triệu chứng:
Theo Lê Hồng Mận (2002) [8], bệnh có thể xảy ra ngay sau khi đẻ 4 – 5 giờ cho đến 7 – 10 ngày, có con đến 1 tháng Có thể xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú, vú bị viêm có biểu hiện vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy hơi nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau
Lợn nái giảm ăn hoặc bỏ ăn, sốt cao 40.50C – 420C kéo dài trong suốt thời gian viêm Sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn,
ít cho con bú
Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục casein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi có máu
Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh đòi mẹ bú, lợn con ỉa chảy,
xù lông, gầy nhanh, tỷ lệ chết từ 30 đến 100%
mẹ bị căng bầu sữa, mài nanh cho lợn con Chườm đá lạnh vào vú bị viêm
Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin…
Trang 32liều đạt trên 200.000 - 500.000 UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 – 2 lần/ngày trong 3 - 5 ngày
2011 [7])
2.2.5 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ
2.2.5.1 Hội chứng tiêu chảy
Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [12], tiêu chảy ở lợn thường do nhiều nguyên nhân gây ra Tùy theo nguyên nhân và mức độ trầm trọng mà phân tiêu chảy có thể màu sắc khác nhau, vàng, xám trắng, nâu Trong đường tiêu hóa của lợn tồn tại cả các loại vi khuẩn có lợi và vi khuẩn gây hại ở các đoạn ruột xác định Bất cứ một nguyên nào dẫn đến sự thay đổi về môi trường trong đường tiêu hóa đều dẫn đến sự thay đổi trong hệ vi khuẩn đường ruột và gây ra hiện tượng loạn khuẩn Làm cho chức năng tiêu hóa giảm, thức ăn không tiêu được tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại phát triển
Trong số các nguyên nhân tiêu chảy trên thì E.coli được xem như nguyên
nhân thường gặp và phổ biến nhất gây tiêu chảy ở lợn con
Tiêu chảy ở lợn con đang bú sữa mẹ thường gồm có tiêu chảy ở lợn con
sơ sinh (vài ngày tuổi) và tiêu chảy ở lợn 2 - 3 tuần tuổi
- Tiêu chảy ở lợn con sơ sinh:
Bênh có thể đột ngột xuất hiện ở đàn lợn khỏe mạnh ngay sau khi đẻ 2
Trang 33-3 ngày Phân tiêu chảy có màu trắng, lỏng như nước và mùi khó chịu Toàn thân bị nhiễm độc, nhiễm khuẩn, mất nước và điện giải rất nhanh do đó dễ chết nếu không điều trị kịp thời
Các nguyên nhân tiên phát thường là lợn không được bú sữa đầu, hoặc sữa đầu của những lợn mẹ đẻ lứa đầu chưa được tiếp xúc với các chủng vi khuẩn có trong trại Bệnh xảy ra nhiều hơn khi điều kiện chuồng nuôi lợn nái
đẻ bị bẩn và ô nhiễm cao Trong điều kiện lạnh và độ ẩm cao, khá năng kháng bệnh của lợn giảm và do đó rất dễ bị tiêu chảy
- Tiêu chảy lợn con 2 - 3 tuần tuổi:
Khi lợn con được 2 - 3 tuần tuổi thường dễ bị tiêu chảy và người ta gọi
đó là tiêu chảy do sữa
Nguyên nhân gây tiêu chảy ở giai đoạn này là do lượng kháng thể thụ động do lợn mẹ cung cấp bị giảm dần, trong khi đó hệ thống miễn dịch của lợn con chưa phát triển thuần thục Sau đó là các yếu tố môi trường Nếu lợn con
bị lạnh, ăn hay uống phải nước bẩn đều có thể bị tiêu chảy Điều này đặc biệt thường xảy ra trong các tháng mưa lạnh và có độ ẩm cao Khi chất lượng sữa lợn mẹ bị giảm do thức ăn không đảm bảo vệ sinh lợn con cũng bị tiêu chảy Mọi nguyên nhân làm giảm khả năng tiêu hóa ở hệ thông đường ruột của lợn con đều dẫn đến tiêu chảy
- Phòng và trị bệnh tiêu chảy ở lợn con:
+ Cần duy trì chế độ vệ sinh tốt, thường xuyên vệ sinh chuồng trại làm giảm sự ô nhiễm của chuồng nuôi
+ Đảm bảo cho lợn con bú đủ và kịp thời sữa dầu, đồng thời nên cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với các phân của lợn nái trước khi phối và vào giai đoạn chửa cuối kỳ để kích thích sinh ra kháng thế thích hợp phòng các vi khuẩn có trong trại
+ Tiêm phòng vắc-xin E.coli cho lợn nái 2 tuần trước khi đẻ
Trang 34+ Giảm tối thiểu các yếu tố gây stress đối với lợn con, cung cấp đủ nhiệt
độ ấm cho chúng ngay từ lúc sinh ra;
+ Điều trị lợn con tiêu chảy bằng các loại kháng sinh thích hợp, dung dịch điện giải
- Tiêu chảy ở lợn con sau cai nữa
Cai sữa là giai đoạn mà lợn con bị nhiều các tác động: bất lợi nhất do các thay đổi của việc cai sữa gây nên Các thay đổi đó bao gồm: (1) Sự thay đổi thức ăn từ sữa mẹ dễ tiêu sang thức ăn rắn; (2) Ngừng đột ngột nguồn sữa mẹ dẫn đến kháng thể thụ động của mẹ cũng đột ngột chấm dứt trong khi đó hệ thống miễn dịch chủ động còn chưa phát triển hoàn chỉnh cho đến 3 - 4 tuần tuổi; (3) Sự thay đổi chỗ ở, thiếu vắng đột ngột lợn nái mẹ và sự xáo trộn đàn với các cá thể lạ Các thay đổi này đã làm giảm sức đề kháng của lợn con và do
đó khả năng cảm nhiễm bệnh tăng lên
Ngoài ra còn nhiều các yếu tố khác có thể dẫn đến tiêu chảy ở lợn sau cai sữa như chuồng nuôi bị lạnh, sàn chuồng ẩm ướt và ô nhiễm do vệ sinh kém, thức ăn không đảm bảo vệ sinh và quy trình cho ăn không hợp lý Lợn có thể bị tiêu chảy kéo dài thành mãn tính nếu không điều trị kịp thời
2.2.5.2 Viêm khớp
- Nguyên nhân:
Bệnh thường xuất hiện ở lợn con 1 - 6 tuần tuổi Do chấn thương cơ học như nền chuồng không bằng phẳng hoặc do thức ăn cho lợn mẹ, lợn con thiếu canxi, phốt pho, bị nhiễm vi sinh vật vào cơ thể trong giai đoạn mới được cắt
nanh, cắt đuôi, chích thuốc tạo vết thương Vi khuẩn Streptococcus suis là loài
phổ biến gây nên bệnh này
- Triệu chứng:
Bệnh thường xuất hiện ở lợn con 2 - 10 ngày tuổi Lợn con bệnh bị sốt,
có thể bị chết đột ngột do vi khuẩn xâm nhập vào máu, gây nhiễm trùng, làm
Trang 35lợn con chết nhanh, trước khi triệu chứng viêm khớp xuất hiện Các khớp đầu gối sưng phồng lên, heo đi lại khó khăn, què, phản xạ đau
- Điều trị:
+ Penicillin + streptomycin …kết hợp với kháng viêm dicolofen tiêm bắp liên tục 4- 5 ngày
+ Trợ sức vitamin ADE
+ Vệ sinh sát trùng chuồng, sàn chuồng khô ráo và giữ ấm cho đàn heo
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Những năm gần đây ngành chăn nuôi lợn ở nước ta gặp khá nhiều khó khăn do tác động của dịch bệnh, thời tiết khí hậu… song ngành chăn nuôi vẫn phát triển mạnh về cả số lượng lẫn quy mô Chăn nuôi ngày càng quan tâm đến chất lượng con giống, có con giống tốt sẽ hạn chế được bệnh tật và cải thiện năng suất
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, các bệnh được quan tâm hiện nay là các bệnh sinh sản Đây là loại bệnh gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của lợn nái đặc biệt là lợn nái ngoại vì lợn nái ngoại hay mắc hơn, nó làm ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái như số lứa/nái/năm hay thậm chí mất khả năng sinh sản của lợn nái
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2015) [18], cho biết: bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, số lứa/ năm của lợn nái,
nó không những làm giảm mức sản xuất của lợn nái mà còn có thể làm mất khả năng sinh sản, hay làm giảm tỷ lệ sống sót của lợn con
Theo Trịnh Văn Tuấn (2015) [19], càng ở lợn nái ngoại sinh sản cho năng suất sinh sản thì tỷ lệ mắc bệnh ở bộ phận quan sinh dục cái cao khoảng 30% Cao nhất là bệnh ở tử cung chiếm tỷ lệ 62,50%, tiếp đó là bệnh ở buồng
Trang 36trứng, ống dẫn trứng chiếm 21,87%; còn bệnh ở âm môn tiên đình âm đạo là thấp nhất với tỷ lệ 15,63%
Nguyễn Xuân Bình (2005) [1], nghiên cứu và tìm hiểu cho biết, bệnh viêm tử cung hay xảy ra nhiều nhất vào khoảng thời gian sau đẻ 1 - 10 ngày Nái mà bị viêm tử cung thường có triệu chứng sốt theo quy luật (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản nguyên nhân làm giảm năng xuất sinh sản ở nái là bệnh viêm tử cung đây là một bệnh lý phức tạp được thể hiện ở nhiều thể khác nhau Nó cũng là nguyên nhân chính gây rối loạn sinh sản ở lợn nái đặc biệt là lợn nái ngoại, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái khi bị mắc bệnh Sau khi lợn mẹ đẻ từ cơ quan sinh dục chảy ra ngoài
có dịch tiết và dịch lẫn mủ là biểu hiện của viêm tử cung (theo Nguyễn Văn Thanh, 2003) [15]
Theo Lê Văn Nam và cs (2009) [10], cho rằng có rất nhiều nguyên nhân
từ yếu tố ngoại cảnh gây bệnh như: Do thức ăn cung cấp hằng ngày cho gia súc nghèo chất dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ sản khoa hay bằng tay sai kỹ thuật làm cho Muxin của chất nhầy từ các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng không tốt thiếu vận động
đã làm chậm quá trình hấp thu sinh lý của dạ con Đây chính là điều kiện vô cùng tốt để cho vi khuẩn xâm nhập từ bên ngoài vào tử cung gây bệnh
Lợn con trong khi bú sữa lợn mẹ có răng nanh nhọn làm xây xát tổn thương bầu vú của mẹ làm cho vi khuẩn xâm nhập dẫn đến bệnh viêm vú Trong khẩu phần ăn có hàm lượng đạm quá cao làm sản sinh sữa quá nhiều, lợn con
bú không hết, sữa ứ lại trong bầu vú tạo thành môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển Do chuồng quá nóng, quá lạnh, vệ sinh không tốt hay có khi lợn mẹ chỉ cho bú 1 hàng vú, cũng đều là nguyên nhân dẫn đến viêm vú Lợn nái đẻ được 4 -5 giờ hay cho đến 7 – 10 ngày vẫn có thể mắc bệnh viêm vú
Trang 37Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [3], để phòng bệnh viêm vú cho lợn nái cần vệ sinh bầu vú 2 mông bằng nước sát trùng, bấm nanh cho lợn con, cho lợn con đẻ bú ngay sau khi sinh ra Có thể phong bế vùng vú bị viêm bằng cách chườm nước đá vào vú viêm tiêm kháng sinh
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ngành chăn nuôi trên thế giới vẫn đang trên đà phát triển không ngừng đặc biệt là chăn nuôi lợn chiếm một tỷ trọng khá cao trong ngành chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới như: Đan Mạch, Hà Lan, Úc Các nước không ngừng
áp dụng những khoa học kỹ thuật hiện đại vào chăn nuôi, để cải thiện chất lượng con giống cũng như hạn chế dịch bệnh Các nước trên thế giới đang quan tâm làm sao hạn chế bệnh sinh sản ở lợn nái bởi có như vậy chất lượng đàn giống mới đạt kết quả tốt nhất
Theo Christensen và cs (2007) [21], đã nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ các mẫu mô bị viêm vú đã chỉ ra rằng vi khuẩn chính gây ra bệnh viêm
vú là Staphylococcus spp và Arcanobacterium pynogenes
Nhiều tác giả cho biết bệnh viêm tử và viêm vú cũng thường kế phát gây mất sữa ở lợn nái đang nuôi con, bệnh này hiện nay được nhiều người gọi với nhiều tên gọi khác nhau nhưng phổ biến nhất là hội chứng mất sữa (MMA) Theo Kemper và Gerjets (2009) [22], đã phân lập được vi khuẩn trong các mẫu
sữa của lợn mắc bệnh viêm vú là: E coli 38,9%; Staphylococcus spp 14,8%; Enterococcus spp 33,3%; Klebsiella spp 3,7%
Theo Muirhead và Alexander (2010) [23], thì nguyên nhân gây lợn nái
bị viêm một hay nhiều vú có thể do kế phát từ bệnh khác hoặc do nhiều loại vi khuẩn gây ra thông qua vết thương hở ở núm vú… Nhóm vi khuẩn gây viêm
vú gồm: E coli, Klebsiella, Staphylococcus, Streptococcus, Miscellaneous
Trang 38Theo Shrestha (2012) [24], khi lợn nái mắc hội chứng viêm tử cung, viêm
vú và mất sữa thì tỷ lệ chết ở khoảng 2% đối với lợn nái nhưng tỷ lệ chết ở lợn con là 80% do đói, tiêu chảy Nguyên nhân do:
- Do chuồng trại: Thiết kế chuồng trại chưa hợp lý nền chuồng không bằng phẳng, chuồng nuôi nhiều lợn làm cho không gian chuồng trại chật chội, nhiệt độ môi trường cao không thông thoáng bầu vú lợn quá nóng do đặt đèn sưởi không thích hợp
- Do dinh dưỡng: Trong thời gian đặc biệt là thời kỳ cuối của thai kỳ khẩu phần ăn cho lợn nái ăn không hợp lý làm nái quá béo, thay đổi thành phần thức ăn thức ăn đột ngột, hàm lượng vitamin E và canxi trong khẩu phần ăn quá thấp, thiếu xơ và nước uống
- Do chăm sóc và quản lý: Thời gian mang thai nái không được vận động, trong quá trình đỡ đẻ khó phải can thiệp thì không đúng kỹ thuật, không sát trùng cắt móng tay
- Do bản thân lợn nái: Đẻ quá nhiều con, không chịu rặn
Trang 39Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1 Đối tượng theo dõi
- Đàn lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc giai đoạn sinh sản và lợn con giai đoạn theo mẹ
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
- Địa điểm: Trại lợn Yên Nội 2, xã Hoàng Cương, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
- Thời gian tiến hành: Từ ngày 10/ 12/ 2021 đến ngày 01/ 06/ 2022
3.3 Nội dung thực hiện
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Yên Nội 2, xã Hoàng Cương, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
- Thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ theo quy trình của trại của công ty
- Thực hiện phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh theo quy trình của công ty
- Thực hiện các công việc khác theo tình hình sản xuất của trại
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện
- Theo dõi số con đẻ ra trên lứa/lợn mẹ
- Tỷ lệ nuôi sống của lợn con sơ sinh và giai đoạn cai sữa
- Tỷ lệ mắc bệnh của lợn nái và lợn con theo mẹ
- Đánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ
- Trực tiếp tham gia thực hiện vào công tác phòng bệnh cho lợn tại trại