ĐỀ TÀI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC TÊN TIỂU LUẬN NHỮNG NHẬN THỨC MỚI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT Ở VIỆT[.]
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
TÊN TIỂU LUẬN:
NHỮNG NHẬN THỨC MỚI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT
Ở VIỆT NAM TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC ( 1986) ĐẾN NAY
Người thực hiện: Phan Lê Hồng Xuân Nguyệt Lớp: Xây dựng Đảng – hệ tập trung khóa 26
Hà Nội - 2019
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được thểhiện thành một quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển xã hội loài người - quyluật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất Đây là quy luật do C Mác phát hiện ra và được trình bày trong nhiều tác phẩmcủa ông Đây là quy luật cơ bản, phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sửnhân loại và cùng với các quy luật khác làm cho lịch sử loài người vận động từ thấpđến cao, từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn,quy định sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tựnhiên
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cấu thành của phương thứcsản xuất Theo quy luật khách quan, quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất Phù hợp ở đây có nghĩa quan hệ sản xuất phải là “hình
thức phát triển” tất yếu của lực lượng sản xuất, tạo địa bàn, động lực thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển Cần quan niệm sự phù hợp một cách biện chứng, lịch sử
-cụ thể, trong quá trình, trong trạng thái động Do bản tính của mình, lực lượng sảnxuất là yếu tố động, biến đổi nhanh hơn, còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn
định, biến đổi chậm hơn Vì vậy lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập biện chứng trong phương thức sản xuất C Mác đã chứng minh vai trò quyết
định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất đồng thời cũng chỉ ra tính độclập tương đối của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất tácđộng trở lại lực lượng sản xuất, quy định mục đích xã hội của sản xuất, tác động đếnlợi ích của người sản xuất, từ đó hình thành một hệ thống những yếu tố hoặc thúc đẩyhoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Có thể coi quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất, quy luật gốc của sự phát triển xã hội Sự biến đổi, phát triển xã hội xét đến cùng là bắt nguồn từ quy luật này.
Khác với quy luật của tự nhiên, quy luật xã hội là quy luật hoạt động của conngười, tồn tại và tác động thông qua hoạt động của con người, gắn với điều kiện thựctiễn, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể Vì vậy việc nhận thức và vận dụng quy luật xã hội
Trang 3nói chung, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất nói riêng phải phù hợp với điều kiện thực tiễn cụ thể của từng quốcgia dân tộc, từng giai đoạn phát triển của đất nước và sự biến đổi của tình hình quốctế.
Ở Việt Nam, thời kỳ quá độ lên chủ nghiã xã hội là thời kỳ cải biến cách mạngsâu sắc, toàn diện và triệt để về mọi mặt Từ xã hội cũ sang xã hội mới xã hội chủnghĩa Thời kỳ đó bắt đầu từ khi giai cấp vô sản lên nắm chính quyền Cách mạng vôsản thành công vang dội và kết thúc khi đã xây dựng xong cơ sở kinh tế chính trị tưtưởng của xã hội mới Đó là thới kỳ xây dựng từ lực lượng sản xuất mới dẫn đếnquan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới hình thành lên các quan hệ sở hữu mới
Từ cơ sở hạ tầng mới hình thành nên kiến trúc thượng tầng mới
Song trong quá trình xây dựng đất nước, trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta thựchiện cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp Mặc dù đã huyđộng được sức người, sức của cho kháng chiến và phát huy có hiệu quả trong thời kỳ,nhưng kinh tế tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng Do không thừa nhận sự tồn tạicủa nền kinh tế nhiều thành phần, coi cơ chế thị trường chỉ là thứ yếu bổ sung cho kếhoạch hoá; thủ tiêu cạnh tranh, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, kìmhãm tiến bộ khoa học, công nghệ… quá nhấn mạnh một chiều cải tạo quan hệ sảnxuất mà không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất, coi nhẹ quan hệquản lý, quan hệ phân phối Trong xác lập quan hệ sản xuất, chúng ta tuyệt đối hoávai trò của công hữu, làm cho quan hệ sản xuất chỉ còn tồn tại giản đơn dưới hai hìnhthức toàn dân và tập thể; kỳ thị, nóng vội xoá bỏ các thành phần kinh tế phi xã hộichủ nghĩa, không chấp nhận các hình thức sở hữu hỗn hợp, sở hữu quá độ; xoá bỏ chế
độ sở hữu tư nhân một cách ồ ạt, trong khi nó đang tạo điều kiện cho sự phát triển lựclượng sản xuất Dẫn đến lực lượng sản xuất không phát triển, tình trạng trì trệ kéodài, sản xuất đình đốn, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn Chính vì lẽ đó, em
chọn đề tài “ những nhận thức mới trong việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở Việt Nam từ khi đổi mới đất nước (1986) đến nay” để nghiên cứu về quá trình nhận thức lại, nhận thức đúng đắn hơn
Trang 4của Đảng ta về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấttrong quá trình đổi mới đất nước.
Trang 5NỘI DUNG
I MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT
I.1 Các khái niệm:
I.1.1 Phương thức sản xuất:
Phương thức sản xuất là cách thức mà con người dùng để làm ra của cải vật chất trong một giai đoạn lịch sử nhất định
Trong quá trình đó con người thể hiện hai mặt quan hệ cơ bản:
Một mặt, con người quan hệ với tự nhiên, mặt này là biểu hiện của lực lượngsản xuất;
Mặt khác, con người quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất, mặt này làquan hệ sản xuất
Theo Mac, phương thức sản xuất vật chất không chỉ đơn thuần là tái sản xuất
sự tồn tại thể xác của cá nhân, mà nó còn là phương thức hoạt động nhất định củanhững cá nhân ấy, một phương thức sống nhất định của họ Với các phương thức trênthì phương thức mà con người tiến hành trong quá trình sản xuất vật chất là quantrọng nhất Như vậy, thực chất, phương thức sản xuất biểu thị cách thức, phương thức
mà con người tiến hành trong quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn nhất địnhcủa lịch sử - xã hội, nó quy định tính chất, kết cấu, đặc điểm của xã hội
Đối với sự vận động của lịch sử loài người, cũng như sự vận động của một xãhội cụ thể, sự thay đổi của phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tínhchất cách mạng Các cuộc cách mạng xã hội đều gắn với sự thay đổi của phương thứcsản xuất này bằng phương thức sản xuất khác tiến bộ hơn Khi phương thức sản xuấtthay đổi thì đời sống xã hội cũng thay đổi về cơ bản, từ kết cấu kinh tế đến các quan
hệ chính trị, pháp quyền, đạo đức, văn học nghệ thuật Phương thức sản xuất là cái
mà nhờ đó người ta có thể phân biệt được sự khác nhau giữa các thời đại lịch sử Chủnghĩa duy vật lịch sử khẳng định lịch sử xã hội loài người là lịch sử của các phươngthức sản xuất kế tiếp nhau trong quá trình phát triển: công xã nguyên thủy, chiếm hữu
nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa Dựa vào phương thức sản
Trang 6xuất đặc trưng của mỗi thời kỳ lịch sử, mà người ta nhận biết được thời kỳ lịch sử đóthuộc về hình thái kinh tế - xã hội nào.
Phương thức sản xuất là sự thống nhất hữu cơ của hai mặt: lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất
I.1.2 Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất theo một phương thức nhất định để tạo ra sức sản xuất vật chất nhất định.
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Trình
độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người.Lực lượng sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con người trong quá trìnhtác động vào giới tự nhiên để sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất là thểthống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư liệu sản xuất ( mà trước hết là công cụlao động) để tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định
Về kết cấu: lực lượng sản xuất gồm hai bộ phận cơ bản, đó là: người lao động
và tư liệu sản xuất
Người lao động: có hai đặc trưng cơ bản, đó là: tri thức, kinh nghiêm, kỹ năng,
kỹ xảo lao động và sức lao động
Vậy, giữa hai đặc trưng ấy thì đặc trưng nào quan trọng hơn? Để trả lời câu hỏinày chúng ta cần xem xét trong những điều kiện lịch sử xã hội nhất định Ở những xãhội dựa trên trình độ phát triển thấp của lực lượng sản xuất, cụ thể là khi công cụ sảnxuất chủ yếu còn ở trình độ thủ công tức là những công cụ cầm tay thì sức lao độnggiữ vai trò quan trọng hơn Trong thời đại ngày nay, ở những nước công nghiệp pháttriển thì yếu tố tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo trở nên quan trọng hơn Trítuệ của con người là sản phẩm của tự nhiên và của lao động Trong quá trình pháttriển lâu dài của loài người, trí tuệ hình thành, phát triển cùng với lao động, làm cholao động ngày càng có hàm lượng trí tuệ cao hơn Hàm lượng trí tuệ trong lao động,đặc biệt là trong điều kiện khoa học – công nghệ hiện nay đã làm cho người lao độngtrở thành nguồn lực đặc biệt của sản xuất Chính điều đó làm cho người lao động trởthành nguồn lực cơ bản, lâu dài, vô tận của sản xuất vật chất
Trang 7Tư liệu sản xuất gồm công cụ lao động, đối tượng lao động, phương tiện lao
động Cùng với người lao động, công cụ lao động là một yếu tố cơ bản của lực lượngsản xuất Công cụ lao động, khoa học càng phát triển thì đối tượng lao động càng trởnên đa dạng hóa, xuất hiện thêm nhiều đối tượng lao động mới Ngày nay, khoa học
đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, vì khoa học đã kết tinh, thẩm thấu vào cácyếu tố của lực lượng sản xuất và làm biến đổi về tất cả những yếu tố ấy Với quanniệm như vậy, rõ ràng khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Trong kết cấu trên, vị trí, vai trò của các yếu tố không giống nhau Người laođộng giữ vai trò hàng đâu trong lực lượng sản xuất Chính con người chế tạo ra tưliệu sản xuất, luôn cải biến và sử dụng nó để tiến hành sản xuất Tư liệu sản xuất dù
có quan trọng đến đâu nhưng nếu không được con người sử dụng thì không thể phát
huy tác dụng Lênin viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” Còn công cụ lao động giữ vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất, theo Angghen nó là : “khí quan của bộ óc con người”, nối dài “khí
quan” của con người, nó là yếu tố động nhất , cách mạng nhất trong tư liệu sản xuất,
sự biến đổi của nó sẽ dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất.Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo chinh phục giới tự nhiên của conngười
Lực lượng sản xuất do con người sáng tạo ra nhưng sự tồn tại và phát triển của
nó mang tính khách quan Lực lượng sản xuất được kế thừa và phát triển liên tục từthế hệ này sang thế hệ khác Mỗi thế hệ con người sinh ra đều phải thích ứng vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất do thế hệ trước để lại, vì lực lượng sản xuất
là kết quả của năng lực thực tiễn của con người, nhưng bản thân năng lực thực tiễnnày lại bị quyết định bởi điều kiện khách quan mà con người sống ở trong đó, nhữnglực lượng sản xuất đã đạt được và những hình thái xã hội đã có trước họ, không phải
do họ tao ra mà do thế hệ trước tạo ra
I.1.3 Quan hệ sản xuất
Để tiến hành sản xuất vật chất, con người không chỉ quan hệ với giới tự nhiên
mà còn phải quan hệ với nhau Mặt thứ hai của quan hệ này thể hiện ở quan hệ sảnxuất Con người chỉ có thể chinh phục được tự nhiên, cải tạo được tự nhiên khi đặt
Trang 8trên cơ sở con người hợp tác với nhau Con người không quan hệ với nhau thì không
thể quan hệ được với giới tự nhiên Mac viết: “người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất, chỉ diễn
ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó”.
Như vậy, Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất, thể hiện ở quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản
lý sản xuất và trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ phân phối sản phẩm
Kết cấu của quan hệ sản xuất: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ
chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm
Ba mặt quan hệ ấy luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau trong quá trình sảnxuất Nó mang tính ổn định tương đối so với sự vận động của lực lượng sản xuất.Mỗi mặt của quan hệ có vai trò riêng, xác định đối với sự phát triển của nền sản xuấtvật chất và đối với toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử loài người
Quan hệ sở hữu quy định tính chất của quan hệ sản xuất, đây là đặc trưng cơbản của phương thức sản xuất Trong quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu đối với tư liệusản xuất giữ vai trò quyết định đối với quan hệ quản lý và quan hệ phân phối Địa vịcủa các tập đoàn người trong quản lý sản xuất, trong phân phối sản phẩm đều do quan
hệ giữa người với người trong sở hữu đối với tư liệu sản xuất quyết định Trong xãhội, nếu nền sản xuất dựa trên chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, tư liệu sảnxuất tập trung trong tay một số ít người, còn những người khác không có ( hoặc có rấtít) tư liệu sản xuất thì quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất là quan hệ
lệ thuộc, phục tùng, là quan hệ giữ bóc lột và bị bóc lột Trong những xã hội mà cónền sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, tư liệu sản xuất sẽ thuộc về
số đông người, thì quan hệ giữa người với người là quan hệ hợp tác với nhau trongsản xuất vật chất
Mặc dù trong quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vaitrò quyết định, nhưng quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ phân phối cũng
có vai trò to lớn, và có thể tác động trở lại đối với sự phát triển của quan hệ sở hữu
Trang 9Trong điều kiện hiện nay, khoa học – kỹ thuật có những bước phát triển vượt bậc.Nhờ ứng dụng những thành tựu mới của khoa học – kỹ thuật vào quản lý, vai trò củaquan hệ tổ chức, quản lý ngày càng tăng lên, đặc biệt đối với việc điều hành sản xuất
ở tầm vĩ mô Tổ chức, quản lý sản xuất được thực hiện tốt thì sẽ thúc đẩy quan hệ sởhữu phát triển Tổ chức quản lý không tốt sẽ kìm hãm, thậm chí làm biến dạng quan
hệ sở hữu Quan hệ phân phối tuy bị quyết định bởi quan hệ sở hữu nhưng cũng tácđộng mạnh trở lại đến quan hệ sở hữu, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của conngười Thông qua lợi ích nó trực tiếp kích thích đến lợi ích của con người theo hướngtích cực hoặc tiêu cực, qua đó tác động đến xu hướng vận động của nền sản xuất hoặctheo hướng tăng trưởng hoặc trì trệ và đến sự biến đổi của quan hệ sở hữu
I.2 Mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
I.2.1 Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, biến đổi và thay thế quan hệ sản xuất
Thứ nhất, lực lượng sản xuất thay đổi, sớm hay muộn cũng kéo theo sự thay
đổi của quan hệ sản xuất, vì lực lượng sản xuất là nội dung, quan hệ sản xuất là hìnhthức của phương thức sản xuất, mà nội dung lại quyết định hình thức
Thứ hai, sự phát triển của sản xuất vật chất bao giờ cũng bắt đầu từ sự phát
triển của lực lượng sản xuất
Để thõa mãn nhu cầu không ngừng buộc con người phải không ngừng khámphá tự nhiên, cải tạo tự nhiên, qua đó không ngừng làm phong phú tri thức, kinhnghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, của mình và sáng tao ra những tư liệu sản xuất mới Quátrình đó làm cho lực lượng sản xuất phát triển không ngừng Sự phát triển của lựclượng sản xuất đến một chừng mực nào đó sẽ trở nên mâu thuẫn gay gắt với quan hệsản xuất cũ Tất yếu nó sẽ đòi hỏi thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuấtmới Quan hệ sản xuất mới lại tiếp tục thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, rồi đếnmột lúc nào đó mâu thuẫn giữa chúng lại trở nên gay gắt, lực lượng sản xuất lại đòihỏi phá vỡ quan hệ sản xuất cũ thay bằng quan hệ sản xuất mới cho phù hợp với nó
Cứ như vậy, nó thúc đẩy xã hội phát triển từ phương thức sản xuất này lên phươngthức sản xuất khác
Trang 10Thứ ba, trình độ của người lao động, tư liệu sản xuất như thế nào thì nó quy
định quan hệ sở hữu tương ứng như thế đó Đến lượt mình, ai nắm quyền sở hữu đốivới tư liệu sản xuất, người đó nắm quyền tổ chức quản lý sản xuất và phân phối sảnphẩm
Tư liệu sản xuất mà đặc biệt là công cụ lao động quy định cách thức tổ chứcquản lý sản xuất Nền sản xuất dựa trên cái cối xay chạy bằng hơi nước có cách tổchức quản lý khác với nền sản xuất dựa trên cái cối xay chạy bằng tay Trình độ khoahọc – kỹ thuật khác nhau cũng đưa lại hình thức sở hữu, cách thức tổ chức quản lý vàphương thức phân phối khác nhau
I.2.2 Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại lực lượng sản xuất
Tính độc lập tương đối của quan hệ sản xuất thể hiên ở chỗ nó có đời sốngriêng, nó có thể thay đổi nhanh, chậm hoặc đi song hành với sự phát triển của lựclượng sản xuất Quan hệ sản xuất quy định trực tiếp mục đích xã hội của sản xuất;quy định hình thức tổ chức quản lý sản xuất, quản lý xã hội; quy định khuynh hướngphát triển của các nhu cầu về lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, do đó nó có thể hìnhthành một hệ thống những nhân tố tác động trở lại đối với sự phát triển của lực lượngsản xuất Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất vật chât nên nó
có thể tác động trở lại lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất theo hai xu hướng:
Một là, nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì
nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Hai là, nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản
xuất thì sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Tiêu chí của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất được
thể hiện thông qua năng suất lao động; tính tích cực xã hội của người lao động, đờisống của người lao động; môi trường lao động được cải thiện Nếu năng suất laođộng tăng, tính tích cực xã hội của người lao động cao, môi trường làm việc tốt, đờisống của người lao động được cải thiện, thì đó là những biểu hiện của sự phù hợp
Trang 11Ngược lại, là sự không phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sảnxuất.
I.3 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trong lịch sử không phải lúc nào quan hệ sản xuất cũng phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất; nhưng muốn phát triển sản xuất thì quan hệ sảnxuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đó làmột trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là hình thức phát triển tất yếu của lựclượng sản xuất, tức là trong đó các yếu tố cấu thành của quan hê sản xuất tạo địa bànđầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng sản xuất phát triển, tạo điều kiện tối ưucho việc kết hợp giữa con người với tư liệu sản xuất và khoa học kỹ thuật, làm cholực lượng sản xuất phát triển hết khả năng của nó
Nhưng mặt khác, lực lượng sản xuât lại luôn biến đổi, đặc biệt là công cụ laođộng, bởi vậy, đến một giai đoạn nào đó, trình độ của nó chuyển sang giai đoạn mớicao hơn, lúc đó tình trạng phù hợp sẽ bị phá vỡ Quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp sẽtrở nên không còn phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất nữa, mâu thuẫn nàyngày càng trở nên gay gắt và quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích kìm hãm sự pháttriển của lực lượng sản xuất Yêu cầu khách quan của sự phát triển của lực lượng sảnxuất đòi hỏi xã hội bằng cách này bằng cách này hay cách khác phải xóa bỏ quan hệsản xuất cũ và thay bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ mới của lựclượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất mới phát triển Cứ như vậy, tìnhtrạng phù hợp, rồi lại không phù hợp, rồi lại phù hợp,, diễn ra trong suốt quá trìnhtác động qua lai giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, thúc đẩy nền sản xuấtvật chất cũng như xã hội phát triển không ngừng từ hình thái kinh tế - xã hội này lênhình thái kinh tế - xã hội khác ngày càng cao hơn
Sự không phù hợp của quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất thể hiện ở những điểm sau:
Trang 12Một là, sự không phù hợp thể hiện ở hình thức sở hữu, quan hệ tổ chức quản
lý, quan hệ phân phối sản phẩm không theo kịp trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất
Hai là, quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa
so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Con người hoặc không phát hiện được mâu thuẫn này, hoặc phát hiện đượcnhưng lại giải quyết một cách sai lầm chủ quan, duy ý chí thì quan hệ sản xuất trởthành nhân tố kìm hãm lực lượng sản xuất
Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất được biểu hiện thành mâu thuẫn giai cấp, giữa giai cấp bảo thủ muốn duy trìquan hệ sản xuất lạc hậu với giai cấp tiến bộ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến.Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trở nên gay gắt, thì lựclượng sản xuất tất yếu sẽ đòi hỏi thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuấtmới cho phù hợp hơn với trình độ mới của lực lượng sản xuất Mâu thuẫn này chỉ cóthể được giải quyết thông qua cuộc đấu tranh giai cấp gay go quyết liệt giữa giai cấpthống trị và giai cấp bị trị, đỉnh cao của nó là cuộc cách mạng xã hội
Trang 13II NHỮNG NHẬN THỨC MỚI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN
HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC ( 1986) ĐẾN NAY
II.1 Thời kỳ trước đổi mới
Sau cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc kéo dài, nền kinh tế nước ta vốn đã lạchậu nay lại càng gặp nhiều khó khăn hơn do bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lực lượngsản xuất của nước ta còn thấp kém và chưa có điều kiện phát triển Trong đó:
- Người lao động: có trình độ rất thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, phần
lớn là lao động chưa qua đào tạo, không có chuyên môn tay nghề Trường dạy nghềrất hiếm, chỉ xuất hiện rải rác ở những thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ ChíMinh…
- Tư liệu sản xuất mà nhất là công cụ lao động ở nước ta thời kì này còn thô
sơ, lạc hậu Công cụ lao động chủ yếu là cái cày, cái cuốc, theo hình thức “ con trâu
đi trước cái cày theo sau”, sử dụng sức người là chủ yếu ; trong công nghiệp máymóc thiết bị còn ít và rất lạc hậu Sự phát triển của công cụ lao động cũng có sự phânhóa giữa các vùng, miền khác nhau Nhìn chung,trước đổi mới lực lượng sản xuất ởViệt Nam rất thấp kém, lạc hậu và phát triển không đồng đều
Trong hoàn cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta lại chủ trương xây dựng quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, bao gồm haithành phần kinh tế đó là : thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân vàthành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động Đồng thờithực hiện cơ chế quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa tập trung với những đặc điểmsau:
Thứ nhất, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính
dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới Các doanhnghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vàcác chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiềnvốn; định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương đều do các cấp cóthẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch cấp phát vốn, vật tư cho