Trong chương trình Giáo dục Mầm non, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường đối với lứa tuổi mẫu giáo đặc biệt là trẻ 5 - 6 tuổi được đưa vào theo hướng tích hợp, lồng ghép các chủ đề, tổ c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TRÀ GIANG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HỆ CHÍNH QUY
QUẢNG BÌNH – NĂM 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TRÀ GIANG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HỆ CHÍNH QUY NGÀNH SP MẦM NON
KHÓA HỌC: 2014 – 2018
NGƯỜI HƯỚNG DẪN ThS DƯƠNG THỊ MAI THƯƠNG
QUẢNG BÌNH – NĂM 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo, ThS Dương Thị Mai Thương người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em về kiến thức và phương pháp để
em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Khoa học xã hội, các thầy
cô giáo trong trường Đại học Quảng Bình, đã tận tình giảng dạy chúng em trong suốt bốn năm học tại trường và động viên giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn Trung tâm Học liệu trường Đại học Quảng Bình, đã giúp
đỡ tạo điều kiện cho em trong quá trình tìm kiếm tài liệu để hoàn thành khóa luận này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Mầm non Bảo Ninh, cùng các giáo viên trong trường và các cháu đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong quá trình nghiên cứu và thử nghiệm thành công khóa luận này
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ và động viên em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này Bản thân em mặc dù đã cố gắng nhiều nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả rất mong muốn nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, tháng 5 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Trà Giang
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Về khách thể nghiên cứu 2
3.2 Về nội dung nghiên cứu 2
3.3 Về thời gian nghiên cứu 2
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
4.1 Trên thế giới 3
4.2 Ở Việt Nam 6
5 Phương pháp nghiên cứu 8
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 8
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 8
6 Những đóng góp của đề tài 9
7 Cấu trúc của đề tài 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 10
1.1 Những vấn đề chung về giáo dục bảo vệ môi trường 10
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 10
1.1.2 Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non 12
1.2 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường theo hướng tích hợp 14
1.2.1 Quan điểm tích hợp trong giáo dục môi trường cho trẻ mầm non 14
1.2.2 Tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục 15
1.3 Đặc điểm phát triển tâm - sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi 22
1.3.1 Đặc điểm phát triển thể chất của trẻ 5 - 6 tuổi 22
1.3.2 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi 23
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 THỰC TRẠNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 27
2.1 Vài nét về khách thể và địa bàn khảo sát 27
2.2 Khái quát về quá trình tổ chức khảo sát thực trạng 28
2.2.1 Mục đích khảo sát 28
2.2.2 Khách thể khảo sát 28
Trang 52.2.3 Đánh giá kết quả GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục 28
2.3 Phương pháp khảo sát 31
2.4 Kết quả khảo sát thực trạng tích hợp GDBVMT cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 31
2.4.1 Đối với giáo viên 31
2.4.2 Đối với trẻ 5 - 6 tuổi 38
2.5 Nguyên nhân dân đến tình trạng tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt đông giáo dục chưa hiệu quả 40
2.5.1 Đối với giáo viên 40
2.5.2 Đối với trẻ 41
2.5.3 Đối với nhà trường 41
Tiểu kết chương 2 43
Chương 3 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 44
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp tích hợp GDBVMT trong các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 44
3.1.1 Dựa vào mục tiêu GDBVMT cho trẻ lứa tuổi mầm non 44
3.1.2 Dựa vào đặc điểm tâm lý của trẻ trong tiếp cận môi trường và BVMT 44
3.1.3 Dựa vào tình hình thực tiễn trường mầm non Bảo Ninh 45
3.2 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp tích hợp GDBVMT trong các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 45
3.3 Các biện pháp tích hợp GDBVMT trong các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 45
3.3.1 Xây dựng nội dung GDBVMT thành các chủ đề 45
3.3.2 Sử dụng trò chơi ĐVTCĐ trong quá trình GDBVMT cho trẻ 47
3.3.3 Chú trọng rèn luyện kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ phù hợp với lứa tuổi 48
3.3.4 Xây dựng các tình huống tích hợp trong quá trình GDBVMT cho trẻ 49
3.3.5 Hình thành ở trẻ ý thức, thái độ, tình cảm tích cực đối với môi trường 49
3.4 Tổ chức thực nghiệm 50
3.4.1 Mục đích thực nghiệm 50
3.4.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 50
3.4.3 Nội dung thực nghiệm 51
3.4.4 Quy trình thực nghiệm 51
Tiểu kết chương 3 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng:
Bảng 2.1 Nhận thức của giáo viên về vai trò của tích hợp GDBVMT trong các hoạt động
giáo dục cho trẻ 32
Bảng 2.2 Mức độ thực hiện tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục 32
Bảng 2.3 Nhận thức về việc lựa chọn hoạt động để GDBVMT cho trẻ 33
Bảng 2.4 Nhận thức của giáo viên về thời điểm tích hợp GDBVMT cho trẻ 33
Bảng 2.5 Nhận thức của giáo viên về việc lựa chọn các nội dung chủ đề GDBVMT cho trẻ 34
Bảng 2.6 Mức độ sử dụng các biện pháp để tích hợp GDBVMT cho trẻ 35
Bảng 2.7 Nhận thức của giáo viên về biểu hiện BVMT của trẻ 36
Bảng 2.8 Hiệu quả tích hợp GDBVMT cho trẻ 36
Bảng 2.9 Yếu tố ảnh hưởng đến GDBVMT cho trẻ 37
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức BVMT của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 39
Bảng 3.1 Mức độ có nhu cầu và hứng thú với việc GDBVMT của trẻ 52
Bảng 3.2 Mức độ hiểu biết về môi trường và BVMT 53
Bảng 3.3 Mức độ biểu hiện kỹ năng BVMT của trẻ 54
Bảng 3.4 Mức độ thể hiện ý thức và thái độ giữ gìn, BVMT của trẻ 54
Bảng 3.5 Mức độ nhận thức của trẻ ở 2 lớp ĐC và TN 55
Bảng 3.6 Mức độ nhận thức của trẻ lớp mẫu giáo lớn D trước và sau TN 56
Biểu đồ: Biểu đồ 3.1 Mức độ có nhu cầu và hứng thú với việc GDBVMT của trẻ 52
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ biểu hiện sự hiểu biết của trẻ về môi trường 53
Biểu đồ 3.3 Mức độ biểu hiện kỹ năng BVMT của trẻ 54
Biểu đồ 3.4 Ý thức, thái độ giữ gìn và BVMT của trẻ 55
Biểu đồ 3.5 Mức độ biểu hiện BVMT của trẻ sau thực nghiệm 56
Biểu đồ 3.6 Mức độ nhận thức của trẻ lớp mẫu giáo lớn D trước và sau TN 57
Trang 7Môi trường xung quanh Mức độ
Đối chứng Thực nghiệm
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môi trường đang bị hủy hoại do con người vẫn đang diễn ra từng giờ, từng ngày
ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới Bảo vệ môi trường đang trở thành vấn đề nóng bỏng trên toàn cầu Tất cả các quốc gia trên thế giới đã và đang nỗ lực vào cuộc để tìm ra những giải pháp nhằm cứu lấy trái đất - ngôi nhà chung của toàn nhân loại Trong đó, giáo dục bảo vệ môi trường cho từng cá nhân ở mọi lứa tuổi, ở các quốc gia trên toàn thế giới là một giải pháp, một nhiệm vụ mang tính lâu dài và bền vững
Không nằm ngoài khung cảnh chung của thế giới, môi trường Việt Nam cũng đang bị hủy hoại trầm trọng gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của đất nước Việt Nam cũng rất chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường Những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi trường đã được đưa vào giảng dạy tại một số trường ở tất cả các bậc học từ bậc học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng, đại học và sau đại học Trong đó giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ ở bậc học mầm non là việc làm vô cùng cần thiết và quan trọng, bởi việc hình thành văn hóa về môi trường được bắt đầu hình thành ở giai đoạn 7 - 8 năm đầu tiên của cuộc đời con người Việc giáo dục môi trường sẽ giúp trẻ mầm non tạo ra những phản xạ thói quen đầu tiên về bảo vệ môi trường sống của mình để từ đó xây dựng quan niệm, nhận thức, kiến thức, và hình thành kỹ năng cho các bậc học sau này Trong chương trình Giáo dục Mầm non, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường đối với lứa tuổi mẫu giáo đặc biệt là trẻ 5 - 6 tuổi được đưa vào theo hướng tích hợp, lồng ghép các chủ đề, tổ chức thông qua các hoạt động giáo dục (học tập, vui chơi, tham quan, sinh hoạt hằng ngày, ngoài trời) nhằm hướng đến hình thành ở trẻ một số biểu tượng về giá trị của môi trường, sự tác động qua lại giữa con người và môi trường giúp trẻ có được thái độ và hành vi bảo vệ môi trường Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ lứa tuổi mầm non nhằm bảo vệ sức khỏe và đảm bảo sự tăng trưởng lành mạnh cho cơ thể trẻ, cung cấp và hình thành cho trẻ những hiểu biết đơn giản về cơ thể, về môi trường sống của bản thân nói riêng và con người nói chung, biết giữ gìn sức khỏe bản thân, có hành vi ứng xử phù hợp để bảo vệ môi trường, sống thân thiện với môi trường nhằm đảm bảo phát triển cân đối, hài hòa về thể chất và trí tuệ
Do đó việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ em từ khi còn nhỏ có ý nghĩa hết sức quan trọng Thông qua quá trình này, trẻ được trải nghiệm, khám phá, tiếp cận với môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng theo phương châm "học bằng chơi, chơi mà học" là phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường có hiệu quả phù hợp với đặc điểm lứa tuổi này
Trên thực tế, việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ ở các trường mầm non hiện nay vẫn chưa thực sự được chú trọng Các biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho
Trang 9trẻ chưa được áp dụng thích hợp Cơ sở vật chất để dành cho việc giáo dục bảo vệ môi trường còn thiếu thốn Nội dung giáo dục môi trường còn chưa đầy đủ, chưa chú trọng đến hành vi giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ, lồng ghép tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào các hoạt động giáo dục còn hạn chế Chính vì vậy tôi đã lựa chọn
nghiên cứu đề tài "Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non" để được góp phần vào việc nâng cao chất lượng
giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ ở trường mầm non
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận của việc GDBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non, khảo sát, phân tích thực trạng tích hợp GDBVMT cho trẻ ở trường mầm non, tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó Từ đó, xây dựng các biện pháp tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao chất lượng
chăm sóc - giáo dục trẻ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung vào những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về GDBVMT thông qua các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non
- Khảo sát, phân tích thực trạng tích hợp GDBVMT cho trẻ ở trường mầm non, tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó
- Xây dựng một số biện pháp tích hợp GDBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động giáo dục và bước đầu thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của các biện pháp và khẳng định tính khả thi của đề tài
3.2 Về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu việc tích hợp GDBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động
giáo dục ở trường mầm non Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình
3.3 Về thời gian nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu đề tài từ tháng 2/2018 - 5/2018
Trang 104 Lịch sử nghiên cứu đề tài
4.1 Trên thế giới
Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1948, tại cuộc họp Liên hợp Quốc về bảo vệ môi trường và tài nguyên ở Paris, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” được sử dụng Tuy nhiên, ngành khoa học môi trường chỉ được thực sự phát triển khi mà hiểm họa về sự tồn vong của loài người đã quá “nhãn tiền”, Trái Đất - ngôi nhà chung của toàn nhân loại bị suy thoái nghiêm trọng với những hậu quả vô cùng nặng nề mà con người phải gánh chịu bởi chính mình gây ra
Ở nhiều nước trên thế giới, việc GDMT được thực hiện bằng sự kết hợp giữa giáo dục nhà trường và các tổ chức xã hội Trong nhà trường, GDMT được coi là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược BVMT của đất nước Nhiều quốc gia GDMT được đưa vào giảng dạy như một môn học chính khóa Cũng có nhiều nước lại đưa vào giảng dạy như một môn học tự chọn Tuy nhiên nếu chỉ học trên lớp vẫn chưa đủ mà cần phải có kinh nghiệm của cuộc sống và thực tế, vì “nhận thức” và “hành động” có
sự khác biệt Đối với học sinh còn cần phải tham gia trồng cây, bảo vệ thiên nhiên, bảo
vệ động vật hoang dã và cần phải tham gia vào các hoạt động khác ngoài xã hội
- Ở các nước Châu Âu:
Tiêu biểu là chương trình chăm sóc giáo dục trẻ của nước Nga:
Nga là một nước rất quan tâm đến giáo dục sinh thái cho trẻ Mục đích của nó là: Hình thành tiền đề của văn hóa sinh thái - hình thành mối quan hệ nhận thức đúng đắn với thiên nhiên trong sự đa dạng của nó với con người, với bản thân Nội dung giáo dục bao gồm:
- Mối quan hệ của động vật và thực vật với môi trường sống của chúng
- Sự đa dạng sinh học Mối quan hệ tương hỗ giữa các cơ thể sống trong môi trường sinh thái của chúng
- Con người là sinh vật sống Môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường sống của con người
- Con người đã sử dụng các tài nguyên thiên nhiên trong các hoạt động sản xuất kinh tế Vấn đề ô nhiễm môi trường, bảo vệ và khôi phục đa dạng sinh học
Với quan điểm trẻ học thông qua các hoạt động trải nghiệm và tìm tòi khám phá, chương trình đã đưa ra các hoạt động của trẻ sau đây trong giáo dục sinh thái: Trò chơi đóng vai, hoạt động thực tiễn, hoạt động sáng tạo, tiếp xúc với môi trường, tiếp xúc vối các đối tượng của thế giới động, thực vật, thí nghiệm, hoạt động, lời nói, quan sát, xem sách, tranh và chương trình truyền hình
Vấn đề giáo GDBVMT là vấn đề mới trong đào tạo giáo viên mầm non ở Nga
Từ những năm 90 trong các trường sư phạm Mầm non và Tiểu học ở Nga đã đưa ra các nội dung như: “Sinh thái học, môi trường con người”, “Cơ sở sinh thái học” để
Trang 11cung cấp các kiến thức đại cương cho sinh viên Vấn đề bảo vệ thiên nhiên, môi trường được đề cập tương đối đầy đủ trong các môn học trên Trong các môn học trên trình bày rất rõ nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện giáo dục bảo vệ môi trường thiên nhiên, xã hội cho trẻ ở các độ tuổi Mục tiêu của các môn học trên là giáo dục văn hóa sinh thái cho trẻ, đồng thời giáo dục mối quan hệ tốt của trẻ với các sinh vật trên trái đất, với bạn bè, người lớn, thế giới đồ vật và chính bản thân mình Như vậy, các chương trình chuyên ngành ở Nga tuy đã rất chú trọng vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường thiên nhiên và xã hội nhưng mục tiêu chủ yếu vẫn là giáo dục thái độ và mối quan hệ tốt đối với thiên nhiên, môi trường Phần giáo dục trẻ các hành động và biện pháp bảo vệ môi trường cũng chưa được làm rõ
- Ở châu Úc: Tiêu biểu có chương trình chăm sóc giáo dục trẻ của Úc:
Ở lĩnh vực hiểu biết về môi trường, chương trình đã đưa ra kết quả trẻ cần phải đạt đó là:
- Phát triển hiểu biết về các môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo
- Phát triển tinh thần trách nhiệm đối với môi trường
- Phát triển chăm sóc và tôn trọng các cây trồng, động vật, địa danh
- Chương trình này quan tâm đến việc xây dựng các môi trường cho trẻ được hoạt động Trong đó có môi trường sinh thái và môi trường các nguyên vật liệu để trẻ hoạt động sáng tạo
Môi trường sinh thái:
Yêu cầu của môi trường sinh thái là cung cấp một môi trường có hệ thực vật và động vật khác nhau, một môi trường cân bằng về thẩm mỹ và cung cấp những hiểu biết về cảm giác của trẻ và đánh giá vật liệu thiên nhiên
Một số nội dung của môi trường sinh thái là:
- Có nhiều loại cây khác nhau: như thảm cỏ, cây ăn quả, cây đặc sản của địa phương, cây có vỏ cứng, cây có hoa
- Có khu đất để trẻ gieo hạt, trồng củ, cắt cây, tưới nước, nhổ cỏ, làm đất màu mỡ
- Có các khu nuôi con vật để trẻ chăm sóc và cho ăn
- Có khu đất để trẻ quan sát các loại côn trùng
- Có các dụng cụ từ nguyên liệu thiên nhiên (các khúc gỗ, tảng đá ) và các vật liệu đã qua sử dụng (lốp xe, ống tròn, chai nhựa, ) để trẻ hoạt động
- Ở các nước Châu Mỹ như Hoa Kỳ, Canada, Brazil:
Tiêu biểu ở Hoa Kỳ, Liên đoàn quốc gia bảo vệ cuộc sống hoang dã (NWF) đã giảng dạy ở các trường 33 bài học về môi trường có thể áp dụng vào thực tế Ngoài ra, vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường rất được chú trọng trong các chương trình đào tạo giáo viên mầm non Tuy nhiên, nội dung bảo vệ môi trường đại cương và phương pháp GDBVMT cho trẻ 0 - 6 tuổi không được xây dựng thành chương trình và môn học riêng
Trang 12mà được tích hợp một cách tự nhiên vào chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ; sự phát triển của trẻ em và môi trường gia đình
- Ở các nước Châu Á:
Vấn đề GDBVMT ở các nước Châu Á và Đông Nam Á đang đứng trước những khó khăn, thử thách: Giáo dục kiến thức môi trường cho các cấp học, trường học và nâng cao dân trí về môi trường Đây là một nhu cầu cấp bách, nhất là ở cấp “hậu trung học” Đông Nam Á đang thiếu hụt chuyên gia có đủ trình độ để giảng dạy về cơ bản môi trường học, tiếp cận nguồn thông tin, tài liệu thích hợp giảng dạy có định hướng chiến lược Tuy vậy, mỗi nước vẫn có những thành tựu đáng kể và một số trở ngại riêng như ở Singapore, Hàn Quốc
Singapore: Singapore được xem là một đất nước bảo vệ môi trường tốt nhất Đông Nam Á, hàng loạt chương trình giảng dạy đã được các trường đại học tổng hợp, đại học bách khoa, học viện giáo dục công nghệ của nước này đã tiến hành mạnh mẽ
Có được vị trí hàng đầu ấy là nhờ họ đã biết đưa GDMT đi song song với xử phạt Tuy nhiên, đối với bậc học mầm non, họ vẫn chưa tìm ra những phương pháp hữu hiệu nhất giúp trẻ tiếp thu những tri thức về môi trường và GDBVMT Ngoài ra, họ vẫn còn đang lúng túng có nên đưa GDMT là một môn học bắt buộc ở tất cả các cấp học, ngành học không? Vấn đề này vẫn đang bàn cãi
Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ của Hàn Quốc:
Nội dung GDBVMT được trải đều trong các lĩnh vực khác nhau của chương trình Chương trình có các nội dung sau đây:
+ Hiểu được giá trị của môi trường trong lành
+ Quan tâm đến MTXQ, quan tâm bảo vệ môi trường, vệ sinh môi trường
+ Sống tiết kiệm: Chi tiêu hợp lý, dùng điện nước một cách tiết kiệm, bảo vệ các thiết bị
+ Phân loại rác, làm thế nào để giảm rác thải
+ Quan tâm và tái tạo lại những thứ có thể sử dụng
+ Chuẩn bị đối phó với sự ô nhiễm môi trường và thảm họa thiên nhiên: Có sự hiểu biết để sống trong môi trường ô nhiễm Dự đoán thảm họa thiên nhiên và sẵn sàng đối phó
Nhìn chung, các nước trên thế giới đã đưa ra rất nhiều những giải pháp khác nhau nhằm GDBVMT cho con người Qua rất nhiều các công trình nghiên cứu, cuối cùng
họ đã đưa ra kết luận chung là: Gia đình, cộng đồng và nhà trường là 3 phạm vi cơ bản của GDMT Họ cũng nhận ra vai trò của thầy cô giáo là hết sức quan trọng trong việc GDBVMT ở tất cả các bậc học đặc biệt là bậc học Mầm non - bậc học đầu tiên trong
hệ thống giáo dục quốc dân Vì vậy, việc trang bị kiến thức về GDMT cho giáo viên ở các cấp học nhất là mầm non đang được các quốc gia quan tâm
Trang 13Qua nghiên cứu chương trình chăm sóc - giáo dục mầm non ở một số nước (New Zealand, Hàn Quốc, Philippines, Israel, Nga ) cho thấy các nước này đã quan tâm
đến giáo dục môi trường cho trẻ ngay từ lứa tuổi nhỏ Với mục đích hình thành ở trẻ
những giá trị và phẩm chất môi trường (như: hiểu về môi trường, yêu quý môi trường, tôn trọng và chăm sóc môi trường, có thái độ hài hòa đối với thế giới tự nhiên),
chương trình của các nước đều có nội dung về môi trường và bảo vệ môi trường
4.2 Ở Việt Nam
Trong chỉ thị 36 của BCHTW Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 25 tháng 6 năm
1998 về "Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước" đã coi vấn đề GDBVMT là giải pháp đầu tiên Chỉ thị này đã định
hướng cho toàn dân trong việc nâng cao quyết tâm bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Chỉ thị cũng nhấn mạnh các giải pháp
GDMT: "Các nội dung bảo vệ môi trường được đưa vào chương trình học của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân từ bậc mầm non, tiểu học, THCS, THPT, THCN đến bậc Đại học" [3] Chỉ thị đã ra các giải pháp lớn về BVMT, phát
triển bền vững trong thời gian tới ở nước ta Giải pháp thứ nhất là: "Thường xuyên giáo dục bảo vệ tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng BVMT" Giải pháp thứ 7 là "Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ, đào tạo cán bộ, chuyên gia về lĩnh vực môi trường" Giải pháp thứ 8 là "Mở rộng hợp tác quốc tế về BVMT"
- Tình hình GDBVMT trong hệ thống giáo dục quốc dân
Năm 1991, chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà Nhà nước về BVMT đã triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học quan trọng về GDMT với các nội dung:
- Nâng cao nhận thức về môi trường cho đông đảo nhân dân
- GDMT trong hệ thống các trường phổ thông
- GDMT trong các trường đại học và chuyên nghiệp
- GDMT trong các trường thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ và các đoàn thể nhân dân
Các nhà giáo dục học từ trước đến nay đã khẳng định: Tư cách của một con người, cách ứng xử đối với xã hội và môi trường đều được hình thành một cách cơ bản trong thời kì ở nhà trường, và trong việc BVMT thì yếu tố quyết định nhất là yếu tố con người Nếu con người có ý thức đầy đủ về hành động của mình đối với môi trường, có những hiểu biết cần thiết về tác động qua lại giữa con người với môi trường, có mối quan hệ phát triển kinh tế và BVMT thì có thể gắn kết được những vấn đề kinh tế với BVMT Do đó cần thiết phải GDBVMT cho học sinh
Cùng với Luật giáo dục thì Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định số 3288/QĐ_BGD&ĐT ngày 2/10/1998 phê duyệt và ban hành các văn bản về chính
Trang 14sách và chiến lược giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Việt Nam và một
số văn bản hướng dẫn kèm theo Các văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc
tổ chức triển khai các hoạt động giáo dục môi trường ở các trường phổ thông và trường sư phạm trong hệ thống giáo dục quốc dân
Thủ tướng chính phủ đã ban hành các quyết định như: Quyết định số TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt đề án “Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”; Quyết định số 256/QĐ-
1363/QĐ-TT ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8, đã ban hành Luật bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005 và Luật có hiệu lực ngày 1/7/2006
- Tình hình nghiên cứu khoa học về GDBVMT cho trẻ lứa tuổi mầm non ở trong nước GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Trong chương trình chăm sóc trẻ hiện nay, nội dung cho trẻ làm quen với MTXQ là một trong những nội dung cơ bản nhất Song song với nó, nội dung GDBVMT được thực hiện thông qua các hoạt động đặc thù của trẻ như: vui chơi, học tập, lao động và sinh hoạt hằng ngày
Tình hình nghiên cứu khoa học trong những năm qua về việc đưa GDMT vào các trường được thực hiện như sau: Trước khi phối hợp để thực hiện dự án tổng thể đưa GDMT vào các trường mầm non các cơ sở đào tạo và nghiên cứu giáo dục bảo vệ môi
trường đã tiến hành một số các công trình nhỏ chuẩn bị phần cơ sở như:
- Dự án thiết kế và thử nghiệm nội dung GDMT ở mẫu giáo và tiểu học (Viện khoa học giáo dục - 1996)
- Dự án thử nghiệm đưa GDMT vào trường mầm non - Nội dung: Thời tiết và cuộc sống của chúng ta (Trường CĐSP NT- MG TW1)
- Đề tài “Xây dựng nội dung bảo vệ MT cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong trường mầm non” (Trung tâm nghiên cứu GDMN - Viện KHGD, 1998 - 2000)
- Dự án thiết kế thử nghiệm chương trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho cán bộgiáo viên ngành học mầm non về MT (Trường CĐSP NT - MGTW1, 1998 - 1999)
- Nâng cao nhận thức về MT và bảo vệ MT cho cộng đồng (Trung tâm nghiên cứu GDMN - Viện KHGD, 1999 - 2001)
- Biên soạn một số tài liệu nâng cao nhận thức cho giáo viên mầm non về bảo vệ
MT (Trường CĐSP NT - MGTW1, 2001 - 2002)
- Xây dựng tài liệu tham khảo phục vụ “Phương pháp cho trẻ làm quen với MT xung quanh trong các trường sư phạm mầm non” (Trường CĐSP NT- MG TW3, 2001
- 2002)
Trang 15- Giáo dục bảo vệ MT cho trẻ từ 3 - 6 tuổi trong trường mầm non theo quan điểm tích hợp (Đề tài nghiên cứu cấp Bộ - TS Lê Thanh Vân - Khoa GDMN - Trường ĐHSP Hà Nội, 2003 -2004)
Ngoài ra cũng có rất nhiều tài liệu viết về các trò chơi giúp trẻ tìm hiểu môi trường, BVMT
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống
hóa những vấn đề lý luận, những tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.3 Phương pháp điều tra
Bằng phiếu điều tra (anket), nhằm tìm hiểu thực trạng việc GDBVMT cho trẻ 5 -
6 tuổi ở trường Mầm non Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình Từ đó đánh giá thực trạng và làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp tích hợp GDBVMT cho trẻ trong các hoạt động giáo dục
5.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Hiện thực hóa các biện pháp đã xây dựng được vào các giáo án theo chủ đề, chủ điểm khác nhau trong các hoạt động giáo dục Trên cơ sở đó, thu thập xử lí các số liệu
để xác định giá trị của các biện pháp
5.2.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu, phân tích, các giáo án, kế hoạch hoạt động của giáo viên và các sản phẩm của trẻ có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như việc giữ gìn đồ dùng, đồ chơi sạch sẽ, giữ gìn vệ sinh cá nhân, chăm sóc, bảo vệ cây xanh và nguồn nước, biết làm cho môi trường phòng học, trường học xanh - sạch - đẹp
5.2.6 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng công thức toán học trong phần mềm Excel để phân tích, xử lí các số liệu thu thập được về mặt định lượng, nhằm khẳng định độ tin cậy của đề tài
Trang 166 Những đóng góp của đề tài
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận, đề tài đã chỉ ra được thực trạng tích hợp GDBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non thông qua các hoạt động giáo dục Từ đó, xây dựng một số biện pháp tích hợp GDBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non và hiện thực hóa thành công các biện pháp đó trong các giáo án theo các chủ điểm, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của việc đưa GDBVMT vào các cơ sở GDMN trong giai đoạn mới
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc GDBVMT trong các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non
Chương 2 Thực trạng tích hợp GDBVMT trong các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non
Chương 3 Đề xuất các biện pháp và tổ chức thực nghiệm tích hợp GDBVMT trong các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non
Trang 17PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Những vấn đề chung về giáo dục bảo vệ môi trường
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về môi trường
Theo UNEP(1980): “Môi trường là một tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội bao quanh và tác động tới đời sống và sự phát triển của một cá thể hoặc một cộng đồng người” [15]
Theo Luật Bảo vệ môi trường 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất
tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [11]
Môi trường là một tập hợp các điều kiện trong một không gian nhất định mà ở
đó sinh vật có thể tồn tại Môi trường bao gồm tất cả yếu tố bao quanh sinh vật, có tác động trực tiếp, gián tiếp và tác động qua lại với sinh vật thông qua các hoạt động trao đổi chất và năng lượng, sinh trưởng, phát triển, cảm ứng, sinh sản, thông tin
1.1.1.2 Khái niệm về giáo dục môi trường
GDMT là một công cụ nhằm thúc đẩy những thái độ tích cực đối với môi trường, đồng thời cung cấp các kỹ năng giúp con người có thể phân tích và đưa ra những quyết định sáng suốt về cách ứng xử của mình đối với môi trường
Có nhiều định nghĩa khác nhau về GDMT, tuy nhiên các khái niệm về GDMT đều có điểm chung là coi đó là quá trình thường xuyên làm cho người học có hiểu biết,
có thái độ quan tâm, có trách nhiệm và hành động cụ thể để giải quyết các vấn đề về môi trường Có thể sử dụng khái niệm giáo dục môi trường sau đây:
“Giáo dục môi trường là một quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết
và quan tâm đến những vấn đề về môi trường, bao gồm kiến thức, thái độ, hành vi, trách nhiệm để tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các vấn
đề môi trường trước mắt cũng như lâu dài (Bộ GD & ĐT/ Chương trình phát triển
Liên hợp quốc, 1998) [10]
GDMT là một quá trình cần tiến hành từ khi con người biết cảm nhận về môi trường Quá trình này được bắt đầu từ lứa tuổi mầm non và được tiếp tục trong những năm học phổ thông cũng như sau này trong suốt cuộc đời GDMT là sự nghiệp của toàn nhân loại, gắn với trách nhiệm của mỗi quốc gia, mỗi con người cụ thể, đòi hỏi họ phải tích cực đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường sống
Trang 181.1.1.3 Khái niệm giáo dục bảo vệ môi trường
Theo dự án VIE/95/041 năm 1996 định nghĩa: “GDBVMT là một quá trình thường xuyên qua đó con người nhận thức được môi trường của họ và thu được kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai”
Theo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học của TS Lê Xuân Hồng định nghĩa:
“GDBVMT là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp cho con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái”
Tại Hội nghị quốc tế về GDBVMT của Liên hiệp quốc tổ chức tại Tbilisi năm
1997 xác định GDBVMT có mục đích: “Làm cho các cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, vật lý, hóa học, kinh tế, xã hội, …; đem lại cho
họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ, kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách
có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về môi trường
và quản lý chất lượng môi trường”
Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 định nghĩa: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự
cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành” [11]
1.1.1.4 Khái niệm "Tích hợp", "Tích hợp trong chương trình giáo dục mầm non", "Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong các hoạt động giáo dục"
- Tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở người học những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho người học nhằm phục vụ cho quá trình họp tập tương lai, hoặc nhằm hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động Như vậy, giáo dục tích hợp làm cho học tập có ý nghĩa
Ngoài những quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho các năng lực đó, giáo dục tích hợp dự định những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng và những động tác để lĩnh hội một cách toàn vẹn nhất Giáo dục tích hợp sàng lọc những thông tin có ích để hình thành năng lực và mục tiêu tích hợp
- Tích hợp trong chương trình GDMN là thiết kế các nội dung và tổ chức hoạt động thành một thể thống nhất, có ý nghĩa để trẻ phối hợp áp dụng và phát triển các kinh nghiệm từ các lĩnh vực khác nhau, thông qua việc trẻ tham gia tích cực và trực tiếp một cách tự nhiên
Trang 19Từ hai khái niệm trên chúng tôi cho rằng: Tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục là tổ hợp những cách thức để tiến hành tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi, lao động, nghỉ ngơi nhằm giúp trẻ có nhu cầu, hứng thú với vấn đề GDBVMT, nâng cao hiểu biết, hình thành kỹ năng, ý thức, thái độ của trẻ về vấn đề GDBVMT
Như vậy, nhiệm vụ của giáo viên là lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp, biện pháp, phương tiện để tổ chức các hoạt động giáo dục một cách khoa học để giúp trẻ có cơ hội, thời gian suy nghĩ, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để tìm hiểu và khám phá cuộc sống xung quanh Việc xây dựng các biện pháp tích hợp GDBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động giáo dục có ảnh hưởng to lớn đến việc nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ nói chung và bước đầu hình thành nhân cách của trẻ nói riêng
1.1.2 Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non
GDBVMT cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những kiến thức sơ đẳng về môi trường phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ nhằm tạo ra thái độ, hành vi đúng của trẻ đối với môi trường xung quanh Việc khám phá quy luật của tự nhiên nhằm mục đích bảo vệ môi trường có thể bắt đầu từ lứa tuổi mầm non Môi trường sống bao gồm các yếu tố tự nhiên, xã hội và vật chất nhân tạo bao quanh con người Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người và sự phát triển kinh tế văn hoá của đất nước và của cá nhân
1.1.2.1 Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non
Trẻ từ 0 - 6 tuổi là lứa tuổi đang hình thành và phát triển: cơ thể non nớt của trẻ chịu sự tác động mạnh mẽ và sự ảnh hưởng có tính quyết định của môi trường xung quanh cho sự tăng trưởng và phát triển
Để đứa trẻ có một cơ thể phát triển khỏe mạnh, thông minh, nhanh nhẹn làm nền tảng cho giai đoạn phát triển và hình thành nhân cách lành mạnh, chúng ta cần phải bảo vệ môi trường sống của đứa trẻ
Trong lứa tuổi này trẻ rất nhạy cảm, tình cảm của trẻ phát triển rất mãnh liệt đặc biệt là tính đồng cảm và tính dễ xúc cảm đối với con người và cảnh vật xung quanh
Do đó, việc hình thành những tình cảm, những kỹ năng sống tích cực của trẻ với con người và cảnh vật ở gia đình là rất thuận lợi Có thể nói việc tạo ra môi trường giáo dục và giáo dục trẻ yêu quý môi trường sống xung quanh, biết bảo vệ chăm sóc môi trường ở lứa tuổi này là hết sức dễ dàng, nếu bỏ qua không quan tâm giáo dục là một sai lầm
Chính vì vậy, GDBVMT cho trẻ trong trường mầm non cần đạt được những mục đích sau:
Trang 20* Đối với trẻ
+ Giúp trẻ hiểu được tầm quan trọng, vai trò của môi trường đối với đời sống của con người
+ Trang bị cho trẻ một số hiểu biết về môi trường, mối quan hệ giữa con người
và môi trường sống, các biện pháp để bảo vệ môi trường xung quanh nhằm bảo vệ sức khỏe và đảm bảo sự tăng trưởng lành mạnh cho cơ thể trẻ
+ Trẻ bước đầu có khả năng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi (trồng, chăm sóc cây; làm cho môi trường xanh sạch đẹp)
+ Trẻ sống tiết kiệm ngăn nắp, vệ sinh, chia sẻ, hợp tác
+ Dạy trẻ một số kỹ năng đơn giản để bảo vệ, chăm sóc môi trường sống ở gia đình, trường lớp và cộng đồng
+ Hình thành ở trẻ tình cảm, thái độ, hành vi tích cực đối với môi trường: yêu quý, bảo vệ, chăm sóc giữ gìn môi trường
* Đối với các cán bộ, giáo viên, nhân viên
+ Cung cấp những hiểu biết về môi trường, những vấn đề ô nhiễm môi trường + Xây dựng thói quen, kỹ năng hành động và các hành vi phù hợp với môi trường + Thái độ tích cực với môi trường và đấu tranh với những biểu hiện suy thoái môi trường
1.1.2.2 Tầm quan trọng của việc GDBVMT trong trường mầm non
Các chuyên gia giáo dục đã khẳng định GDBVMT là rất cần thiết và cấp bách, phải bắt đầu ngay từ bậc học mầm non, nó có ý nghĩa to lớn góp phần đặt nền móng ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người Tuy nhiên GDBVMT trong trường mầm non không phải là một môn học riêng biệt mà chỉ có thể lồng ghép, tích hợp vào các môn học trong chương trình GDMN và trong các hoạt động hằng ngày của trẻ Việc GDBVMT trong trường mầm non được xác định là một trong các nhiệm vụ quan trọng, được tiến hành thường xuyên, liên tục một cách có hệ thống, linh hoạt thông qua hoạt động hằng ngày nhằm củng cố và hệ thống hóa các kinh nghiệm mà trẻ
đã tích lũy được trong quá trình trẻ quan sát, học tập, vui chơi, lao động, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
- GDBVMT nhằm làm cho các em bước đầu hiểu và hình thành, phát triển ở trẻ thói quen, hành vi ứng xử văn minh, lịch sự thân thiện với môi trường Bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, những xúc cảm, hình thành ở trẻ thói quen, kỹ năng sống BVMT cho trẻ
- Giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào các hoạt động quan sát, tìm hiểu, khám phá môi trường phải luôn đáp ứng nhu cầu ham thích, tò mò, tìm tòi, khám phá của trẻ, từ đó giúp trẻ hiểu biết về môi trường và mong muốn được tham gia BVMT
Trang 211.2 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường theo hướng tích hợp
Nội dung GDBVMT trong trường mầm non được tích hợp trong chương trình giáo dục ở tất cả các chủ đề, tổ chức thông qua các hoạt động giáo dục (hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, chế độ sinh hoạt hằng ngày, hoạt động tham quan, hoạt động ngoài trời), qua chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của trẻ và luôn gắn liền với đời sống thực tiễn của trẻ trong trường mầm non, gia đình và xã hội
Chủ đề trong GDBVMT được hiểu là một phần nội dung kiến thức, kỹ năng cùng phản ánh một vấn đề nào đó mà trẻ tìm hiểu, khám phá và học theo nhiều cách khác nhau dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên trong một thời gian nhất định
Chủ đề có thể rộng (lớn) hoặc hẹp (nhỏ) Một chủ đề lớn bao gồm nhiều chủ đề nhỏ Từ chủ đề nước và các hiện tượng tự nhiên có thể phát triển thành các chủ đề nhánh như: Nước, các hiện tượng tự nhiên (mưa, nắng, mặt trời, mặt trăng và các vì sao, các mùa trong năm )
Chủ đề có thể cụ thể nhưng cũng có thể trừu tượng, có thể mang tính địa phương nhưng cũng có thể mang tính chung Trẻ càng nhỏ, chủ đề càng phải cụ thể, gần gũi và mang tính địa phương có quy mô nhỏ để trẻ có thể liên hệ với những hiểu biết và kinh nghiệm đã có của mình
1.2.1 Quan điểm tích hợp trong giáo dục môi trường cho trẻ mầm non
Trong xu hướng phát triển và yêu cầu đổi mới của ngành học GDMN có nhiều cách tiếp cận mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục trẻ Một trong những cách tiếp cận được đề cập và ứng dụng phổ biến trong thực tiễn GDMN
đó là giáo dục tích hợp Theo quan điểm của nhiều nhà khoa học, giáo dục theo hướng tích hợp là phù hợp và có hiệu quả với bậc học mầm non
GDMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành Cho nên, GDMT cho trẻ ở trường mầm non được thực hiện theo quan điểm lồng ghép, tích hợp nội dung GDMT vào các môn học và hoạt động thông qua chương trình giáo dục trẻ mầm non Việc tích hợp nội dung GDBVMT được thực hiện ở các mức độ lồng ghép sau:
- Mức độ lồng ghép hoàn toàn: Mục tiêu và nội dung GDMT phù hợp với nội dung và mục tiêu của môn học hay hoạt động cụ thể
- Mức độ lồng ghép từng phần: Một số phần của bài học hay hoạt động cụ thể có nội dung và mục tiêu phù hợp với mục tiêu và nội dung GDMT
- Mức độ liên hệ: Một số bài học hay hoạt động cụ thể có nội dung có thể liên hệ với nội dung GDMT và gắn với thực tế ở địa phương [10]
Việc tích hợp GDMT trong các môn học và hoạt động cơ bản của trẻ ở trường mầm non không chỉ giúp cho trẻ có hiểu biết, kỹ năng, thái độ với các vấn đề môi trường, mà cần phải làm cho hứng thú của trẻ với môn học và hoạt động tăng lên,
Trang 22làm phong phú và mở rộng kiến thức, tạo cơ hội cho trẻ được luyện tập củng cố kiến thức và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống xung quanh [10]
1.2.2 Tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục
Hiện nay các trường mầm non đã thực hiện đổi mới chương trình chăm sóc giáo dục trẻ Có rất nhiều nội dung đang được giáo viên mầm non lồng ghép, tích hợp để dạy trẻ như: Giáo dục luật lệ an toàn giao thông, giáo dục lễ giáo, giáo dục dân số… Thống nhất quan điểm tránh không làm nặng thêm chương trình chăm sóc giáo dục trẻ đang thực hiện, việc GDBVMT chủ yếu thông qua khai thác triệt để những nội dung
đã có trong chương trình và tiến hành tổ chức thông qua các hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, chế độ sinh hoạt hằng ngày, hoạt động tham quan, hoạt động ngoài trời
1.2.2.1 Nguyên tắc tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục
- Tích hợp GDBVMT không làm thay đổi nội dung của các hoạt động giáo dục, không làm cho nội dung GDBVMT thành một nội dung độc lập mà cần linh hoạt lồng ghép nội dung của hai hoạt động này với nhau một cách hợp lý
- Nội dung GDBVMT phải có sự chọn lọc, mang tính khoa học, hệ thống phù hợp với trình độ nhận thức của trẻ ở từng độ tuổi
- Phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ và những kinh nghiệm thực tế của trẻ
đã có, tạo mọi cơ hội, điều kiện để trẻ tiếp xúc trực tiếp với môi trường
- Tận dụng các tình huống cụ thể hằng ngày để GDBVMT
1.2.2.2 Nội dung tích hợp GDBVMT cho trẻ trong các hoạt động giáo dục
a GDBVMT thông qua hoạt động học tập: Trẻ được tham gia nhiều vào các hoạt
động khác nhau: Phát triển thể chất, khám phá khoa học, âm nhạc, làm quen tác phẩm văn học, tạo hình Mỗi hoạt động trên đều có những đặc trưng riêng và có ưu thế khác nhau như: trẻ quan sát, đàm thoại, thực hành trải nghiệm, thí nghiệm, chơi các trò chơi với trẻ để trẻ nhận ra được những việc làm tốt, không tốt, những hành động đúng, hành động không đúng kích thích trẻ suy nghĩ, bộc lộ tình cảm, có thái độ phù hợp với môi trường trong và ngoài lớp học.Ví dụ:
+ Chủ đề “Trường mầm non thân yêu của bé”:
Ngoài việc cung cấp cho trẻ kiến thức về chủ đề, cô giáo dục trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh trường lớp sạch sẽ, không hái hoa bẻ cành cây xung quanh trường lớp…Tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “chọn những hành vi đúng - sai” Cô làm tranh vẽ về việc giữ gìn bảo vệ môi trường của một bạn nhỏ như: bé vứt rác vào thùng, vứt rác bừa bãi,
bé quét nhà, giẫm lên cỏ, bé đu cành cây, bé ngồi lên bàn, bé tranh giành đồ chơi Sau
đó chia trẻ làm hai đội, mỗi đội có một bức tranh yêu cầu trẻ phải bật qua các vòng và yêu cầu đội khoanh tròn các hành vi đúng và một đội khoanh vào những hành vi sai Thời gian sau một bản nhạc đội nào khoanh được đúng theo yêu cầu là chiến thắng
Trang 23+ Chủ đề “Bản thân bé”:
Giáo dục trẻ biết ích lợi của việc giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường đối với sức khoẻ con người Trẻ có hành vi và thói quen tốt trong ăn uống: mời cô, mời bạn, không ăn quà vặt ngoài đường Nhận biết ký hiệu thông thường: nhà vệ sinh nam, nữ, thùng đựng rác và nhận biết một số vật dụng, nơi nguy hiểm đối với bản thân: dao, kéo, ổ cắm điện, ao, hồ
Giờ khám phá khoa học: “Năm giác quan của bé” Cho trẻ khám phá thực hành trải
nghiệm các giác quan và qua đó giáo dục trẻ biết chăm sóc giữ gìn đôi mắt (không dụi tay bẩn lên mắt, rửa mặt hàng ngày bằng nước và khăn sạch) Giáo dục trẻ biết giúp đỡ những bạn bị khiếm thị, bị cận không cho tay bẩn vào tai, không dùng que ngoáy tai của mình
và của bạn, khi tắm gội chú ý không để nước chui vào tai biết đội mũ, ô khi ra nắng và đeo khẩu trang, thường xuyên đánh răng và không ăn những thức ăn quá nóng, quá lạnh, phải giữ vệ sinh răng miệng hàng ngày, tiết kiệm nước khi rửa tay và đánh răng
Hay giờ hoạt động âm nhạc bài hát “Cùng nhau bảo vệ môi trường” nhạc và lời
nước ngoài: (Jang Young Song) cô GDBVMT cho trẻ bằng cách giáo dục trẻ qua bài hát: Cô hỏi: Trong bài hát, rác trước khi vứt vào thùng phải làm gì? (Phải phân loại rác) Bài hát khuyên chúng ta nên phân loại rác trước khi cho vào thùng rác, phải luôn
ý thức sử dụng lại các đồ vật có thể dùng được
+ Chủ đề “Gia đình thân yêu của bé”
Trẻ thấy được sự thay đổi của môi trường xung quanh nhà của trẻ, nhận biết được môi trường sạch, môi trường bẩn trong gia đình Biết giữ gìn đồ dùng trong gia đình, cất đồ dùng, đồ chơi đúng chỗ, bỏ rác đúng nơi quy định, không khạc nhổ bừa bãi có ý thức về những điều nên làm như: khoá vòi nước khi không sử dụng, tắt điện khi ra khỏi phòng
Tiết KPKH “Đồ dùng sử dụng bằng điện trong gia đình bé”: Trẻ biết một số
đồ dùng sử dụng bằng điện trong gia đình như: bóng điện để thắp sáng, quạt, tivi, tủ lạnh, ấm điện Cô giáo dục trẻ những kỹ năng sử dụng đồ dùng bằng điện đúng cách vừa tiết kiệm lại có thể bảo quản đồ dùng, tránh được những vấn đề gây cháy nổ hay
nguy hiểm khác Cô đưa ra các tình huống nhằm lồng ghép nội dung “sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả” như khi ra khỏi phòng các con phải làm gì? (Tắt đèn, tắt
tivi, quạt )
+ Chủ đề “Thế giới thực vật”:
Giáo dục trẻ biết quá trình phát triển của cây, ích lợi của cây xanh với môi trường sống và các hành vi chặt phá rừng bừa bãi làm cho môi trường ô nhiễm, thiên tai xảy
ra nhiều và nghiêm trọng ảnh hưởng tới đời sống của con người
Đề tài: Cây xanh quanh bé: cô giáo dùng biện pháp sau: Cho trẻ chuẩn bị đồ
dùng bằng vỏ hộp sữa chua hay vỏ mì tôm cho trẻ làm thí nghiệm “Trồng cây’’ Trẻ
Trang 24được tự tay gieo trồng và mục đích là trẻ được thực hành, tìm hiểu và hằng ngày quan sát chăm sóc để trẻ biết thứ tự phát triển của cây
Sưu tầm bài hát, bài thơ, câu đố, hò vè về các loài cây để trẻ biết được ích lợi của cây đối với con người từ đó trẻ có thái độ yêu quí biết chăm sóc bảo vệ cây xanh (không hái lá, bẻ cành, lá, hoa, không giẫm lên cỏ, hoa ) Bên cạnh đó cô mở rộng tìm
những video về những cây thực vật sống trong lòng Đại dương, biển, đảo cho trẻ tìm
hiểu và cung cấp cho trẻ thấy được môi trường biển đang bị ô nhiễm do khai thác chặt phá cây trồng ven biển và các loại tảo, rong biển quá mức
+ Chủ đề “Thế giới động vật”:
Ngoài việc cung cấp cho trẻ kiến thức về đặc điểm, ích lợi cũng như tác hại của một
số con vật với đời sống con người, cô còn giáo dục trẻ yêu qúy các con vật nuôi, mong muốn và thực hiện những hành động tốt để chăm sóc bảo vệ những con vật gần gũi
VD: Trong chủ đề nhánh: “Bé biết gì về một số động vật sống dưới nước” cô cho
trẻ cùng quan sát thí nghiệm với 2 con cá ở 2 bình nước khác nhau (bình nước sạch và bình nước bẩn) cho trẻ nhận xét về sự tồn tại của hai con cá đó Cô còn mở rộng về một
số động vật đang sống trong lòng Đại dương như cá thu, tôm, cua để trẻ biết thêm về thế giới động vật nhưng chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng do ý thức con người Cô nhấn mạnh trong tự nhiên có rất nhiều con vật nhưng chúng có tên gọi, đặc điểm, hình dáng và môi trường sống khác nhau chúng đều cần được chăm sóc và bảo vệ
+ Chủ đề “giao thông”:
Cô giúp trẻ hiểu được
- Một số đồ dùng nguy hiểm, một số quy định đơn giản để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông
- Các hành vi văn minh khi tham gia giao thông Trẻ phải nắm được phương tiện giao thông thải ra khói bụi: ô tô, xe máy, tàu hỏa… thải khói vào không khí
- Biện pháp: Cho trẻ xem những video hình ảnh của các phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi trường
Người đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, ngồi trên xe thò đầu qua cửa sổ, người ngồi sau đứng lên xe đạp, xe máy, đi xe không đeo kính khẩu trang, người đi
bộ đi trên vỉa hè, đi đúng luật giao thông, trẻ em đá bóng dưới lòng đường hình ảnh người đi xe máy đeo khẩu trang, đeo kính đội mũ bảo hiểm Sau đó cho trẻ gạch nối những hành động đúng - sai khi tham gia giao thông, tô tranh những phương tiện giao thông bảo vệ môi trường, lựa chọn những lôtô phương tiện giao thông không gây ô nhiễm môi trường
Giáo dục trẻ đi đường biết đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm tránh tai nạn, bố mẹ đưa đến trường phải để xe đúng quy định, không cho xe đi vào sân trường khói bụi
Trang 25làm ô nhiễm môi trường Trẻ biết nhận ra cái đẹp trong việc giữ gìn các đồ dùng, phương tiện đi lại của gia đình sạch sẽ, gọn gàng, ngăn lắp
+ Một số hiện tượng tự nhiên:
Giúp trẻ biết về các hiện tượng tự nhiên: gió, mây, mưa, sấm chớp, sét, lũ lụt… Qua đó trẻ biết phân biệt đặc điểm của nước, nguồn nước sạch, nước bẩn, ích lợi của nước sạch, biết tiết kiệm nước sạch, tránh xa những nguồn nước bẩn gây ô nhiễm bệnh tật cho con người tác hại do một số hiện tượng tự nhiên mang lại
Trong đề tài “Sự kỳ diệu của không khí”: Cô cung cấp cho trẻ biết được đặc điểm
không khí như không màu, không mùi, không vị, biết được không khí có ở đâu, một số tác dụng đơn giản của không khí cũng như một số yếu tố gây ô nhiễm không khí và giáo dục cho trẻ có ý thức trong bảo vệ môi trường không khí
Như vậy việc lồng ghép GDBVMT cho trẻ thông qua các chủ đề khác rất phong phú, đa dạng Chúng ta cần lồng ghép tích hợp để giúp trẻ có những kiến thức hiểu biết
về chăm sóc cho bản thân, về MTXQ gần gũi với bản thân, biết sử dụng và giữ gìn đồ dùng luôn sạch sẽ gọn gàng, ngăn nắp biết sống vì môi trường, bảo vệ và giữ gìn môi trường, có thái độ đúng với môi trường một cách tích cực và hiệu quả
b GDBVMT thông qua hoạt động vui chơi
GDBVMT ở trường mầm non sẽ hình thành những phản xạ, những thói quen đầu tiên trong việc bảo vệ môi trường; giáo dục trẻ có thái độ, ứng xử đúng đắn với môi trường, tôn trọng và giữ gìn môi trường, biết cách sống tích cực và thân thiện với môi trường
GDBVMT được triển khai trong các cơ sở GDMN theo hướng tích hợp từ nhiều năm nay, các nội dung được lồng ghép ở nhiều hoạt động như: hoạt động chơi, hoạt động học, ăn, ngủ và hoạt động lao động…
Vui chơi giúp trẻ hiểu về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và với xã hội Chính sự mô phỏng, tượng trưng này đã đem lại cho trẻ niềm say mê, hứng thú khám phá những điều thú vị trong cuộc sống
Vui chơi là hoạt động mang màu sắc xúc cảm chân thực mạnh mẽ, là điều kiện
để hình thành ở trẻ thái độ đối với môi trường Trẻ yêu quý, gần gũi, thân thiện với thiên nhiên; tự hào và có ý thức giữ gìn trường/lớp, gia đình phong cảnh, địa danh của quê hương và tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường
Vui chơi là cơ hội thuận lợi để để trẻ trải nghiệm cuộc sống thực, thông qua trò chơi trẻ được chơi theo nhu cầu, sở thích và hứng thú với nhiều tình huống khác nhau
Từ đó trẻ có thói quen sống gọn gàng, ngăn nắp, vệ sinh môi trường sạch sẽ; chia sẻ, hợp tác với bạn bè và những người xung quanh, có cách ứng xử có văn hóa; trẻ phân biệt được những hành vi văn hóa và hành vi phá hoại môi trường, từ đó tích cực tham gia vào các hoạt động giữ gìn, bảo vệ môi trường
Trang 26Hoạt động chơi mang tính tích hợp cao trong giáo dục trẻ, thông qua các trò chơi phân vai, trẻ đóng vai và thể hiện các công việc của người làm công tác bảo vệ môi trường như: Trồng cây, chăm sóc cây, nhặt rác xung quanh khu vực của lớp mình, hướng cho trẻ đóng vai bác sĩ phòng khám đa khoa (khám chữa bệnh cho mọi người, chú ý giữ gìn vệ sinh phòng khám, xử lý rác thải y tế ) rồi cho trẻ đóng vai cảnh sát giao thông đi bắt những người vi phạm lấn chiếm vỉa hè, gây mất trật tự công cộng, đi sai đường, bán hàng rong giáo dục trẻ luật lệ an toàn giao thông và bảo vệ môi trường
- Trò chơi gia đình: Phải dọn dẹp nhà cửa, lau chùi nền nhà sạch sẽ, quét màng nhện trong nhà; quần áo gấp gọn gàng, ngăn nắp; đi mua đồ dùng gia đình giữ gìn không rơi vỡ, nhắc nhở mọi người phải sống tiết kiệm; trước khi ăn phải rửa tay
- Trò chơi nấu ăn: Tập làm món ăn đơn giản, chú ý vệ sinh dụng cụ nhà bếp
- Góc xây dựng: Xây dựng công viên cây xanh, sắp xếp đồ dùng ngăn nắp hợp lý
- Góc nghệ thuật: Múa hát những bài hát theo chủ đề, tạo một số đồ dùng từ những nguyên vật liệu thiên nhiên và phế liệu, dùng xong cất đúng nơi quy định
- Góc thiên nhiên: Bé làm vườn chăm sóc vườn cây, lau lá, nhổ cỏ, tưới cây, nhặt lá khô, trồng cây, gieo hạt, chơi với cát nước (chơi xong phải rửa tay, chân bằng xà phòng)
c GDBVMT Thông qua hoạt động sinh hoạt hằng ngày
Đây là hoạt động nhằm hình thành các nề nếp thói quen trong sinh hoạt, đáp ứng sinh lí, trẻ được vui vẻ và thoải mái như:
Cô thường xuyên nhắc trẻ phải biết kê bàn ngay ngắn, biết lấy khay (đựng cơm thừa, cơm rơi vãi và 1 khay để khăn ướt lau miệng) Sau đó ra xếp hàng rửa tay bằng
xà phòng theo quy trình 7 bước (cô bao quát nhắc nhở trẻ thực hiện)
Trong khi ăn cô nhắc trẻ nhai kỹ, ăn hết suất, khi ho phải lấy tay che miệng, không nói chuyện trong khi ăn tạo những thói quen văn minh lịch sự trong khi ăn Ăn xong biết xếp bát, thìa vào nơi quy định một cách gọn gàng, sau đó trẻ đi đánh răng, lau miệng, nhắc nhở trẻ tiết kiệm nước bằng cách lấy cốc hứng nước, không vặn vòi nước chảy liên tục khi đánh răng
Nhắc trẻ giữ gìn vệ sinh phòng, nhóm sạch sẽ, đi vệ sinh phải đúng nơi quy định,
đi xong để dép lên giá xếp ngay ngắn theo tổ, sau đó biết lấy gối đi ngủ, biết gấp quần
áo và để đúng nơi quy định
d GDBVMT Thông qua hoạt động tham quan
Trẻ được quan sát trực tiếp với môi trường tự nhiên, các địa danh xung quanh trường, lớp để trẻ cảm nhận về vẻ đẹp của môi trường quanh trẻ và có ý thức giữ gìn
và bảo vệ
Cô cho trẻ được đi thăm quan môi trường trong lớp học của những lớp học khác, khu vực quanh trường và thăm quan công viên, nghĩa trang liệt sĩ, uỷ ban nhân dân xã, phường Yêu cầu trẻ nhận xét về vệ sinh môi trường ở tại nơi đó và tìm ra cách khắc
Trang 27phục bảo vệ môi trường Cô cho trẻ quan sát hoạt động lao động của người lớn đang trồng và chăm sóc cây cối, con vật, làm sạch môi trường xung quanh
e GDBVMT Thông qua hoạt động ngoài trời
Cô hướng dẫn trẻ làm một số đồ dùng, đồ chơi từ nguyên vật liệu thiên nhiên và vật liệu đã qua sử dụng: Lấy lá chuối bện con vật, bện kèn, nhặt hoa cỏ dại tập gói hoa tặng cô, tặng mẹ Lấy hột hạt, vỏ hến, sỏi… để xếp hoa, quả Thông qua đó giáo dục trẻ ý thức tiết kiệm và ý thức lao động sáng tạo
Thường vào các buổi thứ 6 cuối tuần cô cho trẻ lao động vệ sinh môi trường xunh quanh trường lớp như:
- Tổ 1: Thu gom rác xung quanh trường (nhặt giấy vụn, vỏ bimbim, vỏ hộp sữa, thu gom lá bỏ vào thùng rác)
- Tổ 2: Lau đồ dùng, đồ chơi, các giá để đồ chơi của lớp
- Tổ 3: Sắp xếp đồ chơi đúng nơi quy định
Qua đó hình thành cho trẻ ý thức tự lập, tự giác và tinh thần đoàn kết cùng nhau bảo vệ môi trường
1.2.2.3 Nhiệm vụ, phương pháp và hình thức tích hợp GDBVMT cho trẻ trong các hoạt động giáo dục
- Nhiệm vụ GDBVMT cho trẻ
+ Hình thành ở trẻ cách sống có văn hóa với môi trường
+ Tạo cơ hội cho trẻ được tiếp cận với môi trường, với các thành phần cơ bản của
nó thông qua các phương tiện giáo dục ở trường mầm non
+ Giúp trẻ khám phá môi trường xung quanh dựa trên khả năng, kinh nghiệm của trẻ ở các lứa tuổi và đặc điểm riêng của mỗi trẻ
+ Tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm trong môi trường thông qua các hoạt động đa dạng ở trường mầm non
+ Tạo cơ hội cho trẻ được chia sẻ hiểu biết, suy nghĩ, cảm xúc, tình cảm với bạn
và những người xung quanh về các vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường
+ Sử dụng các hoạt động đa dạng ở trường mầm non để rèn luyện kỹ năng, hành
vi, thói quen bảo vệ môi trường của trẻ [10]
- Phương pháp tích hợp GDBVMT cho trẻ
Phương pháp tích hợp GDBVMT cho trẻ trong trường mầm non, có thể hiểu đó
là cách thức làm việc của giáo viên và của trẻ, trong đó giáo viên là người tổ chức hướng dẫn, còn trẻ em thì hoạt động trong môi trường nhằm giúp chúng tìm tòi khám phá những điều mới lạ xung quanh, có thái độ thân thiện, gắn bó với thiên nhiên và biết bảo vệ mô trường sống của mình Việc GDBVMT có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào việc giáo viên có nắm vững đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ và nắm
Trang 28vững mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ, nội dung của GDBVMT hay không; đồng thời cũng phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực nhận thức của trẻ
Trong quá trình tích hợp GDBVMT cho trẻ, cô cần tạo điều kiện cho trẻ được quan sát, tiếp xúc với các khía cạnh khác nhau của môi trường xung quanh nhiều lần, bằng nhiều hình thức (nghe, nhìn, sờ, nếm, ngửi…) để trẻ có những biểu tượng đúng đắn về đối tượng có kết hợp sử dụng các thủ thuật khác nhau phù hợp với nội dung GDBVMT để lôi cuốn sự tò mò, thích sáng tạo của trẻ, giúp trẻ cảm nhận sâu sắc hơn đặc điểm của các yếu tố môi trường
Để góp phần giúp trẻ phát huy được tính độc lập suy nghĩ và vận dụng được những hiểu biết đối với các hoạt động giáo dục, cô cần định hướng, đặt câu hỏi gợi
mở, ngắn gọn, dễ hiểu, giúp trẻ có thể nhận thức được vì sao phải bảo vệ môi trường
và phải bảo vệ như thế nào, bằng cách nào để trẻ có thể góp phần nhỏ bé của mình vào việc bảo vệ môi trường
Cô phải bao quát, theo dõi, uốn nắn trẻ, gọi các cháu khác nhau bổ sung ý kiến hoặc mở rộng thêm kiến thức của trẻ khi cần thiết
Như vậy, nếu giáo viên biết lựa chọn và sử dụng linh hoạt các phương pháp tích hợp giáo dục môi trường sao cho phù hợp với từng chủ đề cụ thể và có sự phối kết hợp một cách hài hòa thì sẽ đạt kết quả như mong muốn
- Hình thức thực hiện
Lồng ghép nội dung GDBVMT vào các hoạt động giáo dục (hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, chế độ sinh hoạt hằng ngày, hoạt động tham quan, hoạt động ngoài trời)
1.2.2.4 Ý nghĩa của việc GDBVMT cho trẻ trong trường mầm non
Môi trường là tổng thể các yếu tố tự nhiên và xã hội tác động tương hỗ với nhau tạo nên một khung cảnh sống với những điều kiện để cho con người tồn tại và phát triển Nhu cầu sống của con người nói chung và trẻ em nói riêng thật là phong phú mà
sự đáp ứng những nhu cầu đó phần lớn lại ở trong thiên nhiên Như vậy, trẻ em đã tiếp nhận ở thiên nhiên vô vàn điều quý giá mà không có gì có thể thay thế nổi, đến mức người ta có thể coi sự sống của thiên nhiên đồng nghĩa với sự sống của trẻ em
Môi trường là không gian với những điều kiện sống cho mọi người trong đó trẻ
em là một bộ phận cần được bảo vệ, che chở, chăm sóc nhiều nhất Nếu môi trường bị hủy hoại thì những sinh thể nhỏ nhoi này sẽ bị đe dọa trước tiên và nhiều nhất Lúc đó
sự tồn tại với trẻ cũng là khó khăn chứ chưa nói gì đến phát triển Nguy cơ bệnh tật và cái chết chỉ nằm trong tấc gang Do đó, bảo vệ môi trường cũng đồng nghĩa với bảo
vệ trẻ em
Việc GDBVMT cho trẻ sẽ góp phần giải quyết nhiệm vụ phát triển trẻ một cách toàn diện về các mặt trí tuệ, đạo đức, lao động, thẩm mỹ
Trang 29Trước sự hủy hoại trầm trọng của môi trường như hiện nay vấn đề GDBVMT cho mọi người sống ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này đang trở nên cấp bách Vì thế, GDBVMT có ý nghĩa, một mặt là để bảo vệ trẻ em như một bộ phận nhỏ nhoi, yếu ớt của môi trường trước sự xuống cấp của nó; mặt khác phải coi trẻ em như là một lực lượng cùng với người lớn đứng ra bảo vệ môi trường và lãnh sứ mạng đó trong tương lai “Trẻ em hôm nay - thế giới ngày mai”, hôm nay còn là những đứa trẻ nhưng mai đây là những người lớn kế tục sự nghiệp của cha ông, trong đó việc bảo vệ môi trường
là một trọng trách
1.3 Đặc điểm phát triển tâm - sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi
Từ 0 - 6 tuổi là giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển
chung của trẻ em L.N.Tônxtôi đã nói về tầm quan trọng của giai đoạn này như sau: “Tất
cả những cái gì mà đứa trẻ sẽ có sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời thơ ấu Trong quãng đời còn lại những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng một phần trăm những cái đó mà thôi”
Nhiều công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non và tâm lý học sư phạm đã khẳng định việc dạy học và nâng cao chất lượng việc dạy học cần phải được xây dựng trên những cơ sở đặc điểm phát triển tâm - sinh lý của trẻ em Bên cạnh đó, trẻ thời kì này có đặc điểm là rất dễ uốn nắn và có mức độ phát triển nhanh, chính vì vậy việc giáo dục tạo ra cho trẻ thói quen sống thân thiện với môi trường, có ý thức đạo đức về giữ gìn, bảo vệ môi trường sẽ rất thuận lợi trong thời kì này
1.3.1 Đặc điểm phát triển thể chất của trẻ 5 - 6 tuổi
Sự phát triển của trẻ em tuân theo những quy luật cơ bản của sinh học Trình tự
và tốc độ của sự phát triển phụ thuộc vào những yếu tố di truyền, môi trường sống, phương pháp nuôi dưỡng, điều kiện xã hôi, vệ sinh và sự rèn luyện thân thể một cách
có ý thức Trong những năm đầu của cuộc sống, tốc độ phát triển của cơ thể trẻ rất nhanh, biểu hiện qua sự phát triển chiều cao, cân nặng, vòng đầu, vòng ngực,… và đây
là những chỉ số đặc biệt quan trọng để đánh giá sự phát triển thể lực của trẻ [19]
Hệ thần kinh của trẻ phát triển nhanh chóng từ 4 - 6 tuổi, quá trình ức chế dần dần phát triển Trẻ đã có khả năng phân tích, tổng hợp, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo
vận động và có khả năng phân biệt được các hiện tượng xung quanh
Hệ vận động: gồm hệ xương và hệ cơ, trẻ 5 tuổi các vận động dần dần đi đến hoàn thiện Các vận động của trẻ bước đầu đã đạt mức độ chính xác, nhịp nhàng, nhịp điệu ổn định, biết phối hợp các hoạt động của mình với tập thể Sang 6 tuổi, tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất nhanh, các vận động được hình thành một cách nhanh chóng và dễ được củng cố Các vận động cơ bản được thực hiện tương đối chính xác, mềm dẻo, thể hiện sự khéo léo trong vận động Lực cơ bắp được tăng lên [19]
Trang 301.3.2 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi
- Về phát triển ngôn ngữ
Trẻ 5 - 6 tuổi nhìn chung đã thực sự nắm vững tiếng mẹ đẻ, trẻ nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm đúng với sự phát âm của người lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nói đúng hệ thống ngữ pháp khá phức tạp bao gồm những quy lật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương diện cú pháp và phương diện tu từ, nói năng mạch lạc, thoải mái Trẻ thích tham gia kể và nghe kể chuyện Trẻ hiểu được rằng ngôn ngữ có thể được viết dưới dạng các biểu tượng
- Ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý
Ở lứa tuổi này, trẻ đã tự ý thức được về bản thân, về những ưu, khuyết điểm của mình mà không cần sự đánh giá của người lớn Trẻ tự điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc của xã hội
Nhờ vào hoạt động chủ đạo của lứa tuổi mẫu giáo - hoạt động vui chơi mà các hoạt động tâm lý bên trong được biến đổi một cách rõ rệt, từ những quá trình tâm lý không chủ định chuyển sang những quá trình tâm lý chủ định, như tri giác có chủ định, chú ý có chủ định, ghi nhớ của chủ định [19]
- Sự phát triển tư duy
Cùng với kiểu tư duy trực quan - hành động của trẻ em, ở giai đoạn này đã xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng Tư duy của trẻ dựa vào các biểu tượng
mà trẻ đã tích lũy - đó là sự chuyển tư tưởng từ hành động định hướng bên ngoài vào hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm của hành động Kiểu tư duy này được phát triển và chiếm ưu thế trong suốt độ tuổi mẫu giáo, đặc biệt phát triển mạnh ở giai đoạn cuối lứa tuổi mẫu giáo (5 - 6 tuổi) [19]
Kiểu tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh mẽ, lúc này sẽ xuất hiện một kiểu tư duy mới đó là kiểu tư duy trực quan - sơ đồ Kiểu tư duy này sẽ giúp trẻ em đi sâu vào các mối quan hệ phức tạp của sự vật hiện tượng, nhìn thấy được bản chất của
sự vât hiện tượng và tư duy trực quan - hình tượng không cho phép nhìn thấy được Hoạt động tâm lý của trẻ giai đoạn này đặc biệt nhạy cảm với những hình tượng sinh động
cụ thể về các sự vật và hiện tượng Tư duy của trẻ còn gắn liền với cảm xúc và ý muốn chủ quan của trẻ Trẻ chỉ suy nghĩ và ghi nhớ những gì mà trẻ thấy hứng thú [19]
Nhìn chung, trẻ 5 - 6 tuổi đã xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của tư duy logic
- Tính tích cực nhận thức
Hứng thú là vô cùng quan trọng đối với sự nhận thức của trẻ Trẻ luôn tò mò, khám phá thế giới xung quanh Trẻ luôn muốn chiếm lĩnh những đối tượng có nội dung mới Lòng mong ước hoạt động trí tuệ ngày càng thúc đẩy phát triển hứng thú nhận thức, xu hướng nhận thức đã được hình thành rõ rệt ở lứa tuổi mẫu giáo
Trang 31- Sự xuất hiện động cơ của hành vi
Từ tuổi mẫu giáo nhỡ, những động cơ “vì xã hội” bắt đầu chiếm vị trí ngày càng lớn trong số các động cơ đạo đức Trong thời kì này, trẻ đã hiểu rằng những hành vi của chúng có thể mang lại lợi ích cho những người khác và chúng bắt đầu thực hiện nhũng công việc vì người khác theo sáng kiến của riêng mình Động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo nhỡ và lớn trở nên nhiều màu nhiều vẻ: động cơ muốn khẳng định mình, động cơ muốn nhận thức, muốn khám phá thế giới xung quanh, động cơ thi đua, động cơ xã hội… Cần phải quan tâm đến nội dung động cơ của trẻ, cần phải phát huy động cơ tích cực và ngăn chặn động cơ tiêu cực Ở lứa tuổi này đã bắt đầu hình thành quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc của các động cơ, được gọi là hệ thống thứ bậc các động cơ Đó là một cấu tạo tâm lý mới trong sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo [19]
Trong hệ thống thứ bậc này, các động cơ được sắp xếp theo ý nghĩa quan trọng của mỗi động cơ đối với bản thân đứa trẻ Trước một công việc, mỗi trẻ em đều có thể
có một hệ thống thứ bậc các động cơ thúc đẩy Sự khác nhau giữa trẻ em ở đây rõ nhất
là trong hệ thống thứ bậc của động cơ, xem động cơ nào chiếm ưu thế nhất Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào sự giáo dục của người lớn và ảnh hưởng của cuộc sống bên ngoài mà trẻ tiếp xúc
Hệ thống thứ bậc các động cơ được hình thành ở tuổi này khiến cho toàn bộ hành
vi của trẻ nhằm theo một xu hướng nhất định Ở trẻ mẫu giáo nhỡ trở đi, hành vi của chúng tương đối dễ xác định Nếu động cơ vì xã hội chiếm ưu thế thì trẻ sẽ thực hiện những hành vi mang tính đạo đức tốt đẹp Ngược lại nếu động cơ nhằm thỏa mãn quyền lợi riêng chiếm ưu thế thì trong nhiều trường hợp trẻ sẽ hành động nhằm tìm kiếm những quyền lợi các nhân ích kỷ, dẫn đến những sai phạm nghiêm trọng về quy tắc đạo đức xã hội Đối với những đứa trẻ này cần áp dụng các biện pháp giáo dục thích hợp, có hiệu quả nhằm thay đổi những cơ sở những nhân cách đã được hình thành một cách bất lợi này, trước hết phải cảm hóa trẻ bằng tình yêu thương, đồng thời lại đòi hỏi ở chúng sự yêu thương và quan tâm đến những người xung quanh, tạo ra những tình huống để gợi lên ở trẻ những hành vi đạo đức tốt đẹp
Sự thay đổi động cơ mà trẻ em theo đuổi là đặc điểm nổi bật trong sự hình thành nhân cách của trẻ ở lứa tuổi này Ở trẻ lúc này, các kích thích riêng rẽ, rời rạc đã trở thành hệ thống động cơ, trẻ thường hành động theo những kích thích cảm xúc mạnh Lúc này động cơ có tính chất xã hội của trẻ bắt đầu phát huy tác dụng Trẻ lứa tuổi này
bị chi phối nhiều động cơ khác nhau, xuất hiện động cơ gắn với ý muốn được làm người lớn, động cơ gắn với quá trình chơi, động cơ muốn làm người lớn vui lòng Tuy nhiên các động cơ này chưa có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau cho nên trẻ thường tuân theo những kích thích nào có cảm xúc mạnh nhất Vì vậy, nếu biết sử dụng các
Trang 32động cơ khác nhau của trẻ một cách hợp lý, nhà giáo dục sẽ nâng cao được một cách đáng kể kết quả hoạt động của trẻ
- Tính tự lực ở trẻ
Có thể nói rằng tính tự lực là phẩm chất quan trọng của nhân cách Sự tích lũy kinh nghiệm thực tế trong khi hành động, sự phát triển xu hướng nhận thức và xu hướng xã hội đã hình thành ở trẻ mẫu giáo nguyện vọng được tự lực Trẻ càng lớn thì tính tự lực càng phát triển, tuy nhiên tính tự lực của trẻ không giống với hành vi tự phát của chúng ta, bao giờ cũng có vai trò lãnh đạo và những yêu cầu của người lớn
- Đặc điểm nhận thức về môi trường của trẻ 5 - 6 tuổi
Đặc trưng cơ bản của trẻ em là luôn thích tìm tòi khám phá thế giới xung quanh Trẻ luôn muốn khám phá các hiện tượng tự nhiên, muốn tìm hiểu về bản thân mình, trẻ luôn đặt ra câu hỏi “Tại sao?”, “Vì sao?”, “Sao lại như thế?”…
Tuy nhiên nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) về môi trường còn mang nặng cảm tính và tính trực quan hành động nên trẻ chỉ tập trung, chú ý, ghi nhớ và tái hiện những sự vật hiện tượng mới lạ, hấp dẫn ngộ nghĩnh… Vì vậy GDBVMT cho trẻ cần phải có những đồ dùng trực quan đẹp mắt, cần phải cho trẻ được tiếp xúc trực tiếp với môi trường, với những tình huống môi trường cụ thể… có như vậy những kỹ năng, kiến thức về môi trường mới ăn sâu vào tâm trí trẻ
Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) đã có khả năng tổng hợp, phân tích và khái quát hóa những dấu hiệu bên ngoài, trẻ nhận biết được đâu là đúng, đâu là sai, cái gì nên làm và cái gì không nên làm Khả năng vận dụng những điều đã nhận biết vào việc liên hệ với cuộc sống xung quanh của trẻ được nâng lên sâu và rộng hơn, trẻ thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của mình Trẻ hiểu được ý nghĩa của việc phải BVMT và trẻ biết mình phải làm gì để giữ gìn BVMT
Từ những đặc điểm nhận thức của trẻ về môi trường, trong quá trình tổ chức giáo dục trẻ cần chú ý: cho trẻ được thường xuyên tiếp xúc với thiên nhiên, giao tiếp với bạn bè và người lớn, thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của trẻ; cần tăng cường yếu tố trực quan sinh động trong quá trình GDBVMT cho trẻ, ngoài việc cung cấp những kiến thức, kỹ năng BVMT, cần phải tiên hành cho trẻ được hành động trực tiếp thông qua trò chơi hoặc giao nhiệm vụ cụ thể; bên cạnh đó cũng cần chú ý đến đặc điểm cá nhân của trẻ để có biện pháp sư phạm tác động thích hợp, tránh sự gò bó, áp đặt trẻ trong quá trình giáo dục
Nói chung, với sự phát triển về tâm lý, thể chất cũng như trí tuệ của trẻ 5 - 6 tuổi, chúng ta thấy rằng hoàn toàn có thể áp dụng được một số biện pháp phù hợp để GDBVMT cho trẻ
Trang 33Tiểu kết chương 1
Vấn đề BVMT đang là một vấn đề cấp bách có tính toàn cầu được hình thành trong một quá trình lâu dài cần được giáo dục cho con người và phải bắt đầu ngay từ lứa tuổi mầm non Vì như A.S Macarenco đã nói “Những cơ sở căn bản của việc giáo dục con người đã được hình thành trước 5 tuổi Những điều kiện dạy cho trẻ trong thời
kỳ này chiếm 90% tiến trình giáo dục của cuộc đời Về sau giáo dục vẫn được tiếp tục nhưng đó là lúc hái hoa, nếm quả, còn nụ hoa thì đã được vun trồng ngay trong những năm đầu tiên” Khác với người lớn, GDBVMT cho trẻ mầm non được đặt ra không chỉ đơn thuần do sự bức xúc của các vấn đề môi trường và xuất phát từ chính nhu cầu phát triển nhân cách của trẻ Chính vì vậy, không thể không tiến hành GDBVMT cho trẻ mầm non
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
2.1 Vài nét về khách thể và địa bàn khảo sát
Tiến hành điều tra thực trạng GDBVMT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Bảo Ninh Trường Mầm non Bảo Ninh thuộc xã Bảo Ninh, là một xã nằm ở phía Đông của Thành Phố Đồng Hới, có diện tích 16, 3km và dân số có trên 9000 người Trường Mầm non Bảo Ninh là một trong số các trường có bề dày về thành tích
Từ những năm đầu thành lập, trường có 08 cụm, mỗi cụm có 01 phòng học Đến năm
2002 trường rút gọn lại còn 4 cụm, cụm chính gồm 06 phòng học và 01 phòng bếp đều nhà cấp 4 Năm 2008, được sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương
đã đầu tư xây dựng kiên cố dãy nhà 2 tầng gồm cả phòng học và các phòng chức năng Hiện nay trường đã tập trung về 02 cụm (cụm 1 ở thôn Sa Động, cụm 2 ở thôn Hà Thôn) Năm học 2012 - 2013, trường được công nhận đạt Chất lượng giáo dục cấp độ
1 Tháng 8/2013 trường được công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia cấp độ 2
Trường Mầm non Bảo Ninh có tổng số quản lý, giáo viên, nhân viên là 49 người
Về trình độ đào tạo 100% đạt chuẩn Trong đó trên chuẩn: CBQL: 3/3 (tỷ lệ 100%);
Giáo viên: 28/32 (tỷ lệ 87,5%); Nhân viên: 4/12 (tỷ lệ 33%) Biên chế đội ngũ: CBQL:
03; Giáo viên trực tiếp đứng lớp: 31; Giáo viên dạy năng khiếu: 01; Nhân viên: 12 (Y
tế 01, Kế toán 01, nấu ăn 10)
Trường có 12 phòng học đóng ở 2 điểm: 10 phòng kiên cố ở cụm trung tâm, 02 phòng bán kiên cố ở cụm Hà Thôn 01 nhóm trẻ phải sử dụng phòng máy tính để học,
02 lớp MG phải sử dụng phòng văn phòng và phòng âm nhạc để học
Phòng chức năng: 02 phòng (phòng Nghệ thuật, Hội trường) Phòng làm việc: 04 phòng (phòng Hiệu trưởng, phòng Phó hiệu trưởng, phòng Y tế, Văn phòng)
Khuôn viên nhà trường thoáng mát, có tường rào kiên cố, môi trường sạch sẽ, an toàn, thân thiện Có đủ hệ thống phòng học, phòng chức năng, sân chơi, công trình vệ sinh, tường rào phục vụ hoạt động
Thuận lợi:
Trường Mầm non Bảo Ninh là một trường có bề dày thành tích, luôn là top các trường dẫn đầu toàn tỉnh Trường nhiều năm liền đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc, Chi bộ trong sạch vững mạnh, Công đoàn vững mạnh xuất sắc Tháng 4, năm
2018 vừa qua, trường đã đạt giải Nhất cấp tỉnh cuộc thi “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm”
Tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên đoàn kết, nhiệt tình có tinh thần trách nhiệm cao BGH nhà trường là những người có kinh nghiệm trong việc chỉ đạo chuyên môn,
Trang 35tham mưu xây dựng cơ sở vật chất, công tác xã hội hóa giáo dục Đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình, năng động sáng tạo trong công tác giảng dạy đặc biệt có nhiều giáo viên có khả năng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ
Về công tác phát triển số lượng: Nhà trường luôn chú trọng công tác phát triển số lượng Học sinh đến lớp hầu hết trong độ tuổi giáo dục mầm non, ở vùng biển nên hầu hết là con em ngư dân, tuy nhiên Đảng ủy, hội đồng nhân dân xã và các ban ngành đoàn thể trong địa phương, hội cha mẹ học sinh luôn quan tâm đến giáo dục mầm non Nhà trường thường xuyên tổ chức các hội thi lớn và tạo các sân chơi cho trẻ và
cô giáo thể hiện năng lực của mình và đã đạt nhiều thành tích to lớn
Qua biểu đồ phát triển, bảng kiểm tra sức khỏe định kỳ cho thấy trẻ đến trường
khỏe mạnh, tâm sinh lý phát triển phù hợp với lứa tuổi
2.2 Khái quát về quá trình tổ chức khảo sát thực trạng
2.2.1 Mục đích khảo sát
Tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng việc tích hợp GDBVMT trong các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình
2.2.2 Khách thể khảo sát
- Giáo viên mầm non: 15 người
- Trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi của trường mầm non Bảo Ninh 60 trẻ Các cháu tham gia vào quá trình nghiên cứu đều có thể lực và khả năng nhận thức tốt
2.2.3 Đánh giá kết quả GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục
Trên cơ sở nghiên cứu về mục đích, nội dung GDBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non, chúng tôi đánh giá kết quả giáo dục môi trường cho trẻ trong các hoạt động giáo dục qua các tiêu chí sau:
Tiêu chí 1: Có nhu cầu và hứng thú với việc giáo dục bảo vệ môi trường
Tiêu chí 2: Hiểu biết về môi trường và bảo vệ môi trường
Tiêu chí 3: Kỹ năng bảo vệ môi trường
Tiêu chí 4: Có ý thức, thái độ giữ gìn bảo vệ môi trường
Tiêu chí 1: Có nhu cầu và hứng thú với việc giáo dục bảo vệ môi trường
- Quan tâm đến các sự vật hiện tượng xung quanh
- Hứng thú đối với các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường mà giáo viên truyền đạt
Trang 36- Có nhu cầu tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường
Tiêu chí 2: Hiểu biết về môi trường và bảo vệ môi trường
- Nhận biết được môi trường sạch, môi trường bẩn
- Biết được vì sao môi trường bị ô nhiễm
- Phải làm gì để giữ gìn, bảo vệ môi trường
Tiêu chí 3: Kỹ năng bảo vệ môi trường
- Biết thực hiện công việc bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi
- Có khả năng lao động giữ gìn môi trường lớp học, trường học luôn sạch đẹp
- Nhanh nhạy trong quá trình thực hiện các công việc góp phần bảo vệ môi trường
Tiêu chí 4: Có ý thức và thái độ giữ gìn, bảo vệ môi trường
- Có ý thức tự giác, bảo vệ môi trường
- Có thái độ chống lại các hành vi phá hoại môi trường
- Biết tuyên truyền, vận động mọi người cùng tham gia bảo vệ môi trường
Thang đánh giá:
Tiêu chí 1: Có nhu cầu và hứng thú với việc giáo dục bảo vệ môi trường
Mức độ 1: Trẻ không thích, không hứng thú và không quan tâm đến công tác
GDBVMT
Mức độ 2: Trẻ vẫn hứng thú nhưng ít tập trung
Mức độ 3: Trẻ rất hứng thú, sôi nổi và bị cuốn hút vào việc giáo môi trường Tiêu chí 2: Hiểu biết về môi trường và bảo vệ môi trường
Mức độ 1: Trẻ chỉ trả lời được những câu hỏi đơn giản trong mỗi nội dung,
khoảng dưới 2 câu và ít có sự hiểu biết về môi trường
Mức độ 2: Trẻ trả lời được 2 - 3 câu hỏi trong mỗi nội dung và có sự hiểu biết về
môi trường nhưng phải nhờ sự hướng dẫn của cô giáo
Mức độ 3: Trẻ trả lời được 4 - 5 câu hỏi trong mỗi nội dung, có sự hiểu biết rộng
về môi trường và bảo vệ môi trường
Tiêu chí 3: Kỹ năng bảo vệ môi trường
Mức độ 1: Trẻ chưa chủ động, phải có cô giáo hướng dẫn và cùng làm với trẻ Mức độ 2: Trẻ biết thực hiện một vài công việc để BVMT nhưng vẫn còn nhờ sự
chỉ dẫn của cô
Mức độ 3: Trẻ biết thực hiện tốt công việc cụ thể để BVMT
Tiêu chí 4: Có ý thức và thái độ giữ gìn, bảo vệ môi trường
Mức độ 1: Trẻ chưa có ý thức và có thái độ miễn cưỡng khi tham gia BVMT Mức độ 2: Trẻ có ý thức nhưng chưa thực sự chủ động
Mức độ 3: Trẻ có ý thức và tự giác tham gia tốt vào công tác bảo vệ môi trường
Với tiêu chí và thang đánh giá trên chúng tôi đưa ra mức điểm cụ thể để đánh giá mức độ nhận thức của trẻ về việc giáo dục bảo vệ môi trường như sau:
Trang 37Mức độ 1: Trung bình
Mức độ 2: Khá
Mức độ 3: Tốt
2.2.4 Nội dung khảo sát
Chúng tôi khảo sát hiệu quả việc tích hợp GDBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non thông qua 8 nội dung sau:
Nội dung 1: Trường mầm non của bé
- Tên và địa chỉ trường cháu?
- Cháu có yêu trường mình không?
- Cháu có hái hoa, bẻ cành xung quanh lớp không?
- Cháu có vứt rác bừa bãi ra sân trường không?
- Cháu có biết vì sao môi trường bị ô nhiễm không?
Nội dung 2: Về bản thân bé:
- Cháu tên gì?
- Cháu có biết tự vệ sinh cá nhân cho mình không?
- Cháu có biết tắt vòi nước khi đi vệ sinh không?
- Cháu có biết trước khi vứt rác vào thùng thì phải làm gì không?
- Cháu làm gì để kêu gọi mọi người bảo vệ môi trường?
Nội dung 3: Gia đình của bé:
- Cháu có yêu gia đình mình không?
- Cháu có biết giữ gìn đồ dùng trong gia đình không?
- Cháu phải làm gì để tiết kiệm điện khi không sử dụng?
- Cháu có biết sử dụng các đồ dùng bằng điện không?
- Cháu phải làm gì để tiết kiệm nước khi không sử dụng?
Nội dung 4: Thế giới thực vật:
- Làm thế nào để cây lớn lên?
- Cháu có tưới nước cho cây không?
- Cháu làm gì để bảo vệ cây?
- Theo cháu lau lá cây để làm gì?
- Nếu thiếu cây xanh thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Nội dung 5: Thế giới động vật:
- Nhà cháu có nuôi những con vật nào?
- Cháu có yêu quý những con vật nuôi trong gia đình mình không?
- Cháu làm gì để bảo vệ nhưng con vật nuôi đó?
- Cháu làm gì để các con vật nuôi lớn nhanh và khỏe mạnh?
- Những con vật nuôi trong gia đình giúp ích gì cho chúng ta?
Trang 38Nội dung 6: Giao thông:
- Hãy kể tên những loại phương tiện giao thông mà cháu biết?
- Các phương tiện giao thông có thải ra khói bụi không?
- Những chất thải đó có nguy hiểm không?
- Khi tham gia giao thông để đảm bảo an toàn thì cháu phải như thế nào?
- Để tránh khói bụi khi đi đường cháu sẽ làm gì?
Nội dung 7: Nước và các hiện tượng tự nhiên:
- Nước dùng để làm gì?
- Chúng mình phải làm gì để bảo vệ nguồn nước?
- Nếu thiếu nước con người và mọi vật sẽ như thế nào?
- Mùa hè đến cây cối như thế nào? Cháu phải làm gì để cây cối tươi tốt?
- Ánh sáng mặt trời có tác dụng gì? Cháu có nên đùa nghịch chơi dưới trời nắng hoặc mưa to không? Vì sao?
Nội dung 8: Quê hương của bé:
- Cháu có thích nơi ở của mình không? Vì sao?
- Cháu thường cùng ai làm việc để giữ gìn vệ sinh môi trường?
- Theo cháu môi trường như thế nào là môi trường sạch, môi trường bẩn?
- Nếu gặp những hành vi phá hoại môi trường thì cháu sẽ làm gì?
- Cháu làm gì để giữ gìn vệ sinh môi trường nơi mình ở?
- Tổng kết kinh nghiệm qua việc tổ chức hoạt động của giáo viên
2.4 Kết quả khảo sát thực trạng tích hợp GDBVMT cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
2.4.1 Đối với giáo viên
* Nhận thức của giáo viên về vai trò của tích hợp GDBVMT trong các hoạt động giáo dục cho trẻ
Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra đối với 15 giáo viên trường mầm non Bảo Ninh để tìm hiểu thực trạng việc GDBVMT cho trẻ trong các hoạt động giáo dục cũng như các điều kiện ảnh hưởng tới hiệu quả của việc GDBVMT cho trẻ và điều kiện để nâng cao chất lượng GDBVMT cho trẻ
Trang 39Sau khi phát phiếu điều tra, thu thập và xử lý, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.1 Nhận thức của giáo viên về vai trò của tích hợp GDBVMT trong các
hoạt động giáo dục cho trẻ
TT Mức độ Số lượng Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Theo số liệu điều tra)
Từ kết quả trên cho thấy hầu hết các giáo viên đã đánh giá rất cao tầm quan trọng của việc tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục Trong quá trình
tổ chức các hoạt động, có 73.3% ý kiến giáo viên cho rằng việc tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động giáo dục là rất quan trọng Còn 26.7% ý kiến là quan trọng, không có ý kiến nào cho rằng việc tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục là không quan trọng Như vậy, có thể khẳng định thông qua các hoạt động giáo dục giúp trẻ được tiếp cận với môi trường một cách dễ dàng và thuận lợi
* Nhận thức của giáo viên về mức độ thực hiện tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục
Sau khi phát, thu phiếu điều tra và xử lí số liệu, chúng tôi đã thu được kết quả nhận thức của giáo viên về mức độ thực hiện tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục như sau:
Bảng 2.2 Mức độ thực hiện tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động
giáo dục
TT Mức độ Số lượng Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Theo số liệu điều tra)
Từ bảng trên ta thấy, có 26.7% ý kiến của giáo viên cho rằng thường xuyên tích hợp GDBVMT thông qua các hoạt động giáo dục, không có giáo viên nào không thực hiện và có đến 66.7% ý kiến cho rằng không thường xuyên nghĩa là chỉ thỉnh thoảng thực hiện Như vậy, mức độ thực hiện tích hợp GDBVMT của giáo viên cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục là chưa cao
Trang 40* Nhận thức về việc lựa chọn hoạt động để GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục
Bảng 2.3 Nhận thức về việc lựa chọn hoạt động để GDBVMT cho trẻ
TT Các hoạt động Số lượng Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Theo số liệu điều tra)
Qua bảng trên ta thấy, mặc dù các giáo viên có sự nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục nhưng khi được hỏi lựa chọn hoạt động để tiến hành GDBVMT cho trẻ thì phần lớn giáo viên lại cho rằng chế độ sinh hoạt hằng ngày là phù hợp hơn (chiếm 53.3%) Trong khi đó trong hoạt động học tập chiếm 20%, hoạt động ngoài trời chỉ chiếm 13.3% còn hoạt động vui chơi và hoạt động tham quan lại chỉ chiếm có 6.7%
Như vậy, nhận thức về việc lựa chọn các hoạt động của giáo viên vẫn chưa đầy
đủ, các giáo viên cho rằng tích hợp GDBVMT trong hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân là có hiệu quả nhất còn các hoạt động học, hoạt động lao động và hoạt động chơi… thì hầu như đa số giáo viên còn chưa chú trọng, nếu có thì chỉ thông qua tranh ảnh và đàm thoại với trẻ về hành động, việc làm của các bạn nhỏ về ý thức bảo vệ môi trường hoặc lồng ghép vào phần sau của hoạt động chứ chưa cho trẻ trải nghiệm, thực hành để hình thành ý thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm của trẻ đối với môi trường
* Nhận thức của giáo viên về thời điểm tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục
Bảng 2.4 Nhận thức của giáo viên về thời điểm tích hợp GDBVMT cho trẻ
TT Thời điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Theo số liệu điều tra)
Từ bảng trên ta thấy, có 66.7% ý kiến cho rằng nên tích hợp GDBVMT trong thời điểm vệ sinh, ăn, ngủ Có 20% ý kiến cho rằng nên tích hợp vào thời điểm đón, trả trẻ Chỉ có 13.3% ý kiến cho rằng nên tích hợp trong giờ chơi - tập có chủ đích
Qua đó ta thấy, nhận thức của giáo viên về thời điểm để tích hợp GDBVMT cho trẻ thông qua các hoạt động giáo dục chưa đồng đều nhau, và chưa có sự thống nhất Đa