1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, tuyển chọn và nhân giống cây hoa cúc trên vùng đất trồng hoa ở Hà Nội

27 494 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 881,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu, tuyển chọn và nhân giống cây hoa cúc trên vùng đất trồng hoa ở Hà Nội

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO _ BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT VIEN KHOA HOC KY THUAT NONG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYEN THI KIM LY

&

Š NGHIÊN CỨU, TUYỂN CHỌN VÀ NHÂN GIỐNG

-_ CAY HOA CUC TREN VUNG DAT TRỒNG HOA

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: - ;

VIEN KHOA HOC KY THUAT NONG NGHIEP VIET NAM

Tập thể hướng dẫn khoa học:

1 PGS TS Nguyễn Xuân Linh

2 GS.TS Trần Văn Diễn

Phản biện 1: GS TS Tran Ti Nga

Phản biện 2: PGS TS Nguyễn Đức Lương

Phản biện 3: PGS TSEKH Lê Thị Diệu Muội

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước Họp tại: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam

Vào hồi: giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:

Thư viện Quốc gia Việt Nam

Thư viện Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam

Thư viện Viện Di truyền Nông nghiện

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong những năm qua tốc độ phát triển cây hoa cúc ở nước ta rất lớn đóng góp một nguồn thu không nhỏ cho các hộ trồng hoa Tuy nhiên sản xuất

cúc còn nhiều hạn chế vẻ diện tích canh tấc cũng như năng suất, chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường Nguyên nhân chính là do sự thiếu hiểu biết về kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng, đặc biệt là những biện pháp để

làm tăng năng suất chất lượng hoa Nhằm khắc phục tình trạng trên tạo diều'

kiện cho cây hoa cúc phát triển vững chắc, có hiệu quả cao, cần phải thu thập nguồn gen, khảo sát, đánh giá các đặc tính sinh học, đặc tính kinh tế, xây dựng quy trình kỹ thuật về sản xuất và nhân giống có chất lượng để áp dụng rộng rãi ngoài sản xuất Với mục đích đó để tài đã tiến hành: “ Nghién cứu, tuyển chọn và nhân giống cây hoa cúc trên vùng đất trầng hoa ở Hà Noi"

2 Mục đích nghiên cứu:

2.1 Thu thập các giống hoa cúc trong và ngoài nước, nghiên cứu có hệ thống các đặc trưng hình thái, các đặc tính sinh trưởng phát triển, tình hình

sâu bệnh và tiém nang cho nang suất Trên cở sở đó tuyển chọn những giống

mới có khá năng thích ứng trong điều kiện Hà Nội, cho năng suất cao, chất lượng hoa tốt, đưa ra sản xuất rộng để đáp ứng nhu cầu sản xuat và tiêu dùng 2.2 Xác định những nguyên nhân chính đã làm ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển cây hoa cúc Từ đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm tăng nãng suất chất lượng hoa, đặc biệt là yêu cầu sản xuất hoa trái vụ 2.3 Xây dựng quy trình sản xuất hoa, quy trình nhân giống có chất lượng

đốt với những giống cúc đang được trồng phổ biến ngoài sản xuất Góp phần

phát triển cày hoa cúc ở Hà Nội, giúp các vùng trồng hoa áp dụng tiến bộ kỹ thuật một cách khoa học và có hiệu quả nhất

2.4 Chọn vật liệu ban đầu làm cơ sở cho công tác chọn và tạo giống

những giống hoa cúc mới trong tương lai, thích hợp với từng vụ và từng vùng

sinh thái khác nhau

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

3.1 Ý nghĩa khoa học:

- Nghiên cứu sự sinh trưởng phát triển của cây hoa cúc ở các thời vụ khác nhau, bước đầu xác định những chỉ tiêu cơ bản cho một giống cúc đạt năng suất chất lượng cao và có hiệu quả kinh tế Tuyển chọn các giống có triển

vọng cho sản xuất, góp phần làm phong phú tập đoàn hoa cúc ở Việt Nam

- Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được khả năng thích ứng của một số

giống làm cơ sở để xây dựng quy trình sản xuất, quy trình nhân giống và các

biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất chất lượng đối với những giống hoa

cúc có giá trị kinh tế cao đang được trồng phổ biến ngoài sản xuất

Trang 4

we

3.2 Ý nghĩa thực tiễn:

- Thu thập, đánh giá và lưu giữ nguồn gen bằng phương pháp nuôi cấy inviro Chọn được giống cúc CN93, CN98 thích hợp cho vụ Xuân Hè và Hè Thu CN97, Vàng Đài Loan cho vụ Thu Đông và Tím xoáy cho vụ Đông Xuân, các

siống này có đặc tính ổn định, sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện khí hậu

vùng Đồng bằng Bắc Bộ, cho năng suất phẩm chất tốt đáp ứng yêu cầu chọn những giống hoa mới dang được áp dụnh rộng rãi ở các địa phương

- Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm tăng nâng suất, chất lượng hoa Trên cở sở đó xây dựng quy trình trồng, nhân giống và chuyển giao tiến bộ Kỹ thuật, xác định mô hình sản xuất hoa, sản xuất giống cho một số địa phương như Sa Pa, Việt Tñ, Sơn Tây, Đông Anh Mở rộng diện tích trồng cúc, góp phần chuyển dối cơ cấu cây trồng làm tăng thu nhập cho người sản xuất

- Đã dưa ra sản xuất 2 giống cúc mới là CN93 và CN98 dược Hội đồng Khoa học Bộ NN và PTNT cho phép khu vực hoá và công nhận giống cúc CN93 là giống quốcgia và giống cúc CN98 là giống tiến bộ kỹ thuật

4 Đối tượng và dịa điểm nghiên cứu:

- Gồm 30 giống hoa cúc được thu thập từ trong nước và nước ngoài

- Thí nghiêm được tiến hành ở các vụ Xuân Hè, Hè Thu, Thu Đông và Đông Xuân từ năm 1996 - 2000 Các thí nghiệm vẻ khảo sát, đánh giá trên vùng đất trồng hoa ở Hà Nội Các kết quá khảo nghiệm và sản xuất thử dược tiến hành ở một số tỉnh như Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Phú Thọ, Lào Cai

$ Cấu trúc của lưận án:

Luận án có 171 trang, 3 chương, 46 bảng biểu, 9 biểu đồ, 6 phụ lục, 112 tài liệu tham khảo, trong đó có 36 tài liệu tiếng Việt, 76 tài liệu tiếng Anh

Chương | TONG QUAN TAI LIEU, CO SỞ KHOA HOC CUA DE TAL

1.1, Cơ sở khoa học của đề tài:

1.1.1 Nguồn gốc , phân loại, giá trị kinh tế và giá trị sử dụng:

Cây hoa cúc có tên khoa hoc 1a Chrysanthemum duoc dinh nghĩa từ Chrvsos (vàng) và Anthemon (hoa) bởi Lineaus năm- [753 có nguồn gốc lừ Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu,

Trong hệ thống phân loại thực vật, Võ Văn Chi Dương Đức Tiến (1978)

đã xếp cây họa cúc vào lớp hai lá mầm (Dicoryledonec), phân lớp cúc (Astervdae), bộ cúc (Asterales), ho cic (Asteraceae), phan ho giéng hoa cuc (Asteroidae), chi (Chrysanthemum) Theo Soreng (1991) cúc có rất nhiều giống, nhưng dến nay việc phân loại vẫn chưa thống nhất Một số tác giá đã

Trang 5

Wooiman (1989) cho thay clic được sử dụng rất đa dạng, vừa trồng ngoài vườn vừa trong nhà kính, dùng để trang trí, làm thực phẩm, sản xuất dược liệu Đối với người Việt Nam, cúc có thế dùng để cắm lọ, bấm ngọn tạo tán để trồng chậu, trang tri nhà cửa, vườn hoa, dùng vào những ngày sinh nhật, lễ tết,

hiếu hỉ Theo Trương Hữu Tuyên (1979), Đào Mạnh Khuyến (1993), cúc còn

được sử dụng để chiết tinh dầu thơm, pha chè, ngâm rượu như cúc chỉ, dùng làm thuốc trừ sâu như cúc Trừ trùng, đốt với ngành y dược một số loài như Kim cúc, Bạch cúc còn có tác dụng chữa bệnh đau đầu, hoa mái

Ngoài việc phục vụ cho nhu cầu giải trí, thưởng thức cái đẹp, hoa đồng thời cũng là nguồn kinh tế quan trọng, trên một sào dất trồng cây hoa cúc với mật độ trung bình 40-45 cây/mỶ, có thể thu từ 3-4 triệu đồng (giá hoa 200-300 đồng/bông) trừ chỉ phí ban đầu là 1,5-2 triệu đồng, còn trên một sào lúa chỉ thu được 400-450,000 đồng (với năng suất 200 kg thóc khô/I sào, giá khoảng

2000 đồng/1 kg thóc), với lợi ích kinh tế như vậy, nên hiện nay cúc là loại hoa chủ lực được trồng rộng rãi khắp nước ta

1.1.2 Các đặc điểm thực vật học:

- #8: Theo Dourick và Bayoumi (1996), rễ cây hoa cúc thuộc loại rễ chùm, rễ ít ăn sảu mà phát triển theo chiều ngang Khối lượng bộ rễ lớn do sinh ra nhiều rễ phụ và lông hút nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh

- Thân: Cây hoa cúc thuộc loại thân thảo, có nhiều đốt giòn, dễ gấy, có khả nãng phân cành mạnh Vanderkamp (2000) đã kết luận thân đứng hay bò cao hoặc thấp, đốt dài hay ngăn sự phân cành mạnh yếu còn tuỳ thuộc vào từng giống Cây có thể cao từ 30-80 cm, thậm chí có khi đến 1,5- 2m

- tá: Năm 1985 Cockshull đã mô tả lá cúc xẻ thuỳ có răng cưa, lá đơn mọc so le nhau, mặt dưới bao phủ một lớp lông tơ, mặt trên nhắn, gân hình mạng lưới, từ mỗi nách lá thường phát sinh các nhánh phụ

- đoa: Theo Comish, Stevenson (1990) và Okada (1994) đã miêu tả hoa

cúc là hoa lưỡng tính hoạc đơn tính với nhiều màu sắc khác nhau đường kính hoa từ 1.5-12 cm, có thể đơn hay kép Hoa cúc chính là gồm nhiều hoa nhỏ hợp lại trên một cuống hoa, hình thành loa tự đầu trạng mà mỗi cánh thực chất là một bông hoa Cũng theo Cockshul (1976) và Zagorski, Widmer (1983), hoa cức có 4 đến 5 nhị dực dính vào nhau bao xung quanh voi nhuy

Trang 6

4

Khí phấn chín, bao phấn nở nhưng lúc này nhuy còn non chưa có khả nang tiếp nhận hạt phấn, bởi vậy muốn lấy hạt giống phải thụ phấn nhân tạo, nên việc sản xuất cây con chủ yếu bằng phương pháp nhân giống vô tính

- Quả: Là quả bế khô, hình trụ hơi dẹt chỉ chứa một hạt có phôi thẳng và không có nội nhũ (Anderson, (988 và Ishiwara, 1984)

1.1.3 Yêu cầu ngoại cảnh cửa cây hoa cúc :

- Nhiệt độ: Cây hoa cúc có nguồn gốc Ôn đới, ưa khí hậu mát mẻ Theo Novotna (1988), nhiệt độ thích hợp cho cây cúc sinh trưởng phát triển tốt là

từ 15-20 °C, cúc có thể chịu được ở nhiệt độ từ 10-35 °C, nhưng tren 30 °C và dudi 10°C sẽ làm cho năng suất chất lượng hoa bị kém

Deong (1984), Hoogeweg (1999) và Karlson (1989) cho rằng, nhiệt độ

tối thích hợp cho sự ra rễ của cúc là 10°C, nên trong điều kiện miền Bắc Việt

Nam việc giàm cành cúc trong mùa hè nóng ẩm là hết sức khó khăn

- Ảnh sáng: Yulian, Fujime (1995) đã kết luận, cúc là cây ngày ngắn ưa sáng và dêm lạnh Ngoài ra Kawata (1987) đã khẳng định, thời gian chiếu sang rất quan trọng cho cây hay nói cách khác ngày đêm dài ngắn có tác dụng khác nhau dối với loại hoa này, hầu hết các giống cúc trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng cần ánh sáng ngày dài trên 13 giờ, còn trong giai doạn trổ

hoa cây chỉ cần ánh sáng ngày ngắn từ 9-10 giờ và nhiệt độ không khí dưới

20% Bởi vậy trong điểu kiện Việt Nam cúc rất phù hợp với thời tiết thu dông, nhưng hiện nay một số giống nhập nội có thể ra hoa trong điều kiện ngày dài mà điển hình là CN93, CN98 rất thích hợp với vụ Xuân Hè và Hè

Thu, nên cúc có thể trồng quanh năm thay vì trước đây chỉ có hoa vào mùa

đông

Cũng theo Wang và Chen (1996) nhiệt độ, ánh sáng không tác động một cách riêng rẽ mà phối hợp nhau, kìm hãm hay thúc đẩy sự sinh trưởng phát

triển cây hoa cúc

- Ẩm độ: Shewell Cooper (1975) và Vidalie (1986) cho rằng, độ ẩm đất

từ 60-70% và độ ấm không khí 75-80% là rất thuận lợi cho cúc sinh trưởng Nếu độ ẩm trên 80% cay phát triển mạnh nhưng lá dễ mắc một số bệnh nấm

Vào thời kỳ thu hoạch hoa cúc cần thời tiết khô ráo, nếu độ ẩm không khí cao hoa lá bị thối đập, sâu bệnh nhiều

1.1.4 Đặc điểm tự nhiên và vùng khí hậu hoa Hà Nội:

Hà Nội có độ cao trung bình không quá 5m so với mực nước biển phần

lớn dịa hình bằng phẳng, vùng ngoại thành có diện tích đất tự nhiên 8344 kim”

Khí hậu vùng trồng hoa Hà Nội có những đặc trưng cơ bản sau:

Trang 7

- Ñhiệt độ: Được chia làm 2 mùa, mùa hè nhiệt độ cao, mưa nhiều nên cây con sinh trưởng kém, mùa đông nâng suất chất lượng hoa tốt, nhưng vào thời gian nhiệt độ xuống thấp cũng ảnh hưởng đến sự ra nụ, ra hoa của cây

- Độ ẩm không khí Hà Nội có độ ẩm tương đối cao từ 75-80 %, thời kỳ

ẩm ướt nhất là từ tháng 2 đến tháng 4 nẻn sảu bệnh nhiều, phẩm chất hoa kém Hoa đạt chất lượng tốt thường vào các tháng đầu mùa đông như tháng ¡1,12

- Luong mua, gid nắng: Mùa hè mưa nhiêu, lũ lụt thường vào tháng 7, 3 gay khó khăn cho việc nhân giống Mùa đông ít mưa nhưng cuối đông mưa

phùn Ẩm ướt sâu bệnh phát triển nẻn chất lượng hoa kém

Về số giờ nắng cho thấy tháng 11 là tháng có ngày ngán nhất dưới 10 giờ và tháng 6 là tháng có ngày dài nhất trên 13 giờ, nếu trồng trái vụ phải điểu khiển sự ra hoa bằng ánh sáng nhân tạo Muốn hoa ra cham thi kéo dat thời gian chiếu sáng, còn muốn hoa ra sớm thì kéo dài đêm bằng cách dùng vai đen che sáng Như vậy, để hoa cúc sinh trưởng, phát triển tốt cản có biện pháp kỹ thuật phù hợp như giống, thời vụ và các biên pháp canh tác khác 1.1.5 Tình hình sản xuất hoa cúc trẻn thế giới và tại Việt Nam: 1.1.5.1 Tình hình sản xuất hoa cúc trên thế giới:

doa ciic 1A mot trong các loại hoa thời vụ phổ biến nhất trên thế giới và được ưa chuộng bởi sự da dang vẻ chủng loại và phong phú vẻ màn sác Chính

vì thế mà ở Bắc Mũ, Tây Âu và Nhật Bản hoa cúc đang dứng ở vị trí thứ 2 chỉ sau hoa hồng, năm 1993 tại cổng ty bán dấu giá ở Hà Lan hoa cúc là một trong 10 loại hoa bán chạy nhất 4 nhà san xuất chính là Hà Lan, Colombia, Ỹ

và Liên bang Mỹ, trong đó Hà Lan là qước dẫn đầu phục vụ cho thị trường tiêu thu gồm 80 nước trên thế giới Trong các nước Châu Á thì Nhật Bản cũng

là nước dứng đầu vẻ sản xuất hoa cúc khoảng 200 triệu cành mỏi nảm, ngoài

ra phải kể dến Thái Lan, Trung Quốc, Malatxia là những nước trồng cúc quanh năm, việc sản xuất đã có rất nhiều tiến bộ trong việc cải tiến các biện pháp kỹ thuật để làm tăng năng suất, chất lượng hoa Tuy Vậy các nước Tây Au chi có thé cung cấp hoa vào mùa hè, còn mùa đông trong điểu kiện tuyết phủ thì việc sản xuất hoa giảm di rất nhiều Đây cũng là cơ hội và thách thức cho vác nước dang phát triển dể xuất khẩu loại hoa này, mà trong điểu kiện khí

hậu Việt Nam cúc lại sinh trưởng phát triển rất tốt vào mùa đông, nếu ta có

aướng đầu tư thích hợp vẻ trang thiết bị và cong-nghe thì việc xuất khẩu hoa sang các nước là điều có thể thực hiện trong tương lai

1.1.5.2 Tình hình sản xuất hoa cúc ở Việt Nam:

Hiên nay cây hoa cúc đã trồng phổ biến ở nước ta, nhưng vùng sản xuất shính là Hà Nội, Hải Phòng, 5a Pa, thành phố Hồ Chí Minh va tỉnh Lâm

Trang 8

ha đến năm 1999 là 460,8 ha với tổng thu nhập là 41,1 tỉ đồng, trong đó tiêu

thạ nội tỉnh là 69% các tỉnh 229 và xuất khâu 9% (chủ yếu sang Trung Quốc) với doanh thu là 3.6 ty đồng, diéu này cho thấy ý nghĩa quan trọng trong việc

xuất khẩu hoa sang các nước

Sở dĩ hoa cúc mang lại nhiều thành công vì nó phù hợp với điều kiện

canh tác, thị hiếu người tiêu dùng và cho hiệu quả kinh tế cao, so với sản xuất lúa 2 vụ hiệu quả trồng cúc tãng 7-8 lần so với rau màu từ 2-5-3 lần Tuy nhiên có vùng sản xuất không lãi mà còn lỗ, là do người dân thiếu hiểu biết về giống, thời vụ và các biên pháp kỹ thuật khác, bởi vay phải có chương trình tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật giúp họ tiếp thu những thành tựu mới để hoa cúc đạt nâng suất, chất lượng Cao

1.2 Tình hình nghiên cứu cảy hoa cúc trên thế giới và ở Việt Nam:

1.2.1 Tình hình nghiên cứu cay hoa cúc trên thế giới:

Do giá trị kinh tế cũng như giá trị sử dụng của cây hoa cúc mà trên thế giới

đã có nhiều nước di sâu nghiên cứu về kỹ thuật trồng, nhán giống cũng như chọn lọc và tạo giống mới, đặc biệt phương pháp đột biến đã thành công trong việc gây nên những biến di vé mau sac, hình dáng, kích cỡ và các đặc trưng

khác Việc sử dụng kỹ thuật di truyền đã tạo ra những giống hoa cúc mới với

nhiều màu sắc khác nhau và có khả nãng chống chịu bệnh cao Một trong

những nhan tố làm cho việc sản xuất cúc ở một số nước phát triền là do sử

dụng công nghệ nhân giống invitro, quy trình từ nuôi cấy đến giai doạn vườn

worn đã đạt đến mức độ hoàn thiện

Ngoài ra những nghiên cứu khác như nhiệt độ, ánh sáng, sử dụng các

chất điều tiết sinh trường và nghiên cứu thành phản sâu bệnh hại đã làm tăng

năng suất chất lượng cây hóa cúc, trong đó việc điều khiển quang chủ kỳ đã

làm cho cúc có thể trồng quanh năm và cùng với ánh sáng, nhiệt độ cũng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phái triển của cay

Trong các biện pháp kỹ thuật thì việc bón phán cũng như mật độ,

khoảng cách và thời gian thu hái đã ảnh hưởng rất lớn đến độ bền hoa cắt Việc phòng trừ sâu bệnh vào những tháng mùa mưa là bí quyết đề sản xuất

hoa cúc có chất lượng cao.

Trang 9

1.2.2 Tình hình nghiên cứu cảy hoa cúc ở Việt Nam:

Mặc dù cày hoa cúc đã trồng ở nước ta rừ lâu đời, nhưng các kết qua nghiên cứu về cây hoa này còn íL Trước năm 1992 các nghiên cứu chi tap

trung vào việc tập hợp các kinh aghiém rồng hoa Từ nám 1993 trở lại day

với việc nhập 6 at cdc giống mới dã cho thấy muốn tăng náng suất; chất lượng hoa phải đi cùng với sự đổi mới vẻ kỹ thuật, nên cảy hoa cúc đã được nhiều cơ

quan, trường Đạt học quan tâm, nghiên cứu tren nhiều lnh vực khác nhan

Những nghiên cứu vẻ phân loại cho thấy các giống cúc rất phong phú về chủng loại, đa dạng vẻ màu sác và hình dang hoa

Việc thu thập, đánh giá và chọn lọc nguồn gen ở Viện DTNN, Trung tâm kỹ thuật rau quả và Viên nghiên cứu rau quả Hà Nội, dã dưa ra những

giống hoa cúc mới phù hợp với yêu cầu sản xuất và thị hiếu người tiêu dùng

Để nhân nhanh các giống cúc này, một số cơ quan chức náng khác cũng đã tiến hành biện pháp nhân giống invitro tao ra nguồn cảy con sạch bệnh, có chất lượng cao

Ngoài ra những nghiên cứu vẻ các biện pháp kỹ thuật đã đưa ra thời vụ, chế độ chiếu sáng thích hợp, chất kích thích sinh trưởng cho từng giống, cũng như nâng cao dược tỷ lệ ra rễ của cành giảm, các hóa chất cản thiết cho việc kéo dài dộ bền hoa cát, xác định dược các loại sảu bệnh gây hai chính trên cày hoa cúc từ đó đưa ra các biên pháp phòng trừ có hiêu quả

Chương 2

VAT LIEU, NOI DUNG VA PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

21 Vat liéu nghién cin:

Gồm 30 giống hoa cúc dược thu thập từ các nguỏn trong nước và nược ngoài dang được trồng ở các vùng trồng hoa Hà Nội (trong danh mục) -

2.2 Nội dung nghiên cứu:

2.2.1 Nghiên cứu, myền chọn một số giống hoa cúc có triển vọng ở các thời vụ khác nhau:

Thu thập, khảo sát và dánh giá 30 giống hoa cúc làm cơ sở để tuyển

chon giống mới cho sản xuất và dé xuất các biện pháp kỹ thuật thích hợp cho

từng giống -

3.2.2 Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng

hoa cia một số giống cúc có triển vọng:

Bao gồm các biên pháp như mật độ, tỉa cành, thời vụ trồng

3.2.3 Nghiên cứu các biện pháp nhân giống nhân giống cày hoa cúc: Bao gồm nhân giống bằng phương pháp tia chồi, phương pháp cất cảnh nam và phương pháp nuôi cấy 1nV1rO

7

Trang 10

§

Danh mục các giếng sử dụng trong thí nghiệm

2.2.4 Kết quả đánh giá khu vưc hoá công nhận 2 giống mới là CN93 CN9§

vã xây dựng quy trình sản xuất hoa sản xuất giống

STT "Tên giống "Tên khoa học | Nguôn gốc '

1 | Tim dai doa i Chrysanthemum maximum Promise Ha Noi |

2} Kimurohung | Chrysanthemum maximum Golden Red Da Lat

3 | Vangdaided = | Chrysanthemum maximum Orange : Ha Noi

4 | ChiPaLar | Chrysanthemum morifolium Solaris White - Đà Lạt |

š |cgấm | Chrysanthemum morifolium Pidoul Orange Da Lat

i 6 Chi thom tang | Chrysanthemum morifolium Heidi White ¡ Hà Nội

: 7 | Hoar Chrysanthemum morifolium Stallion White Đà Lại ¡

8 | He vang Dalat Chrysanthemum mortfolium Pesaro Yellow ¡ Đà Lạt

9 | Chithomvang | Chrysanthemum morifolium Heidi Yellow Hà Nói 1

' 10 | Mong réag trang | Chrysanthemum maximum Aiecbedser White | Hà Nói

- 1l |Đạiddádmởgt | Chrysanthemum maximum Creamist White ¡ Hà Nói

12 | Time | Chrysanthemum maamum Dark Purple Ha Lan

13 | Tim bong | Dendranthema indicum Reagan Dark Splendid | Ha Lan

; le | ‘Tim xoay: | Dendranthema indicum Incurved Sheer Purpie Hà Lan |

ị 15 | Timsen | Dendranthema indicum Reagan improved | Hà Lan |

16 | Do weede | Dendranthema indicum Payton Dale Red ¡ Hà Lan |

7 | Tua vang Dendranthema indicum Yellow Stallim + Ha.Lan

1 18 | Vàng tổ ong Dendranthema indicum Ellen Yellow | HaLan |

IS | Qiedéngtié: | Dendranthema indicum Sonja White | Ha Lan |

| 20 ! Ofc magic Chrysanthemum morifolium Pompon Yelow | Singapo

ị 2 | Mai trắng Dendranthema indicum Pennine Chrysal | Smngapo |

| 2 | Phấn bỏng | Chrysanthemum morifolium Allouise Pink Singapo |

| 3 | Caobối ấm | Dendranthema indicum Lineker | Singapo

Ị 24 | Nhàihóng Dendranthema indicum Reagan Carrea | Singapo |

; 25 {CN Chrysanthemum maximum Louis Germ Nhat

26 | NOT Chrysanthemum maximum Taigawit | Nhật

27 | CNS Chrysanthemum maximum Aijexandra Yellow ¡ - Nhật

28 | VangDaiLoan | Chrysanthemum maximum Risairy | Dai Loan |

| 29° | Vane Tau | Dendranthema indicum Goid | Tr Quéc

30 i DS Ando | Dendranthema indicum Tom Pearce Ấn Độ

Trang 11

2.3.Các biên pháp kỹ thuật áp dụng:

Để đảm bảo thí nghiệm cĩ độ chính xác cao, các yếu tố phi thí nghiệm như đất đai, phân bĩn, chăm sĩc, phịng trừ sau bệnh được tiến hành đồng diều ở các cơng thức

2.4 Phương pháp nghiên cứu:

2.4.1 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:

- Với các thí nghiệm ngồi sản xuất: Bao gồm các chỉ liêu vẻ đặc tính thực vật học, các chỉ tiêu về thời gian, đặc điểm sinh trưởng phát triển và chất lượng hoa đều được đo đếm ngău nhiên 30 cây cho mơi cơng thức sau lấy kết quả trung bình, riêng thành phần sâu bệnh hai được điều tra trên tồn bộ lơ thí nghiệm

- Với các thí nghiệm trong phịng: Như độ bền hoa cát, mức độ nhiễm vị sinh vát theo phương pháp của Remando T_] (1995)

3.4.2 Phương phán bố trí thí nghiệm và xử lí số liệu:

Việc bố trí thí nghiệm và số liệu được xử lí theo phương pháp thống kê sinh học của Pham Chi Thanh (1998), Pham Tiến Dũng, Nguyên Thị Lan

(1996) và chương trình Excel (Võ Tấn Dũng, Bùi Thế Tâm, Pham Văn Hải

1996) trên máy vì tính tai Trung tâm Hoa cây cảnh Viện DTNN

Chương 3

KẾT-QUÁ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Nghiên cứu, myền chon một số giống hoa cúc cĩ triển vọng ở các thời vụ khác nhau :

- Qua các đặc điểm hình thái giống cho thấy cúc hiên nay rất phong phú

về chúng loại, theo nghiên cứu thì gồm cĩ 2 chị, 3 lồi và 30 giống khác nhau với hình dang thân lá hoa đặc trưng riêng cho từng giống và cĩ tất nhiều màu

sắc như trắng, đỏ, vàng, tứm aảu cĩ loại 2 màu, cĩ loại nhiều mảu phá tron,

đặc biệt về hình dạng hoa cĩ dang đơn hộc kép, cĩ cảnh ngắn, cánh dài và ca tua cuốn Đây là một trodg những dặc tính quý của lồi hoa này, tao uén nguồn vật liệu ban dầu rất đa dang cho cơng tác chọn tao giống mới nhất là phương pháp xử lý đột biến, cho phép ta cĩ thể lựa chọn và sử dựng những giống thích hợp với yẻu cảu của sản xuất và đáp ứng thị hiếu của người tiêu

dùng

- Đánh giá thời gian và tỷ lệ ra rẻ cho thấy vụ Đơng Xuân và Xuân Hè 3ư điển kiến thời tiết thuận lơi cho sự ra rẻ của cảnh giảm Vụ Thu Đơng my xhơng sáp nhiều khĩ khăn, nhưng để cảnh giâm cĩ chất lương cao, càn chọn khu dất ươm cĩ hè thống tưới tiêu tốt kết hợp với giàn che để để phịng những

nam nang nhiều và cĩ bão muộn những giống cĩ tý lê rả rẻ cao ở vụ này là

Trang 12

16

CN9?7 Vàng Đài Loan, Tím xoáy Riêng vụ Hè Thư là vụ có số lượng và chất lượng cành giâm thấp do nhiệt độ cao mưa nhiều nên cần sử dụng các chất kích thích ra rễ kết hợp với phun thuốc phòng bệnh để náng cao chất lượng cành giảm dam bao cũng cấp di cay cho sản xuất, tuy nhiều cũng có những giống chống chíu với điều kiện ngoại cảnh bất thuan cho tý lệ ra rẻ cao nhw CN93 CN98 và Tím hè

- Khi nghiên cứu thời gian ra nụ ra hoa đặc điểm sinh trường phát triển

và chất lượng hoa của các giông cúc, cho phép sắp xếp các giống phù hợp với từng thời vụ để sản xuất hoa quanh năm thay vì trước đây chỉ có hoa cúc vào

mùa đông

+ Vụ Xuân Hè và Hè Thu thích hợp cho Š giống cúc: CN93 CN98, Tím

hè Tím hồng và Hè vàng Đà Lạt Trong đó CN93 CN98 Tím hè là những giống nhập nội có nhiều ưu điểm như cây cao (58-60 cm), hoa io (6-7em), thời gian sinh trưởng ngắn (95-100 ngày), ít phân cành và bộ lá gọn nên thích hop cho việc để hoa đơn (1 bông/cây), trong sản xuất cản trồng dày, Ha bỏ các cành nhánh phụ và nụ con Đây là những giống được người sản xuất và tiêu dùng rất ưa chuộng nên đã dược trồng phổ biển, bổ sung vào danh sách những giống hoa mùa hè vốtt văn còn ít ở nước ta

Riêng vụ Hè Thu không chỉ có những giống trên thích hợp mà hầu như các giống khác cũng có thể trồng được như Vàng Đài Loan, Mai trăng nhưng thời gian sinh trường dài, vừa chiếm đất lâu vừa làm făng chỉ phí đầu nr và chất lượng hoa kém, nên ít được trồng trong sản xuất Đề rút ngắn thời gian

sinh trưởng của những giống này, cần điều khiển quang chu kỳ bảng che tối

nhân tạo để cây sớm ra hoa

+ Vụ Thu Đóng là vụ chính cho hầu hết các giống cúc ra hoa với chất lượng cao nhất trong năm, nếu những giống trồng ở vụ Hè Thu có thời gian sinh trưởng dài từ 5-7 tháng, thì sang vụ này rút ngăn còn 3.5 - 4.5 tháng, vi thời tiết lúc này đã chuyển sang ngày ngắn rất thích hợp cho các giống cúc, mặc dù chiểu cao cảy có thấp hơn vụ Hè Thu nhưng thân mập khoẻ, hoa nở nhiều và có độ bền cao

Những giống ít phân cành, than mập khoẻ, hoa to thích hợp với việc để

1 bông/cây là CN97, Vàng Đài Loan,lím xoáy đây cũng là những giống được trồng rộng rãi ngoài sản xuất, phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, còn những giống hoa nho, phân cành mnanh thường dé cay sinh

trường phát triển tư nhiên như Hoa mi, Nhài hồng Tuy nhiên đây là vụ có

hiêu quả kinh tế không cao, do diên tích nhiều, nên cần trồng trái vụ và hướng tới xuất khán, nếu chỉ tiêu dùng nội địa sẽ dẫn tới cung vượt quá câu, làm giảm thu nhập cho người sản xuất Những giống không thích hợp cho vụ này là CN93, CN98, Tím bè và Hè vàng Đà Lạt, để cây ra hoa cần có một số

Trang 13

thích hợp là ra hoa ngay khi cây còn rất thấp như Tữn sen, Đỏ tiết dê làm

ảnh hưởng lớn đến chiểu dài cành mang hoa Ở vụ này do nhiệt độ xuống

thấp, kèm theo mưa phùn kéo dài vào thời kỳ ra hoa và thu hoạch nẻn dẫn tới chất lượng hoa kém, nhưng đây là vụ có hiệu quả kinh tế cao nhất trong năm

vì tập rung nhiều dịp lễ tết Để tăng năng suất chất lượng hoa cắt ngoài việc chọn những giống chống chịu như Tím xoáy là giống được trồng chính ở vụ này, cần có biện pháp kỹ thuật thích hợp cho các giống khác, để kéo dài giải doạn sinh trưởng sinh dưỡng, tao diều kiện cho cảy phát triển thuận lợi nhất

- Đánh giá về mức dộ sâu bênh hai qua các vụ cho thấy vụ Thu Đông có

tỷ lệ sảu bệnh hai ở mức thấp nhất, chủ yếu là rệp Vụ Xuân Hè, Hè Thu và đặc biệt là vụ Đông Xuân có tỷ lệ nhiễm sau bệnh cao Với các loại sâu bệnh đặc trưng cho từng vụ như Đốm iá, Đốm vòng ở Xuan Hè Gỉ sát, Đốm nâu ở

Hè Thu Lở cỏ rẻ, Đốm lá ở Đông Xuân và trồng trái vụ thì có thành phần sâu bênh hại cao hơn chính vụ Hiện nay các vùng sản xuất rất ra chuộng những giống nhập nội nẻu dã trồng tràn lan không qua khảo nghiệm, kết quả một số giống cúc chưa thích nghỉ với điều kiện sinh thái mới rất nhạy cảm với những thay đổi của môi trường, dã dẫn tới năng suất chất lượng hoa kém như Magic, Đồng tiền cản phải có quả trình thudn hoa va chon lọc để tãng tính ỏn dịnh sủa chúng, rong khi đó mọt số giống địa phương (đã trồng lân đời ở các vùng, sản xuất) như Kim tử nhung, Chỉ Đà Lạt, Chỉ thơm vàng lại bị bỏ qua do vai nhược điểm như thời gian sinh trưởng tương dối dài màu sắc đơn diệu, nảng suất thấp nhưng lại là những giống có tính ổn định cao, ít bị chỉ phối bởi điểu kiện bên ngoài, dễ trồng, rÿ lệ nhiễm sảu bênh thấp, lại có hình dang cánh hoa rất phong phú như Móng rỏng, Đại doá_ Đây là những tính trạng cần thiết

để sử dụng làm vật liệu khởi đầu cho còng tác chọn tao giống nhất là công tác

xử lý đột biến

3.2 Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm tăng náng suất, chất lượng hoa của mọt sở giống cúc có triển vọng:

Từ những nghiên cứu vẻ đặc điểm sinh tưởng, phát riển của mọt sở giống

hoa cúc ở các thời vụ khác nhau cho thấy sư biến động các tính trạng trong cay, ngoài phụ thuộc vào đặc tỉnh di truyền của giống, còn chịu ảnh hưởng rat lớn của điển Kiện ngoại cảnh làm cho cây sinh mưởng phát triển kém hoặc chưa phát

Ngày đăng: 06/04/2014, 15:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w